1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Áp dụng quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn công ty phát đạt thành phố phúc yên tỉnh vĩnh phúc

66 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng, góp phần quyết định thành công của nghề chăn nuôi, đặc biệt trong việc nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn

Trang 1

HOÀNG THỊ MINH CHÂU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2020

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

HOÀNG THỊ MINH CHÂU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2016 - 2020 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Trung Kiên

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn công ty Phát Đạt em luôn được sự giúp đỡ của các cá nhân, tập thể đã giúp em học được kiến thức chuyên môn và công việc của một cán bộ kỹ thuật, từ đó giúp em tự tin trong công việc sau này Vậy em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc của mình đến:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa đã dậy dỗ, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và đợt thực tập vừa qua

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo

hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên đã quan tâm, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo

giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc, quản

lý trại, cán bộ kỹ thuật và cô chú công nhân trại lợn Phát Đạt đã tiếp nhận và tạo điều kiện thuật lợi để em tiến hành theo dõi, thu thập số liệu phục vụ việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, cùng tất cả bạn bè đã động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2020

Sinh viên

Hoàng Thị Minh Châu

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn qua 3 năm 2017 - 2019 39

Bảng 4.2 Lịch vệ sinh, sát trùng chuồng trại 40

Bảng 4.3 Lịch tiêm vắc xin cho lợn 41

Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 42

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 43

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái theo tháng theo dõi 45

47 Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 48

Bảng 4.9 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn con theo mẹ mắc một số bệnh 49

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại 50

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con tại trại 51

Bảng 4.12 Kết quả một số công tác khác 52

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự Nxb : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự

sv : Serovar

TT : Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 5

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 5

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 6

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 6

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 15

2.2.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi 20

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 24

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 33

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 33

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 34

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 37

3.1 Đối tượng 37

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 37

3.3 Nội dung thực hiện 37

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 37

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 37

3.4.2 Phương pháp theo dõi 38

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu với công thức tính 38

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Phát Đạt 39

4.2 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 40

4.2.1 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 40

4.2.2 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 41

4.3 Công tác chẩn đoán bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 42

4.3.1 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 42

4.3.2 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 43

4.3.3 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản theo tháng theo dõi 45

4.3.4 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 47

4.3.5 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 48

4.3.6 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn con theo mẹ mắc một số bệnh 49

4.4 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại 50

4.4.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 50

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ tại trại 51

4.5 Kết quả các công tác khác 51

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu lớn đưa đất nước ngày càng đi lên, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao Vì thế mà các nhu cầu về sản phẩm an toàn, chất lượng cao được người dân ngày càng quan tâm, đặc biệt là nhu cầu về thực phẩm

Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn, bởi tầm quan trọng

và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân

Trong chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng, góp phần quyết định thành công của nghề chăn nuôi, đặc biệt trong việc nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh Nhưng một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển chăn nuôi là nảy sinh vấn đề dịch bệnh Nguyên nhân gây bệnh là do khả năng thích nghi của lợn nái với khí hậu, điều kiện vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh…

Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại lợn công ty Phát Đạt, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc em đã tiến hành thực

hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn công ty Phát Đạt, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”

Trang 9

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ

- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi và mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn công ty Phát Đạt, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại

- Học tập và tích lũy những kiến thức mới từ thực tiễn chăn nuôi tại cơ sở

- Từ thực tiễn chăn nuôi, đề xuất các biện pháp phòng và điều trị có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại các trang trại chăn nuôi

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Trại chăn nuôi lợn công ty Phát Đạt thuộc thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Thành phố Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Bắc của thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 km Thành phố Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên

- Địa giới hành chính thành phố Phúc Yên:

+ Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

+ Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên

+ Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

+ Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

- Địa hình: Thành phố Phúc Yên có địa hình đa dạng, tổng diện tích là 12.029,55 ha, chia thành 2 vùng chính là vùng đồi núi bán sơn địa (Ngọc Thanh, Cao Minh, Xuân Hoà, Đồng Xuân), diện tích 9700 ha; vùng đồng bằng gồm các phường: Nam Viêm, Tiền Châu, Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng Trắc, Trưng Nhị, diện tích 2300 ha, có hồ Đại Lải và nhiều đầm hồ khác có thể phát triển các loại hình du lịch

- Khí hậu: Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều

về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16% Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông - Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s

