Thực trạng cơ cấu tổ chức của Bộ A và 3 cơ quan thuộc Chính phủ B, C, D, cụ thể như sau: 1.1 Cơ cấu tổ chức của Bộ A: a Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước g
Trang 21 Hai quan điểm, hai cách tiếp cận khi sáp nhập các cơ quan thuộc Chính phủ vào các bộ để tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực
2 Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc trọng dụng người hiền tài – Từ quan niệm đến chính sách thực tiễn
3 Phát triển nguồn nhân lực công vụ ở Thừa Thiên – Huế
4 Cơ sở khoa học trong việc xây dựng Luật Viên chức
5 Cải cách hành chính ở thành phố Hà Nội
6 Một số biện pháp tăng cường công tác cải cách hành chính tỉnh Bắc Ninh
7 Kinh nghiệm trên thế giới về tuyển dụng và sử dụng nhân tài trong nền công vụ
Trang 3CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH HAI QUAN ĐIỂM, HAI CÁCH TIẾP CẬN KHI SÁP NHẬP CÁC CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ VÀO CÁC BỘ
ĐỂ TỔ CHỨC BỘ QUẢN LÝ ĐA NGÀNH, ĐA LĨNH VỰC
TS VĂN TẤT THU
Thứ trưởng Bộ Nội vụ
iếp theo các bài viết về bộ đa ngành, đa lĩnh vực, trong bài viết này chúng tôi xin trình bày và phân tích ưu điểm, hạn chế, thuận lợi, khó khăn của hai quan điểm, hai cách tiếp cận khi sắp xếp các cơ quan thuộc Chính phủ về các bộ để tổ chức
bộ đa ngành, đa lĩnh vực
T
Giả sử sáp nhập ba Ban thuộc Chính phủ (B, C, D) vào Bộ A
I Thực trạng cơ cấu tổ chức của Bộ A và 3 cơ quan thuộc Chính phủ B, C,
D, cụ thể như sau:
1.1 Cơ cấu tổ chức của Bộ A:
a) Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: Văn phòng Bộ, Vụ Tổ chức cán bộ (TCCB), Vụ Kế hoạch - Tài chính (KH-TC), Vụ Pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế (HTQT), Thanh tra Bộ, các cục, vụ khác
b) Các tổ chức sự nghiệp của Bộ gồm: Trung tâm thông tin, các viện nghiên cứu, các trường, học viện, báo, tạp chí
1.2 Cơ cấu tổ chức của Ban B:
a) Các tổ chức giúp Trưởng ban B thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: Văn phòng Ban, Vụ TCCB, Vụ KH-TC, Vụ Pháp chế, Vụ HTQT, Thanh tra, các cục,
vụ khác
b) Các tổ chức sự nghiệp gồm: Trung tâm tin học, Trung tâm bồi dưỡng nghiệp
vụ, Trung tâm nghiên cứu khoa học, Tạp chí, Nhà xuất bản…
1.3 Cơ cấu tổ chức của Ban C:
a) Các tổ chức giúp Trưởng ban C thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: Văn phòng Ban, Vụ TCCB, Vụ KH-TC, Vụ Pháp chế, Vụ HTQT, Thanh tra, các cục,
Trang 4a) Các tổ chức giúp Trưởng ban D thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: Văn phòng Ban, Vụ TCCB, Vụ HTQT, Vụ Thanh tra - Pháp chế, các cục, vụ khác.
b) Các tổ chức sự nghiệp gồm: Trung tâm tin học, Trung tâm nghiên cứu khoa học, Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng, Tạp chí…
II Sáp nhập 3 Ban thuộc Chính phủ (B, C, D) vào Bộ A theo quan điểm
“tiếp nhận nguyên trạng”
Nếu sáp nhập 3 Ban thuộc Chính phủ (B, C, D) vào Bộ A theo quan điểm tiếp nhận nguyên trạng, không sắp xếp, tổ chức và phân công lại lao động thì đó là sự chuyển dịch cơ học từ vị trí trực thuộc Chính phủ về trực thuộc Bộ trưởng Trong cơ cấu tổ chức của Bộ A sau khi sáp nhập 3 Ban trực thuộc Chính phủ (B, C, D) có thêm
3 tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước, song các
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tham mưu, giúp việc về quản lý nhà nước
và các tổ chức sự nghiệp của 3 Ban thuộc Chính phủ (B, C, D) vẫn giữ nguyên, không có sự sắp xếp lại, không có sự sáp nhập các tổ chức có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước và nghiệp vụ tương ứng của 3 Ban thuộc Chính phủ và của Bộ A vào với nhau (không sáp nhập Văn phòng của 3 Ban thuộc Chính phủ vào Văn phòng
Bộ A, Vụ TCCB của 3 Ban thuộc Chính phủ vào Vụ TCCB của Bộ A, Vụ KH-TC của 3 Ban thuộc Chính phủ vào Vụ KH-TC của Bộ A, Vụ HTQT của 3 Ban thuộc Chính phủ vào Vụ HTQT của Bộ A…) Đồng thời, không có sự phân công, tổ chức lại lao động của Bộ A sau khi 3 Ban thuộc Chính phủ sáp nhập vào Sáp nhập các cơ quan thuộc Chính phủ vào các Bộ theo quan điểm tiếp nhận nguyên trạng như nêu trên dẫn đến những ưu điểm, hạn chế sau:
2.1 Ưu điểm:
- Không còn cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước
- Giảm được đầu mối tổ chức thuộc Chính phủ, song tăng đầu mối các đơn vị thuộc Bộ
