1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Áp dụng quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn bùi huy hạnh xã tái sơn huyện tứ kỳ tỉnh hải dương

61 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con s

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và toàn thể các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo mọi điều kiện, dạy dỗ và đào tạo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Thăng đã tận tâm, tận lực

hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện thành công chuyên đề khóa luận và sửa chữa giúp tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học này

Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới gia đình bác Bùi Huy Hạnh - chủ trại, cán bộ kỹ thuật và các anh chị em công nhân viên tại trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bố mẹ đã luôn động viên về tinh thần và ủng hộ về vật chất để tôi có thể hoàn thành khóa học này Nếu không có sự giúp đỡ và động viên này tôi đã không có thể hoàn thành được khóa học và thực hiện thành công khóa luận tốt nghiệp đại học này

Một lần nữa tôi xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trần Chí Công

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lịch sát trùng của trại lợn nái 9

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn hậu bị mới nhập 10

Bảng 2.3 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái mang thai 10

Bảng 2.4 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn đực giống 11

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 37

Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh tại trại lợn Bùi Huy Hạnh 38

Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh tại trại lợn Bùi Huy Hạnh 39

Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 40

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 42

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái theo tháng theo dõi 44

Bảng 4.7 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 45

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 46

Bảng 4.9 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo lứa tuổi 48

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 49

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 50

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỤC LỤC iii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 12

2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 12

2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 21

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24

Phần 3 ĐỒI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung tiến hành 30

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp theo dõi 31

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 35

Trang 5

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 36

4.1.1 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 36

4.1.2 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 37

4.2 Công tác chẩn đoán bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 40

4.2.1 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 40

4.2.2 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 42

4.2.3 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản theo tháng theo dõi 43

4.2.4 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 45

4.2.5 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 46

4.2.6 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo lứa tuổi 48

4.3 Công tác điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 49

4.3.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 49

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 50

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 6

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển mạnh

mẽ cả về quy mô và số lượng Con lợn đã cung cấp 70 – 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu đồng thời cung cấp nguồn phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến Chăn nuôi lợn quy mô trang trại theo hướng tập trung công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả nước

Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc tốt thì cần phải có con giống tốt Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn lợn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn

con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo

mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ như bệnh viêm tử cung, bệnh viêm vú, hiện tượng đẻ khó, bệnh phân trắng lợn con Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn giai đoạn nuôi thịt và lợn hậu bị Vì vậy, áp dụng quy trình

Trang 7

nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ là hết sức cần thiết

Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:

“Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện

- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh

sản và lợn con theo mẹ

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, đồng thời

học tập bổ sung thêm kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất

- Ứng dụng các biện pháp điều trị cho lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ có hiệu quả vào thực tiễn chăn nuôi tại địa phương

Trang 8

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại lợn Bùi Huy Hạnh là trại lợn gia công cho Công ty CP (Charoen Pokphand Việt Nam) Trang trại được thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2007 Địa điểm xây dựng trại tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình

- Phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình)

- Phía Tây Bắc giáp thành phố Hải Dương

- Phía Tây giáp huyện Gia Lộc

- Phía Tây Nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương

- Phía Đông Nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc)

- Phía Đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình)

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu và thời tiết

Về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khí hậu của xã Tái Sơn có thể khái quát như sau:

- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm

- Khí hậu: Huyện Tứ Kỳ nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông, nóng ẩm về mùa hè Độ ẩm không khi trung bình hàng năm là 82%, độ

ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

Trang 9

- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21C - 23C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa

- Về chế độ gió: Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

2.1.1.3 Điều kiện giao thông

- Đường bộ: có đường tỉnh lộ 391, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nối thành phố Hải Dương với thị trấn Tứ Kỳ, đi Quý Cao

- Có quốc lộ 10 đi Hải Phòng và Thái Bình

- Đường 17: Từ TP Hải Dương qua huyện Gia lộc, qua huyện Tứ Kỳ (Ở đoạn xã Quảng Nghiệp, xã Quang Khải) đi huyện Ninh Giang rẽ sang đường 17B lại vào đất Tứ Kỳ (ở đoạn xã Hà Thanh, xã Tiên Động) nhập vào đường tỉnh lộ 391 và đường quốc lộ 10 ở đoạn Quý Cao

