1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý thuyết hoạt động tâm lý của a n leonchiev và ý nghĩa vận dụng trong giáo dục, phát triển tâm lý nhân cách quân nhân

22 519 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tâm lý học được chính thức trở thành một khoa học độp lập vào năm 1879 với sự kiện Wilhelm thành lập ra phòng thực nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, do không có phương pháp luận đúng đắn, vào những năm đầu của thế kỷ XX, Tâm lý học Wundt (tâm lý học nội quan về ý thức) đã đi đến bế tắc. Tâm lý học thế giới bước vào thời kì khủng hoảng. Để giải quyết cuộc khủng hoảng trong tâm lý học luc đó, nhiều trường phái tâm lý học xuất hiện: Tâm lý học hành vi, Tâm lý học phân tâm, Tâm lý học Gestalt... v

Trang 1

MỞ ĐẦU

Tâm lý học được chính thức trở thành một khoa học độp lập vào năm

1879 với sự kiện Wilhelm thành lập ra phòng thực nghiệm tâm lý đầu tiêntrên thế giới Tuy nhiên, do không có phương pháp luận đúng đắn, vào nhữngnăm đầu của thế kỷ XX, Tâm lý học Wundt (tâm lý học nội quan về ý thức)

đã đi đến bế tắc Tâm lý học thế giới bước vào thời kì khủng hoảng Để giảiquyết cuộc khủng hoảng trong tâm lý học luc đó, nhiều trường phái tâm lýhọc xuất hiện: Tâm lý học hành vi, Tâm lý học phân tâm, Tâm lý họcGestalt với mong muốn chung là đưa tâm lý học thế giới thoát khỏi sự bếtắc, khủng hoảng Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các trường phái tâm lý học đãkhông thực hiện được sứ mạng này Hàng loạt vấn đề cơ bản của khoa họctâm lý đã được đặt ra, đặc biệt là đối tượng và phương pháp nghiên cứu,nhưng vẫn chưa có lời giải đáp sáng rõ và triệt để Nguyên nhân chủ yếu củatình trạng này thuộc về phương pháp luận nghiên cứu Các trường phái tâm lýhọc đầu thế kỷ XX có cùng hạn chế, là không có cách nhìn biện chứng về conngười và bản chất của con người Từ đó dẫn đến quan niệm không đúng đắn

về đối tượng cũng như những phương pháp nghiên cứu tâm lý

Để có cách nhìn bao quát và sâu sắc về bản chất sự phát triển tâm lýngười, từ đó góp phần giải phóng mọi tiềm năng của sự phát triển và địnhhướng nó đạt hiệu quả tối đa, không thể dựa hoàn toàn vào một trong số các

lý thuyết tâm lý học đương thời, mà phải cần có học thuyết tâm lý học đượcxây dựng trên nền tảng triết học khoa học và biện chứng: Triết học hoạt độngcủa C.Mac Bởi lẽ, cho đến nay chưa có triết học nào đưa ra được quan điểmđúng đắn và biện chứng về bản chất con người, về hoạt động và vai trò của nótrong sự sáng tạo ra con người, cả về phương diện lịch sử phát sinh loài và cáthể, như triết học Mác - Lênin Tâm lý học hoạt động chính là hệ thống tâm lýhọc đáp ứng được vai trò định hướng chiến lược về lý luận và phương phápluận tâm lý học hiện đại, vì nó được xây dựng trên cơ sở triết học hoạt động

Trang 2

Tâm lý học hoạt động được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩarộng, đó là nền tâm lý học lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở lý luận vàphương pháp luận nghiên cứu - Tâm lý học Xôviết Theo nghĩa hẹp, Tâm lýhọc hoạt động là lý thuyết tâm lý học lấy hoạt động của cá nhân làm đốitượng nghiên cứu

Trong lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học hoạt động, cônglao đầu tiên thuộc về nhà Tâm lý học vĩ đại L.X.Vưgotxki, người kiên địnhlập trường lấy triết học Mác - Lênin làm cơ sở để xây dựng hệ thống phươngpháp luận, phương pháp nghiên cứu và lý luận tâm lý học