Trang 11

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

Trên diện tích đất 3 ha, trang trại chăn nuôi được thiết kế và phân khu riêng biệt là: khu hành chính và khu sản xuất Khu sản xuất gồm: chuồng thịt, chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng cách ly Riêng khu chăn nuôi rộng tới 2.000

m2 với 5 dãy chuồng chứa khoảng 1.200 con lợn các loại Trong chuồng phối, công ty đang nuôi 30% lợn nái ông bà và áp dụng quy trình phối giống chặt chẽ Lợn nái sau khi phối giống sẽ được đánh dấu và chuyển qua chuồng bầu

để chăm sóc

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho gần 300 nái bao gồm: 2 chuồng đẻ có 96 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 2 chuồng bầu có 246 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng cai sữa, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng đẻ và chuồng bầu đều có 3 quạt thông gió và

2 quạt đối với chuồng cách ly và chuồng cai sữa Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ Nước

Trang 12

tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

* Cơ cấu nhân sự:

- 01 chủ trại

- 01 quản lý trại

- 01 quản lý kỹ thuật

- 05 công nhân và 7 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ, nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng lợn thịt Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được phân công đến từng công nhân và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

(Nguồn: Kỹ thuật trại)

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn

Trang 13

- Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

- Trang trại công ty xây dựng theo hình thức công nghiệp hóa hiện đại hóa, mọi quy trình chăm sóc nuôi dưỡng theo hình thức khép kín

- Nguồn nước được xử lý sạch sẽ đáp ứng đủ cho trang trại

- Trang trại nhập các giống lợn ông bà, bố mẹ từ công ty có uy tín như

CP, Greenfeed, Xí nghiệp Đồng Hiệp nên việc phòng và trị bệnh cho lợn nái

dễ dàng hơn

2.1.4.2 Khó khăn

- Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến đổi thất thường là điều kiện cho nhiều loại dịch bệnh bùng phát quanh năm nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn

- Năm 2008 trại bắt đầu vào hoạt động và đang hoàn thiện nốt cơ sở vật chất nên còn nhiều khó khăn

- Năm 2019 dịch tả lợn Châu Phi bùng phát trại gặp nhiều khó khăn lớn trong vấn đề phòng chống dịch bệnh

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải

là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán (tức khối lượng thức ăn lớn mà giá trị dinh dưỡng thấp) cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có

Trang 14

sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con,

nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm có thể giúp khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện

Trang 15

thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], thức ăn cho lợn nái nuôi con

phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó

là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,

cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mì, các loại thức ăn

bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo

đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0 %, photpho 0,7 %

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10] cho biết: trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng

Trang 16

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên

Trang 17

Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 20°C, độ ẩm 70 - 75%

2.2.1.3 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con theo mẹ

 Chăm sóc lợn con sơ sinh

* Chăm sóc lợn con khi sinh

Theo Đoàn Minh Ngọc (2010) [22] khi lợn nái đẻ, có thể đầu lợn con ra trước hoặc 2 chân sau ra trước Lợn con tự làm rách màng nhau và lọt ra ngoài Trường hợp lợn con đẻ bọc, cần nhanh chóng xé màng nhau để lợn con khỏi bị ngạt

Dùng giẻ khô hoặc khăn lau khô lợn con sơ sinh, móc cho hết nước nhờn trong miệng mũi Dùng chỉ buộc rốn lợn sơ sinh, cách bụng 3cm, cắt rốn cách vị trí đó 1,5 - 2 cm Dùng thuốc đỏ hoặc cồn iod sát trùng chỗ cắt Dùng kìm đã sát trùng để bấm nanh, bấm tất cả 8 răng nanh, bấm 1/2 và chừa 1/2 theo độ dài của răng nanh Việc bấm răng nanh để tránh khi bú lợn con làm nứt đầu vú lợn mẹ Chú ý không cắt vào lợi gây nhiễm trùng lợi Sau đó đặt lợn con vào thùng hay chuồng úm đã lót sẵn rơm, lá chuối khô hoặc bao tải Dùng đèn điện 250W sưởi ẩm ngay cho lợn con

Nếu lợn con đẻ ra bị ngạt, ta có thể xử lý bằng cách:

- Dùng miệng hút sạch chất nhờn trong mũi lợn con ra ngoài

Trang 18

- Dùng 2 ngón tay xoa mạnh từ trên xuống dưới dọc theo xương sống phía 2 bên phổi để kích thích hô hấp hoặc để lợn con nằm ngửa đưa 2 chân trước của lợn con lên xuống nhịp nhàng

- Có thể dùng thuốc trợ tiêm camphora tiêm 1 - 2 ml/con

* Phương pháp cố định đầu vú

Sau khi sinh được 1 giờ, chậm nhất là 2 giờ, phải cho lợn con bú sữa đầu Để chống lạnh và tăng cường sức đề kháng tự nhiên cho lợn con

Trước khi lợn con bú phải dùng khăn ấm lau sạch 2 hàng vú của lợn

mẹ Sắp xếp cho những con nhỏ bú ở hàng vú trước, bên phải vì lượng sữa nhiều hơn Chỉ cố định đầu vú 3 - 4 lần, lợn con sẽ quen và không tranh nhau Cho lợn con bú mẹ liên tục trong ngày đầu 10 - 12 lần, sau khi bú xong đặt lợn con vào úm

* Yêu cầu về nhiệt độ và ẩm độ

Theo Đoàn Minh Ngọc (2010) [22], sưởi ấm cho lợn con để hạn chế bệnh tiêu chảy và viêm phổi, khâu sưởi ấm cho lợn con rất quan trọng Lợn con mới sinh được 20 phút hạ nhiệt rất nhanh (từ 2 - 3°C), nhất là những con

có trọng lượng dưới 0,5 kg, nên phải có thùng ủ để sưởi ấm, nhất là vào mùa đông Ngay khi đẻ ra ra cần duy trì nhiệt độ chuồng trong khoảng 35°C Cứ mỗi 1 ngày sau đó, yêu cầu nhiệt độ giảm đi 2°C và từ ngày thứ 8, yêu cầu nhiệt độ trong chuồng nuôi cố định từ 25 - 27°C là thích hợp Vào mùa đông,

1 tuần đầu sau đẻ nên dùng đèn hồng ngoại công suất 250W, sau đó có thể chuyển sang dùng đèn công suất 100W

- Yêu cầu về nhiệt độ chuồng nuôi:

+ Ngày đầu mới lọt lòng mẹ: 35°C;

+ Ngày thứ 2: 33°C;

+ Ngày thứ 3: 31°C;

+ Ngày thứ 4: 29°C;

Trang 19

+ Ngày thứ 5: 27°C;

+ Ngày thứ 6 trở đi: 25 - 27°C

- Ẩm độ 50 - 75 %

- Nền chuồng khô ráo

- Không có gió lùa

Lưu ý: Độ cao bóng đèn cách mặt sàn chuồng khoảng 50 - 60cm là thích hợp, đặc biệt cần nhận biết:

+ Lợn nằm chồng chất lên nhau, run là khi lợn bị lạnh (nhiệt độ trong chuồng thấp)

+ Lợn nằm tản mạn khắp ô chuồng, mỗi con một nơi là khi lợn bị nóng (nhiệt độ trong chuồng quá cao)

+ Lợn nằm con nọ kề cạnh con kia là nhiệt độ thích hợp

 Chăm sóc lợn con từ 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi

Theo Đoàn Minh Ngọc (2010) [22], những chú ý chăm sóc lợn con từ 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi:

- Phòng chống thiếu sắt

- Phòng chống va đập và trầy xước

- Cắt đuôi cho lợn con nếu lúc đỡ đẻ chưa thực hiện

- Thiến cho lợn đực lúc 10 - 12 ngày tuổi

* Chăm sóc những lứa đẻ đông con

- Nuôi gửi: Tiến hành khi có lợn nái đẻ nhiều con, trong cùng thời gian

đó lại có những lợn nái đẻ ít con, khi tiến hành nuôi gửi phải đảm bảo các nguyên tắc:

+ Tuổi lợn con tương đương nhau (không chênh nhau quá 3 ngày); + Cần sử dụng chất thơm đánh lẫn mùi của lợn con;

+ Nên tiến hành nuôi gửi vào ban đêm

- Phân lô cho bú:

Trang 20

+ Khi số lợn con nhiều hơn số lượng vú, thì cần phân làm 2 lô, trong đó

có một lô số con bằng số vú mẹ

+ Khi số lợn con nhiều hơn nhiều so với số vú mẹ thì có thể sử dụng phương pháp chia làm 3 lô: 1 lô gồm những con có khối lượng sơ sinh nhỏ, cho bú cố định những vú sau Những con còn lại chia làm 2 lô, luân phiên cho

bú những vị trí phía ngực

- Khoảng cách cho bú: 1 giờ 1 lần

* Tập ăn cho lợn con

Thời gian tập ăn cho lợn con tốt nhất là 2 tuần tuổi trở đi Vì lúc đó chất lượng sữa của lợn mẹ đã giảm Nếu không tập ăn cho lợn con thì tốc độ tăng trọng sẽ giảm

Ngay mấy ngày đầu cho lợn con tập ăn, theo kinh nghiệm của nhân dân, có thể nấu cháo + cám hỗn hợp + sữa bột + chuối chín bóp nhuyễn ở dạng sệt để lợn con liếm láp cho quen, sau đó mới cho ăn cám hỗn hợp

Cho lợn con ăn thức ăn công nghiệp, thời gian bắt đầu tập ăn là 7 ngày tuổi thức ăn tập ăn được cho vào máng riêng và để ở khu vực dành cho lợn con Luôn giữ máng tập ăn khô, sạch tránh bị mốc, bẩn gây tiêu chảy cho lợn con Lợn con thực sự ăn mạnh ở 3 tuần tuổi, khi lợn cai sữa cần chuyển đổi dần dần trong vòng 3 - 4 ngày thức ăn từ loại thức ăn tiền khởi động sang thức ăn khởi động, tránh chuyển đổi đột ngột dễ gây rối loạn tiêu hóa cho lợn con

Thức ăn trộn cho lợn con tập ăn phải có hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ tiêu, ngon miệng và đảm bảo vệ sinh; nguyên liệu dùng làm thức ăn là loại tinh bột ít xơ như: bột gạo, bột ngô và các thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao như: bột cá nhạt, đậu tương Thức ăn cần được nghiền nhỏ thành dạng bột, sau khi nấu chín, để nguội thức ăn, bỏ dần vào máng ăn cho lợn con ăn

Vệ sinh máng ăn, máng uống thường xuyên Không giữ thức ăn lâu trong máng gây lên men chua, dẫn đến bệnh tiêu chảy và phân trắng ở lợn con

Trang 21

Vệ sinh chuồng trại: Chỉ quét dọn khô, thay lót chuồng bẩn, không rửa nước Góc chuồng để một gói vôi bột Để lợn con nằm trên sàn gỗ có lót rơm hoặc cỏ khô cắt ngắn

* Thiến cho lợn con

Chuẩn bị dụng cụ thiến đầy đủ gồm: dao thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông, xi - lanh tiêm và thuốc kháng sinh, ghế ngồi

Thao tác: Người thiến ngồi ghế cao và kẹp lợn con vào giữa 2 đùi sao cho đầu của lợn con hướng xuống dưới Một tay nặn cho dịch hoàn nổi rõ, tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt vào chính giữa của mỗi bên dịch hoàn Dùng tay nặn dịch hoàn ra ngoài rồi lấy panh kẹp và xoắn đứt dịch hoàn ra, bôi cồn vào vị trí thiến Tiêm kháng sinh chống viêm nhiễm

 Chăm sóc lợn con 3 tuần tuổi đến khi cai sữa

Theo Đoàn Minh Ngọc (2010) [22] cho biết: những chú ý chăm sóc lợn con từ 3 tuần tuổi đến cai sữa:

- Tẩy nội ký sinh trùng cho lợn con;

- Xác định các điều kiện để cai sữa cho lợn con

Trang 22

Những người chăn nuôi có trình độ trung bình cần chú ý những điểm sau khi quyết định cai sữa cho lợn con:

- Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg;

- Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa những ổ đông con trước;

- Khi cai sữa lúc 3 tuần tuổi cần tạo nhiệt độ môi trường 27 - 29°C (tránh thay đổi mạnh về nhiệt độ), đề phòng gió lùa;

- Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể;

- Hạn chế số lợn con trong một ô chuồng đến 30 con hoặc ít hơn nếu được;

- Hạn chế mức ăn trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa;

- Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt một máng ăn và cứ 20 - 25 lợn thì lắp 1 vòi uống nước;

