Đặc biệt, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp, bởi vì ngoài việc cung cấp thực phẩm giá trị dinh dưỡng cao cho con người thì nó còn cung cấp nguyên l
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Đối tượng thực hiện
Đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn của cô Doãn Thị Huyền, xã Ba Trại, huyện Ba Vì,
- Thời gian tiến hành: từ ngày 18/05/201 đến ngày 18/11/2019.
Nội dung tiến hành
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại
- Tham gia các công tác nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn
- Thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn lợn
- Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con
- Tham gia các công tác thú y khác như: thiến lợn đực, đỡ lợn đẻ,…
Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi của trại lợn Doãn Thị Huyền, xã Ba Trại, huyện Ba
- Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại
- Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho đàn lợn nái tại trại
- Một số chỉ tiêu về số lượng con của đàn lợn nái tại trại trong 6 tháng thực tập
- Kết quả thực hiện vệ sinh khử trùng chuồng trại
- Kết quả phòng bệnh hàng năm cho đàn lợn của trại
- Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái của trại
- Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con của trại
- Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản của trại
- Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con của trại
- Kết quả thực hiện một số công tác khác tại trại
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại
- Để đánh giá tình hình chăn nuôi của trại chúng em tiến hành điều tra thông tin từ chủ trang trại và tra cứu sổ sách ghi chép của trại từ năm 2017 đến năm 2019
- Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại: thực hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn theo quy trình của trại dưới sự giám sát của cán bộ kỹ thuật
- Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn thông qua chẩn đoán lâm sàng dưới sự hướng dẫn của chủ trại
3.4.2.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn của trại
Thực hiện theo quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn của trại
3.4.2.3 Quy trình đỡ đẻ cho lợn
Thực hiện theo quy trình đỡ đẻ cho lợn của trại
3.4.2.4 Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại
Thực hiện theo quy trình phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại
3.4.3 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu và phương pháp xử lý số liệu
- Tỉ lệ lợn mắc bệnh:
Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = ∑ 𝑠ố 𝑙ợ𝑛 𝑚ắ𝑐 𝑏ệ𝑛ℎ
- Các số liệu thu thập được xử lý theo phần mềm Excel trên máy vi tính
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại trại trong 3 năm (2017 - 2019)
Quá trình thực tập tốt nghiệp tại trại, em đã tiến hành theo dõi tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm (2017 - 2019) qua số liệu trực tiếp tại thời điểm thực tập và trên hệ thống sổ sách của trại Kết quả được trình bày qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại lợn Doãn Thị Huyền, qua 3 năm 2017 - 2019
(Nguồn: Số liệu thống kê của trại)
