1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI GIẢNG tâm lý học NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học xã hội

19 40 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 53,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi chúng ta là một cá nhân đơn nhất. Đây là một khẳng định mang tính triết học và lịch sử. Con người cùng với tất cả các phẩm chất tâm sinh lý của mình, được hình thành và phát triển trong các mối quan hệ xã hội nhất định luôn là sản phẩm duy nhất, không lập lại, không trùng hợp theo qui luật ngẫu nhiên. Để có thể hiểu những nhân cách đơn nhất của mình và để có thể hiểu rõ, có thể mô tả nhân cách con người chúng ta phải nhờ đến triết học, đến lịch sử, đến văn học, đến xã hội học và rất nhiều các khoa học khác trong đó có tâm lý học nói chung và tâm lý học xã hội nói riêng.

Trang 1

PHẦN V NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Mỗi chúng ta là một cá nhân đơn nhất Đây là một khẳng định mang tính triết học và lịch sử Con người cùng với tất cả các phẩm chất tâm sinh lý của mình, được hình thành và phát triển trong các mối quan hệ xã hội nhất định luôn

là sản phẩm duy nhất, không lập lại, không trùng hợp theo qui luật ngẫu nhiên

Để có thể hiểu những nhân cách đơn nhất của mình và để có thể hiểu rõ, có thể

mô tả nhân cách con người chúng ta phải nhờ đến triết học, đến lịch sử, đến văn học, đến xã hội học và rất nhiều các khoa học khác trong đó có tâm lý học nói chung và tâm lý học xã hội nói riêng

Các bộ môn khoa học kể trên quan tâm đến nhân cách, hay nói đúng hơn, quan tâm đến cá nhân con người theo những cách nhìn và nhằm phục vụ những mục đích riêng của mình Ngày nay khi tâm lý học nhân cách đã tách ra thành một chuyên ngành độc lập trong các khoa học tâm lý, việc nhắc lại về tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhân cách cũng như về sự tăng trưởng của nhu cầu nghiên cứu nhân cách trong đời sống xã hội cũng như trong quá trình phát triển của các bộ môn khoa học xã hội nói riêng và khoa học về con người nói chung,

là một việc tất yếu

Ở cuốn sách này, tâm lý học xã hội như một ngành độc lập trong số các khoa học lâm lý, chính là đối tượng quan tâm của chúng ta Vì lý do đó, đối tượng của chúng ta ở đây chính là nhân cách trong tâm lý học xã hội Có thể nói, nhiệm vụ chính của tâm lý học xã hội trong việc nghiên cứu nhân cách là phát hiện và tìm hiểu những qui luật của hành vi, ý thức và hoạt động của nhân cách nằm trong những nhóm xã hội nhất định nào đó Một mặt, nhân cách góp phần mình vào việc hình thành và phát triển nhóm, hình thành các đặc điểm tâm lý

Trang 2

của nhóm Mặt khác, trong quá trình phát triển nhóm, nhân cách tự điều chỉnh và hoàn thiện dưới tác động của nhóm và của mỗi thành viên trong nhóm, sao cho phù hợp với chuẩn mực và hệ thống giá trị trong nhóm Cũng chính từ đây phát sinh những kiểu loại nhân cách khác nhau, phù hợp với các vai trò, vị trí khác nhau trong các nhóm mà nhân cách là thành viên

Chương 1 NHÂN CÁCH VÀ CẤU TRÚC NHÂN CÁCH

Chương 2 NHỮNG YẾU TỐ QUI ĐỊNH SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH Chương 3 CÁC KIỂU LOẠI NHÂN CÁCH XÃ HỘI

Chương 4 THAY ĐỔI NHÂN CÁCH

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Tách từ khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói chung, tâm lý học

xã hội, so với nhiều khoa học khác, hãy còn rất non trẻ Tuy chưa phát triển tới mức hoàn chỉnh về mặt lý luận, cũng như còn phải phấn đấu nhau về mặt thực nghiệm, nhưng với đối tượng đã được xác định rõ ràng, với những nhiệm vụ nghiên cứu riêng biệt và với những ứng dụng đã có hiệu quả cụ thể trong nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, nó cũng tự khẳng định được như một khoa học độc lập

