ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN ĐỨC Tên chuyên đề: ÁP DỤNG QUY TRÌNH VỆ SINH THÚ Y TRONG PHÒNG, TRỊ HỘI CHỨNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN TRƯỜNG HẰNG
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN ĐỨC
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH VỆ SINH THÚ Y TRONG PHÒNG, TRỊ HỘI CHỨNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN TRƯỜNG HẰNG XÃ ĐỨC THẮNG - HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN ĐỨC
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH VỆ SINH THÚ Y TRONG PHÒNG, TRỊ HỘI CHỨNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN TRƯỜNG HẰNG XÃ ĐỨC THẮNG - HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Lớp: K47 - TY - N02 Khoá học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Mai Anh Khoa
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài, bản thân em luôn luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú y
Em xin chân thành cảm ơn gia đình và các thầy cô đã động viên giúp
đỡ em tận tình trong suốt những năm học vừa qua và trong quá trình thực tập
tốt nghiệp Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: TS Mai Anh Khoa Khoa
Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình em trong suốt thời gian thực tập Và em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giảng dạy và nghiên cứu trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân trại lợn Trường Hằng - xã Đức Thắng- huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại đây
Trong quá trình thực tập bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự quan tâm góp ý của các thầy cô để em trưởng thành hơn trong công tác sau này
Kính chúc quý thầy cô sức khỏe và thành công trong công việc
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 09 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Văn Đức
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên các trường đại học nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng, nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học được, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thực tiễn sản xuất Qua đó giúp cho sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững phương pháp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, tính sáng tạo để khi ra trường về cơ sở sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp của nước ta Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y, trại lợn Trường Hằng, tôi tiến hành đề tài: “Áp dụng quy trình vệ sinh thú y trong phòng, trị hội chứng hô hấp trên đàn lợn thịt tại trại Trường Hằng - xã Đức Thắng - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang”
Sau thời gian thực tập, với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc nên tôi đã hoàn thành khóa luận Do trình độ, thời gian có hạn, bước đầu còn
bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những sai sót và hạn chế, tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô, đồng nghiệp để khóa luận của tôi hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo!
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nhiệm 33
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại Hà Văn Trường qua 3 năm 2017 - 5/2019 35
Bảng 4.2 Tỷ lệ lợn ngoại nuôi thịt mắc hội chứng hô hấp theo cá thể 36
Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn mắc hôi chứng hô hấp theo tháng tuổi 38
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc hội chứng hấp của lợn theo tháng trong năm 39
Bảng 4.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn thịt mắc bệnh đường hô hấp 41
Bảng 4.6 Bệnh tích của lợn thịt mắc hội chứng hô hấp 42
Bảng 4.7 Hiệu quả điều trị của thuốc đối với lợn mắc hội chứng hô hấp 43
Bảng 4.8 Lịch tiêm phòng vắc xin được áp dụng cho lợn thịt tại trại 45
Bảng 4.9 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn tại trại 45
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện công tác khác tại trại 46
Trang 6
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ lợn mắc hội chứng hô hấp theo tuổi 38 Hình 4.2 Tỷ lệ mắc hội chứng hấp của lợn theo tháng trong năm 40
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Hà Văn Trường 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2 Tổng quan tài liệu trong nước và nước ngoài 5
2.2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài và trong nước 27
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31 3.1 Đối tượng 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung tiến hành 31
3.4, Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 phương pháp thực hiện 31
3.4.3 phương pháp xử lý số liệu 33
Trang 9Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Hà Văn Trường qua 3 năm 2017 - 2019 35