- Đường thủy: Sông Thái Bình chảy từ phía Thành phố Hải Dương qua giữa Tứ Kỳ (Ở đoạn Ngọc Sơn, Kỳ Sơn, Hưng Đạo, Đại Đồng, Bình Lãng, Đông Kỳ, Tây Kỳ, Tứ Xuyên, Văn Tố, An Thanh) và Thanh Hà (Ở đoạn Thanh Hải, Tân An, Thanh Thuỷ, Thanh Hồng) qua Tiên Lãng Hải Phòng ra biển Sông Tứ Kỳ là nhánh của Sông Luộc, chảy giữa Huyện Tứ Kỳ và Huyện Ninh Giang, qua Tiên Lãng Hải Phòng ra biển

- Đây cũng là địa phương có đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đi qua

2.1.2 Cơ sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

2.1.2.1 Cơ sở vật chất của trại lợn Bùi Huy Hạnh

Trang trại Bùi Huy Hạnh được Công ty CP chọn là nơi để tập huấn cho tất cả các kỹ sư mới được tuyển dụng vào Công ty Chính vì vậy, cơ sở vật chất của trang trại được đầu tư khá đầy đủ, theo đúng quy trình, tạo điều kiện rất thuận lợi cho sinh viên đến trại thực tập

Trang 10

- Về cơ sở vật chất:

+ Trang trại có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, bình nước nóng, tivi,

Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa) và giường nằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước cho lợn tự động Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa Đông

Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)

+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại

Trang 11

- Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 6 chuồng lợn đẻ, 2 chuồng lợn chửa, chuồng lợn đực nằm trong chuồng lợn chửa 1 và 3 chuồng cách ly (một chuồng cách ly lợn con, 2 chuồng cách

ly lợn hậu bị) Trong đó có 2 dãy chuồng lợn đẻ, mỗi dãy được tách ra là 3 chuồng nhỏ với 56 ô chuồng sàn Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và

hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió, hệ thống phun sương và dàn mát

Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas

2.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Bùi Huy Hạnh

a Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,4 lứa/nái/năm Số lợn con sơ sinh trung bình là 12,5 con/lứa, số lợn con cai sữa trunh bình là 12,0 con/lứa Lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là

26 ngày thì tiến hành xuất-chuyển tiếp sang nuôi tại trại nuôi lợn thương phẩm của công ty CP Trong trại có 21 con lợn đực, giống lợn Duroc, lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích khai thác tinh và làm đực thí tình Lợn nái của trại được phối giống 2 lần (phối lặp) bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo (3 lần đối với lợn hậu bị, lợn có vấn đề về đường sinh dục và lợn bị trào ngược tinh ra ngoài )

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao của Công ty CP

Trang 12

b Công tác vệ sinh

Vệ sinh lợn nái khi đẻ: Khi lợn nái có hiện tượng rặn đẻ thì người công

nhân chuồng đẻ vệ sinh sạch sẽ lợn nái bằng nước đã pha dung dịch sát trùng theo tỷ lệ quy định, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ đỡ đẻ đã được sát trùng sạch sẽ, chuẩn bị lồng úm, thảm lót, bóng đèn sưởi

Vệ sinh lợn nái chờ phối: Tất cả lợn nái chờ phối đều được tắm rửa

sạch sẽ nhất là phần hông, tiến hành vệ sinh âm hộ theo trình tự từ trong ra ngoài bằng nước muối sinh lý rồi dùng khăn sạch lau khô lại phần hông

Vệ sinh đực giống: Khi khai thác tinh, đực giống được rửa sạch phần

bụng và bao ngoài dương vật bằng nước muối sinh lý

Vệ sinh chuồng trại: Trong chuồng và không gian xung quanh chuồng

được rắc vôi, phun thuốc sát trùng theo lịch cụ thể do kỹ sư quy định

Công tác vệ sinh phòng bệnh được diễn ra hàng ngày

Chuồng đẻ: Thay nước dẫm chân sát trùng trước khi vào chuồng 1

lần/ngày (phụ thuộc vào thời tiết mà số lần thay nước dẫm chân có thể thay đổi)