- Giữ được sự ổn định tương đối, không gây xáo trộn về mặt tổ chức
- Cán bộ lãnh đạo các Ban thuộc Chính phủ an tâm vì vẫn được bảo đảm về chế độ chính sách
- Khắc phục được khó khăn khi cần thiết phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý các lĩnh vực trước đây do các Ban thuộc Chính phủ quản lý
2.2 Hạn chế và khó khăn:
- Không đáp ứng và đảm bảo được các yêu cầu, nguyên tắc tổ chức bộ máy của
bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực Do tiếp nhận nguyên trạng, giữ nguyên các đơn vị,
tổ chức thuộc các cơ quan thuộc Chính phủ không có sự sắp xếp lại nên dẫn đến sự trùng lặp, chồng chéo các tổ chức trong cùng một bộ Trong bộ máy của Bộ A sau khi sáp nhập 3 Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào sẽ có 3 đến 4 đơn vị (tổ chức) cùng
Trang 5làm công tác văn phòng, cùng làm công tác về KH-TC, HTQT, pháp chế và thanh tra;
3 đến 4 tổ chức sự nghiệp cùng làm công tác tin học, cùng làm công tác nghiên cứu khoa học, công tác đào tạo bồi dưỡng…
- Do giữ nguyên tổ chức của các cơ quan thuộc Chính phủ khi sáp nhập vào Bộ
A đã hình thành một cấp trung gian, đó là bộ phận lãnh đạo của các Ban (B,C,D) thuộc Chính phủ và các Vụ có chức năng, nghiệp vụ tương ứng của Bộ A Ví dụ, xem xét qui trình giải quyết công việc và trình ký văn bản từ Vụ HTQT trong Ban B trình lên Lãnh đạo Bộ A như sau: chuyên viên của Vụ HTQT Ban B nghiên cứu soạn thảo xong trình lên lãnh đạo Vụ HTQT Ban B; lãnh đạo Vụ xem xét trình lãnh đạo Ban B, sau đó lãnh đạo Ban B mới xem xét trình lên lãnh đạo Bộ qua Văn phòng và Vụ HTQT Bộ A; lãnh đạo Vụ HTQT Bộ A giao cho chuyên viên của Vụ thụ lý hồ sơ văn bản trình Vụ trưởng Vụ HTQT Bộ A xem xét, ký trình xin ý kiến lãnh đạo Bộ Rõ ràng là quy trình xử lý giải quyết công việc và trình văn bản qua nhiều tầng nấc trung gian, gây nhiễu và chậm trễ trong giải quyết công việc và xử lý văn bản Nếu có sai sót xảy ra rất khó xác định đơn vị, tổ chức, cá nhân nào chịu trách nhiệm chính, đơn
vị, tổ chức, cá nhân nào chịu trách nhiệm liên đới
- Không đảm bảo nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc thứ bậc hành chính chặt chẽ, thẩm quyền - trách nhiệm rõ ràng; trên cơ quan Bộ A có vụ, dưới các Ban (B,C,D) cũng có vụ, địa vị pháp lý, thẩm quyền, trách nhiệm, chế độ chính sách đối với cấp vụ trên Bộ và đối với cấp vụ trong Ban sẽ như thế nào? như nhau hay khác nhau? Như nhau sẽ không công bằng, khác nhau sẽ bất hợp lý Vụ trên Bộ là tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các vụ thuộc Bộ do Bộ trưởng quy định Các vụ trong Ban thuộc Bộ cũng giúp Bộ trưởng, giúp Trưởng các Ban thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nhưng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các vụ trong Ban thuộc Bộ lại
do các Trưởng ban qui định Khi Chính phủ ban hành Nghị định chuyển các Ban thuộc Chính phủ vào Bộ A, nghĩa là Chính phủ đã quyết định giao chức năng nhiệm
vụ quản lý nhà nước các lĩnh vực của các Ban thuộc Chính phủ cho Bộ trưởng Bộ A thì Bộ trưởng Bộ A phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước các lĩnh vực trước đây Chính phủ giao cho thủ trưởng các Ban thuộc Chính phủ Và các Ban thuộc Chính phủ trở thành các Ban thuộc Bộ Do đó, việc qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của các Ban thuộc Chính phủ khi sáp nhập vào Bộ A thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ A Không nên để Thủ tướng Chính phủ qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Ban thuộc Chính phủ khi các Ban này đã sáp nhập vào các Bộ Nếu để Thủ tướng Chính phủ qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của các Ban thuộc Chính phủ khi đã sáp nhập vào
Bộ A sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất là trong Bộ A có đơn vị, tổ chức do Bộ
Trang 6trưởng Bộ A qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, có đơn vị, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức Như vậy sẽ phá vỡ tính thứ bậc hành chính và tính thống nhất về mặt pháp chế, dẫn đến hệ quả tất yếu là hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của Bộ A sẽ không bảo đảm do trách nhiệm, thẩm quyền không rõ ràng.