Trong phần này, chúng tôi cố gắng trình bày ngay vào những vấn đề thường được xem là cần thiết đối với bước đầu tìm hiểu một khoa học như: đối tượng và nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu, lịch sử hình thành trên cơ sở những tài liệu phổ biến nhất Chúng tôi không có ý định và cũng không có điều kiện nêu lên ở đây những ý kiến khác nhau đã có về những vấn đề chung này

Trang 3

Chương 1 NHÂN CÁCH VÀ CẤU TRÚC NHÂN CÁCH

TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN à PHẦN V NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

1 Nhân cách như là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội

Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, đạo đức học, luật học, giáo dục học, y học v v Đồi với mỗi ngành khoa học khác nhau nhân cách lại được nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Trong tâm lý học xã hội vấn đề nhân cách cũng mang một số nét đặc trưng riêng Ở đây, nhân cách cần phải được nghiên cứu trong sự giao tiếp của cá nhân này với cá nhân khác, nhân cách phải được đặt trong hoàn cảnh

cụ thể của một nhóm xã hội nào đó

Trong đời sống hàng ngày khái niệm nhân cách thường hay được sử dụng Chính điều đó là một trong những yếu tố làm nảy inh nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu về nhân cách nói chung và cấu trúc của nó nói riêng Bên cạnh đó, việc thường xuyên lạm dụng khái niệm nhân cách để chỉ những khía cạnh khác nhau của tâm lý con người, ví dụ như: tính cách, khí chất, năng lực, phẩm chất v.v… lại là một hạn chế không nhỏ cho tính khoa học của khái niệm nhân cách hiện được dùng trong các sách báo đại chúng Ngay cả đối với một số nhà tâm lý học phương tây, nhân cách nhiều khi được coi là toàn bộ tâm lý con người, việc nghiên cứu nhân cách được coi là toàn bộ việc nghiên cứu tâm lý con người

Đối với mỗi một nhà tâm lý lại có một định nghĩa tương đối độc lập về nhân cách như đã nói ở trên Có thể dẫn ra ở đây khái niệm nhân cách của Frớt: Nhân cách đó là những tình cảm, những cố gắng và những tư tưởng phát sinh từ những mâu thuẫn của tính hiếu chiến của chúng ta, động cơ thúc đẩy việc tìm

Trang 4

kiếm để thoả mãn nhu cầu một cách sinh học và sự kiềm chế xã hội chống lại chúng Theo Frơt, nhân cách hình thành do những cố gắng giải quyết mâu thuẫn

cơ sở này, nổ bày tỏ những sự thúc đẩy của cá nhân tiến tới sự thoả mãn trong phạm vi không phạm tội và bị trừng phạt Với quan niệm này Frớt tựa hồ đã coi nhân cách như là khả năng kiềm chế bản năng của con người

Một số các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như: Miashiev, Smirnốv, Malưsév , đã giải thích nhân cách như là hệ thống của các mối quan hệ Một số khác, như Ananhiev, Platônnốp, Merlin , khẳng định rằng nhân cách không phải

là tất cả con người mà chỉ là những phẩm chất xã hội Họ không coi nhân cách là chủ thể của hoạt động phương hướng này đã đưa đến việc hiểu tính xã hội và tính sinh học của con người là các thành phần tương đối độc lập kết hợp với nhau theo những tỷ lệ khác nhau

Dựa trên quan điểm của Rubinshtein, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhân cách là tập hợp các điều kiện bên trong, qua chúng các tự động bên ngoài được khúc xạ Theo định nghĩa này, các yếu tố bên trong, như nhu cầu, kinh nghiệm, động cơ, đóng vai trò các yếu tố gây ra sự trả lời khác nhau của chủ thể đối với những kích thích giống nhau từ thế giới bên ngoài Từ đó, nhân cách chưa bộc lộ được những đặc thù của chính nó, bởi vì định nghĩa này còn có thể áp dụng đối với mọi sinh vật sống khác nữa Ý thức được nhược điểm này Platônnốp đưa ra khái niệm: nhân cách là con người có nhận thức Mặc dù tính đặc thù của con người đã được nhấn mạnh ở khái niệm trên, Platônnốp vẫn mắc sai lầm, cụ thể là

đã lảng tránh bản chất hoạt động xã hội của nhân cách; sự tác động tương đối của con người và thế giới xung quanh Hai nhà tâm lý học Predvetmưi và Sherkhôvina cho rằng nhân cách là con người - chủ thể của hoạt động là nhân tố cải tạo thế giới, là chủ thể có nhận thức và tự nhận thức; Reivalđ, một nhà tâm lý học Xôviết khác, cho rằng hoạt động là biện pháp để hình thành và tồn tại nhân