4.2 Kết quả 35
4.2.1 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh hội chứng hô hấp ở lợn thịt tại trại lợn Trường Hằng - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang 35
4.2.2 Tình hình mắc hội chứng hô hấp của lợn theo tháng tuổi 37
4.2.3 Tình hình mắc hội chứng hô hấp của lợn theo tháng trong năm 39
4.2.4 Triệu chứng lâm sàng của lợn thịt mắc hội chứng hô hấp 41
4.2.5 Bệnh tích của lợn thịt mắc hội chứng hô hấp 42
4.2.6 Hiệu quả điều trị của hai loại thuốc 42
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn bằng vắc xin 44
4.4 Kết quả thực hiện công tác khác tại trại 46
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng phát triển mạnh đã đáp ứng phần lớn nhu cầu về thực phẩm của người dân và giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhằm đáp ứng với sự phát triển đó, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cho nhập các giống gia súc, gia cầm có năng suất và chất lượng cao từ các nước có nền chăn nuôi phát triển, nhằm mục đích nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm
Trong các loại vật nuôi thì nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế cao và là nguồn cung cấp thịt chủ yếu cho xã hội Vì vậy trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi muốn thu được lợi nhuận cao thì ngoài các vấn đề về con giống, công tác dinh dưỡng thì công tác thú y là vấn đề cấp bách, quyết định đến thành công trong chăn nuôi
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất đã giúp chúng ta xử lý và khống chế bệnh dịch Mặt khác khi mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà
xã hội quan tâm, do đó mà ngành chăn nuôi nói chung và nhất là chăn nuôi lợn nói riêng làm sao phải tạo ra nhiều số lượng nhưng phải có chất lượng sản phẩm tốt, việc đó đòi hỏi phải có những biện pháp hợp lý để đáp ứng nhu cầu
xã hội
Trong các bệnh gây thiệt hại cho chăn nuôi lợn thì bệnh liên quan tới đường
hô hấp diễn ra một cách phức tạp và gây nhiều thiệt hại lớn Hội chứng hô hấp
là một trong những bệnh có nhiều nguyên nhân gây ra như: vi khuẩn, virus, mycoplasma, gây ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của lợn
Trang 11Mặc dù tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh này lại làm suy giảm năng suất chăn nuôi, do lợn nhiễm bệnh sinh trưởng chậm, tiêu tốn thức ăn cao Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất và được sự hướng dẫn của thầy giáo TS Mai
Anh Khoa, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng quy trình vệ sinh thú y trong phòng, trị hội chứng hô hấp trên đàn lợn thịt tại trại Trường Hằng - xã Đức Thắng - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Xác định tỷ lệ lợn mắc hội chứng hô hấp trên đàn lợn thịt tại trại lợn
- So sánh hiệu lực điều trị bệnh đường hô hấp của 2 loại thuốc
- Giúp sinh viên cũng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Hà Văn Trường - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang
- Nắm vững quy trình phòng, trị hội chứng hô hấp trên đàn lợn thịt
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Hà Văn Trường
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trang trại chăn nuôi lợn Hà Văn Trường huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Trại được thành lập năm 2001, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Trại lợn được hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Hà Văn Trường làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công
ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
2.1.1.2 Vị trí địa lý
Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm ở đầu tỉnh Bắc Giang Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách thủ đô Hà Nội 50 km theo đường bộ Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên, phía Đông giáp huyện Việt Yên, phía Nam giáp huyện Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội, phía Tây Bắc giáp các thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23 - 24 0C, lượng mưa trung bình mỗi năm 1.650 - 1.700 mm, nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm
2.1.1.4 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Trang 132.1.1.5 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là nuôi lợn thịt Thức ăn cho lợn thịt là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao được cung cấp bởi công ty chăn nuôi CP
Sinh viên, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
- Công tác trị bệnh: Kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
Trang 142.1.2 Thuận lợi và khó khăn
2.2.1.1 Vai trò, chức năng sinh lý của bộ máy hô hấp
Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định đến sự sống là có đủ lượng oxy Trong mỗi phút, cơ thể động vật cần 6 - 8ml oxy và thải ra 250ml cacbonic Để có đủ lượng oxy thiết yếu này và thải ra được lượng cacbonic ra khỏi cơ thể thì cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp
Hô hấp của cơ thể lợn được chia thành 3 quá trình:
- Hô hấp ngoài: là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang
- Hô hấp trong: là quá trình sử dụng oxy ở mô bào
- Quá trình vận chuyển cacbonic, oxy từ phổi đến mô bào và ngược lại Động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh thể dịch và được thực hiện bởi các cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, họng, khí quản, phế quản và phổi)
Trang 15Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân
bố dày đặc có tác dụng sưởi ấm không khí vào đến phổi Trên niêm mạc đường hô hấp có nhiều tuyến tiết dịch nhầy để giữ bụi và dị vật có lẫn trong không khí Niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hướng ra ngoài do đó có thể đẩy các dị vật hoặc bụi ra ngoài
Cơ quan thụ cảm trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí Khi có vật lạ, cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập vào sâu trong đường hô hấp Khí oxy sau khi vào phổi và khí cacbonic thải ra được trao đổi tại phế nang Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng diện tích bề mặt trao khí Một động tác hít vào và thở ra được gọi là một lần hít thở Tần số hô hấp là số lần thở/phút Mỗi loài động vật khác nhau trong điều kiện bình thường có tần số hô hấp khác nhau:
2.2.1.2 Tìm hiểu một số vi khuẩn đường hô hấp và bệnh do chúng gây ra
Bệnh đường hô hấp do nhiều nguyên nhân gây ra như: vi khuẩn, virus, kí sinh trùng
Các giống lợn được nuôi tại trại lợn Trường Hằng đều là các giống lợn nhập ngoại thông qua tập đoàn CP Việt Nam Các giống lợn này có sức đề kháng rất kém với các điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương
Chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu và các yếu tố gây bệnh Mặt khác, trong quá trình chăn nuôi công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng trị bệnh không được thực hiện triệt để Chính những nguyên nhân này làm cho tỷ lệ lợn ở trong trại lợn Trường
Trang 16Hằng thường xuyên mắc các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh đường
hô hấp
Các bệnh đường hô hấp mà lợn thường xuyên mắc ở trang trại Trường Hằng là:
- Bệnh viêm phổi do Mycoplasma gây ra;
- Bệnh viêm phổi do Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra;
- Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra;
- Bệnh viêm phổi do virus gây ra;
- Bệnh viêm phổi do ký sinh trùng gây ra
- Bệnh viêm phổi do bụi,khí độc trong chuồng
M.hyorhinitis, M,granularum và M.suipneumoniae (M.pneumoniae suis)
Nguyên nhân kế phát và thúc đẩy bệnh nặng thêm là:
- Brodetella bronchiseptica: căn nguyên gây viêm teo mũi
- Pasteurella multocida typ D và Pasteurella haemolytica: căn nguyên
gay bệnh tụ huyết trùng
- Haemophillus pleuropneumoniae: căn nguyên gây bệnh viêm mũi và
viêm dính màng phổi
- Streptococcus và Staphylococcus: căn nguyên gây viêm amidal, viêm
dính phổi, màng phổi và viêm khớp
- Người ta còn phân lập được vi khuẩn Bacteria pyogenes suis: căn
nguyên gây viêm áp xe mủ ở phổi và nhiều cơ quan khác
Tất cả các vi khuẩn trên đều là những vi sinh vật thường trú ở amidal, niêm mạc đường hô hấp trên (mũi, xoang mũi)
Trang 17Bệnh chỉ xảy ra khi có các yếu tố stress bất lợi thúc đẩy
- Thay đổi cơ cấu đàn, sau khi chuyển nhập lợn mới vào trại
- Thay đổi khí hậu: mưa, gió, quá nóng, quá lạnh, tiểu khí hậu chuồng nuôi không đảm bảo, ẩm ướt, ngột ngạt, nhiều khí độc, NH3, H2S, CO2… Mật
độ lợn quá đông, nuôi nhiều lứa tuổi, nhiều giống lợn cùng một chỗ
- Thức ăn nghèo vi lượng, thiếu vitamin A,D,E
- Trong đàn có những lợn bị giun phổi
- Các tác động stress sau tiêm phòng hoặc hậu quả việc tiêm phòng không đúng cách
- Lợn thở khó, ho nhiều, sốt ngắt quãng, ăn kém
- Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi nước mắt chảy ra nhiều
Vì phổi bị tổn thương nên lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó thở Rõ nhất là sau khi bị xua đuổi, có những con mệt quá nằm lỳ ra mà không có phản xạ sợ sệt, vẻ mặt rầu rĩ, mí mắt sụp, tai không ve vẩy Xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp
- Nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao
- Khi sờ nắn hoặc gõ để khám bệnh, lợn cảm thấy đau ở vùng phổi, rõ
Trang 18nhất là 1 - 2 đôi xương sườn đầu giáp bả vai Lợn vẫn thèm ăn nhưng ăn uống thất thường
- Nếu không điều trị, lợn bệnh sẽ chết sau 7 - 20 ngày Tỷ lệ chết phụ thuộc rất nhiều vào lứa lợn nuôi, sức đề kháng cơ thể và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng như bệnh thứ phát
Thể mãn tính
Đây là thể bệnh thường gặp nhất ở những đàn mang trùng
- Lợn bệnh ho húng hắng liên tục và bệnh kéo dài gây cảm giác rất khó chịu