- Tiếp nhận nguyên trạng các Ban thuộc Chính phủ khi sáp nhập vào Bộ A, không phân định lại chức năng nhiệm vụ, không sắp xếp lại tổ chức sẽ không đảm bảo nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất, trực tiếp của Bộ trưởng đối với công việc, công tác tổ chức cán bộ và công tác kế hoạch, tài chính Trong một Bộ có 3 đến
4 tổ chức cùng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý điều hành một lĩnh vực công việc, cùng tham mưu cho Bộ trưởng về công tác TCCB, KH-TC, HTQT, pháp chế và thanh tra… khó có thể đảm bảo được nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất “công việc, con người và kinh phí - tài chính” Chính phủ giao cho Bộ Vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến phân tán nguồn lực, quan liêu, lãng phí trong quản lý triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền Chính phủ giao cho Bộ
Cụ thể, đối với việc quản lý công tác TCCB của Bộ, nếu khi sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ về Bộ A tiến hành sáp nhập Vụ TCCB của Ban B vào Vụ TCCB của
Bộ A, thì khi trình một vấn đề về công tác TCCB liên quan đến con người của Ban B
lộ trình như sau: một chuyên viên của Vụ TCCB được giao chuẩn bị trình, Vụ trưởng
Vụ TCCB của Bộ cho ý kiến, sau đó trình lên Bộ trưởng xin ý kiến Còn nếu tiếp nhận giữ nguyên trạng, vẫn để tồn tại Vụ TCCB trong Ban B thì khi trình vấn đề tổ chức cán bộ của Ban B, quy trình cụ thể như sau: đầu tiên do một chuyên viên của
Vụ TCCB Ban B chuẩn bị trình xin ý kiến Vụ trưởng Vụ TCCB ban B, Vụ trưởng Vụ TCCB ban B xem xét cho ý kiến sau đó trình lãnh đạo Ban B, lãnh đạo Ban B xem xét cho ý kiến trình lên Bộ A qua Văn phòng và Vụ TCCB của Bộ A, chuyên viên Vụ TCCB của Bộ A thụ lý hồ sơ nghiên cứu, xem xét trình xin ý kiến Vụ trưởng Vụ TCCB của Bộ A, Vụ trưởng Vụ TCCB của Bộ A nghiên cứu, xem xét sau đó mới trình Bộ trưởng xem xét, quyết định Vụ trưởng Vụ TCCB của Ban B không thể trình vượt cấp bỏ qua lãnh đạo Ban B lên Vụ trưởng Vụ TCCB của Bộ A, đồng thời Trưởng ban B cũng không thể trình vượt cấp bỏ qua Vụ trưởng Vụ TCCB của Bộ A lên thẳng lãnh đạo Bộ A Tương tự như vậy là công tác quản lý ngân sách, tài chính, một lĩnh vực nhất thiết Bộ trưởng phải quản lý tập trung, thống nhất và trực tiếp Nếu khi sáp nhập các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Bộ A vẫn giữ nguyên Vụ KH-
TC của Ban B không sáp nhập vào Vụ KH-TC của Bộ A thì Bộ trưởng Bộ A khó có thể quản lý được tập trung thống nhất và trực tiếp ngân sách-tài chính của Bộ Theo Luật Ngân sách nhà nước, có 3 cấp dự toán: cấp I, cấp II và cấp III Trước khi sáp nhập, Vụ KH-TC của Ban B là đơn vị dự toán cấp I có chức năng tổng hợp kế hoạch
Trang 7tài chính của Ban B, không trực tiếp chi tiêu ngân sách, tài chính, các đơn vị dự toán cấp III là Văn phòng ban B, các đơn vị, tổ chức sự nghiệp thuộc Ban B, không cần và không nhất thiết phải lập đơn vị dự toán cấp II ở Ban B Trong Bộ A có Vụ KH-TC là đơn vị dự toán cấp I, thực hiện chức năng tổng hợp về KH-TC của Bộ, không trực tiếp quản lý chi tiêu ngân sách, tài chính, có thể có các đơn vị dự toán cấp II ở cấp cục và các đơn vị dự toán cấp III trực tiếp quản lý, chi tiêu ngân sách, tài chính.
Khi sáp nhập các Ban B,C, D thuộc Chính phủ vào Bộ A mà giữ nguyên không sáp nhập Vụ KH-TC của các Ban thuộc Chính phủ vào Vụ KH-TC của Bộ A; các đơn vị sự nghiệp thuộc các Ban của Chính phủ không sáp nhập vào các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ A hoặc không để trực thuộc Bộ A mà vẫn để trực thuộc các Ban (B,
C, D) của Chính phủ thì việc quản lý ngân sách, tài chính (trong đó có cả vốn đầu tư xây dựng cơ bản) sẽ rất khó khăn, sẽ không tập trung, thống nhất và qua nhiều tầng, nấc trung gian Khi các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ sáp nhập vào Bộ A thì Bộ A cũng chỉ có một đơn vị dự tóan cấp I đó là Vụ KH-TC của Bộ A, nên các Vụ KH-TC của các Ban thuộc Chính phủ trở thành đơn vị dự toán cấp II, đơn vị trung gian Nếu các đơn vị sự nghiệp - đơn vị dự toán cấp III trong các Ban thuộc Chính phủ muốn trình xin ý kiến Bộ trưởng (lãnh đạo Bộ) quyết định một vấn đề liên quan tới kế hoạch tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản thì quy trình tuần tự phải qua các bước như sau: chuyên viên, viên chức của đơn vị dự toán cấp III trong các Ban thuộc Chính phủ chuẩn bị hồ sơ tài liệu trình xin ý kiến thủ trưởng đơn vị dự toán cấp III, sau đó thủ trưởng đơn vị dự toán cấp III nghiên cứu xem xét trình Vụ trưởng Vụ KH-TC của Ban, Vụ trưởng Vụ KH-TC của Ban nghiên cứu xem xét, ký trình Trưởng ban, Trưởng ban nghiên cứu xem xét ký trình lên Bộ qua Vụ KH-TC của Bộ A, Vụ trưởng
Vụ KH-TC của Bộ A giao cho chuyên viên của Vụ thụ lý hồ sơ, nghiên cứu xem xét trình Vụ trưởng, Vụ trưởng xem xét, ký trình lãnh đạo Bộ A (Bộ trưởng) xem xét phê duyệt hoặc quyết định Quy trình xem xét xử lý hồ sơ văn bản từ đơn vị dự toán cấp III của các Ban lên tới lãnh đạo Bộ lòng vòng qua quá nhiều tầng nấc và phức tạp, nếu có sai sót xảy ra việc xác định trách nhiệm cho các tổ chức trung gian (Vụ KH-
TC của các Ban thuộc Bộ, lãnh đạo các Ban thuộc Bộ, Vụ KH-TC của Bộ) là rất khó khăn Theo Luật Ngân sách nhà nước, luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Kế toán cần phải hạn chế tổ chức các đơn vị dự toán trung gian Khi sáp nhập Vụ KH-TC của các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Vụ KH-TC của Bộ A và các đơn vị sự nghiệp của các Ban thuộc Chính phủ chuyển thành trực thuộc Bộ thì việc quản lý ngân sách, kế hoạch, tài chính của Bộ sẽ tập trung thống nhất và chặt chẽ, các đơn vị dự toán cấp III thuộc Bộ sẽ trình trực tiếp lên Vụ KH-TC, chuyên viên Vụ KH-TC của Bộ thụ lý hồ
sơ nghiên cứu trình Vụ trưởng ký trình lãnh đạo Bộ quyết định Như vậy, quy trình
Trang 8xử lý văn bản được rút ngắn, đơn giản, chặt chẽ và phù hợp các quy định hiện hành của pháp luật.