A.N.Leonchiev là người kế tục và phát triển trực tiếp tâm lý học củaL.X.Vưgotxki Cống hiến lớn nhất của ông là định hình và phát triển đườnglối tiếp cận hoạt động theo quan điểm lịch sử - phát sinh Từ đó, hình thành

Lý thuyết hoạt động tâm lý Trong đó, hàng loạt vấn đề phức tạp của phạm trùnày, đặc biệt là vấn đề cấu trúc tâm lý của hoạt động đã được ông làm sáng tỏ

và đã trở thành cơ sở khoa học cho nhiều ứng dụng lý luận và thực tiễn trongmọi mặt của đời sống xã hội Trong phạm vi bài tiểu luận này, tác giả sẽ tập

trung làm rõ: " Lý thuyết hoạt động tâm lý của A.N Leonchiev và ý nghĩa vận dụng trong giáo dục, phát triển tâm lý - nhân cách quân nhân"

Trang 3

NỘI DUNG

1 Quan điểm xuất phát, chỉ đạo xây dựng lý thuyết hoạt động.

Nghiên cứu tâm lý con người người theo đồ ba thành phần, trong đó cókhâu trung gian (vế trung gian) là hoạt động của chủ thể và các điều kiện,mục đích, phương tiện tương ứng của hoạt động là khâu trung gian cho mộtliên hệ giữa chúng

Sau Vưgotxki, xuất hiện hai đường lối nghiên cứu tâm lý người: Thứnhất: duy trì sơ đồ hai thành phần với tư cách là nguyên lý cơ bản: tác độngcủa khách thể à biến đổi các trạng thái hiện tại của chủ thể (sơ đồ S à R).Thứ hai: sơ đồ ba thành phần, trong đó có khâu trung gian (vế trung gian) làhoạt động của chủ thể và các điều kiện, mục đích, phương tiện tương ứng củahoạt động - là khâu trung gian cho mối liên hệ giữa chúng

A.N.Leonchiev nhận ra rằng, khiếm khuyết chính của các trường pháitâm lý học đương thời (kể cả Thuyết hành vi cũ và mới) là nghiên cứu tâm lýngười đều theo phương pháp luận chung: xuất phát từ sơ đồ phân tích hai thànhphần: tác động vào hệ thống nhận cảm của chủ thể à nảy sinh những hiệntượng đáp ứng - chủ quan và khách quan, do tác động ấy gây ra Để khắc phụckhiếm khuyết này, phải nghiên cứu tâm lý theo sơ đồ ba thành phần, tức là phảinghiên cứu hoạt động của cá nhân và các điều kiện sống hiện thực của nó.Sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu tâm lý học củaA.N.Leonchiev là xác lập về mặt tâm lý học phạm trù hoạt động với đốitượng Ở đây ẩn chứa cả quan điểm xuất phát, đường lối tiếp cận và đối tượngnghiên cứu của ông

Giống L.X.Vưgotxki, X.L.Rubinstien và nhiều nhà tâm lý học Xô viếtđương thời, A.N.Leonchiev đặc biệt quan tâm đến quan điểm xuất phát trongtriết học Mácxit và triệt để tuân theo Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạtđộng của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của học, những điều kiện

mà họ thấy có sẵn, cũng như những điều kiện do chính hoạt động của họ tạo

Trang 4

ra Bất kì ai hiểu biết ít nhiều triết học Mác - Lênin cũng đều nhận thấy quanđiểm xuất phát nêu trên và đều có thể rút ra nguyên lý: phân tích hoạt động làđiểm quyết định và là phương hướng cơ bản để nhận thức tâm lý, ý thức mộtcách khoa học Trong nghiên cứu các hình thái ý thức xã hội, phải phân tích tồntại xã hội, các phương thức sản xuất và những hệ thống quan hệ xã hội vốn có

của tồn tại xã hội đó Trong nghiên cứu tâm lý cá nhân, phải bắt đầu từ phân tích hoạt động của cá nhân đó trong những điều kiện xã hội nhất định và trong những hoàn cảnh cụ thể, ứng với thân phận của mỗi cá nhân.