Qua bảng 4.1 cho thấy, cơ cấu đàn lợn đực giống, lợn nái sinh sản, lợn con, lợn thịt Số lợn đực giống từ 2017 - 2019 dao động trong khoảng 2 - 4 con, lợn nái dao động trong khoảng 45 - 116 con, lợn con dao động trong khoảng 598 - 2934 con Số lợn đực giống dao động 2 đến 4 con do nhu cầu về khai thác tinh dịch để phối giống cho lợn nái, bên cạnh đó là việc phải loại thải những con lợn đực giống đã kém chất lượng
Số lượng lợn nái sinh sản năm 2019 giảm so với năm 2018 là do loại thải những lợn nái kém, không còn khả năng sinh sản, chủ trại đã kịp thời bổ sung thay thế nhưng do điều kiện phải cách li nên số lượng lợn nái sinh sản tăng chậm Số lượng lợn con năm 2019 chỉ tính đến tháng 11 nên số lượng ít hơn năm
Quy trình kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại cơ sở
4.2.1 Số lượng lợn nái được giao chăm sóc nuôi dưỡng tại trại
Trong thời gian thực tập em được phân công phụ trách tại chuồng lợn nái đẻ và nuôi con Kết quả được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập
Tháng Nái đẻ, nuôi con Lợn con đẻ ra Lợn con cai sữa
Bảng 4.2 cho biết số lượng lợn nái đẻ, nái nuôi con và số lượng lợn con mà em trực tiếp chăm sóc Số lượng lợn nái chửa em chăm sóc là 45 con, số lợn con đẻ ra là 598 con và lợn cai sữa là 565 con, số lợn con sau khi cai sữa giảm 33 con
Trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng em đã được học hỏi và mở mang rất nhiều kiến thức về cách cho ăn, loại thức ăn nào dành cho những loại lợn nào, nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái trong từng thời kỳ, các thao tác kỹ thuật để chăm sóc lợn mẹ tốt …
Phát hiện lợn nái động dục
+ Khi cho lợn nái đi qua các ô chuồng nhốt lợn đực thì lợn nái có biểu hiện kích thích thần kinh tai vểnh lên, đuôi cong và đứng ì lại
+ Lợn có biểu hiện bồn chồn hay đứng lên nằm xuống, ta quan sát được vào khoảng 5 - 6 giờ sáng và 5 - 6 giờ chiều
+ Cơ quan sinh dục có biểu hiện: Âm hộ sung huyết, sưng, mẩy đỏ, có dịch tiết chảy ra trong, loãng và ít, sau đó chuyển sang đặc dính
Sau khi phát hiện lợn nái động dục thì công việc quan trọng quyết định đến hiệu quả thụ thai là thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
+ Bước 1: Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, các triệu chứng động dục và khoảng thời gian dẫn tinh thích hợp nhất đã được xác định (sau 24 - 29 giờ)
+ Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ: Dẫn tinh quản, panh, bông thấm nước muối sinh lý
+ Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (80 - 100 ml) và số lượng tinh trùng tiến thẳng trong một liều dẫn (1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng) Tinh dịch này đã được pha chế và kiểm tra hoạt lực
+ Bước 4: Vệ sinh cơ quan sinh dục lợn nái bằng bông thấm nước muối sinh lý sau đó lau khô bằng khăn sạch
+ Bước 5: Tiến hành dẫn tĩnh bằng các thao tác sau:
Kích thích lợn nái bằng cách cưỡi lên lưng, vuốt hai bên hông, xoa núm vú trong 5 phút
Bôi trơn dẫn tinh quản bằng gel bôi trơn Đưa dẫn tinh quản vào cơ quan sinh dục cái, xoay nhẹ ngược chiều kim đồng hồ khi kịch thì rút ra khoảng 2 cm, lắp vào đầu dẫn tinh quản, xoáy nắp lọ tinh để cho tinh dịch chảy vào, khi hết tinh dịch tháo lọ tinh ra lắp nắp dẫn tinh quản vào và để lưu lại trong 5 phút
Rút nhẹ dẫn tinh quản xoay theo chiều kim đồng hồ và vỗ mạnh vào mông lợn nái một cách đột ngột để lợn nái đóng cổ tử cung lại
+ Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ Số lần lợn nái được dẫn tinh trong 1 chu kỳ động dục là 3 lần và được ghi lại trên thẻ nái Sau khi dẫn tinh được 18 - 24 ngày phải tiếp tục quan sát, kiểm tra kết quả thụ thai, phát hiện những lợn cái động dục lại để kịp thời dẫn tinh lại Kết quả thụ thai ở kỳ động dục nào được ghi vào kết quả thụ thai của chu kỳ động dục đó
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 5 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 5 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều mỗi bữa tăng lên 0,5 kg Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên 7 kg/con/ngày
Bảng 4.3 Khẩu phần ăn cho đàn lợn tại trại Đối tượng Giai đoạn Chế độ ăn/ngày (kg)
Lợn con theo mẹ Tập ăn từ 3 ngày tuổi Tự do
(Nguồn: kỹ thuật trại lợn Doãn Thị Huyền)
- Điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng từ 25 – 28ºC là thích hợp nhất
- Cho lợn mẹ uống nước tự do
Bên cạnh đó em cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân như: đối với lợn nái sau khi tách con cần áp dụng chế độ ăn tăng để tăng số trứng rụng và tăng số con đẻ ra trên lứa; chuồng trại phải sạch sẽ thoáng mát tuy nhiên cũng không nên tắm thường xuyên vào những ngày trời lạnh, ẩm ướt vì sẽ làm ẩm chuồng, độ ẩm không khí tăng, vi sinh vật dễ phát triển trong môi trường làm lợn nái dễ bị nhiễm bệnh, vào những ngày mùa Đông giá rét thì phải chuẩn bị bóng úm và thảm cho lợn con; Đối với lợn mẹ sau khi đẻ phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, giữ cho chuồng trại luôn khô ráo, sạch sẽ, giữ ấm cho lợn và tuyệt đối không tắm cho lợn nái
4.2.2 Quy trình kỹ thuật đỡ đẻ cho đàn lợn nái tại trại
Qua 6 tháng thực tập em đã được học cách đỡ đẻ và tham gia theo dõi xử lý các trường hợp đẻ khó của lợn nái cùng kỹ sư trại Em đã thống kê lại những con đẻ bình thường, đẻ khó Kết quả được trình bày ở bảng 4.4
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện quy trình đỡ lợn đẻ tại trại
Số nái đẻ thường (con)
Số nái đẻ khó (con)
Qua bảng 4.4 cho biết tổng số lượng lợn đẻ mỗi tháng, số con đẻ bình thường và số con đẻ phải can thiệp của trại Tỉ lệ lợn nái đẻ phải can thiệp
39 thấp tính chung là 3.37, trong đó có 02 con đẻ khó phải can thiệp vào tháng
08 và tháng 09 Lợn nái đẻ khó phải can thiệp là do lợn đẻ ở những lứa đầu, do lợn ăn nhiều vào kì cuối của thai kì làm thai quá to, do ngôi thai không thuận, do lợn mẹ ít được vận động và do sức khỏe của con mẹ không tốt Số lợn nái đẻ phải can thiệp với tỉ lệ thấp là do trại thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái trong thời gian mang thai
Kĩ thuật đỡ đẻ cho lợn con được em thực hiện như sau:
- Sau khi lợn mẹ đẻ, lấy lợn con từ trong chuồng ra
- Vuốt hết dịch vùng đầu và mặt Vỗ nhẹ vào thân để kích thích hô hấp
- Vuốt hết màng bọc và nhớt ở phần thân và chân lợn Dùng khăn lau khô người lợn, lợn con phải khô và sạch trước khi cắt dây rốn
- Cầm lợn con và dây buộc rốn, thắt dây rốn ở vị trí cách cuống rốn 2,5 cm, dựng kộo cắt phần bờn ngoài nỳt thắt một đoạn bằng ẵ bờn trong nỳt buộc khoảng 1,5 cm Sát trùng dây rốn, vùng cuống rốn bằng cồn iod
- Cho lợn con vào lồng úm tº = 28 – 33ºC
- Trước khi cho lợn con ra bú cần lau sạch vú lợn mẹ, lót thảm cho lợn con ra bú