- Lau sàn chuồng 1 lần/ngày

- Lau máng heo con 1 lần/ngày

- Quét hành lang chuồng 1 lần/ngày

- Thứ 5 tổng vệ sinh toàn trại

Chuồng nái chửa: Thay nước dẫm chân sát trùng trước khi vào chuồng

1 lần/ngày

- Phun sát trùng 1 lần/ngày

Trang 13

- Rửa máng ăn 1 lần/ngày

- Tắm lợn 1 - 2 lần/ngày (tùy theo thời tiết)

- Quét mạng nhện 3 lần/tuần

- Quét hành lang chuồng 1 lần/ngày

- Thứ 5 tổng vệ sinh toàn trại

Khu vực bên ngoài: Phun sát trùng toàn bộ xung quanh trại 3 lần/tuần

- Phun thuốc diệt ruồi, côn trùng 2 lần/tuần

co bóp để đẩy hết các sản dịch ra ngoài

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Định kỳ trại nhập về một số lượng lớn hậu bị nhất định để thay thế những con nái già, nái sinh sản kém, nái bị chết do bệnh hoặc những con nái không đủ điều kiện để mang thai bị loại thải Những con hậu bị này được nuôi

ở khu cách ly để theo dõi bệnh và được tiêm phòng một số loại vắc xin theo quy định chăn nuôi của Công ty được thực hiện qua các bảng sau:

Trang 14

Bảng 2.1 Lịch sát trùng của trại lợn nái

Thứ

Trong chuồng

Ngoài Chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái

Chuồng cách ly

CN Phun sát

Trùng

Phun sát trùng + rắc vôi đường đi

Thứ

2

Quét hoặc rắc

vôi đường đi

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

đi

Quét hoặc rắc vôi đường đi

Phun sát Trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

(Nguồn: Phòng kỹ thuật của trại)

Trang 15

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn hậu bị mới nhập

(Nguồn: Phòng kỹ thuật của trại )

Tất cả những lợn động dục, sau khi đã phối sẽ được nuôi dưỡng và tiếp tục tiêm phòng vắc xin theo quy trình tiêm vắc xin trên chuồng nái mang thai của trại

Bảng 2.3 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái mang thai

Tuần mang

Liều lượng (ml/con) Vị trí tiêm

(Nguồn: Phòng kỹ thuật của trại )

Trang 16

Đối với lợn đực giống chương trình phòng bệnh bằng vắc xin được thực hiện như sau:

Bảng 2.4 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn đực giống

Loại

Liều lượng (ml/con)

Vị trí tiêm

Trang 17

Qua bảng trên ta thấy, quy trình phòng bệnh vắc xin luôn được trại thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật Lợn được tiêm vaccine ở trạng thái khỏe mạnh, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền

nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất

d Đánh giá thuận lợi và khó khăn

- Thuận lợi:

+ Trại được xây dựng giữa cánh đồng nên cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh và đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn dịch bệnh

+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

Trang 18

Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung sây sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 1999) [27]

a Nguyên nhân

Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [20] lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [20] tỷ lệ các loại vi khuẩn gây

viêm tử cung ở lợn như sau: E coli chiếm 27%; Proteus valgaris chiếm 16%;

Klebsielle chiếm 10,2%; Steptococcus chiếm 34,5%; Staphylococcus chiếm

11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%

Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [27] mầm bệnh có mặt trong một tuyến qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu

Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Bilken (1996) [2]

và Nguyễn Như Pho (2002) [16] cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong

lúc sinh do nhiễm khuẩn E coli dung huyết, Staphylococcus spp và

Trang 19

Staphylococcus aureus Đó là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung ở

lợn nái sinh sản

Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại

vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái

Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

b Triệu chứng

Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:

Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ

Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ và

có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [15] viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử

Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn

Trang 20

c Hậu quả

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, bệnh viêm tử cung là rất phổ biến, nó gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái, khả năng sinh trưởng, phát dục của lợn con Lợn nái bị viêm tử cung dễ dẫn đến loại thải

Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục Quá trình viêm tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiclysin (độc tố tiêu diệt vi trùng) Hoặc niêm mạc tử cung bị tổn thương sẽ cản trở sự di chuyển của tinh trùng Nếu có thụ thai được cũng dễ bị chết con, khi bệnh nặng dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, vô sinh (Lê Văn Năm, 1997) [14]

