1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Áp dụng quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn chu bá thơ huyện việt yên tỉnh bắc giang

69 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y

Thái Nguyên - năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, tôi được Trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp đại học của mình Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và toàn thể các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo mọi điều kiện, dạy dỗ và đào tạo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Thăng đã tận tâm, tận lực

hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện thành công

đề tài khóa luận và sửa chữa giúp tôi hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp đại học này

Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới chủ trại, cán bộ kỹ thuật và các anh chị em công nhân viên tại trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bố mẹ đã luôn

ở bên tôi động viên về tinh thần và ủng hộ về vật chất để tôi có thể hoàn thành khóa học này Nếu không có sự giúp đỡ và động viên này tôi đã không có thể hoàn thành được khóa học và thực hiện thành công khóa luận tốt nghiệp đại học này

Một lần nữa tôi xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 7 tháng 07 năm 2020

Sinh viên

Hứa Hồng Lan

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Thế Anh qua 3 năm 2017 -

2019 5

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 37

Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh và kết quả phòng bệnh tại trại lợn Chu Bá Thơ 38 Bảng 4.3 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 40

Bảng 4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 41

Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 43

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 44

Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái theo tháng theo dõi 46

Bảng 4.8 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 47

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 49

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 50

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 51

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỤC LỤC iii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 4

2.2.3 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn tại trại lợn Chu Bá Thơ qua 3 năm từ 2017 - 2019 5

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 8

2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 8

2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 19

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 22

Phần 3 ĐỒI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29 3.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29

3.3 Nội dung tiến hành 29

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 29

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29

Trang 6

3.4.2 Phương pháp theo dõi 30

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 36

4.1.1 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 36

4.1.2 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 38

4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 39

4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 39

4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Chu Bá Thơ 41

4.4 Công tác chẩn đoán bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 42

4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 42

4.4.2 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 44

4.4.3 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản theo tháng theo dõi 45

4.4.4 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 47

4.4.5 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 48

4.5 Công tác điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 50

4.5.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 50

4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 51

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53 PHỤ LỤC

Trang 7

Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc tốt thì cần phải có con giống tốt Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn lợn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn

con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo

mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn giai đoạn nuôi thịt và lợn hậu bị Vì vậy, thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ để tạo ra đàn lợn con có chất

lượng tốt, khỏe mạnh là hết sức cần thiết

Trang 8

Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:

“Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang"

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh cho lợn nái

sinh sản và lợn con theo mẹ

- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh

sản và lợn con theo mẹ

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, đồng thời

học tập bổ sung thêm kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất

- Ứng dụng các biện pháp điều trị cho lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ có hiệu quả vào thực tiễn chăn nuôi tại địa phương

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại lợn Chu Bá Thơ là trại lợn tư nhân, thuộc thôn Năm, làng Chàng,

xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang

- Phía Bắc giáp xóm 7, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang

- Phía Nam giáp xóm 4, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang

- Phía Đông giáp xóm 3, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang

- Phía Tây giáp xóm 9, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang

2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai

Trại lợn Chu Bá Thơ nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn, có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, với diện tích khoảng 5000 m2 Trong đó:

- Đất trồng cây ăn quả: 1000 m2

- Đất xây dựng: 2000 m2

- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 1500 m2

2.1.1.3 Điều kiện khí hậu và thời tiết

Trại lợn Chu Bá Thơ nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa Đông, nóng ẩm về mùa Hè

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

Nhiệt độ trung bình trong năm là 21C - 23C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa

Trang 10

Về chế độ gió: Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

Như vậy, trại lợn Chu Bá Thơ nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của khí hậu miền Bắc Việt Nam vừa thuận lợi, vừa khó khăn cho phát triển chăn nuôi

2.1.1.4 Điều kiện giao thông

Mạng lưới giao thông đường bộ ở Việt Yên khá thuận tiện gồm: Quốc

lộ 1A, tỉnh lộ 295B, tuyến đường sắt xuyên Việt chạy qua huyện, nối liền Việt Yên với Thủ đô Hà Nội và biên giới Việt Nam – Trung Quốc Các quốc lộ 37, tỉnh lộ 172, 289, 398 cùng mạng lưới đường liên xã, liên thôn nối liền các thôn xã với nhau và các vùng xung quanh Như vậy, trại lợn Chu Bá Thơ nằm trên địa bàn có hệ thống giao thông hết sức thuận lợn cho việc phát triển chăn nuôi của trại