Như vậy, vấn đề quan điểm xuất phát từ hoạt động với đối tượng, đốivới các nhà tâm lý học Liên Xô đã trở nên rõ ràng và thống nhất Nhưng tạithời điểm đó, đường lối tiếp cận lại theo các hướng khác nhau L.X.Vưgotxkitiếp cận hoạt động chủ yếu từ phía công cụ của nó, từ chức năng và nguồngốc xã hội của sự phát sinh các công cụ đó X.L.Rubinstein tiếp cận hoạt độngvới tư cách là cái “mang”, cái “chứa” tâm lý ý thức, là cái có quan hệ điềukiện hình thành và biểu hiện ra bên ngoài của tâm lý, ý thức con người Khácvới X.L.Rubinstein, A.N.Leonchiev tiếp cận hoạt động với tư cách là phạmtrù tâm lý, là cái tâm lý Ở đây có liên quan tới vấn đề đối tượng nghiên cứucủa tâm lý học

2 Đối tượng của tâm lý học là hoạt động của con người.

X L.Rubinstein đề nghị phải đưa phạm trù hoạt động vào lĩnh vựcnghiên cứu tâm lý Nhưng ông cũng khẳng định nó không phải là đối tượngcủa tâm lý học X.L.Rubinstein (1973) giải thích rõ quan điểm của mình:

"Chúng ta không nghiên cứu tâm lý và hoạt động, mà nghiên cứu tâm lý tronghoạt động Hoạt động nói chung không phải là đối tượng của tâm lý học, chỉ

có mặt tâm lý của hoạt động là đối tượng tâm lý học Mọi nền tâm lý học nàohiểu việc nó làm thì đều nghiên cứu tâm lý và chỉ nghiên cứu tâm lý".A.N.Leonchiev không quan niệm như X.L.Rubinstein, mà đề nghị đưa hoạtđộng trở thành đối tượng của tâm lý học Theo ông, phạm trù hoạt độngkhông chỉ là phạm trù xuất phát, mà còn là phạm trù quan trọng nhất Trong

Trang 5

tâm lý học Xô Viết, luận điểm này thường xuyên được phát biểu, nhưng cáchgiải thích lại căn bản khác nhau Điểm trung tâm của sự phân cách là vị trí củaphạm trù hoạt động: hoặc là, coi hoạt động với đối tượng chỉ là điều kiện của

sự phản ánh tâm lý và sự biểu hiện phản ánh ấy; hoặc coi nó là một quá trìnhmang trong bản thân những mâu thuẫn vận động nội tại, là sự phân đôi vàchuyển hoá, mà sẽ tạo ra tâm lý như một thành phần thiết yếu của bản thân sựvận động và sự phát triển của hoạt động Nếu lập trường thứ nhất coi việcnghiên cứu hoạt động trong dạng cơ bản của nó - dạng thực tiễn - là nằmngoài tâm lý học, thì lập trường thứ hai, ngược lại đề nghị đưa hoạt động,không kể nó ở dạng nào, làm đối tượng của tâm lý học, mặc dù đương nhiên

là hoàn toàn khác với khi nó là đối tượng của các khoa học khác Theo lậptrường thứ hai này, phân tích các hoạt động về mặt tâm lý học không phải làtách các yếu tố tâm lý bên trong của hoạt động ra khỏi hoạt động để tiếp tụcnghiên cứu chúng một cách riêng rẽ, mà là đưa vào tâm lý học các đơn vịphân tích, chứa đựng trong bản thân nó sự phản ánh tâm lý, vốn gắn bó vớicác thành phần của hoạt động con người tạo ra sản phẩm phản ánh đó và dựavào phản ánh đó làm trung gian Tuy nhiên, A.N.Leonchiev cho rằng, nhữngngười theo lập trường thứ hai phải xây dựng lại toàn bộ bộ máy khái niệm củatâm lý học Như vậy, quan điểm của A.N.Leonchiev là rất rõ ràng Ông coimọi dạng hoạt động của con người đều là tâm lý Tâm lý học có nhiệm vụnghiên cứu cơ cấu của hoạt động, phát hiện ra chức năng phản ánh tâm lý của

nó, nguồn gốc, quá trình phát sinh các chức năng đó và vai trò trung gian củachúng trong quan hệ của con người với thế giới xung quanh Với quan điểmchỉ đạo này, A.N Leonchiev và các cộng sự đã rất thành công trong việc tổchức nghiên cứu theo hướng chứng minh mọi chức năng tâm lý cá nhân, từ cácquá trình: tri giác, trí nhớ, tư duy… đến các thuộc tính ổn định: nhu cầu, độngcơ… đều có bản chất hoạt động và có cơ cấu của hoạt động Về phương diệnnày, A.N.Leonchiev và các nhà tâm lý học cùng xu hướng đã đóng góp chotâm lý học thế giới một thành tựu vô giá: phương pháp tiếp cận hoạt động