Viêm xảy ra trong thời gian có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: Teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc

tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi

2.2.1.2 Bệnh viêm vú

a Nguyên nhân

Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết sây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú

Theo Muirhead and Alexander (2010) [40] nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng

cứng) Nhóm vi khuẩn gây viêm vú gồm: Coliform, Klebsiella,

Staphylococcus, Streptococcus, Miscellaneous Trong đó vi khuẩn

Trang 21

Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến vú, Klebsiella spp

gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn E coli với nhiều type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố của E coli sinh ra là

nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa

Theo White (2013) [42] nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do

các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm vú

từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh

Theo Phạm Tiến Dân (1998) [5] nghiên cứu xác định vi khuẩn gây

viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%; Staphylococcus chiếm19%; Streptococcus chiếm 27,18%; Klebsiella chiếm 14,7%

Theo Christensen và cs (2007) [29] khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là

Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [15] cho rằng vi khuẩn gây bệnh viêm vú thường là liên cầu trùng chiếm 86%; tụ cầu trùng

chiếm 5,4%; trực trùng sinh mủ chiếm 2,7%; E coli chiếm 1,2%; và các loại

vi khuẩn khác chiếm 3,7% Loại gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu trùng

Agalactiac

Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, viêm bàng quang, viêm thận Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh

Lợn nái tốt sữa, lợn con bú sữa không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa, lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con

bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú (Trương Lăng, 2000) [9]

Trang 22

Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú

b Triệu chứng

Viêm vú chia thành các thể như sau:

- Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau

- Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm, vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng

- Viêm vú thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục Casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể 40 – 41oC, vú viêm cứng, sưng to, sờ thấy đau

- Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng

- Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ

ở dưới da Vật ngừng tiết sữa và trong sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein

Trang 23

- Viêm vú thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, tim mạch rối loạn

- Viêm vú thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hoặc do viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 – 41oC, bỏ ăn

- Theo White (2013) [42] biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn

mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con

bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy

c Hậu quả

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ, thậm chí nếu lợn mẹ bị mắt sữa hoàn toàn do viêm vú thì đàn con có nguy cơ

bị chết cả đàn do không có sữa để bú

Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (1999) [28] bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3] cho biết: Mất sữa sau khi đẻ là do

kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm, cơ thể thường sốt cao liên tục từ 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Trang 24

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau

Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi

2.2.1.3 Hiện tượng đẻ khó

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi

Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [17] thông thường thai chết lưu ở các trại chăn nuôi nái sinh sản chiếm khoảng 4 - 10% tổng số lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa, trong đó khoảng 70% các trường hợp được coi là thai chết lưu đã từng sống sót khi mới sinh

a Nguyên nhân

- Đẻ khó nguyên nhân do cơ thể mẹ:

Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ bị suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài

Trang 25

Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Các nghiên cứu cho thấy độ dầy mỡ lưng ở vị trí P2 ở heo nái tốt, diễn biến ở các lứa đẻ tăng dần đến giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, thì giảm dần xuống đến cai sữa, sau đó lại tăng dần ở lứa tiếp theo đến giai đoạn đẻ Sự mập ốm của lợn nái phụ thuộc vào điểm P2 Lợn nái tốt có P2 từ 19 - 22 mm nếu lợn nái lớn hơn

23 mm là lợn mập gây ra đẻ khó do mỡ bao quanh buồng trứng và tử cung làm khả năng co thắt tử cung và cơ bụng yếu (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [21]

Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn

nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được Khi quá trình rặn

đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con làn lợn con bị chết

Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép

tử cung làm tử cung bị xoắn hay vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây khó đẻ

Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: kích tố nhau thai Relaxin lúc

đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở khớp bán động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được

- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:

Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ

Thai bị dị hình hay quái thai

Trang 26

Hiện tượng đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được

b Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23] cho biết: lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to

c Hậu quả

- Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con

bị chết

- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết

- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục

- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây sây sát niêm mạc

tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sẩy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, đẻ non thậm trí là vô sinh

2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ

2.2.2.1 Bệnh lợn con phân trắng

Trang 27

- Do thời tiết thay đổi đột ngọt

- Do khẩu phần ăn của con mẹ thay đổi

- Do vệ sinh chuồng trại kém

b Triệu chứng

Lợn bị bệnh thường kém ăn, ủ rũ, mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, lợn