- Cho thuốc vào nước uống nếu có ỉa chảy

* Một số nguyên tắc chung trong chăm sóc lợn con:

- Cho lợn con uống nước sạch và đủ, không nên cho lợn con uống nước lạnh;

- Nếu có điều kiện nên cho lợn con vận động tắm nắng (lúc thời tiết tốt);

- Lợn đực nuôi thịt phải thiến lúc 10 - 12 ngày tuổi

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con

Sau khi sinh lợn con có tốc độ sinh trưởng rất nhanh được thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường khối lượng lợn con lúc

7 - 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [15], khối lượng lợn con đạt được ở các thời điểm như: sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng có mối tương quan thuận khá chặt chẽ, nghĩa là khối lượng lúc sơ sinh càng cao thì có khả năng khối lượng lúc cai sữa cao

Trang 23

2.2.2.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa của lợn con đó chính là sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng

về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Dạ dày lợn con khi mới sinh chỉ có dung tích 2,5 ml đã tăng lên 1815 ml vào lúc 70 ngày tuổi

Tiêu hóa thức ăn của lợn diễn ra ở 3 giai đoạn:

* Tiêu hóa ở miệng

Tiêu hóa ở miệng gồm 3 giai đoạn là lấy thức ăn, nước uống, nhai, tẩm thức ăn với nước bọt và nuốt Tiêu hóa diễn ra với 2 quá trình: tiêu hóa cơ học

do nhai và tiêu hóa hóa học do các enzyme trong nước bọt

Amylase có trong nước bọt có hoạt tính cao trong những ngày lợn con mới sinh và từ 2 - 21 ngày tuổi Tùy theo lượng thức ăn và lượng tiết sữa khác nhau, thức ăn có phản ứng axit yếu và khô thì nước bọt chủ yếu để thấm ướt

và làm mềm thức ăn

* Tiêu hóa ở dạ dày

Theo Võ Trọng Hốt và Nguyễn Thiện (2007) [6], lợn con mới sinh ra sống nhờ sữa mẹ Sau khi cai sữa lợn con sống tự lập nên phải trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái cấu tạo và hoạt động sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới Dung tích dạ dày của lợn con lúc

10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày gấp 8 lần và 60 ngày tuổi gấp 60 lần trong khi dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít và sau đó tăng chậm đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít

Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số enzyme tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu Khoảng 25 ngày đầu sau khi đẻ, pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con chỉ có HCl ở dạng

tự do và pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạt hóa thành pepsin

Trang 24

hoạt động và mới có khả năng tiêu hóa Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hoá Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập cho lợn con ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi thì HCl ở dạng tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi

* Tiêu hóa ở ruột

Theo Trần Thị Dân (2006) [2], lợn con sơ sinh dung tích ruột non 100

ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, và 12 tháng đạt 20 lít Ruột già, lợn con sơ sinh có dung tích 40 - 50 ml, 20 ngày 100 ml, tháng thứ 3 đạt 2,1 lít, tháng thứ 4 là 7 lít và tháng thứ 7 từ 11 - 12 lít Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành

+ Amylase và maltase: Hai enzyme này có trong dịch tụy từ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp nên khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém Sau 3 tuần tuổi amylase và maltase mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn

Lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số enzyme tiêu hóa có hoạt tính mạnh như: trypsin, cathepsin, lactase, lipase và chymotrypsin

+ Trypsin: Là enzyme tiêu hóa protein của thức ăn Ở thai lợn 2 tháng tuổi trong chất chiết đã có trypsin, thai càng lớn hoạt tính của trypsin càng cao Khi lợn con mới đẻ ra hoạt tính của trypsin dịch tụy rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của pepsin dạ dày

+ Cathepsin: Là enzyme tiêu hoá protein trong sữa Đối với lợn con ở 3 tuần tuổi đầu, cathepsin có hoạt tính mạnh sau đó giảm dần

+ Lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Enzyme này

có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của enzyme giảm dần

Trang 25

+ Lipase và chymotrypsin: Đây là hai enzyme có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó hoạt tính giảm dần (Võ Trọng Hốt và Nguyễn Thiện, 2007) [6]