- Đàn lợn ăn uống bình thường, nhưng lợn chậm lớn còi cọc
- Da lợn kém bóng, lông cứng và xu dựng đứng, nhiều trường hợp thấy
da bị quăn và xuất hiện nhiều vảy nâu
- Trong trại có một số con bị viêm khớp và vì thế chúng đi lặc, đôi khi thấy liệt và bán liệt Ở lợn nái, có thể có thấy thai chết lưu, sảy thai và con chết yểu
- Nếu bị bội nhiễm thì lợn bệnh ho thường xổ mũi như mủ khiến bức tranh lâm sàng trở nên phức tạp
Cả hai thể dưới cấp và thể mãn tính đều có tiên lượng xấu đi do lợn còi cọc, chậm lớn hao hụt số đầu con, chi phí thức ăn thuốc men tăng
Nếu lợn bệnh qua được thì khả năng hồi phục cũng rất kém, do phổi bị tổn thương nặng, lợn trở nên còi cọc và chậm lớn
* Bệnh tích
Bệnh tích chủ yếu ở cơ quan hô hấp, đặc biệt là ở phổi, hạch phổi Bắt đầu xuất hiện những đốm đỏ hoặc xám bằng hạt đậu xanh to dần rồi tập trung lại thành vùng rộng hơn Hai bên phổi đều có bệnh tích như nhau và có giới hạn rõ giữa chỗ phổi bị viêm và chỗ bình thường
Chỗ viêm ở phổi cứng dần, màu đỏ hoặc màu xám, mặt bóng láng, trong suốt, bên trong có chất keo nên gọi là viêm phổi kính Phổi có bệnh thì dày lên,cứng rắn, bị gan hóa hoặc thịt hóa Cắt phổi ra có nước hơi lỏng màu
Trang 19trắng xám, có bọt, phổi dày và đặc lại, khi dùng tay bóp không xốp như bình thường Sau khi viêm từ 10 - 20 ngày, vùng nhục hóa đục dần, ít trong hơn, màu tro hồng, vàng nhạt hoặc vàng xám, cuối cùng màu đục hẳn, bóp rất cứng, sờ giống như tụy tạng hóa Cắt phổi có bệnh thấy rất nhiều bọt, nhiều vùng hoại tử màu trắng Bệnh tích lan rộng, trên mặt có nhiều sợi tơ huyết trắng, phổi dính vào lồng ngực khi màng phổi bị viêm nặng
Cắt một miếng phổi có vùng bị gan hóa bỏ vào nước thấy chìm Phế quản, khí quản viêm có bọt, dịch nhày màu hồng nhạt, bóp có khi có mủ chảy ra Một bệnh tích đặc trưng nữa là hạch lâm ba phổi sưng rất to, gấp 2 - 5 lần hạch bình thường, chứa nhiều vi khuẩn, nhiều nước màu tro, hơi tụ máu nhưng không xuất huyết, sưng thủy thũng, mọng nước
* Chẩn đoán bệnh
Hiên nay có nhiều phương pháp để chẩn đoán bệnh như: chẩn đoán vi khuẩn học, chẩn đoán huyết thanh học Trong đó, phương pháp chẩn đoán lâm sàng được sử dụng phổ biến nhất, căn cứ vào các biểu hiện điển hình của bệnh như: ho vào buổi sáng sớm và chiều tối, khi thời tiết lạnh, sau khi vận động Bệnh tích điển hình là viêm phổi kính, có vùng gan hóa, nhục hóa, đỏ thẫm, vàng nhạt ở thùy đỉnh, thùy tim
* Về mặt dịch tễ
- Cách lây lan: bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp Lợn khỏe mắc bệnh
khi nhốt chung với lợn ốm, hít thở không khí có Mycoplasma hyopneumoniae
Lợn sẽ phát bệnh khi gặp các điều kiện sống không thuận lợi: thời tiết lạnh thức ăn thiếu và môi trường ô nhiễm
- Động vật cảm nhiễm: Lợn ở các lứa tuổi đều mắc bệnh nhưng thường mắc nhiều ở lợn từ 2 - 5 tháng và có tính chất mùa vụ, phụ thuộc vào giống lợn Lợn ngoại chưa thích nghi với các điều kiện nước ta bị bệnh với tỷ lệ cao
và ở thể cấp tính: tỷ lệ chết cao hơn lợn nội và lợn lai (Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài, 2006) [9]
Trang 20+ Nên tự túc về con giống
+ Mua lợn về phải được nhốt riêng để theo dõi ít nhất một tháng, nếu không có triệu chứng ho, khó thở thì mới nhập đàn
+ Đối với đực giống cần phải chặt chẽ hơn: kiểm tra lại lai lịch, nguồn gốc, nhốt riêng ít nhất hai tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm bảo mới được đưa vào sử dụng
+ Bên cạnh đó, việc tiêm phòng mang lại hiệu quả rất tốt
dễ tiêu protein, vitaminvà muối khoáng, có thể trộn thêm kháng sinh oreomicin, tetramycin vào thức ăn để phòng bệnh
* Điều trị bệnh:
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc dùng để điều trị bệnh Ở đây chúng tôi đã sử dụng hai loại thuốc kháng sinh là tylogenta và vetrimoxin L.A để điều trị bệnh
- Thuốc tylogenta:
Liều dùng: 1ml/20kg thể trọng, dùng 3 - 5 ngày, tiêm bắp Kết hợp sử dụng một số thuốc long đờm, trợ sức, trợ lực làm tăng hiệu quả điều trị của
Trang 21kháng sinh
- Thuốc vetrimoxin L.A:
Liều dùng 1ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, tiêm cách ngày, điều trị trong 5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc long đờm, trợ sức, trợ lực làm tăng hiệu quả điều trị của kháng sinh
Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn
Đây là một bệnh đường hô hấp lây lan mạnh, bệnh thường gây chết lợn, chủ yếu là lợn choai Đặc trưng của bệnh là ho, khó thở, thở thể bụng, tần số
hô hấp tăng cao Lợn chết với bệnh tích phổi bị gan hóa và viêm dính thành ngực Đặng Xuân Bình và cs (2007) [1]
* Mầm bệnh
Do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra
* Dịch tễ học
- Loài mắc bệnh
Actinobacillus pleuropneumoniae gây bệnh cho lợn ở mọi lứa tuổi
nhưng mẫm cảm nhất ở lợn choai (lợn từ 2 - 5 tháng tuổi)