Trang 6

Đưa hoạt động thành đối tượng của tâm lý học, A.N.Leonchiev phảigiải quyết hàng loạt vấn đề có tính chất sống còn, từ xác định khái niệm vàđặc trưng của hoạt động đến phân loại, nguồn gốc, cấu trúc và sự phát sinh,phát triển của nó trong đời sống xã hội và cá nhân.

Định nghĩa về hoạt động

Hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hoá lẫn nhau giữa haicực: chủ thể - khách thể Theo nghĩa rộng, nó là đơn vị phân tử, chứ khôngphải là đơn vị cộng thành của đời sống chủ thể Đời sống của con người làmột hệ thống (một dòng) các hoạt động thay thế nhau

Hoạt động theo nghĩa hẹp hơn, tức là ở cấp độ tâm lý học, là đơn vị củađời sống, mà khâu trung gian là phản ánh tâm lý có chức năng hướng dẫn chủthể trong thế giới đối tượng

Có ba điểm cần lưu ý trong định nghĩa trên về hoạt động: Thứ nhất Ở cấp

độ rộng nhất của nó, hoạt động là khâu trung gian giữa con người với thế giới,trong đó diễn ra quá trình chuyển hoá lẫn nhau giữa chủ thể với đối tượng Cầnphải ý thức đầy đủ tầm quan trọng và bản chất của sự chuyển hoá biện chứng này.Bởi vì toàn bộ bí mật của đời sống xã hội và cá nhân, của sự phát triển của loàingười với tư cách là con người nằm trong sự chuyển hoá đó Sức mạnh tiềm tàng

và hiện thực của hoạt động, sức mạnh tạo ra giá trị quyết định của hoạt động đốivới toàn bộ đời sống xã hội và cá nhân, cũng được tạo ra nhờ sự chuyển hoá đó.Thứ hai: ở cấp độ tâm lý học, hoạt động được nghiên cứu với tư cách là sự phảnánh tâm lý, được hình thành, phát triển và có chức năng định hướng chủ thể trongquá trình chuyển hoá Thứ ba: hoạt động là đơn vị phân tử (phương pháp phântích đơn vị) chứ không phải là phản ứng hay tổng hợp các phản ứng (phương phápphân tích nhân tố, máy móc) Nó là một hệ thống có cơ cấu, có những chuyển hoá

và chuyển biến chức năng bên trong của cơ cấu đó, có sự phát triển Như vậy, hoạtđộng có thể và phải là đối tượng của nhiều lĩnh vực khoa học Dưới góc độ tâm lýhọc, nó là hệ thống cơ cấu phản ánh tâm lý định hướng chủ thể trong quan hệ vớithế giới Điều này được bộc lộ qua đặc trưng và cấu trúc của hoạt động

Trang 7

Đặc trưng cơ bản của hoạt động là tính đối tượng của nó

A.N.Leonchiev (1989) cho rằng, "Đặc trưng cơ bản, hoặc có khi nói làđặc trưng cấu thành của hoạt động là tính đối tượng của nó "Khái niệm đốitượng là chìa khóa để A.N.Leonchiev giải quyết mọi vấn đề có tính then chốtcủa phạm trù hoạt động Đồng thời cũng là vấn đề phức tạp nhất, khó hiểu và

dễ gây tranh luận trong lĩnh vực tâm lý học hoạt động

Trước hết, cần phải làm rõ khái niệm đối tượng, rồi sau đó mới hiểutính đối tượng trong hoạt động, với tư cách là đặc trưng tạo thành hoạt động.Đối tượng của hoạt động là cái đang sinh thành trong quan hệ sinhthành của hoạt động và thông qua hoạt động của chủ thế