Trang 5

cách, nhân cách được thể hiện ra cũng trong hoạt động Khi nghiên cứu các tổ chức tâm lý của nhân cách qua hoạt động, ông coi chúng là các hành vi có mục đích của hoạt động và tạo nên các giai đoạn trong cuộc sống của nhân cách

Dựa vào nguyên tắc hoạt động, các nhà tâm lý học Xôviết đã đưa ra một định nghĩa chung về nhân cách Theo họ, nhân cách là con người - chủ thể của hoạt động xã hội và nhờ hoạt động mà con người có được một vị trí nhất định giữa những người khác Các đặc điểm tâm lý của nhân cách thể hiện ở chỗ nhân cách tiến đến cái gì và chạy khỏi cái gì, cũng như mức độ nhận thức, tổ chức, cường độ và kết quả của tính tích cực giải quyết các nhiệm vụ sống thiết thực

Trong từ điển tâm lý do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ biên có định nghĩa

về nhân cách như là tổng hoà tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân, với bản sắc và cá tính rõ nét, với các đặc điểm thể chất (tạng), tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức vai trò xã hội Nhân cách là một cá nhân có có ý thức

về bản thân, đã tự khẳng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi Mặc dầu đây là một định nghĩa khá đầy đủ về nhân cách, nó cũng vẫn chưa thoát ra khỏi khái niệm về các đặc điểm tâm lý của cá nhân Nói tóm lại các khái niệm và định nghĩa về nhân cách thì có nhiều, nhưng nội dung của chúng chưa hẳn đã thật chính xác và mô tả được đầy đủ các đặc tính và những yếu tố đặc thù cho nhân cách Hy vọng rằng với sự phát triển của tâm lý học nói chung

và tâm lý học nhân cách nói riêng, chúng ta sẽ có những nghĩa chính xác hơn về nhân cách

Nhìn chung, các nhà tâm lý học cũng như các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác hầu như đều cho rằng nhân cách là tập hợp các phẩm chất, đặc điểm sinh lý, các đặc tính xã hội, các thuộc tính tâm lý của mỗi cá nhân Nhân cách chính là những chủ thể đại diện cho các mối quan hệ xã hội

Trang 6

Tâm lý học xã hội nghiên cứu nhân cách trong các nhóm xã hội nhất định Tại

đó, mỗi cá nhân mang những đặc điểm chung, đặc trưng cho nhóm xã hội cụ thể

và được gọi là nhân cách xã hội Điều đó có nghĩa là, nhân cách xã hội tham gia vào một nhóm xã hội nhất định, mang những đặc điểm chung, đặc trưng cho nhóm xã hội đó và chính quá trình hoạt động và giao tiếp của nhóm chi phối các hành vi của nhân cách - đối tượng mà chúng ta quan tâm

Để hiểu rõ hơn về khái niệm nhân cách, chúng ta sẽ xem xét cấu trúc của

nó Cũng như khái niệm nhân cách, cấu trúc nhân cách là một vấn đề được mỗi nhà khoa học hiểu theo một cách riêng và có những lý giải riêng, dựa trên những

cơ sở lý luận khác nhau

2 Cấu trúc nhân cách

Mặc dù còn nhiều tranh cãi xung quanh khái niệm cấu trúc nhân cách, nó cũng đã được các nhà tâm lý học quan tâm và số lượng các thực nghiệm về vấn

đề này chiếm một vị trí không nhỏ trong tâm lý xã hội cũng như nhiều phân ngành tâm lý học khác nữa, như tâm lý học cá nhân, tâm lý học trị liệu, tâm thần kinh học, v v

Dựa trên quan điểm của trường phái hoạt động, đi từ sự phân tích các cấu trúc nhân cách của các nhà tâm lý học Xôviết, Rievalđ đã đưa ra một sơ đồ chung về trúc tâm lý nhân cách

Theo Rievalđ, các hiện tượng tâm lý thực hiện các chức năng đa dạng trong hoạt động như: chức năng kích thích, chức năng định hướng, chức năng kiểm tra, chức năng đánh giá và chức năng điều khiển Để hiểu cấu trúc của nhân cách, ông cho rằng trước hết cần phải biết rõ các động cơ hiện tại của nó Khi xem xét sự khác nhau của nhân cách, Reivald cho rằng bản chất xã hội cho phép