2.1.2 Cơ sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

2.1.2.1 Cơ sở vật chất của trại lợn Chu Bá Thơ

Trang trại đã dành khoảng 500 m2 đất để xây dựng các hạng mục công trình như nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi được quy hoạch, bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 320 nái cơ bản bao gồm: 2 chuồng đẻ 720 m2 (1 chuồng có 40 ô đẻ và 1 chuồng 30 ô đẻ); 1 chuồng nái chửa 690 m2 (chuồng có 270 ô nái chửa và chờ phối, 3 ô lợn đực và 1 ô thử lợn); 1 chuồng nuôi lợn hậu bị 300 m2; 1 chuồng lợn thịt 300 m2 và một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, kho thuốc

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 4 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng hậu bị Hai

Trang 11

bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái chửa Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống

Đội ngũ cán bộ, công nhân của trại gồm có: 1 kỹ sư (chủ trại), và 3 công nhân Với việc chăn nuôi theo quy mô lớn, trang trại đã áp dụng hình thức sản xuất, chăn nuôi từ khâu chọn giống đến quá trình chăn nuôi, chăm sóc bằng kĩ thuật cao Các biện pháp phòng chống dịch bệnh được thực hiện đầy đủ và chủ động Để đảm bảo việc phòng chống dịch bệnh công tác vệ sinh và sát trùng được thực hiện nghiêm ngặt Công nhân được trang bị quần

Trang 12

so với năm 2018 và số nái hậu bị năm 2019 không có, điều này được giải thích do năm 2018 trại nuôi 280 lợn nái, nhưng trong quá trình nuôi một số lợn khả năng sinh sản kém nên phải loại thải Số lượng nái hậu bị năm 2018 được nuôi để phục vụ cho việc thay thế những nái kém chất lượng Năm

2019, do tình hình chung của ngành chăn nuôi, nên trang trại chỉ duy trì đàn nái ở mức độ 200 nái, không tăng thêm đàn Số lợn con được đẻ ra sẽ được

trại chuyển sang nuôi lợn thịt

2.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Chu Bá Thơ

a Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,3 - 2,32 lứa/nái/năm Số lợn con sơ sinh là 12,05 con/lứa, số lợn con cai sữa là 10,08 con/lứa Lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và bán hoặc chuyển xuống chuồng nuôi thịt Trong trại có 5 con lợn đực giống gồm 3 con giống lợn Landrace và 2 con giống lợn Duroc, lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích khai thác tinh

và làm đực thí tình Lợn nái của trại được phối giống 2 lần (phối lặp) bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo (3 lần đối với những con bị trào ngược tinh ra ngoài )

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao của công ty cám Emivet

b Công tác thú y

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên của trại Chu

Bá Thơ

Trang 13

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng; hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột; các phương tiện vào trại đều phải sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào trại Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 75– 90 % trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn

c Đánh giá thuận lợi và khó khăn

Về thuận lợi

Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã Việt Tiến tạo điều kiện cho

sự phát triển của trang trại

Trang 14

Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và

có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và áp dụng các thành tựu, khoa học,

kỹ thuật tiên tiến

Về khó khăn

Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn

Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng

Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.1.1 Bệnh viêm tử cung

Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ sảy ra

Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung sây sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 1999) [27]

Trang 15

a Nguyên nhân

Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [20] lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [27] mầm bệnh có mặt trong một tuyến qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu

Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [20] tỷ lệ các loại vi khuẩn gây

viêm tử cung ở lợn như sau: E coli chiếm 27%; Proteus valgaris chiếm 16%;

Klebsielle chiếm 10,2%; Steptococus chiếm 34,5%; Staphylococus chiếm

11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%

Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Bilken (1996) [2]

và Nguyễn Như Pho (2002) [16] cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong

lúc sinh do nhiễm khuẩn E coli dung huyết, Staphylococus spp và

Staphylococus aureus Đó là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung ở lợn

nái sinh sản

Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do

Trang 16

thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại

vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái

Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

b Triệu chứng

Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:

Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp

tử cung giảm nhẹ

Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ và

có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [15] viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử

Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn

c Hậu quả

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, bệnh viêm tử cung là rất phổ biến, nó gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái, khả năng sinh trưởng, phát dục của lợn con Lợn nái bị viêm tử cung dễ dẫn đến loại thải

Trang 17

Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục Quá trình viêm tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiclysin (độc tố tiêu diệt vi trùng) Hoặc niêm mạc tử cung bị tổn thương sẽ cản trở sự di chuyển của tinh trùng Nếu có thụ thai được cũng dễ bị chết con, khi bệnh nặng dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, vô sinh (Lê Văn Năm, 1997) [14]

Viêm xảy ra trong thời gian có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: Teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc

tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi

2.2.1.2 Bệnh viêm vú

a Nguyên nhân

Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết sây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú

Theo Muirhead and Alexander (2010) [40] nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng) Nhóm vi

khuẩn gây viêm vú gồm: Coliform, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus,

Miscellaneous Trong đó vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây

viêm từng tuyến vú, Klebsiella spp gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn E

coli với nhiều type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm

vú, độc tố của E coli sinh ra là nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa

Theo White (2013) [42] nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do

Trang 18

các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm vú

từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh

Theo Phạm Tiến Dân (1998) [5] nghiên cứu xác định vi khuẩn gây

viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%; Staphylococcus chiếm19%; Streptococcus chiếm 27,18%; Klebsiella chiếm 14,7%

Theo Christensen và cs (2007) [29] khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là

Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [15] cho rằng vi khuẩn gây bệnh viêm vú thường là liên cầu trùng chiếm 86%; tụ cầu trùng

chiếm 5,4%; trực trùng sinh mủ chiếm 2,7%; E coli chiếm 1,2%; và các loại

vi khuẩn khác chiếm 3,7% Loại gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu trùng

Agalactiac

Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, viêm bàng quang, viêm thận Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh

Lợn nái tốt sữa, lợn con bú sữa không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa, lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con

bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú (Trương Lăng, 2000) [9]

Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú

b Triệu chứng

Viêm vú chia thành các thể như sau:

Trang 19

- Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau

- Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm, vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng

- Viêm vú thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục Casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể 40 – 41oC, vú viêm cứng, sưng to, sờ thấy đau

- Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng

- Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ

ở dưới da Vật ngừng tiết sữa và trong sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein

- Viêm vú thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, tim mạch rối loạn

- Viêm vú thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hoặc do viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 – 41oC, bỏ ăn

Trang 20

- Theo White (2013) [42] biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn

mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con

bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy

c Hậu quả

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ, thậm chí nếu lợn mẹ bị mắt sữa hoàn toàn do viêm vú thì đàn con có nguy cơ

bị chết cả đàn do không có sữa để bú

Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (1999) [28] bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3] cho biết: Mất sữa sau khi đẻ là do

kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm, cơ thể thường sốt cao liên tục từ 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết

Trang 21

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau

Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi

2.2.1.3 Hiện tượng đẻ khó

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi

Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [17] thông thường thai chết lưu ở các trại chăn nuôi nái sinh sản chiếm khoảng 4 - 10% tổng số lợn con chết trong giai đoạn

từ sơ sinh đến cai sữa, trong đó khoảng 70% các trường hợp được coi là thai chết lưu đã từng sống sót khi mới sinh

a Nguyên nhân

- Đẻ khó nguyên nhân do cơ thể mẹ:

Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ bị suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài

Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Các nghiên cứu cho thấy độ dầy mỡ lưng ở vị trí P2 ở heo nái tốt, diễn biến ở các lứa đẻ tăng dần đến giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, thì giảm dần xuống đến cai sữa, sau đó lại tăng dần ở lứa tiếp theo đến giai đoạn đẻ Sự mập ốm của lợn nái phụ thuộc vào điểm P2 Lợn nái tốt có P2 từ 19 - 22 mm nếu lợn nái lớn hơn

23 mm là lợn mập gây ra đẻ khó do mỡ bao quanh buồng trứng và tử cung làm khả năng co thắt tử cung và cơ bụng yếu (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [21]

Trang 22

Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn

nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được Khi quá trình rặn

đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con làn lợn con bị chết

Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép

tử cung làm tử cung bị xoắn hay vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây khó đẻ

Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: kích tố nhau thai Relaxin lúc

đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở khớp bán động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được

- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:

Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ

Thai bị dị hình hay quái thai

Hiện tượng đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được

b Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23] cho biết: lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường

Trang 23

hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to

c Hậu quả

- Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con

bị chết

- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết

- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục

- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây sây sát niêm mạc

tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sẩy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, đẻ non thậm trí là vô sinh

2.2.1.4 Bệnh sót, sát nhau

Là bệnh xảy ra sau khi đẻ, khi con đã ra hết 4 - 5 giờ mà nhau không ra hoặc ra không hết

- Căn cứ vào mức độ của bệnh mà có thể chia ra như sau:

+ Thể sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tử cung ở cả 2 sừng tử cung

+ Thể sót nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa thai thì nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ

+ Thể sót nhau từng phần: một phần của màng nhung hay 1 ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung

a Nguyên nhân

+ Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ, dịch viêm tiết ra gây viêm dính nhau với tử cung, khi đẻ ra nhau bị sót lại trong tử cung

Trang 24

+ Do lợn con còn sót lại ở trong trạng thái nằm sai vị trí làm nghẽn lối ra của nhau

+ Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại trong tử cung

+ Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được Nguyên nhân làm cho tử cung co bóp kém có thể là:

- Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức

- Trong thời gian có thai lợn mẹ ít vận động, nhất là giai đoạn cuối thai kỳ

- Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là Canxi

- Lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo

- Quá nhiều bào thai, bào thai quá to, dịch thai quá nhiều dẫn đến cổ tử cung mở quá độ, giảm đàn tính và sự co bóp

- Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung

→ giảm sức rặn của con mẹ

b Triệu chứng

Lợn bị sót nhau thường biểu hiện triệu chứng không rõ ràng:

+ Lợn mẹ không yên tĩnh, hơi đau đớn, thỉnh thoảng rặn, thân nhiệt hơi tăng, lợn thích uống nước (nhờ vào kinh nghiệm chăm sóc cũng như theo dõi trong quá trình chăm sóc thực tế mà ta biết được lượng nước lợn uống có nhiều hơn bình thường hay không)

+ Từ cơ quan sinh dục của lợn mẹ luôn thải ra dịch màu nâu

c Chẩn đoán

+ Sót nhau hoàn toàn: quan sát kỹ sẽ thấy 1 màng mỏng còn nằm trong

âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn

+ Sót nhau không hoàn toàn: nhìn thấy 1 ít nhung mao trên mặt màng nhung của lợn mẹ

Trang 25

+ Sót nhau từng phần: Trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài trên nền chuồng sạch kiểm tra cuống rốn Mỗi lợn con tương ứng với 1 cuống rốn và 1

lá nhau, nếu thiếu là bị sót Có trường hợp còn sót một ít những mẫu nhỏ thì sau khi đẻ 1 ngày kiểm tra dịch viêm tử cung chảy ra màu đen và những mảnh nhau thối

+ Tiêm thuốc oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết + Sau khi nhau ra, dùng nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ

2.2.2.1 Bệnh lợn con phân trắng

a Nguyên nhân

- Bệnh do trực khuẩn E coli, Gr (-) gây nên, thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae gây ra

- Do chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái không đúng kỹ thuật

- Do thời tiết thay đổi đột ngọt

- Do khẩu phần ăn của con mẹ thay đổi

- Do vệ sinh chuồng trại kém

b Triệu chứng

Lợn bị bệnh thường kém ăn, ủ rũ, mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, lợn

ỉa chảy phân lỏng màu trắng có mùi hôi tanh khó chịu, sau chuyển hơi vàng, khắm, phân bết sau hậu môn, lợn đi lại không vững gầy sút nhanh

Trang 26

c Bệnh tích

Lợn bệnh chết do mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát xác con vật gầy còm, da khô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con vật khỏe mạnh Niêm mạc nhợt nhạt, máu loãng hơi đen Dạ dày giãn rộng, các bờ ở đường cong lớn bị nhồi máu, chứa sữa đông vón, màu trắng hoặc màu xám trắng Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng thành màu đỏ thẫm Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết Phổi ứ huyết, đôi khi có hiện tượng viêm phổi nhẹ

Bệnh cầu trùng lây nhiễm qua đường tiêu hóa Lợn khỏe ăn thức ăn hoặc nước có noãn nang cảm nhiễm sẽ bị nhiễm cầu trùng Các loài cầu trùng

có độc lực gây bệnh khác nhau Lợn bị bệnh tùy thuộc vào độc lực của loài cầu trùng mà chúng cảm nhiễm, sức đề kháng của lợn với mầm bệnh và sự chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 27