- Phải trực liên tục cho đến khi lợn nái đẻ xong hoàn toàn, nhau ra hết, lợn nái trở về trạng thái yên tĩnh và cho con bú
Kỹ thuật can thiệp lợn đẻ khó
- Một số biểu hiện lợn đẻ khó:
+ Khi lợn đã vỡ nước ối mà lợn mẹ lại không có biểu hiện rặn đẻ + Lợn rặn đẻ liên tục, bụng căng lên do rặn đẻ mạnh, đuôi cong lên do lợn con đã ra đến cổ tử cung nhưng do trọng lượng lợn con quá to hoặc do ngôi thai bị ngược nên không ra ngoài được
+ Mắt của lợn mẹ trở nên rất đỏ do quá trình rặn đẻ liên tục
+ Lợn mẹ trở nên kiệt sức: thở nhanh, yếu ớt do quá trình rặn đẻ nhiều nên kiệt sức
• Cách can thiệp lợn đẻ khó:
+ Dùng nước sát trùng vệ sinh âm hộ và mông lợn Sát trùng tay, bôi gen bôi trơn
+ Đưa tay vào trong tử cung, nắm lấy lợn con, đưa lợn con ra ngoài
- Sử dụng thuốc kích thích lợn đẻ
Lợn lứa 5 - 6 trở lên tiêm tùy trường hợp Nếu trong quá trình đẻ lợn mẹ kiệt sức, rặn kém, khi đẻ được 5 - 6 con trở lên thì cho phép tiêm oxytoxin
Lợn hậu bị sức khỏe yếu, lợn sức khỏe yếu, lợn già tiêm tùy trường hợp Liều lượng: 2 ml/con
Trong đỡ đẻ em rút được kinh nghiệm là cần chuẩn bị tốt ô úm, vệ sinh vùng mông và âm hộ lợn nái trước khi đẻ Khi lợn đẻ phải theo dõi chú ý những biểu hiện lâm sàng của từng con để nhận biết con nào đẻ khó, con nào đẻ bình thường, chú ý thời gian đẻ của mỗi con để biết nhanh hay chậm Nếu con nái nào rặn đẻ yếu cần can thiệp sớm và kịp thời bằng cách dùng oxytocin để kích thích tăng cường co bóp tử cung Nếu thai quá to, không phù hợp với kích thước của xoang chậu, thai không ra được phải nhanh chóng can thiệp đưa bào thai ra ngoài để tránh bị ngạt và làm chết những con còn lại trong tử cung Khi can thiệp phải chú ý sát trùng tay vệ sinh vùng mông, âm hộ của lợn nái, phải tiến hành nhẹ nhàng tránh gây tổn thương, xây sát niêm mạc tử cung lợn nái Trước khi can thiệp đẻ khó những người trực tiếp đỡ đẻ phải cắt móng tay, nếu để móng tay dài có thể làm tổn thương lợn con mới sinh và làm xây sát niêm mạc tử cung lợn nái Phải theo dõi lịch phối giống và ngày đẻ dự kiến để chuẩn bị kế hoạch đỡ đẻ
4.2.3 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái của trại từ tháng 06 năm 2019 đến tháng 11 năm 2019
Thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại cơ sở
4.3.1 Quy trình vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn tại trại
Việc vệ sinh khử trùng chuồng trại có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi Vệ sinh bao gồm nhiều yếu tố: vê ̣sinh môi trường xung quanh, vê ̣sinh đất, nước, vê ̣sinh chuồng trại… Kết quả thực hiện vệ sinh, khử trùng chuồng trại được trình bày ở bảng 4.6
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại
STT Công việc Định mức
1 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 180 170 94,44
2 Phun sát trùng định kỳ xung quanh chuồng trại 180 175 97,22
3 Quét và rắc vôi đường đi 60 53 88,33
Kết quả bảng 4.6 cho thấy Trong 6 tháng thực tập tại cơ sở, theo định mức vệ sinh chuồng trại là 180 lần, trong đó em đã trực tiếp thực hiện là 170 lần đạt 94,44 %, kế hoạch phun khử trùng tiêu độc chuồng trại của cơ sở là
180 lần, em đã trực tiếp phun khử trùng 175 lần đạt 97,22 % Kế hoạch rắc vôi đường đi là 60 lần, em đã thực hiện 40 lần đạt 83,88 %
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn Do nhận thức rõ được điều này, nên trong suốt thời gian thực tập, em đã thực hiện tốt các công việc như:
+ Hàng ngày, trước khi vào chuồng làm việc công nhân cũng như sinh viên chúng em tất cả đều tắm sát trùng sạch sẽ mặc quần áo lao động, đi ủng rồi mới vào chuồng
+ Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn mẹ nằm đè phân + Tra cám cho lợn mẹ ăn
+ Bắt nhốt lợn con vào ô úm rồi lau sàn nhựa
+ Rắc vôi lối đi giữa, xung quanh chuồng
+ Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ quanh chuồng
Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ và được tiêu độc bằng thuốc sát trùng Ommicide 2 lần hằng ngày, pha với tỷ lệ 320 ml/1000 lít nước
- Hàng ngày chúng em tiến hành thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi lại giữa các dãy chuồng
- Định kỳ tiến hành phun thuốc sát trùng, quét vôi, phun thuốc diệt muỗi, quét mạng nhện trong chuồng và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng trại
- Đối với chuồng đẻ: Ở các chuồng nái đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển sang chuồng nái chửa Sau khi lợn con được xuất bán, tham gia tháo dỡ các tấm đan chuồng mang ra ngâm ở bể sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1 ngày, sau đó cọ sạch mang phơi khô Ô chuồng và khung
44 chuồng cũng được cọ sạch bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng khoảng 5% Gầm chuồng cũng được tiêu độc khử trùng sạch sẽ Để khô rồi tiến hành lắp các tấm đan vào, sau đó đuổi lợn chờ đẻ vào
Do trại thỉnh thoảng có công nhân và người dân đến thăm quan nên việc thực hiện phun thuốc sát trùng quanh chuồng được tăng cường
Mỗi ngày tại cơ sở thực hiện sát trùng 2 lần (sáng sát trùng trong chuồng trại, chiều sát trùng cả trong và ngoài chuồng trại), vào thứ 3 thứ 5 chủ nhật trên tuần thực hiên rắc vôi chuồng trại
4.3.2 Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại
Phòng bệnh luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được dịch bệnh xảy ra Kết quả tiêm phòng cho đàn lợn nái và lợn con của trại được trình bày ở bảng 4.7
Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin, thuốc phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại cơ sở
Loại lợn Tuần tuổi Bệnh được phòng
Vắc xin, chế phẩm, thuốc
Số con được tiêm (con)
Mang thai tuần thứ 10 Dịch tả Coglapest 45 28 62,22 100 Mang thai tuần thứ 12 LMLM Aftopor 45 22 48,89 100
2 - 3 ngày Thiếu sắt Fe - B12 - HDH 598 598 100 100
22 - 24 ngày Tiêu chảy, hô hấp Linco Spex 565 565 100 100
Qua bảng 4.7 cho thấy quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con và lợn nái bằng vắc xin của cơ sở như sau: Lợn nái mang thai tuần thứ 10 được tiêm
45 vắc xin dịch tả, em đã trực tiếp tiêm 28 con (an toàn đạt 100%) Lợn nái mang thai tuần thứ 12, em được tiêm vắc xin aftopor phòng bệnh LMLM cho 22 con (an toàn 100%)
Lợn con 2 - 3 ngày tuổi sẽ được tiêm vắc xin Fe - B12 - HDH phòng bệnh thiếu sắt cho lợn con, số con được tiêm là 598 con (an toàn 100%), nhỏ cầu trùng cho 598 con (an toàn 100%) Lợn con 10 - 14 ngày tuổi sẽ được tiêm vắc xin suyễn và em đã tiêm được 575 con (an toàn 100%) Lợn con 16 -
18 ngày tuổi sẽ được tiêm vắc xin circo phòng hội chứng còi cọc, em đã trực tiếp tiêm cho 565 con (an toàn 100%), 22 - 24 ngày tuổi lợn con được tiêm vắc xin tiêu chảy, hô hấp, em đã được tiêm 565 con (an toàn 100%).