Trang 7

đưa ra các kiểu định hướng chính của nhân cách Những định hướng giá trị khác nhau đã tạo nên các kiểu loại nhân cách thể hiện các bản chất xã hội khác nhau, các phẩm chất tâm lý khác nhau và các quan điểm sống khác nhau Ông ta cho rằng kiểu định hướng giá trị là đặc điểm tâm lý xã hội chính của nhân cách

Từ hướng khác, Aphanashev khẳng định: tính cá nhân không chỉ có đặc điểm riêng tồn tại ở một con người, mà còn có cả những đặc điểm chung và các thuộc tính của loài người Từ đó mỗi tính chất và cấu trúc nhân cách nói chung cần phải được tiếp tục phân tích theo ba tham số: 1- tính nhận thức hoặc là mức

độ định hướng; 2- tính tổ chức; 3- Năng lực (cường độ, sự căng thẳng, phạm vi thể hiện) Như vậy, nhân cách phải được phân tích từ quan điểm về các đặc điểm của nhận thức, ý chí và cảm xúc Sự phân chia này tương tự như sự phân chia các hiện tượng tâm lý thành trí tuệ, tình cảm và ý chí Nhân cách còn được phân chia thành khí chất, tính cách và năng lực xã hội Các yếu tố hợp thành nhân cách thì được chia ra thành các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài v.v Có thể nói, mỗi khái niệm nhân cách thường phác hoạ ra một cấu trúc nhân cách tương ứng với nó Chính vì vậy, sự đầy đủ của khái niệm về cấu trúc nhân cách chỉ có thể có được khi có khái niệm chính xác về nhân cách

Một vấn đề được đặt ra sau khi xem xét khái niệm và cấu trúc nhân cách chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách Nói cách khác, từ một cá thể, để trở thành một nhân cách cần trải qua một quá trình xã hội hoá cá nhân, cá nhân tự phát triển về cả tâm lý và sinh lý trong mối quan hệ tương hỗ với môi trường xung quanh, với các nhóm mà nó là thành viên Đó chính là quá trình phát triển và tự hoàn thiện của nhân cách

Quá trình xã hội hoá cá nhân và các đặc điểm tâm lý của cá nhân trong nhóm đã được nói tới ở các phần khác của cuốn sách Tiếp theo, nhiệm vụ của

Trang 8

chúng ta sẽ giới hạn ở việc làm sáng tỏ các yếu tố chính, qui định sự hình thành

và tự hoàn thiện của nhân cách

NHỮNG YẾU TỐ QUI ĐỊNH SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH

TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN à PHẦN V NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

Như chúng ta đã biết, con người có ba mặt sinh lý, xã hội và tâm lý Đó là

ba mặt không thể tách rời khỏi bản chất con người và không thể xem xét chúng một cách riêng rẽ Về mặt sinh lý: mỗi con người là một cơ thể có đầy đủ các đặc điểm về sinh học, di truyền, trao đổi chất v.v… Bên cạnh đó, con người là tổng hoà mọi quan hệ xã hội và không thể nói đến con người ngoài xã hội Dù con người có ở một mình, thì các vật dụng của anh ta vẫn mang tính xã hội, vẫn là kết quả lao động của những con người khác Anh ta suy nghĩ hành động, sử dụng vốn hiểu biết không chỉ của mình, mà cả của giống nòi mình Nói tóm lại, anh

ta vẫn đại diện cho một nhóm nhất định, vẫn là thành viên của một xã hội nhất định Cuối cùng về mặt tâm lý, con người có một cơ cấu và những cơ chế tâm lý đặc thù cho mình Đó chính là các nhu cầu động cơ cá nhân, các quá trình tâm lý

và tính cách

Ba mặt sinh lý, xã hội và tâm lý nói trên vừa có khả năng phác hoạ chân dung của một con người như một cá nhân, đồng thời vừa đủ cơ sở để miêu tả một nhân cách (theo các định nghĩa và khái niệm nhân cách đã nêu ở chương trước) Ở chương này, trước hết chúng ta sẽ xem xét vai trò của ba yếu tố kể trên trong việc hình thành và phát triển nhân cách với lý do: chúng là những điều kiện cần đề con người từ một cá thể sinh học trở thành một nhân cách Sau nữa, chúng ta sẽ đề cập đến một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình

Trang 9

thành nhân cách Đó là các đặc điểm về môi trường sống của nhân cách Nó bao gồm các đặc điểm môi sinh hay môi trường tự nhiên, môi trường xã hội ở phạm

vi vĩ mô

1 Các đặc điểm sinh lý của cá nhân và vai trò của cá nhân trong việc hình thành và phát triển nhân cách

Các đặc điểm sinh lý của cá nhân chính là đối tượng nghiên cứu của một phân ngành quan trọng trong tâm lý học, đó là tâm sinh lý học Ta có thể dẫn ra

ở đây một sơ đồ khá đầy đủ các đặc điểm sinh lý con người do nhà bác học Nga Anhiev đưa ra như sau: Các đặc điểm sinh lý của con người bao gồm hai nhóm lớn: thứ nhất là các đặc điểm về lứa tuổi và tình dục; thứ hai là những đặc điểm

cá thể đặc trưng Nhóm thứ nhất bao gồm các quá trình phát triển và thay đổi về lứa tuổi trong sự lớn lên và trưởng thành của cá thể, cũng như quá trình phát triển tình dục của nó

Nhóm các đặc điểm thứ hai chia thành ba nhóm nhỏ: 1- các đặc điểm về thể chất (cơ địa, các đặc điểm sinh hoá của cơ thể v.v…); 2- quá trình phát triển

và hoàn thiện của hệ thần kinh, cùng với các đặc tính của nó; 3- các chức năng

và sự bất đối xứng của hai bán cầu đại não

Các đặc điểm sinh lý nói trên chính là những điều kiện cơ sở để hình thành các quá trình tâm sinh lý nảy sinh và giải quyết những nhu cầu sống Một trong những dạng cao nhất, liên kết các đặc điểm sinh lý của cá nhân là khí chất và năng khiếu

Khí chất - đó là những nét đặc trưng, mang tính chất bẩm sinh, trong các đặc tính hoạt động của mỗi cá nhân như: cường độ, vận tốc, nhịp độ, nhịp điệu của các quá trình cũng như các trạng thái tâm lý Hai yếu tố quan trọng nhất của

Trang 10

khí chất là hoạt độ và độ cảm xúc Hoạt độ biểu hiện qua mức độ của nghị lực xu hướng và tốc độ của hoạt động nhanh, linh hoạt; hay ngược lại, chậm chạp bảo thủ Độ xúc cảm được dùng để chỉ các tính chất của quá trình tình cảm, cảm xúc

và trạng thái tâm lý, cũng như là nội dung của chúng, cụ thể là vui hay buồn, đau khổ hay sợ hãi, giận dữ hay tuyệt vọng v.v…

Năng khiếu được coi là những đặc tính bẩm sinh về giải phẫu và sinh lý học của hệ thần kinh và não Nó tạo nên cơ sở cho sự phát triển tài năng, năng lực con người nói chung

Về năng khiếu, cũng như về khí chất hiện chưa có một học thuyết nào xác định được rõ ràng nội dung cũng như cấu trúc của chúng Hơn nữa các học thuyết tâm sinh lý học cũng chưa chỉ rõ được việc cầu tạo hệ thần kinh ảnh hưởng cụ thể như thế nào tới khí chất và năng khiếu con người Về bản chất mà nói các khái niệm nêu trên đều mang tính trực giác và kinh nghiệm, nhiều hơn là tính khoa học Tuy vậy, một điều không thể phủ nhận được là các đặc tính sinh

lý của cá nhân ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách Nhiều nghiên cứu và thực nghiệm trong tâm lý học đã chứng minh những ảnh hưởng đó

Rõ ràng nhất, có thể nhận thấy là các tính chất sinh lý quyết định hình thức hoạt động của cá nhân cũng như mặt năng lượng của các quá trình tâm lý Việc bỏ qua nhận định này đã dẫn tới sai lầm của nhiều nhà khoa học tự nhiên, khi cho rằng có thể điều khiển hành vi cá nhân một cách tuyệt đối theo ý muốn, nhờ vào sự tác động của một số yếu tố bên ngoài nhất định Việc thất bại của một số cha mẹ học sinh muốn nhồi nhét kiến thức một cách áp đặt cho con cái

mà không tính đến các đặc điểm nhận thức cũng như các đặc điểm tư duy của chúng cũng là một chứng minh nữa cho nhận định trên

Ngày đăng: 31/05/2021, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w