Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và cơ sở nơi th
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sở thực tập
Trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang nằm trên địa phận thôn Đồng Tâm, xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Trại thuộc công ty CP dinh dưỡng Hải Thịnh do ông Lê Văn Hải làm tổng giám đốc
Hiệp Hòa là một huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó trại cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng
Hiệp hòa là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng, độ nghiêng theo hướng tây bắc xuống đông nam, đồi núi và gò thấp ở một số xã phía bắc, vùng đồng bằng tập trung ở phía đông nam và giữa huyện Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.110 ha (tức 201 km 2 ), trong đó đất nông nghiệp là 13.479 ha chiếm 67%, đất lâm nghiệp 190,3 ha chiếm 0,9%, đất chưa sử dụng 1.653,2 ha chiếm 8,2% Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là
23 0 C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 39 0 C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là
12 0 C Có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông
+Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.650 mm/ năm Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần như tập trung vào mùa mưa, chiếm 70% - 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 20% - 30% tổng lượng mưa cả năm
+ Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình năm là 83% ( tháng 10) và độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%
+ Nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm
Trang trại có tổng diện tích 6000m , trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả
Trong khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 300 nái sinh sản với các giống sản xuất chính như: Landrace, Yorshire, được nhập từ nước ngoài về
Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc, tiếp khách của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân Khu sản xuất gồm: 2 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị và 1 chuồng cai sữa và 10 ô chuồng thịt nhỏ Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu
- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và hoàn toàn tự động Trang thiết bị trong chuồng hiện đại được đầu tư nhập từ nước ngoài về Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho việc pha chế tinh như: ống đựng tinh, nhiệt kế kính hiển vi, nồi hấp, tủ bảo quản tinh sau khi pha và các dụng cụ khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách vào thăm quan trại trước khi vào chuồng đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm
- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả tạo môi trường thông thoáng
Cơ cấu tổ chức của trang trại bao gồm:
- 01 Quản lý trại: Trực tiếp quản lý các công việc của trại
- 01: Kỹ thuật trại: Phụ trách các kỹ thuật trên đàn lợn của trại
- 08: Công nhân: Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
- 01: Bảo vệ: Chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các chuồng khác nhau như: chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng hậu bị, chuồng cai sữa và chuồng thịt Mỗi chuồng đều thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại.
Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đặ c đ i ể m sinh lý, sinh d ụ c c ủ a l ợ n nái
* Sự thành thục về tính:
Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [21] cho biết thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo, đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, 2003 [5] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1(có máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
+ Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy đủ, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp
Theo John Nichl (1992) [10], chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con nái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo McIntosh G B (1996) [29], nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90 kg) động dục lúc
Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs, 1992 [8] mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa Xuân) và 17 ngày (mùa Thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5], cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
+ Tuổi thành thục về tính của gia súc
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và cs, 2003 [5] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003 [9] tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 –
110 kg mới nên cho phối
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Theo Nguyễn Thiện và cs, 1993 [24], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và cs, 1993 [24] trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 – 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục.Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.2 Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề quy trình nuôi d ưỡ ng và ch ă m sóc l ợ n nái đẻ và l ợ n nái nuôi con
2.2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Các nghiên c ứ u trong n ướ c` Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [12] thì: bệnh viêm tử cung do vi khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], cho biết: ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [5] cho biết: Trước khi đẻ lau, xoa vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh: Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7] cho biết: viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13]
Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung Do nhiễm vi khuẩn Staphylococcus, Streptococcus vì các nguyên nhân như lợn con có răng nanh làm xây xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng xâm nhập Lợn nái nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh sản gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm
2.3.2 Tình hình nghiên c ứ u ngoài n ướ c
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo Madec F., Neva C (1995) [28]: Bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Theo Xobko A.L và cs (1987) [31]: Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tốn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
Theo Bilkeil (1994) [27], viêm tử cung thường sảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương; Urban
(1883) [30] cho biết: E.coli, Streptococcus spp và Staphylococcus aureus là nguyên nhân gây bệnh
Qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của miền Tây Bắc nước Pháp, thấy 26% số lợn nái có bệnh viêm tử cung Ngoài ra 2% số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi Fibrine Ở Pháp các tác giả Pierre Brouillt và Bernarrd Faroult (2003) [2] đã nghiên cứu và kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của 30 phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị
Các nghiên cứu của A.V.Trekaxova (1983) [26], về chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch Novocain 0,5% liều từ 30 - 40ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10cm Dung dịch Novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị
Penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Tại trại lợn giống cao sản huyện Hiệp Hòa- tỉnh Bắc Giang
- Thời gian từ 18/11/2016 đến ngày 18/5/2017.
Nôi dung
+ Hỗ trợ công tác chăn nuôi tại trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang + Nuôi dưỡng chăm sóc lợn tại trại
+ Thực hiện quy trình chăn nuôi tại trại
+ Thực hiện phòng và điều trị bệnh trên tổng đàn lợn tại trại.