- Khi sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ (B, C, D) vào Bộ A, không sáp nhập các đơn vị tổ chức có chức năng, nhiệm vụ và tính chất nghiệp vụ tương ứng vào với nhau, dẫn đến khó khăn đối với việc kiện toàn tổ chức các sở, ban, ngành ở cấp tỉnh Khi ở Trung ương ba Ban thuộc Chính phủ (B, C, D) sáp nhập vào Bộ A, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống hành chính, các sở, ban, ngành (B,, C,, D,) cũng phải sáp nhập vào Sở A, thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Nếu ở Trung ương khi sáp nhập ba Ban thuộc Chính phủ vào Bộ A theo quan điểm tiếp nhận nguyên trạng, không có sự sắp xếp, tổ chức lại thì ở cấp tỉnh không có cơ sở để sắp xếp, tổ chức lại các Sở B,, C,, D, vào Sở A, Nếu để nguyên trạng thì Giám đốc Sở A, khó có thể quản lý được tập trung, thống nhất chức năng, nhiệm vụ của Sở khi các sở, ban, ngành B,, C,, D, sáp nhập vào Sở A,
- Do tiếp nhận nguyên trạng, giữ nguyên không sắp xếp lại tổ chức, không phân công tổ chức lại công việc, không sàng lọc, lựa chọn lại cán bộ sẽ không đáp ứng được các yêu cầu đặt ra khi tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực là phải
“giảm được tổ chức, giảm biên chế, giảm chi phí cho hoạt động bộ máy”
Tóm lại, việc sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ về các Bộ nếu theo quan điểm tiếp nhận “nguyên trạng”, tiếp nhận một cách cơ học thì không đáp ứng được các yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc về tổ chức bộ đa ngành, đa lĩnh vực, đó là sự dịch chuyển thuần túy các cơ quan, các đơn vị tổ chức từ vị trí này tới vị trí khác, chưa có sự cải cách, hoàn thiện tổ chức bộ máy theo tinh thần các Nghị quyết về công tác cải cách hành chính của Đảng
III Sáp nhập ba Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ về các Bộ A theo quan điểm tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực (gọi chung là đa ngành)
3.1 Các yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc
Khi sáp nhập các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Bộ A theo quan điểm tổ chức bộ quản lý đa ngành, trước hết phải nhận thức đầy đủ rằng tổ chức bộ quản lý
đa ngành, đa lĩnh vực không phải là phép cộng đơn thuần nhiều bộ, nhiều cơ quan làm một, mà là sự chuyển đổi mô hình quản lý từ quản lý đơn ngành sang quản lý đa ngành dựa trên quan điểm và nguyên tắc hệ thống trong tổ chức bộ máy, dựa trên mối liên hệ hữu cơ về chức năng, nhiệm vụ, về đặc điểm, đặc thù chuyên môn nghiệp vụ, lao động và tính chất hoạt động giữa các bộ, các cơ quan đơn ngành với nhau theo qui luật lượng đổi chất đổi Do đó, khi sáp nhập các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Bộ A phải tiến hành sắp xếp lại tổ chức, phân công, tổ chức lại lao động trong bộ máy Phải đảm bảo các yêu cầu: quản lý tổng hợp được các ngành, các lĩnh vực sáp nhập về bộ đa ngành, quản lý tập trung, thống nhất, trực tiếp công việc, con người và
Trang 9tài chính; tránh tầng nấc, tổ chức trung gian, không chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa các tổ chức trong bộ máy; tổng số các đơn vị (tổ chức), cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, kinh phí cho hoạt động bộ máy phải nhỏ hơn tổng
số các đơn vị (tổ chức), cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, kinh phí cho hoạt động của bộ máy trước lúc sáp nhập các cơ quan để tổ chức bộ đa ngành Song năng suất, chất lượng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ đa ngành phải cao hơn Đồng thời khi sáp nhập các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Bộ A phải dựa trên các quan điểm toàn diện, tổng hợp, quan điểm lịch sử, phát triển và hệ thống, phải tuân theo các nguyên tắc:
a) Xác định cơ cấu của chủ thể quản lý xuất phát từ đối tượng quản lý, từ chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của quản lý để thiết lập bộ máy quản lý
b) Không trùng lặp, chồng chéo, bỏ sót chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý
c) Thứ bậc hành chính chặt chẽ, thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, không có tầng nấc, tổ chức trung gian
d) Quản lý vừa tổng hợp, vừa chuyên sâu
đ) Quản lý tập trung, thống nhất công việc, tổ chức cán bộ, ngân sách, tài chính của bộ máy
e) Đảm bảo nguyên tắc pháp chế
f) Tổ chức phân công lao động của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên làm việc trong bộ máy một cách khoa học
g) Tinh giản, tiết kiệm có hiệu lực tối đa, hiệu quả kinh tế xã hội tối ưu
h) Tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi để sáp nhập các sở, ban, ngành ở cấp tỉnh theo hướng sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực
3.2 Cách thức sáp nhập các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Bộ A để tổ chức bộ quản lý đa ngành
- Sáp nhập các tổ chức có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc, nghiệp vụ giống nhau của các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ và của Bộ A, hoà nhập vào nhau một cách tương ứng, cụ thể như:
+ Văn phòng Bộ đa ngành A (gồm Văn phòng Bộ A + Văn phòng Ban B + Văn phòng Ban C + Văn phòng Ban D)
+ Vụ TCCB Bộ đa ngành A (gồm Vụ TCCB Bộ A + Vụ TCCB Ban B + Vụ TCCB Ban C + Vụ TCCB Ban D)
+ Vụ KH-TC Bộ đa ngành A (gồm Vụ KH-TC Bộ A + Vụ KH-TC Ban B + Vụ KH-TC Ban C + Vụ KH-TC Ban D)
+ Vụ pháp chế Bộ đa ngành A (gồm Vụ pháp chế Bộ A + Vụ pháp chế Ban B + Vụ pháp chế Ban C + Vụ pháp chế Ban D)
Trang 10+ Vụ HTQT Bộ đa ngành A (gồm Vụ HTQT Bộ A + Vụ HTQT Ban B + Vụ HTQT Ban C + Vụ HTQT Ban D).