Tình hình mắc bệnh của lợn nái và lợn con tại cơ sở
4.4.1 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái sinh sản tại trại
Qua chăm sóc và theo dõi cùng cán bộ kỹ sư em đã tham gia chẩn đoán và phát hiện ra một số bệnh ở lợn nái và lợn con tại cơ sở
Kết quả được trình bày ở bảng 4.8 và bảng 4.9
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái sinh sản của trại
Chỉ tiêu theo dõi Tên bệnh
Số nái theo dõi (con)
Số nái mắc bệnh (con)
Bảng 4.8 cho thấy, trong 45 con lợn nái chăm sóc và nuôi dưỡng có 5 con mắc bệnh viêm tử cung, 1 con mắc bệnh sát nhau, 2 con mắc bệnh mất sữa,
1 con mắc bệnh viêm vú, 2 con mắc bệnh bại liệt sau đẻ và 4 con chậm động dục Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại cao nhất chiếm 11,11% là do trong các trường hợp lợn đẻ khó, thường áp dụng dùng biện pháp can thiệp bằng tay, không đúng kỹ thuật gây tổn thương cơ quan sinh dục của lợn Chữa trị bệnh viêm sau đẻ kéo dài, không dứt điểm làm bệnh trở thành mãn tính hay bị lại
Mặt khác, do trong quá trình phối giống cho lợn nái bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật đã làm sây sát niêm mạc tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển và gây bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn đẻ khó phải sử dụng thủ thuật để móc lấy thai làm cho vi khuẩn từ bên ngoài dễ dàng xâm nhập vào gây viêm
4.4.2 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con tại trại Để đánh giá được tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con tại trại, 6 tháng thực tập chúng em tiến hành theo dõi 598 lợn con Kết quả được trình bày bảng 4.9
Bảng 4.9 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con nuôi của trại Chỉ tiêu
Số lợn theo dõi (con)
Số lợn mắc bệnh (con)
Kết quả bảng 4.9 cho thấy lợn con thường xảy ra các hội chứng điển hình là hội chứng tiêu chảy và hô hấp Trong đó hội chứng tiêu chảy có tỷ lệ mắc cao hơn, cụ thể với số lượng theo dõi như nhau (598 con) thì có 123 con mắc hội chứng tiêu chảy, chiếm 20,56% cao hơn hội chứng hô hấp với số lợn
47 mắc là 67 con, chiếm 11,20% Nguyên nhân là do lợn con mới đẻ ra sức đề kháng còn yếu dễ bị ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như vi sinh vật xâm hại hay nhiệt độ chuồng nuôi không thích hợp (quá lạnh, quá nóng và ẩm ẩm độ quá cao), lợn con hiếu động nghịch nước, đặc biệt vào những ngày nhiệt độ xuống thấp cần phải có ô úm và bóng điện sưởi cho lợn con
Cách khắc phục tốt nhất để hạn chế lợn con mắc bệnh tiêu chảy là cho lợn con bú sữa đầu ngay sau khi đẻ và giữ ấm cơ thể cho lợn con Bên cạnh đó, việc thời tiết lạnh mà lợn con không được giữ ấm sẽ khiến lợn mắc bệnh về đường hô hấp, ngoài ra còn do quá trình vệ sinh chuồng nuôi chưa được tốt, không khí trong chuồng nuôi nhiều bụi bẩn, thức ăn quá khô hoặc bị nhiễm nấm mốc cũng dẫn tới viêm phổi chính vì vậy làm cho số lợn con mắc hộ chứng hô hấp cũng khá cao
4.4.3 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở
Từ những chẩn đoán lâm sàng chúng em đã được theo dõi và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con Kết quả điều trị được trình bày ở bảng 4.10 và 4.11
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản của trại
Số nái theo dõi (con)
Số lợn mắc bệnh (con)
Số lợn điều trị khỏi (con)