ỉa chảy phân lỏng màu trắng có mùi hôi tanh khó chịu, sau chuyển hơi vàng, khắm, phân bết sau hậu môn, lợn đi lại không vững gầy sút nhanh

c Bệnh tích

Lợn bệnh chết do mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát xác con vật gầy còm, da khô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con vật khỏe mạnh Niêm mạc nhợt nhạt, máu loãng hơi đen Dạ dày giãn rộng, các bờ ở đường cong lớn bị nhồi máu, chứa sữa đông vón, màu trắng hoặc màu xám trắng Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng thành màu đỏ thẫm Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết Phổi ứ huyết, đôi khi có hiện tượng viêm phổi nhẹ

d Điều trị

Hàng ngày vệ sinh chuồng trại, thu dọn sạch sẽ phân, giữ sạch nền sàn, chuồng trại luôn khô ráo, sưởi ấm cho lợn con bằng đèn hồng ngoại

- Tiêm Amlistin: 1 ml/5 - 8 kgTT, kết hợp với Atropin: 1 ml/10 kgTT

- Điều trị liên tục 2 - 3 ngày

2.2.2.2 Bệnh cầu trùng

Lợn ở các lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng Lợn con từ 1-4 tuần tuổi thường bị nhiễm cầu trùng và phát bệnh với tỷ lệ cao hơn lợn trưởng thành Đặc biệt, lợn ở lứa tuổi 1- 10 ngày bị bệnh cầu trùng có tỷ lệ chết cao từ 20-40% số lợn bệnh Lợn nái và lợn trưởng thành tuy bị nhiễm cầu trùng nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng do đó là nguồn truyền bá mầm bệnh trong tự nhiên

Trang 28

Bệnh cầu trùng lây nhiễm qua đường tiêu hóa Lợn khỏe ăn thức ăn hoặc nước có noãn nang cảm nhiễm sẽ bị nhiễm cầu trùng Các loài cầu trùng

có độc lực gây bệnh khác nhau Lợn bị bệnh tùy thuộc vào độc lực của loài cầu trùng mà chúng cảm nhiễm, sức đề kháng của lợn với mầm bệnh và sự chăm sóc, nuôi dưỡng

- Phòng bệnh:

+ Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, chiếu tia UV, phun thuốc sát trùng trước khi đưa đàn mới vào

+ Đặc biệt nên phòng bằng thuốc cho lợn con bắt đầu từ 3-5 ngày tuổi

để chống các vi khuẩn kế phát gây bệnh tiêu chảy làm giảm đầu con và trọng lượng con xuất chuồng Dùng Hupha-cox 5%: pha 0,5 ml/2,5 kg thể trọng/ ngày, 4 giọt/ kg thể trọng, 2 ngày liên tục

- Trị bệnh: Theo nguyên tắc cầm máu, bổ sung nước và chất điện giải, tăng cường sức đề kháng, bù đủ năng lượng, rồi mới diệt cầu trùng và các loại

vi khuẩn đường ruột kế phát

+ Sau đẻ 2 ngày nhỏ cầu trùng diacoxin 5%, với liều 1 ml/con, nhỏ một lần duy nhất (1 giọt diacoxin 5%)

+ Kết hợp cho uống MD Electrolytes điện giải với liều pha 2,5g/1 lít nước uống, pha uống cả ngày

+ Bổ sung cho uống kết hợp:4g bổ gan + 2g men tiêu hóa sống hòa chung vào 1 lít nước uống, giải độc, khôi phục hệ sinh vật có lợi cho đường ruột

Phác đồ trị bệnh cầu trùng:

* Phác đồ 1: Hupha-cox 5%:pha 1ml/2,5 kg thể trọng/ngày; 8 giọt/kg thể trọng, Buổi chiều kết hợp với Hupha-floxacin hoặc Colimox 2-4 ngày liên tục