+ Thanh tra Bộ đa ngành A (gồm Thanh tra Bộ A + Thanh tra Ban B + Thanh tra Ban C + Thanh tra Ban D)
- Các tổ chức giúp các Trưởng Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn quản lý nhà nước còn lại chuyển thành các đơn vị thuộc khối cơ quan
Bộ A Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, đặc thù chuyên môn nghiệp vụ, khối lượng, tính chất công việc và số lượng cán bộ, công chức, viên chức có thể giữ nguyên hoặc sáp nhập một số vụ thành một vụ rồi chuyển lên cơ quan Bộ A Cách sắp xếp như trên sẽ giảm đáng kể các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước khi
tổ chức bộ quản lý đa ngành
Tương tự như vậy, tiến hành sáp nhập các tổ chức sự nghiệp tương ứng có chức năng nhiệm vụ giống nhau Trung tâm tin học của Bộ A sáp nhập với các Trung tâm tin học của các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ; các viện, trung tâm nghiên cứu sáp nhập với nhau; các trường, học viện đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức sáp nhập với nhau Các tổ chức sự nghiệp còn lại của ba Ban thuộc Chính phủ cũng như các tổ chức sự nghiệp đã sáp nhập đều để trực thuộc Bộ đa ngành A Cụ thể như sau:
+ Trung tâm tin học của Bộ đa ngành A (gồm Trung tâm tin học Bộ A + Trung tâm tin học Ban B + Trung tâm tin học Ban C + Trung tâm tin học Ban D)
+ Các Trung tâm nghiên cứu khoa học của các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ
có thể sáp nhập với Viện nghiên cứu khoa học của Bộ A thành một Viện nghiên cứu khoa học chung của Bộ đa ngành A
+ Các trường, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ của các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ có thể sáp nhập với viện, học viện, trường của Bộ A thành một trường hay học viện chung của Bộ quản lý đa ngành A
Đương nhiên khi sáp nhập các đơn vị, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ giống nhau, có mối liên hệ hữu cơ với nhau thành một đơn vị, tổ chức mới thì qui mô, biên chế của đơn vị (tổ chức) này sẽ lớn hơn, việc phân công, tổ chức lại lao động cũng như quản lý các đơn vị (tổ chức) này giai đoạn đầu sẽ khó khăn Để khắc phục khó khăn có thể chọn mô hình tổ chức cục, vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, viện nghiên cứu khoa học, học viện, trường, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng đa lĩnh vực, cho phép thành lập các phòng trong các cục, vụ, viện, học viện, trường và các trung tâm, mỗi phòng quản lý một lĩnh vực
3.3 Ưu điểm, khó khăn và phương pháp giải quyết
Trang 113.3.1 Ưu điểm của việc sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ vào Bộ theo quan
điểm tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực là khắc phục được các hạn chế và những khó khăn phát sinh khi sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ vào các bộ theo quan điểm tiếp nhận nguyên trạng, giữ nguyên, không sắp xếp lại tổ chức, không phân công, tổ chức lại lao động:
- Khắc phục được sự chồng chéo, trùng lặp, trung gian, bỏ sót chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức bộ máy;
- Quản lý tập trung, thống nhất, tổng hợp và trực tiếp tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ;
- Giảm số lượng các đơn vị thuộc, trực thuộc bộ; giảm biên chế và chi phí cho các hoạt động của bộ máy khi tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực;
- Tạo ra sự chuyển đổi về chất trong tổ chức bộ máy, trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong tổ chức phân công lao động và cơ chế vận hành, hoạt động của bộ;
- Nâng cao trình độ, năng lực và đổi mới tác phong, phương pháp làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trong bộ;
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và các hoạt động của bộ;
- Giải quyết, khắc phục được khó khăn khi cần thiết phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý các lĩnh vực trước đây do các Ban của Chính phủ quản lý
3.3.2 Thuận lợi: khi sáp nhập các Ban (B, C, D) thuộc Chính phủ vào Bộ A
theo quan điểm tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, các đơn vị, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ, nghiệp vụ giống nhau sáp nhập vào nhau một cách tương ứng, còn các đơn vị, tổ chức khác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước của các Ban thuộc Chính phủ được tổ chức lại và chuyển thành đơn vị trực thuộc Bộ; đồng thời, các đơn vị sự nghiệp của các Ban đưa lên trực thuộc Bộ thì bản thân lãnh đạo và cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị, tổ chức thuộc các Ban nay trực thuộc
Bộ, được nâng cấp sẽ phấn khởi và ủng hộ việc sáp nhập các cơ quan thuộc Chính phủ theo quan điểm tổ chức bộ đa ngành, đa lĩnh vực
3.3.3 Khó khăn và cách giải quyết:
- Cần giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa quản lý tổng hợp và chuyên sâu về chuyên môn và nghiệp vụ của các ngành, các lĩnh vực khi sáp nhập vào để tổ chức bộ quản lý đa ngành; trên cơ sở đó, xác định các đơn vị, tổ chức tham mưu giúp bộ trưởng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, các đơn vị tham mưu giúp bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý tổng hợp để thiết lập bộ máy, bố trí sắp xếp cán bộ, công chức, viên chức cho phù hợp
- Khó khăn và trở lực lớn nhất khi sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ vào các
bộ để tổ chức bộ quản lý đa ngành là xử lý vấn đề dôi dư cán bộ lãnh đạo quản lý, dôi
Trang 12dư cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên phục vụ Đặc biệt là việc giải quyết chế
độ, chính sách cho cán bộ lãnh đạo các Ban thuộc Chính phủ khi sáp nhập vào bộ vì
họ đang là lãnh đạo các Ban thuộc Chính phủ; nay các Ban thuộc bộ, địa vị pháp lý của các tổ chức này đã thay đổi dẫn tới thay đổi về thẩm quyền, vị thế và chế độ, chính sách đãi ngộ đối với họ Vì vậy, cần giải quyết chế độ, chính sách đối với họ một cách thoả đáng, nếu không sẽ khó khăn cho việc sắp xếp, tổ chức lại khi sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ vào bộ Đối với số ít cán bộ lãnh đạo các Ban có thể