Về phương diện triết học, theo quan niệm của Kant một vật khi còn ởtrạng thái nguyên thuỷ là một vật - tự - nó, một vật - vì - nó Nó là tồn tại độclập, không vì cái nào khác Do đó, nó chưa phải là đối tượng của cái khác Tuynhiên, đối với các nhà triết học duy vật Macxit thì vật tự nó chỉ có trong tư duy,trong tưởng tượng chứ không có trong hiện thực Theo V.I.Lênin (1963): "vật -

tự - nó, nói chung, là một sự trừu tượng trống rỗng và chết Trong sự sống và sựvận động, tất cả và mọi vật thường "tự nó" và cũng là "vì những cái khác", trongmột quan hệ với cái khác "Trong quan hệ với cái khác, vật - tự - nó đó trở thànhđối tượng của cái khác Ở đây có hai điểm quan trọng liên quan tới nguồn gốcsâu xa của tâm lý con người: Thứ nhất: vật - tự - nó là thực thể có tính vật thể vàbao giờ cũng ở trong mối quan hệ với thực thể khác; do đó, thứ hai: bao giờ cũng

là đối tượng cho cái khác và có những cái khác làm đối tượng cho mình Nhưvậy, vì là quan hệ tích cực của con người với thế giới, hoạt động bao giờ cũngphải có đối tượng nhất định "Bản thân khái niệm hoạt động đã ngầm bao hàmkhái niệm đối tượng của hoạt động" (A.N.Leonchiev 1989) Với tư cách là đốitượng của hoạt động, thực thể khách quan không còn là vật tự nó, mà là vật vìcái khác Lúc này, trong hoạt động xuất hiện 3 yếu tố: chủ thể - đối tượng và quytrình chuyển hoá giữa chúng (dĩ nhiên, ngoài 3 yếu tố trên còn có công cụ vàđiều kiện khách quan diễn ra hoạt động và các yếu tố khác)

Trang 8

Nếu tách riêng (trong tư duy) đối tượng để xét một cách độc lập, ta thấy

có hai đặc trưng Thứ nhất, tính chất của thực thể và hình thức tồn tại của nó.Như đã biết, C.Mác đã chỉ rõ đối tượng của hoạt động bao gồm những vật thể

tự nhiên và những vật thể do con người làm ra, trong đó loại thứ hai là chủyếu Chúng chính là sản phẩm của một (đồng thời là của cả hệ thống) hoạtđộng trước đó Về phương diện tâm lý học, nó chính là vật thể mang nội dungvăn hoá - xã hội- tâm lý, là một đại diện của lịch sử văn hoá nhân loại Trongcấu trúc nội dung của thực thể bao gồm nội dung của thực thể đó và logicthao tác hình thành nó Chính nội dung và lôgic này của đối tượng là cái màchủ thể cần phải có trong và sau khi kết thúc hoạt động Nói cách khác, nó làcái mà đối tượng sẽ hiến cho chủ thể, vì chủ thể Trong phạm vi bao quát thựcthể tồn tại dưới ba hình thức: vật chất (vật thật); ký hiệu và ý nghĩ Các hìnhthức tồn tại này của đối tượng quy định hình thức hoạt động: vật chất bênngoài, tinh thần và bên trong (thực ra, sự phân định các hình thức tồn tại củacủa đối tượng và hình thức hoạt động chỉ là tương đối và có tính lịch sử) Thứhai: quan hệ giữa chủ thể đối tượng Ở đây cũng có ba đặc điểm: đặc điểm thứnhất, quan hệ giữa chủ thể - khách thể không phải là một chiều từ chủ thể tácđộng đến khách thể, mà là cả hai phía đều thể hiện tính tích cực của mình.Đặc điểm thứ hai: cả chủ thể và đối tượng đều không xuất hiện đầy đủ ngay

từ đầu như hai lực lượng xa lạ, đối ngược nhau, chiếm lĩnh nhau Trong hoạtđộng, đối tượng được bộc lộ dần theo hoạt động của chủ thể Chủ thể tự tìmdần bản thân mình trong đối tượng, được sinh thành bởi đối tượng Nói chínhxác hơn, đối tượng và chủ thể sinh thành lẫn nhau thông qua mặt đối lập củamình, kết thúc hoạt động, đối tượng được chủ thể hoá còn chủ thể được vậthoá trong sản phẩm, đến lượt nó, sản phẩm này lại trở thành khách thể, thànhđối tượng cho hoạt động khác Đặc điểm thứ ba: trong suốt quá trình hoạtđộng, đối tượng xuất hiện hai lần (cần phân biệt hiện tượng lộ rõ của đốitượng với sự hiện diện và hình thành, chuyển hoá dần của nó trong hoạtđộng): lần thứ nhất, trong tồn tại độc lập của nó, bắt hoạt động của chủ thể