- Thời gian xảy ra bệnh trong năm
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng bùng phát vào vụ hè - thu khi nhiệt độ
và độ ẩm tăng cao
* Cơ chế gây bệnh:
Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae là một tác nhân gây bệnh
với nhiều cơ chế tác động đã được biết rõ như: vi khuẩn này có khả năng giải phóng enzym protease có khả năng phân hủy hemoglobin, sắc tố vận chuyển oxy trong máu Các protein có khả năng gắn với sắt có trong vi khuẩn này cho phép chúng lấy đi sắt từ cơ thể vật chủ Chúng còn có khả năng sinh ra ngoại độc tố và nội độc tố Ngoài ra, bản thân vi khuẩn cũng được bao bọc bởi một lớp giáp mô có tác dụng bảo vệ vi khuẩn bởi các tế bào bảo hộ của vật chủ (Stan Done, 2002) [17]
Trang 22* Triệu chứng
Bệnh ở lợn có 3 thể chủ yếu: thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính (Taylor 2005) [29]
- Thể quá cấp
Lợn mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, tách riêng khỏi đàn, sốt cao (41,5℃), tần số hô hấp tăng, khó thở, mạch đập tăng lên và trụy tim mạch Lợn bệnh thấy có bọt máu lẫn trong dịch mũi, nước dãi ở giai đoạn cuối của bệnh
Bệnh tiến triển rất nhanh, lợn bệnh chết sau 24h sau khi có dấu hiệu bệnh Trước khi chết thấy tai, mũi, da ở vùng mỏng như da đùi, da bụng tím xanh thành từng mảng Một số trường hợp lợn chết có thể chết mà không
có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
+ Thể cấp tính
Triệu chứng tương tự như thể quá cấp nhưng tiến triển chậm hơn Lợn sốt cao trên 410C, ho, khó thở, thở thể bụng, bụng hóp lại, lợn ỉa chảy, nôn mửa, mắt có dử đôi khi nhầm với dịch tả
Thể cấp tính đa số lợn chết, một số con chữa được Lợn chết trong vòng
1 - 4 ngày Lợn sống sót có thể phục hồi hoàn toàn hoặc có thể phát triển thành thể mãn tính
+ Thể mãn tính:
Thể này xuất hiện sau khi dấu hiệu cấp tính mất đi Lợn sốt nhẹ (40,5 –
410C), hay nằm, lúc ăn, lúc bỏ ăn, ho kéo dài, thở thể bụng, da nhợt nhạt, lông
xù, gầy còm, tăng trọng kém, mắt có dử, dịch mũi đặc và đục
Trang 23Phổi có màu sẫm và cứng lại (phổi bị gan hóa) Các ổ áp xe chứa đầy mủ nằm rải rác khắp phổi Có bọt khí lẫn máu trong đường hô hấp
* Chẩn đoán
+ Chẩn đoán lâm sàng và giải phẫu
Dựa vào những biểu hiện lâm sàng và triệu chứng, bệnh tích của bệnh Phân biệt với bệnh: tụ huyết trùng, suyễn, cúm lợn, bệnh liên cầu khuẩn
- Chẩn đoán vi khuẩn học
Kiểm tra trên kính hiển vi: Vi khuẩn hình cầu trực, bắt màu gram âm Bồi dưỡng, phân lập trong các môi trường: Bệnh phẩm là phổi nuôi cấy trên môi trường thạch máu và các môi trường khác để kiểm tra đặc tính sinh hóa: dung huyết, không di động, không mọc trên các môi trường Macconkey, Indol (-), Glucose (-), Urease (+), Maltosa (+), Mannitol, Mannose, Xylose (+),
* Phòng và điều trị bệnh
+ Phòng bệnh
Tẩy uế chuồng trại trước khi chuyển đàn mới vào mỗi ô chuồng, định kỳ phun sát trùng các chuồng 1 tuần/lần, chuồng khô, sạch, không ứ đọng phân nước tiểu, nước rửa chuồng
Tăng cường sức đề kháng cho lợn bằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc tốt Trộn thuốc phòng bệnh đường hô hấp vào thức ăn như pacifenicol 1kg/200kg thức ăn, dùng liên tục trong 7 ngày
Hạn chế stress như: đảm bảo mật độ chuồng nuôi hợp lý, giữ bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi ấm áp về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè
+ Điều trị bệnh
Biện pháp chủ yếu là sử dụng kháng sinh
Các kháng sinh thường sử dụng điều trị bệnh viêm phổi - màng phổi như: rifapicin, ceftazidine, cioprofloxacin, neomycin, amikacin Tuy nhiên
để nâng cao hiệu quả điều trị cần phải làm kháng sinh đồ để xác định mức độ
Trang 24mẫn cảm
Cùng với kháng sinh điều trị còn kết hợp với:
Bromhexin có tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho
Alagin có tác dụng kháng viêm, giảm đau, hạ sốt
Bcomplex, vitamin C để tăng cường đề kháng
Ngoài ra, điều trị kết hợp với công tác hộ lý và chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tăng cường các biện pháp vệ sinh và hạn chế các tác nhân stress
Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra (Lê Văn Năm,
2013)[12]
* Nguyên nhân
Vi khuẩn P multocida được biết đến là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trung cho các loài gia súc, gia cầm Tuy nhiên P multocida còn được coi là
một trong những nguyên nhân gây nên bệnh viêm phổi lợn
Bệnh viêm phổi lợn do P multocida gây ra là kết quả của sự lây nhiễm
vi khuẩn vào phổi Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm phổi cục
bộ hay những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn
* Triệu chứng của bệnh:
Triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm phổi do P multocida gây ra rất
khác nhau tùy thuộc vào từng chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể:
- Thể quá cấp tính:
Ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy ở những lợn lớn
Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là biểu hiện để xác định mức
độ nghiêm trọng của bệnh Triệu chứng lâm sàng của bệnh này giống như
viêm màng phổi do A pleuropeumoniae gây ra, nhưng những đặc điểm phân
biệt chính là bệnh viêm phổi do P multocida thì hiếm khi gây ra chết đột
ngột, hơn nữa lợn mắc bệnh viêm phổi do P multocida gây ra có thể tồn tại
một thời gian dài
Trang 25- Thể cấp tính:
Thể này thông thường do hầu hết các chủng P.multocida thuộc serotype
B gây ra Những con vật mắc bệnh thường có biểu hiện khó thở, hóp bụng vào
để thở, gõ vào bụng có âm đục “bịch, bịch”, sốt cao nhiệt độ lên tới 41 - 420C,
tỷ lệ chết cao (5 - 40%) Ở những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết đổi màu tím ở vùng bụng có thể là do sốc nội độc tố
- Thể mãn tính
Đây là thể đặc trưng thường thấy của bệnh, bệnh tích chủ yếu ở phổi như: Viêm phổi với các mức độ khác nhau từ sưng đến thủy thũng, nhục hóa hoặc gan hóa, nếu kế phát các loại cầu khuẩn có thể tạo thành các ổ viêm có
mủ, ổ bã đậu Mức độ viêm khác nhau có thể tiến triển theo từng kỳ, từng vùng hoặc ở cả trường phổi Màng phổi, bao tim viêm dính vào lồng ngực (Lê Văn Tạo, 2007) [18]
* Bệnh tích
Bệnh tích chủ yếu ở phần xoang ngực và thường kèm với bệnh tích của
M hyopneumoniae Đặc trưng của bệnh này xuất hiện ở thùy đỉnh và
mặt trong của phổi cùng với việc có bọt khí trong khí quản Có sự phân ranh giới rõ rệt giữa các vùng tổ chức phổi bình thường Phần bị ảnh hưởng của phổi sẽ có sự biến đổi màu sắc từ đỏ sang xám xanh phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh
Các trường hợp bệnh nghiêm trọng có thể xuất hiện viêm phế mạc và apxe ở các mức độ khác nhau Trong các trường hợp này thường thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực và phế mạc có vùng mờ đục, khô Đây là
bệnh tích chủ yếu để phân biệt bệnh viêm phổi do Pasteurella với viêm phổi do
Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy ra có màu vàng và dính cùng với
rất nhiều sợi fibrin (Pijoan, 1989) [27]
* Chẩn đoán:
Việc chẩn đoán bệnh viêm phổi do P multocida gây ra chủ yếu dựa
Trang 26vào xét nghiệm vi khuẩn học P multocida là vi khuẩn dễ nuôi cấy, các cơ
quan, bộ phận có thể phân lập vi khuẩn tốt nhất là dịch phế quản và những tổ chức
mô tế bào phổi đã nhiễm bệnh được lấy ở phần tiếp giáp giữa các tổ chức
bị tổn thương và tổ chức bình thường hoặc ngay cả những mẫu dịch ngoáy mũi được lấy bằng tăm bông cũng rất tốt cho việc phân lập vi khuẩn
Với những bệnh phẩm trên thì vi khuẩn P multocida có thể được phân
lập trong phòng thí nghiệm với những phương tiện và thao tác đơn giản Thường có thể thấy được vi khuẩn trực tiếp lên đĩa thạch máu
* Điều trị:
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại kháng sinh điều trị bệnh do
P.multocida gây ra như: oxytetracyclin 1ml/kg thể trọng/ngày; linco - gen
1ml/10kg thể trọng/ngày; kanamycin 1ml/10kg thể trọng/ngày Tuy nhiên việc điều trị bằng kháng sinh ngày càng trở lên khó khăn và tỷ lệ khỏi bệnh ngày càng thấp Có hiện tượng này là do tính kháng thuốc của vi khuẩn P multocida ngày càng mạnh
* Phòng bệnh:
Đã có nhiều loại vaccine vô hoạt dùng để phòng bệnh viêm phổi do
P.multocida gây ra
Nguyễn Ngọc Nhiên (1996) [14] đã thử nghiệm vắc xin phòng bệnh
ho, khó thở của lợn do một số loại vi khuẩn gây ra trong đó có P multocida
Bệnh viêm phổi do virus gây ra (Văn Đăng Kỳ và cs 2007)[5]
- Coronavirus (virus pneumoniae của lợn) gây bệnh viêm phổi truyền nhiễm của lợn Bệnh thường phát sinh ở thể mãn tính, với triệu chứng hô hấp như: Khó thở, thở thể bụng (bụng hóp lại và giật), lợn ở các lứa tuổi đều mắc nhưng lợn con 1 - 2 tháng và lợn mới cai sữa dễ mắc và có tỷ lệ chết cao
- Influenzavirus type A (H1N1) gây bệnh cúm lợn
Tác nhân gây bệnh là virus nhóm A: H1N1, H1N2, H3N2 Các virus trên
thuộc họ Orthomyxoviridae, nhóm A gồm những virus gây bệnh cho người,
Trang 27gia súc, gia cầm và chim hoang dã, trong đó có lợn Virus cúm có thể lây truyền từ lợn, gia cầm và người
- Virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)
+ Nguyên nhân:
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản mà trong một thời gian dài trước đây vẫn gọi là “bệnh bí hiểm”, không rõ nguyên nhân Ngay các nhà khoa học
Hà Lan và Mỹ nghiên cứu, tìm ra virus gây bệnh
Đó là một virus thuộc họ Togaviridae, có ARN đặt tên là Lelystad đã
gây ra hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản như: sảy thai, chết lưu thai, lợn con chết yểu sau khi sinh và trạng thái viêm phổi ở lợn con và lợn choai
* Triệu chứng: Virus xâm nhập và cơ thể lợn qua niêm mạc đường hô hấp, khi lợn hít thở không khí có mầm bệnh Sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, virus tác động đến cơ quan sinh dục của lợn cái gây ra hiện tượng viêm