- Phòng bệnh:

+ Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, diệt nha bào bằng cách đốt nến trong chuồng khi đưa đàn mới về hoặc phun thuốc sát trùng

+ Đặc biệt nên phòng bằng thuốc cho lợn con bắt đầu từ 3 - 5 ngày tuổi

để chống các vi khuẩn kế phát gây bệnh tiêu chảy làm giảm đầu con và trọng lượng con xuất chuồng dùng Hupha-cox 5%: pha 0,5 ml/2,5 kg thể trọng/ ngày, 4 giọt/ kg thể trọng, 2 ngày liên tục

- Trị bệnh: Theo nguyên tắc cầm máu, bổ sung nước và chất điện giải, tăng cường sức đề kháng, bù đủ năng lượng, rồi mới diệt cầu trùng và các loại

vi khuẩn đường ruột kế phát

+ Cho uống Hupha-điện giải, Gluco-C với liều điều trị: 3,5g/1,5 lít nước uống, pha uống cả ngày

* Phác đồ 1: Hupha-cox 5%:pha 1ml/2,5 kg thể trọng/ngày; 8 giọt/kg thể trọng, Buổi chiều kết hợp với Hupha-floxacin hoặc Colimox 2-4 ngày liên tục

* Phác đồ 2: Trộn 1g Hupha-SCP-cầu trùng/ lít nước uống; 2g/kg thức

ăn trong 5-10 ngày, buổi chiều kết hợp Hupha-floxacin hoặc Colimox

Có thể thay bằng kháng sinh sau: Hupha- Nor- C, Neodox

+ Bổ sung cho uống kết hợp:4g bổ gan + 2g men tiêu hóa sống hòa chung vào 1 lít nước uống, giải độc, khôi phục hệ sinh vật có lợi cho đường ruột

Trang 28

Liệu trình 3-5 ngày, tiêm bắp

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Martineau (2011) [39] có nhiều bệnh nguyên học và sinh lý bệnh

có thể được đề cập trong hội chứng rối loạn tiết sữa và viêm vú ở lợn nái sau

đẻ do dùng những tên khác nhau: phức hợp viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA), hội chứng mất sữa, hội chứng rối loạn tiết sữa, phù thũng vú, hội chứng giảm tiết sữa, ngộ độc máu mất sữa và viêm vú sau đẻ

Theo Shrestha (2012) [41] hội chứng MMA gây chết khoảng 2% lợn nái nhưng tỷ lệ chết ở lợn con lên tới 80% do đói, ỉa chảy Nguyên nhân: (a)

do dinh dưỡng: cho nái ăn quá nhiều trong thời gian mang thai, nái quá béo; thay đổi thức ăn đột ngột, hàm lượng vitamin E và Ca trong khẩu phần ăn thấp, thiếu xơ và nước uống; (b) do quản lý chăm sóc: nái ít được vận động, lợn nái không được vệ sinh, vô trùng trước khi đẻ, không được quan tâm khi

đẻ, thời gian đẻ kéo dài; (c) do chuồng trại: chật chội, nền chuồng không bằng phẳng, nhiệt độ môi trường cao, bầu vú lợn quánóng do đặt đèn sưởi không thích hợp; (d) do bản thân lợn nái: đẻ nhiều con, dạ con lớn và nhão Chẩn đoán lâm sàng: lợn sốt (40 - 410C), bỏ ăn, táo bón, bầu vú sưng cục bộ, nóng, đau

Theo Kemper và cs (2013) [33] tại 6 đàn nái hạt nhân ở Đức (2008 - 2010), 99,1% các mẫu sữa phân lập được vi khuẩn chủ yếu thuộc họ

Trang 29

Enterobacteriaceae, Staphylococcaceae, Streptococcaceae và Enterococcaceae

Trong đó, E coli chiếm nhiều hơn cả và những loài này cũng được tìm thấy trong sữa lợn khỏe, còn Staphylococcus spp, Lactococcus lactis được tìm thấy

trong sữa lợn mắc hội chứng MMA

Theo Maes và cs (2010) [35] thuật ngữ Metritis, Mastitis, Agalactia (MMA) được dùng rất thường xuyên trong các bài báo khoa học trước đây, ngày nay được xem như một loại PDS (hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ lợn nái), MMA có tỷ lệ lưu hành 6,9% trong tổng số 16.450 lợn nái đẻ trong hơn