Các chỉ tiêu và phương pháp tiến hành
3.4.1 Các ch ỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang trong 3 năm (2015-2017)
- Cơ cấu của đàn nái sinh sản tại trại
- Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại
- Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái sinh sản
- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái
3.4.2 Ph ươ ng pháp th ự c hi ệ n
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chúng tôi tiến hành thu thập thông tin từ trại, kết hợp với kết quả theo dõi tình hình thực tế tại trang trại
3.4.2.2 Quy trình vệ sinh chuồng trại hàng ngày
Việc vệ sinh sát trùng chuồng trại có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi Vê ̣sinh bao gồm nhiều yếu tố: vê ̣sinh môi trường xung quanh, vê ̣sinh đất, nước, vê ̣sinh chuồng trại… Để góp phần nâng cao chất lượng, năng suất của đàn lợn trong thời gian thực tập tại trại tôi đã tích cực tham gia công tác vệ sinh cùng cán bộ kĩ sư, công nhân trong trại với lịch trình như sau:
- Hàng ngày, trước khi vào chuồng làm việc các kỹ sư, công nhân và sinh viên tất cả đều phải đi ủng, mặc đồ bảo hộ, đi qua hố sát trùng rồi mới vào chuồng
- Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn mẹ nằm đè lên phân
- Cho lợn ăn, vệ sinh máng ăn sạch sẽ, chuẩn bị thức ăn
- Hàng ngày chúng em tiến hành thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi lại giữa các dãy chuồng
- Định kỳ tiến hành phun thuốc sát trùng, quét vôi, phun thuốc diệt muỗi, quét mạng nhện trong chuồng và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng trại
* Đối với chuồng bầu: Sau khi lợn cách ngày đẻ dự kiến khoảng 1 tuần sẽ được tắm chải sạch sẽ rồi được đưa sang chuồng đẻ, ô lợn rời đi sẽ được xịt rửa và phun sát trùng đợi đón lợn mẹ cai sữa
* Đối với chuồng đẻ: Ở các chuồng nái đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển sang chuồng nái chửa Sau khi lợn con được xuất bán, tham gia tháo dỡ các tấm đan chuồng mang ra ngâm ở bể sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1 ngày, sau đó cọ sạch mang phơi khô Ô chuồng và khung chuồng cũng được cọ sạch bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng khoảng 5% Gầm chuồng cũng được tiêu độc khử trùng sạch sẽ Để khô rồi tiến hành lắp các tấm đan vào, sau đó đuổi lợn chờ đẻ vào
Khi có dịch bệnh xảy ra công tác vệ sinh thú y được tiến hành nhanh chóng hơn, thường xuyên và triệt để hơn bao giờ hết
Chuồng nuôi được tiêu độc bằng thuốc sát trùng IOD MAR 5% hoặc IOD- sát trùng vào cuối buổi sáng hoặc cuối buổi chiều hàng ngày, pha với tỷ lệ 1: 200
Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng nái chửa Chuồng đẻ
Chủ nhật Rắc vôi Rắc vôi
Phun sát trùng + rắc vôi
Thứ 3 Phun sát trùng+rắc vôi Rắc vôi Phun sát trùng
Trùng Rắc vôi Rắc vôi Phun sát
Thứ 6 Xả gầm Xả gầm
Thứ 7 Tổng vệ sinh chuồng
Tổng vệ sinh khu chăn nuôi
Với phương châm phòng bệnh là chính, nên tất cả các gia súc đều được tiêm phòng bệnh bằng vắc xin một cách nghiêm ngặt Quy trình đó luôn được thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ, đúng kỹ thuật Lợn được tiêm vắc xin ở trong trạng thái khoẻ mạnh, bình thường, không mắc bệnh nhằm tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại
TT Loại lợn Loại vắc xin
Giả dại và LMLM 2 Tuần 4
Chuẩn bị phối giống Tuần 9
Dịch tả 2 10 tuần sau khi phối
LMLM 2 12 tuần sau khi phối
Tai xanh, Giả dại, Tẩy
2 Tiêm định kỳ 4 tháng một lần
Giả dại, LMLM, Tai xanh
2 Tiêm định kỳ 4 tháng một lần
Dịch tả 2 Tiêm định kỳ 6 tháng một lần
(Số liệu do phòng kỹ thuật cung cấp năm 2016) Chú thích: LMLM: Lở mồm long móng Parvovirus: Vắc xin khô thai
3.4.2.4 Công tác thực hiện các thủ thuật trên đàn lợn con tại trại
Chuẩn bị lồng úm: Chuẩn bị bao khâu lồng úm, bao khâu lồng úm phải được nhúng nước sát trùng, giặt sạch, phơi khô, sau đó khâu lồng úm