tử cung và âm đạo, làm giảm tỷ lệ thụ thai, đặc biệt gây sảy thai ở lợn cái chửa thời kỳ 2, chết lưu thai ở lợn chửa kỳ 3, đẻ non và làm lợn con chết yểu Lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa bị bệnh là do lợn mẹ Những lợn con này thường gầy yếu, thể hiện hội chứng viêm phổi rõ rệt: chảy dịch mũi, thở khó,
ho nhiều vào ban đêm và sáng sớm, nhất là khi thời tiết lạnh
Sau thời gian ủ bệnh khoảng 4 - 7 ngày, lợn con sốt cao 40 - 410C, kém
ăn, uể oải, sau khi thể hiện các triệu chứng viêm phổi như: thở khó, thở thể bụng ho tăng dần và chảy dịch mũi Đặc biệt, lợn con và lợn choai bị bệnh phần lớn tai bị xanh từng đám như nốt chàm nên còn được gọi là lợn tai xanh + Dịch tễ học:
Lợn ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, chết lưu thai và lợn con chết với tỷ lệ cao
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanh năm nhưng tập trung vào các thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống và bệnh phát sinh thành dịch với tỷ lệ cao, lợn nái mắc hội chứng sinh sản trong
Trang 28khi lợn con bị bệnh viêm đường hô hấp phổ biến
Bệnh có thể lây lan từ nước này sang nước khác qua việc xuất nhập lợn
có mang mầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ
vi khuẩn khác như virus Parvo, virus Aujeszky, virus dịch tả lợn, vi khuẩn
Brucella abortus và vi khuẩn Leptospira spp Do vậy cần tiến hành chẩn đoán
vi sinh vật như: nuôi cấy tìm virus trong bệnh phẩm thu thập lợn nghi bị bệnh Chẩn đoán miễn dịch:
Các phương pháp ELISA và miễn dịch huỳnh quang IFAT đã được áp dụng chẩn đoán cho độ chính xác cao (90 - 95%) và phát hiện được bệnh sau khoảng 8 ngày nhiễm virus
+ Phòng bệnh:
Ba biện pháp sau đây đã được áp dụng phòng chống hội chứng rối loạn
hô hấp và sinh sản ở lợn các nước Bắc Mỹ và Châu Âu
Chế tạo vắc xin nhược độc và vắc xin vô hoạt tiêm phòng bệnh cho đàn lợn ở những vùng có lưu hành bệnh theo định kỳ 2 lần/năm Nhưng hiện này chưa có một loại vắc xin nào có hiệu lực phòng bệnh như mong muốn
Ứng dụng các phương pháp chẩn đoán miễn dịch sớm để phát hiện lợn bị bệnh và lợn mang virus, xử lý kịp thời bằng cách: hủy bỏ để tránh lây nhiễm bệnh trong đàn lợn Biện pháp này được thực hiện theo định kỳ kết hợp với theo dõi lâm sàng, dịch tễ trong đàn lợn cho phép phát hiện sớm lợn bệnh
Ở những cơ sở chăn nuôi mà bệnh tồn tại lâu dài, gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn, người ta phải thay cả đàn lợn giống và để trống chuồng lợn trong
Trang 29một thời gian
Kiểm dịch nghiêm ngặt khi xuất nhập lợn, đặc biệt là khi nhập lợn vào
cơ sở chăn nuôi Người ta không nhập ở các cơ sở chăn nuôi có lưu hành bệnh
và các vùng dịch tễ
+ Phòng bệnh bằng vắc xin
Để phòng bệnh đặc hiệu, các nhà khoa học đã tiến hành sản xuất vắcxin PRRS dựa trên việc nghiên cứu công nghệ lựa chọn kháng nguyên MJPRRS Nguyên lý sản xuất này đòi hỏi phải thu hoạch vắc xin trước khi virus thành thục và giải phóng ra khỏi tế bào nuôi cấy Việc làm này sẽ tối đa hóa lượng kháng nguyên trong sản phẩm
Khi thu hoạch được tế bào chứa các hạt virus, người ta tiến hành tách các hợp phần kháng nguyên, thu gom lại và cho thêm bổ trợ để được vắc xin thành phẩm Công nghệ MJPRRS tương tự một quy trình sản xuất vắc xin dưới đơn vị Việc chiết tách các hợp phần kháng nguyên từ tế bào nuôi cây có một vài bước đặc biệt so với quy trình sản xuất vắc xin thông thường để gần như loại bỏ hết các tế bào nuôi cấy trong sản phẩm cuối cùng như vậy, có một thành phần vắc xin đạt độ tinh khiết kháng nguyên rất cao
Hiện tại vắc xin phòng PRRS đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép nhập vào Việt Nam để phòng bệnh cho lợn Có 2 loại vaccine đã được sử dụng ở địa phương:
(1) Vắc xin phòng PRRS BSL - PS 100: Là loại vắc xin sống nhược độc dạng đông khô có nguồn gốc từ chủng JKL - 100 thuộc dòng virus gây PRRS Bắc Mỹ Một liều vắc xin chứa ít nhất 105TCID50 Vắc xin chỉ được pha với dung dịch pha chuyên biệt, sử dụng tiêm bắp với liều 2ml/con Miễn dịch chắc chắn sau tiêm 1 lần kéo dài 4 tháng
- Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3 tuần tuổi
- Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm
- Nái hậu bị và nái sinh sản tiêm phòng trước khi cai sữa cho lợn con
Trang 30hoặc trước khi phối giống
(2) Vắc xin phòng PRRS BSK - PS 100: là loại vắc xin vô hoạt chứa chủng virus PRRS dòng gây bệnh Châu Âu Một liều vắc xin chứa ít nhất 107,5 TCID50 Vắc xin an toàn và gây miễn dịch tốt
Liều dùng 2ml/con, tiêm bắp
- Lợn con: Sử dụng lần đầu vào lúc 3 - 6 tuần tuổi
- Nái hậu bị: Tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại 3 - 4 tuần
- Nái sinh sản: Tiêm 3 - 4 tuần trước khi phối giống