01 năm tại 31 đàn ở Illinois; trong 27.656 lợn nái đẻ của một nghiên cứu được tiến hành tại bang Missouri có tới 13% nái bị mắc hội chứng MMA; tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo đàn ở Thụy Điển biến động từ 5,5% ở đàn quy mô nhỏ

và tới 10,3% ở đàn quy mô lớn Ông cũng cho biết, một nghiên cứu mới đây ở

110 đàn lợn tại Bỉ cho thấy 34% số đàn có liên quan đến hội chứng MMA

Theo Kemper và Gerjets (2009) [32] để chẩn đoán sớm hội chứng MMA, người ta thường dựa vào một số triệu chứng lâm sàng: (1) thân nhiệt lợn nái sau đẻ 12 - 48 giờ (nếu > 39,40C thì điều trị dự phòng), sự thay đổi hình dạng tuyến vú, giảm tiết sữa (hoặc mất sữa hoàn toàn), giảm tính thèm

ăn (ăn ít hoặc bỏ ăn hoàn toàn), lượng tế bào soma trong sữa >107/ml, pH sữa

> 6,7; tăng hàm lượng các interleukin trong máu (tăng lượng 1P, 6,

IL-8 và TNFa (2) các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng MMA: thời gian mang thai dài (> 116 ngày), thời gian đẻ dài (> 3 giờ), can thiệp bằng dụng cụ sản khoa khi đẻ, nhiều con (> 11con/ổ) nhiễm trùng đường sinh dục, táo bón, sự tăng đàn, chuyển đàn, trong đàn có nhiều nái mới, ảnh hưởng của mùa vụ, thiếu protein thô trong khẩu phần ăn, thay đổi thức ăn đột ngột, lợn nái thiếu vận động

Theo Preibler và Kemper (2011) [36] trong nghiên cứu về lợn nái mắc MMA, có 16,6% bị sốt < 39,50C, 28,8% sốt > 400C, lợn kém ăn, sản

Trang 30

lượng sữa giảm hoặc rối loạn tiết sữa

Theo Heber và cs (2010) [30] lợn được coi là mắc hội chứng MMA khi

có một hoặc bao gồm các biểu hiện sau: viêm tử cung, dịch tiết âm đạo có pH

> 8, lười vận động, thân nhiệt > 39,40C, viêm vú

Theo Arut Kidcha-orrapin (2006) [38] tại Thái lan hội chứng MMA là một vấn đề lớn ở các trang trại chăn nuôi lợn, đặc biệt vào mùa hè (giữa tháng 3 và tháng 5), ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh là quản lý tốt đàn nái, đặc biệt là trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng đẻ bằng các thuốc sát trùng, để trống chuồng ít nhất

01 tuần, sau khi vệ sinh mới chuyển lợn vào

- Dùng thuốc điều trị ký sinh trùng; thuốc điều trị E coli: tiêm enrofloxacin; thuốc điều trị Streptoccocus spp: tiêm amoxyclin 01 ngày trước đẻ

- Bổ sung các vitamin A, D, E, K và khoáng chất để tăng khả năng miễn dịch cho lợn

Waller và cs (2002) [37] cho biết khi lợn mẹ bị viêm đường sinh dục

có tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra ở lứa sau thấp hơn so với lợn mẹ không

Trang 31

2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Bùi Thị Tho và cs (1995) [25] cho biết phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung

Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [27] nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng (2004) [6] bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [10] bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [4] cho biết ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [22] lợn nái ở lứa đẻ 1 và lứa ≥ 8 có

tỷ lệ mắc viêm tử cung sau đẻ cao hơn ở các lứa đẻ khác Tác giả cho rằng ở lứa 1 do xoang chậu còn nhỏ nên lợn thường đẻ khó dẫn đến phải can thiệp và sây sát Mặt khác, lứa đẻ ≥ 8 do trương lực của cơ tử cung đã giảm nên lợn gặp khó khăn trong việc đẩy thai và các sản dịch ra khỏi tử cung sau khi đẻ Các nguyên nhân trên làm cho tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ của lứa 1 và lứa ≥ 8 cao hơn các lứa đẻ khác

Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [24] lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam có tỷ lệ mắc hội chứng MMA dao động từ 47,39 - 53,33%

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [12] yếu tố thời tiết, mùa vụ ảnh

hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng MMA, mùa hạ có tỷ lệ mắc cao nhất

Trang 32

53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu có tỷ lệ mắc thấp nhất 43,70% Sự khác nhau về tỷ lệ mắc hội chứng MMA ở đàn lợn nái là do ảnh hưởng của sự biến đổi các chỉ tiêu về thời tiết khí hậu của các mùa khác nhau

Trần Ngọc Bích và cs (2016) [1] đã khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh và phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13 %

Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [13] cho biết tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ của lợn nái là 76,38%, biến động từ 62,10 – 86,96% Hầu hết lợn nái phải can thiệp bằng tay khi đẻ đều bị viêm tử cung (96,47%) Trong khi đó lợn không cần sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung

là 69,06% Tỷ lệ viêm tử cung của lợn nái có thai chết lưu và lợn nái không

có thai chết lưu lần lượt là 81,63% và 73,91% Ở lợn nái lứa đẻ từ 1-6, tỷ lệ viêm tử cung biến động từ 70,07 – 93,33%

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2000) [11] điều trị bệnh viêm tử cung bằng cách dùng Benzil penicillin (Procain) 1.000.000 IU tiêm bắp Dùng Gentamycin Sulfate 200.000 IU tiêm bắp Điều trị 5 - 7 ngày

Theo Nguyễn Văn Thanh (2002) [21], lợn nái sau khi sinh bị viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,40% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%, trên nhóm lai chiếm 50,84% Viêm tử cung xảy ra cao nhất ở lứa 1 và lứa 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm tử cung

Theo Chu Thị Thơm và cs (2005) [26] chữa bệnh viêm vú, sưng vú, tắc tia sữa bằng: Bồ công anh 50g rửa sạch, giã nát cho thêm ít muối, ít nước, chắt lấy nước cho uống, phần bã đắp phần vú bị sưng

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23] đưa ra bốn phương pháp điều trị viêm tử cung ở lợn nái:

Trang 33

+ Phương pháp 1: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch rivanol 0,1% hay thuốc tím 0,1% ngày 1 lần, sau khi thụt rửa đợi hay kích thích cho dung dịch thụt rửa đẩy ra hết ra ngoài hết, sau đó thụt kháng sinh vào tử cung ngày 1

lần liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày

+ Phương pháp 2: Dùng PGF2α hay các chế phẩm của nó như etrumat, oestrophan, prosolvin, hanprost, lutalyse,…tiêm dưới da theo liều chỉ dẫn, tiêm 1 lần, sau đó thụt vào tử cung 200 – 500 ml dung dịch lugol ngày 1 lần,

liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày

+ Phương pháp 3: Oxytocin 6 – 8ml tiêm dưới da, lugol 200 – 500 ml kết hợp với kháng sinh bơm vào tử cung đồng thời dùng kháng sinh thích hợp

tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần, liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày

+ Phương pháp 4: Dùng PGF2α hay các chế phẩm của nó tiêm dưới da theo liều chỉ dẫn, tiêm 1 lần, lugol 200 – 500 ml kết hợp với kháng sinh thụt vào tử cung đồng thời dùng kháng sinh thích hợp tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần, liệu trình điều trị từ 3 – 5 ngày

Theo Lê Minh Hải (1998) [8] thì thực tế là ở công ty giống chăn nuôi (trại Đông Mỹ - Thái Bình) khi lợn nái được nuôi ở chuồng sàn thì lợn con hầu như không bị ỉa phân trắng Còn lợn mẹ được nuôi ở chuồng nền có tỷ lệ ỉa phân trắng từ 40 - 50% Ở đây tác giả đã khẳng định rõ vai trò yếu tố chuồng trại trong chăn nuôi

Lê Văn Phước (1997) [19] cho biết: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến căn bệnh là rất lớn, bệnh có thể biến thiên theo mùa, có thể phụ thuộc vào nhiệt độ

và độ ẩm Do vậy yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng, yếu tố môi trường cũng rất quan trọng