Như vậy, lợn con mới sinh có khả năng tiêu hóa kém do các enzym có hoạt lực tiêu hóa yếu Hoạt động của các enzym chỉ thích hợp với việc tiếp nhận và tiêu hóa sữa Nhưng nếu có chế độ chăm sóc thích hợp khẩu phần ăn hợp lý có thức ăn tập ăn sớm được chế biến hợp lý với thành phần dinh dưỡng đầy đủ và cho lợn con tập ăn sớm sẽ cải thiện được hạn chế này

2.2.2.3 Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt

Theo Đoàn Minh Ngọc (2010) [22], lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa ổn định do:

- Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ thấp nên không

có khả năng chống rét;

Sau 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt lợn con tương đối hoàn chỉnh Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại

và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém

Trong giai đoạn này việc duy trì thân nhiệt của lợn con phụ thuộc vào

sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn

Nhịp tim của lợn con tăng hơn so với lợn trưởng thành rất lớn Bình thường đối với lợn trưởng thành nhịp tim là 75 lần/phút, song ở giai đoạn đầu sau khi mới đẻ nhịp tim tăng lên tới 200 lần/phút

Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì cơ quan điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh đến 2 tuần tuổi do vậy trong 2 tuần đầu chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài Mỗi loại gia súc gia cầm đều có một giới hạn sinh thái

về nhiệt độ và độ ẩm nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là

Trang 26

điều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì càng làm tăng thêm độ lạnh trong chuồng nuôi Cho nên việc quản lý nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng nuôi cho phù hợp với tuổi của lợn và giữ cho nhiệt độ trong chuồng nuôi ổn định

trong một ngày đêm là rất quan trọng

2.2.2.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch

Lợn con khác với người và các loài động vật khác là chúng không nhận được kháng thể từ mẹ trong thời kì thai nhi Nhưng thay vào đó, trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng rất lớn các kháng thể Hệ tiêu hóa của lợn con trong vòng 12 - 24 tiếng kể từ khi sinh có khả năng hấp thụ các loại kháng thể này Chính vì vậy, nếu trong vòng 12 tiếng đầu sau khi sinh, lợn con được bú đầy

đủ sữa đầu thì khả năng miễn dịch của chúng sẽ tương tự như của lợn mẹ

Các kháng thể nhận được từ lợn mẹ rất quan trọng cho đến khi hệ miễn dịch của lợn con được phát triển đầy đủ Chính vì vậy, những lợn con không được

bú sữa đầu đầy đủ phải được ghép bầy sang những lợn nái đang cho sữa đầu

Các kháng thể chống lại các bệnh ở hệ tiêu hóa được gọi là IgA IgA có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợn con thời kì theo mẹ chống lại các bệnh ở hệ tiêu hóa Khi cai sữa thì nguồn cung cấp IgA từ sữa mẹ bị cắt đứt, cộng với stress khi cai sữa sẽ khiến các bệnh về đường tiêu hóa thường phát sinh ở giai đoạn này (Marphavet, 2017) [21]

Trong sữa đầu lợn mẹ có tỷ lệ protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó γ - globulin chiếm tỷ lệ rất cao (34

- 45%) và có vai trò miễn dịch Trong sữa đầu có một số loại kháng thể chủ yếu như sau:

IgA là loại kháng thể đặc hiệu cho hệ thống hô hấp, hệ tiêu hóa và sinh dục Loại kháng thể này từ sữa mẹ và được hấp thu qua thành ruột vào trong

cơ thể lợn con IgA có vai trò miễn dịch trực tiếp với bệnh do E coli và một

số bệnh khác

Trang 27

IgG là kháng thể đặc hiệu đối với các vi khuẩn do lợn mẹ tiếp xúc ở

trong chuồng đẻ như E coli và các kháng thể bệnh dịch tả khi lợn mẹ được

tiêm phòng Lợn con có loại kháng thể này từ sữa mẹ truyền sang và đây là loại kháng thể tồn tại rất lâu trong máu, cho nên giúp cho lợn con có khả năng

kháng lại những loại vi khuẩn gây hại điển hình như E coli

IgM là kháng thể kháng các bệnh do virus cũng như một số bệnh khác trong máu Đây là loại kháng thể đầu tiên vào cơ thể để chống lại những bệnh

lạ đầu tiên xâm nhập vào cơ thể

Như vậy, quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ - globulin bị giảm rất nhanh theo thời gian Sở dĩ lợn con có khả năng hấp thu được nguyên vẹn phân tử globulin là vì trong sữa đầu có kháng trypsin (antitrypsin), nó làm mất hoạt lực của trypsin tuyến tụy Đồng thời khoảng cách giữa các tế bào vách ruột lợn con mới sinh rất lớn nên phân tử globulin có thể được chuyển qua bằng con đường ẩm bào (kiểu hấp thu này giảm mạnh theo thời gian)

Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân lợn con trong thời kỳ này cũng có quá trình tổng hợp kháng thể Trước đây người ta cho rằng tới 2 tuần tuổi hoặc muộn hơn mới có quá trình tổng hợp kháng thể ở lợn con Nghiên cứu tại Bruno (Cộng hòa Séc) gần đây cho thấy chỉ ngay sau ngày đẻ thứ hai một số cơ quan trong cơ thể lợn con đã bắt đầu sản sinh kháng thể Tuy nhiên, khả năng này của lợn con còn rất hạn chế và nó chỉ được hoàn chỉnh khi lợn con được một tháng tuổi (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận, 2006) [15]

2.2.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng

Trang 28

đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Để trống chuồng sau mỗi đợt nuôi nhằm giúp phá vỡ chu kỳ dịch bệnh Việc để trống chuồng khi kết hợp với làm vệ sinh và khử trùng sẽ giúp phòng bệnh rất hiệu quả Nhiều loài vi sinh vật gây bệnh tìm thấy trong chuồng hoặc trên nền chuồng lợn không thể tồn tại dài ngày ngoài cơ thể ký chủ Khi chuyển hết lợn đi, các mầm bệnh trong chuồng không bao lâu sẽ giảm số lượng Sau khi xuất lợn, quét dọn vệ sinh chuồng sạch sẽ, sát trùng toàn bộ chuồng rồi để trống chuồng trước khi nuôi đợt lợn mới Thời gian để chuồng trống từ 3 - 4 tuần hoặc lâu hơn sẽ cho kết quả tốt hơn (Marphavet, 2016) [20]

Hố sát trùng có tác dụng ngăn ngừa việc truyền các mầm bệnh từ nơi này đến nơi khác, từ khu chăn nuôi này đến khu chăn nuôi khác Hố sát trùng thường được đặt ở cửa đầu dãy chuồng, cổng trang trại Các chất sát trùng thường được sử dụng là chlorhexidine, cresol, glutaraldehyde,…

Vệ sinh cho nái trước khi chuyển lên chuồng nái đẻ Làm vệ sinh nái bằng xà phòng hoặc chất sát trùng nhẹ

Thường xuyên theo dõi quan sát phát hiện lợn bệnh Khi phát hiện lợn bệnh phải cách ly lợn bệnh Khi lợn chết do bệnh hoặc không rõ nguyên nhân tuyệt đối phải mang tiêu hủy hoặc chôn sâu

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần

Trang 29

phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.3.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [5] nguyên tắc để điều trị bệnh là: + Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như: hộ lý, dinh dưỡng, dung thuốc

Trang 30

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [5], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối

Trang 31

hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo

- Triệu chứng:

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [12], khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5°C, chiều 40 - 41°C

Trang 32

Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn

Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mạch tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn

Tùy vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

- Hậu quả:

Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Theo Trần Thị Dân (2006) [2], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Tỉ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ

đó làm cho tỉ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

- Biện pháp phòng trị:

+ Phòng bệnh:

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [8], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

và bầu vú

Trang 33

Theo Lê Hồng Mận (2002) [7], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng

kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc

Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng

vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai

+ Điều trị:

Điều trị cục bộ:

Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt kháng sinh như: penicillin 2 - 3 triệu UI; tetramycine hay sulfamid 2 - 5g hoặc colposeptine 4 - 6 viên vào tử cung để chống viêm

Điều trị toàn thân:

Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 - 3 ống/ngày

Tiêm kháng sinh: Tiêm tetramycine tiêm bắp liều 10 - 15 mg/kg TT, liên tục 3 - 4 ngày Kết hợp tiêm septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/10 -

15 kg TT/ngày Liên tục 3 - 4 ngày

Tiêm thuốc giảm viêm: Hydrocortizone, dectancyl, prednizolone… Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin B1, C, B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin

C không dùng chung với kháng sinh penicilline, sufamid và vitamin B12

Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường

Ngày đăng: 31/05/2021, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w