xử lý bằng cách: người đủ tiêu chuẩn cả về trình độ, năng lực, tuổi tác và nếu bộ thiếu cán bộ lãnh đạo có thể xem xét bổ nhiệm giữ chức thứ trưởng để giúp bộ trưởng quản
lý lĩnh vực trước đây họ giúp Chính phủ quản lý; số còn lại giữ nguyên hàm, chức vụ
và chế độ, chính sách, sau một thời gian chuyển sang ngạch chuyên viên cao cấp hoặc chuyên gia Đồng thời phải làm công tác tư tưởng, động viên, giải thích việc sáp nhập các cơ quan thuộc Chính phủ vào các bộ để tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong cải cách hành chính, làm cho
bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đó là cuộc cách mạng tạo ra sự chuyển đổi về chất trong bộ máy, cần thiết có sự hy sinh của các
tổ chức, hy sinh quyền lợi nhất định của con người mới có bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực với ý nghĩa đích thực của nó Đối với cán bộ lãnh đạo cấp cục, vụ thuộc các Ban của Chính phủ dôi dư khi sáp nhập về các bô thì giữ nguyên hàm chức vụ và phụ cấp chức vụ, nhưng không làm quản lý nữa mà chuyển sang làm việc theo chế độ chuyên viên, chuyên gia Đối với các phó cục, vụ trưởng dôi dư cho giữ nguyên hàm, phụ cấp chức vụ kiêm trưởng phòng nếu đơn vị, tổ chức đó sau khi sáp nhập được tổ chức theo mô hình cục, vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, mỗi lĩnh vực được tổ chức thành một phòng
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức dôi dư, tiến hành phân loại, sàng lọc lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn cả về phẩm chất đạo đức và trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ở lại làm việc trong bộ đa ngành, còn những người không đủ tiêu chuẩn phải kiên quyết và có chế độ chính sách giải quyết cho họ ra khỏi bộ máy một cách thích hợp, thực hiện chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ
- Khó khăn do thay đổi tâm lý, cách nghĩ, cách làm và phương pháp làm việc trong môi trường tổ chức hoạt động và điều hành giải quyết công việc theo mô hình
bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực
- Khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật khi sáp nhập các Ban thuộc Chính phủ vào bộ theo quan điểm tổ chức bộ quản lý đa ngành ở chỗ phải bố trí cho các đơn vị, tổ chức thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp và quản lý nhà nước tập trung trong cơ quan bộ Đây chỉ là khó khăn trước mắt, có thể giải quyết bằng cách chuyển chỗ làm việc của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc bộ về trụ sở các Ban thuộc
Trang 13Chính phủ, đồng thời chuyển các đơn vị, tổ chức thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp và quản lý nhà nước của các Ban lên cơ quan bộ.
Trên đây là những ưu điểm, thuận lợi, khó khăn của hai quan điểm, hai cách tiếp cận khi sắp xếp các Ban thuộc Chính phủ về bộ để tổ chức bộ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực, chúng tôi mạnh dạn trình bày để các nhà quản lý nghiên cứu và bạn đọc tham khảo./
Trang 14HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC TRỌNG DỤNG NGƯỜI HIỀN TÀI - TỪ QUAN NIỆM ĐẾN CHÍNH SÁCH THỰC TIỄN
PGS.TS PHẠM NGỌC ANH – HVCH ĐỖ THANH THỦY
Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
iệc lựa chọn và trọng dụng người hiền tài là một trong những nội dung được quan tâm đặc biệt trong thời kỳ đất nước đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phong phú, đa dạng Nhưng không phải đến thời hiện đại, chúng ta mới thấy được được vị trí và vai trò của người hiền tài đối với việc chấn hưng và sự phát triển của quốc gia, đất nước Trong lịch sử dân tộc, các triều đại phong kiến, ở các giai đoạn tiến bộ đều coi việc cầu hiền đãi sĩ là việc trọng đại của đất nước Việc Lê Thánh Tông cho khắc lời của Thân Nhân Trung vào bia Quốc Tử Giám thể hiện một nội dung của triết lý lãnh đạo, có ý nghĩa như là chiến lược về trọng dụng hiền tài:
V
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Nguyên khí mạnh thì thế nước cường
Nguyên khí suy thì thế nước tàn”
Sinh thời, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng từ năm 1930 cho đến khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nói và viết nhiều về sử dụng người hiền tài nhưng thông qua cách nhìn nhận, đánh giá, cách ứng xử, trọng dụng, tập hợp người hiền tài vào đội ngũ những người làm cách mạng, Người đã để lại bài học quý báu, những chỉ dẫn thiết thực cho chúng ta trong việc đào tạo và bồi dưỡng, trọng dụng hiền tài thực sự trở thành “nguyên khí của quốc gia”, là lực lượng cốt cán, tiên phong góp phần quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
1 Những quan niệm về lựa chọn và sử dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ quan niệm và cách thức tuyển dụng nhân tài của cha ông trong lịch sử
Nước ta vốn đất không rộng, người không đông, nằm trong khu vực khí hậu nóng ẩm, nên cuộc mưu sinh, chấn hưng đất nước của nhân dân vốn nhọc nhằn, vất
vả, lại thường xuyên đối đầu với các thế lực ngoại xâm, vì lẽ đó, người hiền tài luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển, trở thành nhu cầu thiết yếu của thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 15Mặt khác, do nằm liền kề Trung Quốc nên chúng ta ảnh hưởng sâu sắc văn hoá Nho học, tư tưởng thân dân của Khổng Tử, coi trọng sự học hành tri thức và tu dưỡng đạo đức cá nhân, đó là hai tiêu chí của người hiền tài còn nguyên giá trị tới ngày nay Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử, giai cấp thống trị có cách đánh giá và sử dụng người hiền tài khác nhau nhằm phục vụ lợi ích của mình Có thể thấy quan niệm của Khổng Tử về người hiền tài là tiến bộ nhất trong xã hội phong kiến vốn phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp Theo ông, người hiền tài có ở trong thiên hạ, dân gian là người phải có đức và tài, lấy đức là gốc, là cơ bản của người hiền tài Người hiền tài có tác động đến giáo dục đạo đức xã hội Ông nói: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”(1) Đây chính là cái lợi to lớn cho nước nhà khi tuyển dụng chính xác người hiền tài.