* Phác đồ 2: Trộn 1g Hupha-SCP-cầu trùng/ lít nước uống; 2g/kg thức

ăn trong 5-10 ngày, buổi chiều kết hợp Hupha-floxacin hoặc Colimox

Có thể thay bằng kháng sinh sau: Hupha- Nor- C, Neodox

Trang 29

+ Hitamox LA: 1 ml/10 kg TT, tiêm bắp

Điều trị liên tục 3 - 5 mũi, 2 ngày/1 lần

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Martineau (2011) [39] có nhiều bệnh nguyên học và sinh lý bệnh

có thể được đề cập trong hội chứng rối loạn tiết sữa và viêm vú ở lợn nái sau

đẻ do dùng những tên khác nhau: phức hợp viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA), hội chứng mất sữa, hội chứng rối loạn tiết sữa, phù thũng vú, hội chứng giảm tiết sữa, ngộ độc máu mất sữa và viêm vú sau đẻ

Theo Shrestha (2012) [41] hội chứng MMA gây chết khoảng 2% lợn nái nhưng tỷ lệ chết ở lợn con lên tới 80% do đói, ỉa chảy Nguyên nhân: (a) do dinh dưỡng: cho nái ăn quá nhiều trong thời gian mang thai, nái quá béo; thay đổi thức ăn đột ngột, hàm lượng vitamin E và Ca trong khẩu phần ăn thấp, thiếu xơ và nước uống; (b) do quản lý chăm sóc: nái ít được vận động, lợn nái không được vệ sinh, vô trùng trước khi đẻ, không được quan tâm khi đẻ, thời gian đẻ kéo dài; (c) do chuồng trại: chật chội, nền chuồng không bằng phẳng,

Trang 30

nhiệt độ môi trường cao, bầu vú lợn quánóng do đặt đèn sưởi không thích hợp; (d) do bản thân lợn nái: đẻ nhiều con, dạ con lớn và nhão Chẩn đoán lâm sàng: lợn sốt (40 - 410C), bỏ ăn, táo bón, bầu vú sưng cục bộ, nóng, đau

Theo Kemper và cs (2013) [33] tại 6 đàn nái hạt nhân ở Đức (2008 - 2010), 99,1% các mẫu sữa phân lập được vi khuẩn chủ yếu thuộc họ

Enterobacteriaceae, Staphylococcaceae, Streptococcaceae và Enterococcaceae Trong đó, E coli chiếm nhiều hơn cả và những loài này cũng

được tìm thấy trong sữa lợn khỏe, còn Staphylococcus spp, Lactococcus lactis

được tìm thấy trong sữa lợn mắc hội chứng MMA

Theo Maes và cs (2010) [35] thuật ngữ Metritis, Mastitis, Agalactia (MMA) được dùng rất thường xuyên trong các bài báo khoa học trước đây, ngày nay được xem như một loại PDS (hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ lợn nái), MMA có tỷ lệ lưu hành 6,9% trong tổng số 16.450 lợn nái đẻ trong hơn

01 năm tại 31 đàn ở Illinois; trong 27.656 lợn nái đẻ của một nghiên cứu được tiến hành tại bang Missouri có tới 13% nái bị mắc hội chứng MMA; tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo đàn ở Thụy Điển biến động từ 5,5% ở đàn quy mô nhỏ

và tới 10,3% ở đàn quy mô lớn Ông cũng cho biết, một nghiên cứu mới đây ở

110 đàn lợn tại Bỉ cho thấy 34% số đàn có liên quan đến hội chứng MMA

Theo Kemper và Gerjets (2009) [32] để chẩn đoán sớm hội chứng MMA, người ta thường dựa vào một số triệu chứng lâm sàng: (1) thân nhiệt lợn nái sau đẻ 12 - 48 giờ (nếu > 39,40C thì điều trị dự phòng), sự thay đổi hình dạng tuyến vú, giảm tiết sữa (hoặc mất sữa hoàn toàn), giảm tính thèm

ăn (ăn ít hoặc bỏ ăn hoàn toàn), lượng tế bào soma trong sữa >107/ml, pH sữa

> 6,7; tăng hàm lượng các interleukin trong máu (tăng lượng 1P, 6,

IL-8 và TNFa (2) các yếu tố ảnh hưởng đến hội chứng MMA: thời gian mang thai dài (> 116 ngày), thời gian đẻ dài (> 3 giờ), can thiệp bằng dụng cụ sản khoa khi đẻ, nhiều con (> 11con/ổ) nhiễm trùng đường sinh dục, táo bón, sự

Ngày đăng: 31/05/2021, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w