- Lợn đực giống: Tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng sau mỗi 6 tháng Bảo quản vắc xin ở 20C - 60C (Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007) [3]
+ Điều trị:
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu
Ở các nước nuôi lợn công nghiệp với quy mô lớn thuộc Bắc Mỹ, châu
Âu, châu Á và châu Phi, khi phát hiện trong đàn có bệnh rối loạn hô hấp và sinh sản thì người ta thường diệt số lợn bị bệnh này và thay thế cả đàn lợn ở
cơ sở chăn nuôi, bởi lẽ bệnh tồn tại lâu dài trong đàn lợn rất khó thanh toán
Bệnh viêm phổi do ký sinh trùng gây ra
+ Do giun phổi lợn Metastronggylus ký sinh ở khí quản và nhánh khí
quản của lợn
Triệu chứng của bệnh: Con vật gầy còm suy dinh dưỡng, hiện tượng ho
rõ nhất vào buổi sáng sớm và buổi tối, giai đoạn đầu con vật ăn uống bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn sau ăn uống ít, khó thở và chết
+ Do ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum trong giai đoạn di hành qua
phổi Triệu chứng của bệnh: con vật ho, gầy còm, lông xù, chậm lớn
Nguyên tắc, phương pháp phòng và điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn
Bệnh đường hô hấp ở lợn do rất nhiều nguyên nhân gây nên, từ đó cũng
có nhiều phương pháp phòng cũng như điều trị
Trang 31* Nguyên tắc phòng bệnh
Để công tác phòng bệnh đạt hiệu quả cao cần thực hiện các biện pháp sau:
- Phòng bệnh khi chưa có dịch
+ Phòng bệnh bằng chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý
Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cho đàn lợn đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng, nhằm nâng cao sức đề kháng của chúng với bệnh dịch
Thường xuyên theo dõi đàn lợn, phát hiện sớm lợn có biểu hiện lâm sàng, cách ly điều trị kịp thời hoặc xử lý để tránh lây nhiễm bệnh trong đàn + Phòng bệnh bằng vệ sinh thú y
Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi lợn Đảm bảo chuồng trại kín, ấm vào mùa đông và thoáng mát, khô sạch vào mùa hè, mật
độ nuôi nhốt vừa phải
Phòng trừ tổng hợp là biện pháp quan trọng nhất gồm: vệ sinh, tiêu độc chuồng trại thường xuyên, định kỳ phun thuốc sát trùng, kiểm soát nồng
độ amoniac, cacbonic trong chuồng nuôi
Nên tự túc về con giống, nếu nhập con giống từ bên ngoài thì nên mua giống từ những vùng an toàn dịch Lợn mua về phải nhốt riêng để theo dõi ít nhất một tháng, nếu không có triệu chứng ho, khó thở thì mới nhập đàn Đối với đực giống, cần phải chặt chẽ hơn: kiểm tra lại lai lịch, nguồn gốc, nhốt riêng ít nhất 2 tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm bảo mới đưa vào sử dụng
+ Phòng bệnh bằng vắc xin:
Hiện nay đã có các loại vắc xin phòng bệnh đường hô hấp như: vắc xin phòng bệnh suyễn, vắc xin phòng bệnh viêm phổi - màng phổi góp phần tích cực trong công tác phòng bệnh
- Phòng khi có dịch
Bệnh này phải sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp mới đạt hiệu quả cao trong việc phòng trừ dịch bệnh, tạo cho con vật sức đề kháng tốt, sinh
Trang 32trưởng, phát triển nhanh
Phải có chuồng cách ly để nuôi dưỡng những lợn mới nhập hoặc những lợn ốm
Phải định kỳ sát trùng, tiêu độc chuồng trại, phân rác, dụng cụ chăn nuôi bằng nước vôi 20%, NaOH 10%, Crizin 5 - 10%, Formon 5%, rắc vôi bột, quét vôi tường
Bồi dưỡng tốt cho đàn lợn ốm, cho thức ăn dễ tiêu, đủ protein vitamin và muối khoáng, có thể trộn thêm kháng sinh oreomicin, tetramycin vào thức ăn
để phòng bệnh
* Nguyên tắc điều trị
Về nguyên tắc điều trị triệu chứng hô hấp, các chuyên gia thú y đều nhất trí rằng: Bệnh lý của bệnh đường hô hấp đều gồm hai quá trình là rối loạn đường hô hấpvà nhiễm khuẩn đường hô hấp Hậu quả là con vật ho nhiều, khó thở, phổi bị viêm nặng dẫn đến mất chức năng hô hấp và cơ thể bị thiếu oxy trầm trọng, acid lactic sinh ra nhiều nhưng chuyển hóa không kịp nên cơ thể con vật bị trúng độc toan mà chết Vì vậy, để điều trị bệnh đường hô hấp cần tuân theo các nguyên tắc cụ thể sau:
- Phải phát hiện bệnh sớm và kịp thời điều trị, cần tiến hành cách ly lợn bệnh và theo dõi chặt chẽ hiện tượng ho, khó thở của con vật bị bệnh, xác định bệnh và đưa ra phương pháp điều trị kịp thời không để con vật bị nhiễm khuẩn và viêm phổi quá nặng gây khó khăn cho việc điều trị
- Điều trị căn nguyên phải kết hợp với điều trị triệu chứng: việc điều trị
có thể dùng nhiều liệu pháp khác nhau để đạt được mục đích, loại trừ căn nguyên gây bệnh Việc dùng kháng sinh không thể tránh khỏi, tuy nhiên khi dùng phải cân nhắc kỹ bởi có rất nhiều loại kháng sinh trên lý thuyết có tác dụng rất tốt với mầm bệnh đường hô hấp nhưng khi thử kháng sinh đồ và trên thực tế điều trị hiện nay các loại kháng sinh này đã bị một số vi khuẩn đường
hô hấp kháng lại, cho nên việc lựa chọn kháng sinh điều trị cần phải kiểm tra