Trong hàng ngàn năm lịch sử dưới chế độ phong kiến, xuất hiện nhiều ông vua minh quân luôn lấy “cầu hiền tài” làm kế sách để bảo vệ và chấn hưng đất nước Vì thế, triều đại nào, đời nào cũng xuất hiện hào kiệt bốn phương về giúp vua dựng nước, nhất là ở những giai đoạn đất nước đứng trước nguy cơ do chiến tranh hay mất mùa, dịch bệnh gây lên
Thời nhà Lý, có ông quan liêm chính Tô Hiến Thành (1102-1179) để lại tấm gương sáng về chọn người hiền tài cho đất nước Chuyện kể rằng ông là Thái sư từ đời Lý Cao Tông, khi vua mất trong triều diễn ra tranh giành quyền bính Mẹ của Long Xưởng (con trưởng nhưng không đủ tài đức bị truất quyền) đút lót Tô Hiến Thành cầu xin ông giúp sức ủng hộ, nhưng ông nói: “Làm việc bất nghĩa được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có vui làm” Đây chính là phẩm chất của người hiền tài rất được coi trọng trong các triều đại lúc bấy giờ Cuối đời, lúc Tô Hiến Thành tuổi cao bệnh nặng, ông được quan Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ, còn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận việc nước không đến thăm được, nhưng khi Vua hỏi nếu ông mất, ai sẽ lên thay, ông bảo: Trần Trung Tá Vì thế, Sử ký Đại Việt toàn thư viết:
“Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết lòng trung thành khéo xử biến cố, tuy
bị gió lay sóng dập mà vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng khiến trên dưới yên
thuận, không thẹn với phong độ đại thần ngày xưa Đến lúc sắp chết còn vì nước tiến
cử người hiền không vì ơn riêng, không vì lời nói của Thái Hậu mà làm việc không hay cho nhà Lý” Đây chính là phúc lớn cho quốc gia dân tộc khi có được những người
hiền tài, chính trực, thanh liêm như Tô Hiến Thành, đã giúp nhà Lý dẹp yên được sóng gió trong triều đình
Cầu người hiền tài luôn là bài học quý báu, là một trong những phép trị nước được các triều đại đặt lên hàng đầu Vào thế kỷ thứ XV, năm 1438, do có nhiều tai hoạ trong nước, Vua Lê Thái Tông có chiếu như sau: “Mấy năm nay hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai hoạ luôn xuất hiện, nhiều lần sét đánh vào vườn cây trước
Trang 16của Thái miếu ở Lam Kinh Cứ nghiệm xét việc xảy ra tai họa nhất định có nguyên
do trong đó Có phải do Trẫm không lo sửa đức để mọi việc bê trễ, chẳng hay là do
quan tể phụ bất tài xếp đặt không điều hoà Hay là dùng người không đúng, để người
tốt, kẻ xấu lẫn lộn Hay là hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái
Trẫm tự trách tội mình đại xá cho thiên hạ Tất cả các đại thần, các quan văn võ, các người nên chỉ ra các lỗi lầm kể trên, cứ thẳng thắn mà nói hết không kiêng nể gì Nếu
có điều gì tiếp thu được nhất định sẽ khen thưởng, cất nhắc, dẫu có ngu đần sai sót sẽ không bắt tội Ngõ hầu có thể lay chuyển lòng trời, chấm dứt tai ương, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng vậy”(2) Như vậy, trong quan niệm truyền thống, trọng dụng người hiền tài là quốc sách của quốc gia, dân tộc, quyết định sự hưng thịnh, thành bại của đất nước Đặc biệt, khi sự phát triển không theo chiều thuận, thì một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến trở lực đó là sử dụng không đúng người hiền tài, khiến cho “vàng thau” lẫn lộn, kẻ không tài đức thường dùng tiểu xảo, mánh lới hại người để tiến thân, khiến người hiền tài bất an, phân tâm, không thể cống hiến hết mình cho đất nước
Trong lịch sử, Bảng nhãn Lê Quí Đôn (1726-1784) được đánh giá là người hiền tài của đất nước, Ông để lại di sản tư tưởng, quan niệm rất phong phú, sâu sắc về mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt là sự đúc kết năm nguyên nhân có thể dẫn đến mất nước, đó là:
phò tá hay sao Trẫm lo lắng nghĩ rằng: dù chỉ một ngày, hai ngày cũng có hàng vạn
sự việc xảy ra, cái nhà to sức một cây cột làm sao chống nổi Sự nghiệp thời bình, dân an quốc thái sức một người không thể đảm đương” Vốn là ông Vua xuất thân từ tầng lớp áo vải, ít được học hành, nhưng với năng lực xuất sắc, sự nhạy cảm với thực tiễn, ông thấy được người hiền tài là “rường cột” của nước nhà, nên đặt việc cầu hiền tài cho đất nước lên hàng đầu, rèn chính mình trở thành vị Vua hiền tài Để có đủ
Trang 17khả năng điều hành công việc triều chính, ông tìm người giỏi làm thầy, mỗi tháng 6 lần dạy lịch sử, kinh sách cho Vua, đây là việc hiếm có trong lịch sử Ông ra Chiếu lập học như sau:
“ Xây dựng đất nước lấy việc khuyến học làm đầu
Tìm lẽ trị binh lấy tuyển nhân tài làm gốc”.