Trang 9

phải phụ thuộc vào nó và cải tạo hoạt động ấy Lần thứ hai, là hình ảnh củađối tượng, kết quả của sự phản ánh tâm lý về những thuộc tính của đối tượng,một sự phản ánh chỉ thực hiện được do hoạt động của chủ thể chứ không phảibằng cách nào khác Điều này có nghĩa là "tác nhân dẫn vào" điều khiển cácquá trình hoạt động, lúc đầu là bản thân đối tượng, rồi sau đó mới là hìnhtượng về đối tượng với tư cách là sản phẩm chủ quan của hoạt động ghi lại, cốđịnh lại và chứa đựng nội dung đối tượng của hoạt động Nói cách khác, cóhai lần chuyển hoá: đối tượng chuyển thành quá trình hoạt động và hoạt độngchuyển thành sản phẩm của hoạt động chủ quan (A.N.Leonchiev 1989) Sựchuyển hoá hai lần như vậy diễn ra đối với cực chủ thể và cực khách thể (hoạtđộng làm biến đổi khách thể đồng thời chuyển hoạt động đó từ dạng độngsang dạng tĩnh, được kết tinh trong sản phẩm khách quan của hoạt động).Theo A.N.Leonchiev, tính đối tượng như trên diễn ra trong mọi hoạtđộng của con người.

3 Phân loại hoạt động và xác định nguồn gốc của chúng

Có 2 dạng hoạt động cơ bản là hoạt động bên trong và hoạt động bênngoài Hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài có cùng cấu trúc Hoạtđộng bên trong có nguồn gốc từ hoạt động bên ngoài, là sự hình thành từ hoạtđộng bên ngoài

Đứng trên lập trường của triết học Mác-Leeenin về mối quan hệ giữacái bên trong và bên ngoài, tâm lý học đã có nhiều công trình nghiên cứu cơchế hình thành cái tâm lý bên trong của con người và đã phát hiện ra lôgic quátrình chuyển hoá phù hợp với quan điểm triết học của C.Mác Toàn bộ cáccông trình đó đã toát lên hai vấn đề có tính chất then chốt trong tâm lý học:Thứ nhất: hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong có cấu tạo chung giốngnhau Thứ hai: hoạt động bên trong có nguồn gốc từ bên ngoài, quá trình hìnhthành hoạt động bên trong là quá trình chuyển đối tượng từ bên ngoài vào bêntrong Quá trình này không phải là hoạt động bên ngoài di chuyển vào “bìnhdiện ý thức” bên trong đã có từ trước, mà đó là quá trình hình thành nên bình

Trang 10

diện bên trong ấy Theo A.N.Leonchiev việc phát hiện ra cấu tạo chung giữahai loại hoạt động là một trong những phát hiện quan trọng nhất của khoa họctâm lý hiện đại (1989).

Việc phân biệt hoạt động bên trong và bên ngoài (hoạt động vật chất,thực tiễn, cảm tính và hoạt động tinh thần, ý thức) chỉ là tương đối và có tínhlịch sử (cả về phương diện triết học lẫn tâm lý học) Theo cách tiếp cận hoạtđộng, không phải hoạt động bên trong là hoạt động hoàn toàn có tính chất tâm

lý, còn hoạt động vật chất, thực tiễn là phi tâm lý, làm nền để nảy sinh tâm lý.Cần luôn luôn ý thức, cả hoạt động bên ngoài (vật chất, cảm tính), cả hoạtđộng bên trong (hoạt động của ý nghĩ) đều là hoạt động tâm lý, nghĩa là,chúng đều là các dạng hoạt động của con người và được tâm lý học xét dướigóc độ phản ánh tâm lý của chúng Về phương diện này, chúng đều có chungđối tượng và giống nhau về cấu trúc Phát hiện ra và mô tả cấu trúc chung củahoạt động là đóng góp to lớn của A.N.Leonchiev cho tâm lý học hoạt động