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [7], có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh phân trắng lợn con Do nhân tố bẩm sinh, rối loạn trao đổi chất, do

Trang 34

khí hậu thời tiết, vệ sinh chuồng trại, do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột (hiện tượng loạn khuẩn)

Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] nhất thiết lợn con sơ sinh phải được

bú sữa đầu để giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu

có γ-globulin cao hơn sữa thường Đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong tuần đầu đảm bảo được toàn bộ số lợn con trong ổ được bú sữa đầu của lợn mẹ

Ngày đăng: 31/05/2021, 08:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000), Thuốc thú y và cách sử dụng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
12. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA) ở lợn nái sinh sản, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA) ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
13. Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh (2016), “Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 14(5), tr. 720-726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, "Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2016
14. Lê Văn Năm (1997), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ở lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
15. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
16. Nguyễn Như Pho (2002), “Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản của heo nái”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản của heo nái”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Năm: 2002
17. Nguyễn Ngọc Phục (2005), Công tác thú y trong chăn nuôi lợn, Nxb Lao Động - Xã Hội, tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thú y trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phục
Nhà XB: Nxb Lao Động - Xã Hội
Năm: 2005
18. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Lê Văn Phước (1997), Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ không khí đến tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ không khí đến tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con
Tác giả: Lê Văn Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
20. Nguyễn Hữu Phước (1982), Một số bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh ở lợn
Tác giả: Nguyễn Hữu Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1982
21. Nguyễn Văn Thanh (2002), Nghiên cứu một số chỉ tiêu và bệnh đường sinh dục thường gặp ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu và bệnh đường sinh dục thường gặp ở lợn
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
22. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Đồng bằng Sông Hồng và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, XIV (3), tr. 38 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Đồng bằng Sông Hồng và thử nghiệm điều trị”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
23. Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ (2016), Giáo trình Sinh sản gia súc, Nxb Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ
Nhà XB: Nxb Đại học Nông nghiệp
Năm: 2016
24. Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh và Đoàn Đức Thành (2010),“Thực trạng hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA) ở đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại thuộc tỉnh Thái Bình và thử nghiệm phòng trị”, Tạp chí KHKT Chăn nuôi (J A H S T) , số 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA) ở đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại thuộc tỉnh Thái Bình và thử nghiệm phòng trị”, "Tạp chí KHKT Chăn nuôi (J"A"H"S"T)
Tác giả: Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh và Đoàn Đức Thành
Năm: 2010
25. Bùi Thị Tho, Trần Công Hòa, Nguyễn Khắc Tích (1995), “Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn giống Yorkshire, Landrace nuôi tại xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn - Tỉnh Hải Hưng”, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học khoa Chăn nuôi Thú Y 1991 - 1995, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn giống Yorkshire, Landrace nuôi tại xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn - Tỉnh Hải Hưng”, "Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học khoa Chăn nuôi Thú Y 1991 - 1995
Tác giả: Bùi Thị Tho, Trần Công Hòa, Nguyễn Khắc Tích
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
26. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tô (2005), Hướng dẫn phòng, trị bằng thuốc nam một số bệnh ở gia súc, Nxb Lao Động, tr. 120 -121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng, trị bằng thuốc nam một số bệnh ở gia súc
Tác giả: Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tô
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2005
27. Đặng Thanh Tùng (1999), Bệnh sinh sản ở lợn, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản ở lợn
Tác giả: Đặng Thanh Tùng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1999
28. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Đức Lưu (1999), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
29. Christensen R. V., Aalbaek B. and Jensen H. E. (2007), “Pathology of udder lesions in sows”, J. Vet. Med. A Physiol Pathol Clin Med., 54(9), pp. 491 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathology of udder lesions in sows”, "J. Vet. Med. A Physiol Pathol Clin Med
Tác giả: Christensen R. V., Aalbaek B. and Jensen H. E
Năm: 2007
30. Heber L., Cornelia P., Loan P. E., Ioana B., Diana M., Ovidiu S., Sandel P. (2010), “Possibilities to Combat MMA Syndrome in Sows”, Scientific Papers: Animal Science and Biotechnologies, 43 (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Possibilities to Combat MMA Syndrome in Sows”, "Scientific Papers: Animal Science and Biotechnologies
Tác giả: Heber L., Cornelia P., Loan P. E., Ioana B., Diana M., Ovidiu S., Sandel P
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w