Chuẩn bị đỡ đẻ:Với lợn mẹ cần vệ sinh âm hộ và mông cho sạch sẽ, vệ sinh sàn chuồng, chuẩn bị thảm lót và lồng úm, chuẩn bị bóng điện úm cho lợn con, chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ như vải màn hoặc vải mềm khô, sạch, cồn iod để sát trùng, kéo để cắt dây rốn, chỉ để buộc dây rốn
- Một tay cầm chắc lợn, một tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn để lợn hô hấp thuận lợi
- Cắt rốn: thắt dây rốn ở vị trí cách cuống rốn 3 cm, dùng kéo cắt phần bên ngoài nút thắt một đoạn bằng 1/2 bên trong nút buộc khoảng 1,5 cm Sát trùng dây rốn và vùng cuống rốn bằng cồn iod
- Cho lợn con vào lồng úm tº = 33 - 35ºC
- Trước khi cho lợn con ra bú cần lau sạch vú lợn mẹ, lót thảm cho lợn con ra bú
- Phải trực liên tục cho đến khi lợn nái đẻ xong hoàn toàn, nhau ra hết, lợn nái trở về trạng thái yên tĩnh và cho con bú
Không can thiệp khi quá trình đẻ của lợn nái diễn ra bình thường, chỉ can thiệp khi lợn mẹ rặn đẻ lâu và khó khăn
* Kĩ thuật can thiệp lợn đẻ khó
Một số biểu hiện lợn đẻ khó:
+ Khi lợn đã vỡ nước ối mà lợn mẹ lại không có biểu hiện rặn đẻ + Lợn rặn đẻ liên tục, bụng căng lên do rặn đẻ mạnh, đuôi cong lên do lợn con đã ra đến cổ tử cung nhưng do trọng lượng lợn con quá to hoặc do ngôi thai bị ngược nên không ra ngoài được
+ Mắt của lợn mẹ trở nên rất đỏ do quá trình rặn đẻ liên tục
+ Lợn mẹ trở nên kiệt sức: thở nhanh, yếu ớt do qúa trình rặn đẻ nhiều nên kiệt sức
Cách can thiệp lợn đẻ khó:
+ Dùng nước sát trùng vệ sinh âm hộ và mông lợn Sát trùng tay, bôi gen bôi trơn
+ Đưa tay vào trong tử cung, nắm lấy lợn con, đưa lợn con ra ngoài
- Sử dụng thuốc cho lợn đẻ
Với lợn đẻ bình thường không phải tiêm oxytoxin
Lợn lứa 5 – 6 trở lên tiêm tùy trường hợp.Nếu trong quá trình đẻ lợn mẹ, kiệt sức, rặn kém, khi đẻ được 5 – 6 con trở lên thì cho phép tiêm oxytoxin
Lợn hậu bị sức khỏe yếu, lợn sức khỏe yếu, lợn già tiêm tùy trường hợp Liều lượng: 2 ml/con
* Thao tác mài nanh, bấm đuôi: lợn con sau khi đẻ khoảng nửa ngày hoặc một ngày thì được mài nanh, bấm đuôi
* Tiêm chế phẩm Sắt 20% và nhỏ cầu trùng: lợn con 3 ngày tuổi sẽ được tiêm chế phẩm Sắt 20% với liều lượng 2 ml/con và được nhỏ cầu trùng
* Bấm tai, thiến: khi lợn con được 5 ngày tuổi thì tiến hành bấm tai đối với lợn cái và thiến đối với lợn đực
- Bấm tai: lợn con được bấm tai theo quy định riêng của trại
Trước khi thiến lợn đực cần chuẩn bị dụng cụ thiến đầy đủ gồm: Dao thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông, khăn vải sạch, xi – lanh tiêm và thuốc kháng sinh
Thao tác: người thiến ngồi ghế cao và kẹp lợn con vào giữa 2 đùi sao cho đầu của lợn con hướng xuống dưới Một tay nặn sao cho dịch hoàn nổi rõ, tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt vào chính giữa của mỗi bên dịch hoàn Dùng tay nặn dịch hoàn ra ngoài rồi lấy panh kẹp vào giật dịch hoàn ra, dùng khăn sạch lau vùng dịch hoàn và bôi cồn vào vị trí thiến Sau đó tiêm cho lợn con 1 ml Castosal và 0,5 ml Duphamox
3.4.2.5 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản, lợn con tại trại
Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tham gia chăm sóc nái chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho lợn con theo mẹ đến cai sữa Tôi trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi trên đàn lợn Quy trình chăm sóc nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa được áp dụng theo đúng quy trình như sau:
* Quy trình chăm sóc nái chửa
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng bầu Hàng ngày vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối không đạt, lợn nái bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy thức ăn cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn loại cám 520 và 521 của công ty CP dinh dưỡng Hải Thịnh
* Quy trình chăm sóc nái đẻ (nái nuôi con)