4 Cấu trúc chung của hoạt động.

Cống hiến lớn lao của các nhà tâm lý học Xô Viết là xây dựng và kiêntrì phương pháp tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu các chức năng tâm lýngười Tuy nhiên, phương pháp này sẽ trở thành trống rỗng nếu không xácđịnh được cấu trúc của hoạt động với tư cách là công cụ của nhà nghiên cứu

Vì thế, thành tựu thực tiễn của A.N.Leonchiev chính là ở chỗ đã xác định và

mô hình hoá được cấu trúc chung của một hoạt động bất kỳ trong hệ thống đadạng, sinh động của cá nhân nào Công việc này, được A.N Leonchev thựchiện trong suốt mấy chục năm (1947 - 1975)

Xuất phát từ quan điểm của Mác về hoạt động, Leeonchiev đã xây dựnglên cấu trúc chung của hoạt động, và chìa khóa để ta hiểu cấu trúc hoạt động

là chuyển hoá chức năng của các đơn vị cấu thành cấu trúc

Những mô tả đầu tiên có tính phác thảo về cấu trúc của hoạt động đượcA.N.Leonchiev trình bày năm 1947 trong tiểu luận "Khái niệm về sự pháttriển tâm lý" Năm 1959, mô hình này được rõ hơn trong tác phẩm nổi tiếng

Trang 11

của ông "Những vấn đề phát triển tâm lý" Năm 1975, công trình được hoànthiện và tổng kết trong "Hoạt động - Ý thức - nhân cách"

Ngày nay nội dung cơ bản của cấu trúc hoạt động do A.N.Leonchievxác định, được trình bày trong rất nhiều sách giáo khoa tâm lý học và trongcác chuyên khảo Dưới đây là một số nội dung chủ yếu trong cấu trúc củahoạt động theo quan điểm A.N.Leonchiev

Có thể phân tích cấu trúc hoạt động theo nhiều cách: theo trục hoạtđộng « động cơ, hành động « mục đích, thao tác « phương tiện trong mốiquan hệ với hoạt động « hành động « thao tác, vế thứ nhất thuộc về đốitượng, vế thứ hai là chủ thể v.v… Dù phân tích theo kiểu nào cũng phảithường xuyên ghi nhớ: hoạt động là đơn vị phân tử, chứ không phải là đơn vịhợp thành Vì vậy, cấu trúc của hoạt động không phải là sự kết hợp của các bộphận tạo thành một khối chỉnh thể mà là cấu trúc chức năng và chuyển hoáchức năng của các đơn vị của hoạt động Nói cách khác chức năng và chuyểnhoá chức năng là bản chất trong cấu trúc hoạt động, là chìa khoá để giải mãkhía cạnh phản ánh tâm lý của hoạt động và của các đơn vị phân tử của nó.Theo A.N.Leonchiev, trong dòng liên tục các hoạt động khác nhau tạonên đời sống cá nhân, nếu ta "lấy" ra một hoạt động bất kỳ, tại thời điểm xácđịnh và trừu hoá (loại bỏ) mọi sự khác nhau về hình thức biểu hiện và tính chấtriêng, sẽ còn lại quan hệ chủ thể « đối tượng, thông qua công cụ hoạt động.Đối tượng hoạt động là khách thể có hai đặc tính: đặc tính vật và đặc tính chứcnăng kích thích, hướng dẫn hoạt động của chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh nó.Trong mối quan hệ với chủ thể đối tượng là cái khách quan, là cái hấpdẫn, keo và chi phối các động tác của chủ thể về phía mình Khi nói đối tượngcủa hoạt động, nhất thiết phải phân biệt hai phương điện: thực thể khách quan

và chức năng của nó Như đã biết, trong bất kỳ tình huống quan hệ nào vớichủ thể của hoạt động, đối tượng cũng là một thực thể khách quan, chứa đựngnội dung tâm lý mà chủ thể cần có sau khi kết thúc hoạt động Trong nội dung

đó bao hàm đặc tính vật lý của thực thể và lôgic thao tác tạo ra thực thể đó

Ngày đăng: 31/05/2021, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w