Bảng 4.10 cho thấy điều trị các bệnh sản khoa của lợn nái tại trại Trong đó tỷ lệ khỏi cao nhất là bệnh viêm tử cung, viêm vú và nái mất sữa đạt 100% Tiếp đến là bệnh nái chậm động dục điều trị 4 con khỏi 3 con, đạt tỷ lệ 75% Bệnh bại liệt điều trị 2 con khỏi 1 đạt tỷ lệ 50% vì khi lợn đã mắc bệnh khả năng phục hồi cơ xương rất khó, khả năng đi lại, vận động cũng khó khăn, những con bị bại liệt thường bị loét vùng nằm trên sàn chuồng, nếu để lâu lợn mẹ gầy yếu dẫn đến chết Để điều trị bệnh cho đàn lợn đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnh kịp thời và chính xác giúp ta đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày em và cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất cả các ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm
- Triệu chứng: Lợn đẻ 2 - 3 ngày, sốt nhẹ, giảm ăn hay bỏ ăn, âm môn sưng tấy đỏ có dịch nhầy chảy ra từ âm hộ, màu trắng đục hoặc màu phớt vàng
- Chẩn đoán: Lợn nái bị bệnh viêm tử cung ở thể cấp tính ở lợn nái
- Điều trị: Dùng các loại thuốc sau để điều trị:
+ Thuốc tím 1/1000 pha loãng với nước + Penicillin thụt rửa 2 lần/ngày,
+ Hitamox LA: 1 ml/10 - 15 kgTT/2 ngày
Tiêm bắp, điều trị trong 3 ngày
Bệnh sát nhau (có tỷ lệ khỏi thấp nhất, điều trị 1 con không khỏi) Đối với bệnh sát nhau, viêm tử cung sau đẻ trại dùng oxytocin liều 2 ml/con để tăng cường co bóp cơ trơn tử cung, giúp đẩy nhau thai, sản dịch ra
49 ngoài nhanh hơn Kết hợp dùng kháng sinh để điều trị và phòng viêm nhiễm tái phát bằng hitamox LA với liều lượng là 1 ml/10 kg TT Điều trị trong 3 ngày liên tục Sau khi nhau thai và dịch tử cung ra hết em ra dùng nước muối sinh lý 0,9 % để rửa tử cung trong ba ngày liên tục Bệnh viêm vú em dùng vetrimoxin LA liều 1 ml/10 kg TT Điều trị trong 3 ngày kết hợp vệ sinh sạch sẽ sàn chuồng và vệ sinh sát trùng vùng vú bị viêm Lợn bại liệt sau đẻ mắc với tỷ lệ 4,4 % Do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, thức ăn đảm bảo dinh dưỡng làm cho con mẹ có sức khỏe tốt, với con bị bệnh em đã dùng Mg calxium liều 60ml/con tiêm trong 3 ngày kết hợp trợ sức trợ lực Đối với nái chậm động dục em sử dụng han-prost liều 2ml hết hợp cho nái tiếp xúc gần con đực giống
4.4.4 Kết quả điều trị một số bệnh cho đàn lợn con tại trại
Trong thời gian 6 tháng thực tập tại trại chúng em tiến hành điều trị một số bệnh cho đàn của trại Kết quả được trình bày ở bảng 4.11
Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con của trại
Số lợn con điều trị (con)
Số lợn con khỏi bệnh (con)
Kết quả bảng 4.11 cho thấy số con được điều trị khỏi của lợn con mắc hội chứng tiêu chảy cao hơn so với hội chứng hô hấp Trong số 67 con bị mắc hội chứng hô hấp thì có 58 con khỏi, đạt 86,57%, còn hội chứng tiêu chảy có
120 con khỏi trong tổng số123 con điều trị đạt 97,56%
Nguyên nhân là do lợn con mới đẻ ra sức đề kháng còn yếu dễ bị ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như vi sinh vật xâm hại hay nhiệt độ chuồng nuôi không thích hợp (lạnh quá hay nóng quá) đặc biệt những ngày mùa đông nhiệt độ thấp cần phải có ô úm và bóng điện sưởi cho lợn con Đối với lợn con mắc hội chứng tiêu chảy chúng em sử dụng thuốc nova-gentylo (1ml/10kg TT) hoặc NOR 100 (1ml/10-15kg TT) Còn với lợn con mắc hội chứng hô hấp chúng em sửa dụng Amoxinject LA (1ml/10kg TT) kết hợp Bromhexine (1ml/10kg TT) giúp hỗ trợ hô hấp, điều trị trong 3 - 5 ngày
Qua đó có thể thấy tỷ lệ khỏi bệnh khá cao là do ngoài việc dùng thuốc để điều trị thì chúng em còn kết hợp với khâu nuôi dưỡng chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng cho lợn con đồng thời tăng cường công tác vệ sinh thú y.