Như vậy, cùng với quá trình dựng và giữ nước trong chiều dài lịch sử dân tộc, cha ông ta đã để lại kinh nghiệm quý báu, những tấm gương, những đúc kết của
“phép trị nước”, đó là tuyển chọn và sử dụng người hiền tài.Trên thực tế, ở dải đất hình chữ S này "hào kiệt thời nào cũng có" Lịch sử cũng để lại nhiều bài học đắt giá, khi vua không minh lại thiếu tướng hiền thì đất nước dễ rơi vào nạn giặc giã và bị các tai ương khác rình rập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu bài học lịch sử, những quan niệm truyền thống về cầu người hiền tài, coi đó là nhân tố có tính quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
2 Trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành người thầy tiêu biểu trong cách tuyển dụng nhân tài để trị nước trong bối cảnh mới của đất nước, nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra những quan điểm mang tính “chỉ giáo” về việc sử dụng người hiền tài, nhưng đã thực hiện thành công việc huy động, tập hợp nhân tài của đất nước, bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện họ trở thành lực lượng nòng cốt của cách mạng, cả trong giai đoạn đấu tranh và xây dựng Tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử dân tộc về sử dụng người hiền tài
Năm 1924, sau hơn một thập niên bôn ba ở nước ngoài, khảo sát thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng chân lý của thời đại, từ đó hình thành con đường cách mạng Việt Nam, Người trở về Quảng Châu (Trung Quốc), nơi sát biên giới Việt Nam để chuẩn bị về
tổ chức, tư tưởng và lực lượng cách mạng Năm 1925, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, tập hợp những người trẻ tuổi, giàu nhiệt tình yêu nước, có tri thức, là sự mở đầu cho việc cầu hiền tài của Người, chứng tỏ Người sớm nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của nhân tài đối với sự nghiệp cách mạng Thực tiễn cách mạng đã minh chứng, những thanh niên ưu
tú do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyển chọn, bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện thực sự trưởng thành qua đấu tranh cách mạng, trở thành đội ngũ tiên phong góp phần quan trọng đưa cách mạng vượt qua mọi khó khăn, thử thách đi đến thắng lợi
Năm 1945, chỉ sau hai tháng lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Nhân tài
và kiến quốc, đăng Báo Cứu quốc (ngày 14/11/1945) Người phân tích nhu cầu cần
Trang 18có người hiền đức rất thấu tình đạt lý: “Kiến thiết cần có nhân tài Nhân tài nước ta dù
chưa nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển càng thêm nhiều Vậy, chúng tôi mong rằng đồng bào
ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết nhân tài xuất thân trong quần chúng nhân dân, từ nhân dân mà ra, không phân biệt sang hèn, giới tính, thành phần xuất thân, điều này khác xa với quan niệm chật hẹp đồng nhất nhân tài với học vị, học vấn cao, với địa vị, với nguồn gốc xuất thân Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, tin dân, nêu cao vai trò làm chủ đất nước của dân, là sự nối tiếp và phát triển quan niệm cầu hiền tài truyền thống lên tầm cao trong hoàn cảnh mới của đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ mối quan hệ giữa nhân tài với công cuộc xây dựng đất nước, không phụ thuộc vào số lượng người tài giỏi mà do cách sử dụng người hiền tài quyết định thành công hay thất bại Người viết “khéo dùng” nghĩa là sử dụng người theo đúng phương châm: dùng đúng người vào đúng việc, để mỗi người đều phát huy năng lực sáng tạo của mình, thì sẽ thu hút được thêm nhiều nhân tài hơn cho đất nước; trái lại, việc tuyển dụng không khách quan, xếp đặt công việc không phù hợp với năng lực khiến tài năng bị thui chột, sẽ dẫn đến “chảy máu chất xám”
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi tất cả đồng bào “ai có tài năng và sáng kiến lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà”, nghĩa là người hiền tài không nhất thiết phải có phát minh to lớn, đồ sộ, theo Người đó là tất cả việc làm, suy nghĩ, mọi tư tưởng và hành động có lợi cho đất nước, người hiền tài phải có đủ đức và tài, trong đó tài năng
là để “giúp ích nước nhà”, là đặt lợi ích dân tộc lên trên với tinh thần tận tâm, tận lực
Về phía người tuyển dụng nhân tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trách nhiệm:
“nghiên cứu kỹ lưỡng, nếu thực hành được thì thực hành ngay” Quan niệm này để lại cho chúng ta nhiều suy nghĩ, người hiền tài luôn gắn với vận mệnh đất nước trong hoà bình cũng như lúc chiến tranh, đất nước luôn cần người hiền tài, nhưng nếu không trọng dụng và sử dụng vào đúng việc, đúng người, thậm chí vì động cơ cá nhân mà sợ người hiền tài thì đó là cái hoạ của nước nhà
Đất nước ta sau tám mươi năm bị nô lệ, thực dân phong kiến để lại hậu quả nặng nề về kinh tế - xã hội, nạn đói, giặc dốt hoành hành, đe doạ tính mạng của nhân dân ta, trong khi kẻ thù xâm lược bao vây nhằm tiêu diệt nền độc lập non trẻ của đất nước Trong tình thế cam go của lịch sử, đặt ra yêu cầu nóng bỏng phải bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững độc lập tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định chính xác, công việc cấp thiết lúc này là tập hợp và sử dụng người hiền tài vào Chính phủ mới
Trang 19nhằm đưa đất nước vượt qua giai đoạn đầy khó khăn, thách thức này Cùng với bài
Nhân tài và kiến quốc, thể hiện quan niệm, nhưng chính là tâm huyết cầu hiền tài của
Người cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dùng những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt, thậm chí nhân nhượng với các đảng phái đối lập để thu hút người có tài năng và tinh thần yêu nước vào bộ máy nhà nước mới Tháng 1 năm 1946, trong tình thế cách mạng diễn biến hết sức phức tạp, nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã tiến hành thành công, lập ra Quốc hội đầu tiên do nhân dân lựa chọn, đánh dấu bước ngoặt mới trong đời sống chính trị của nhân dân Việt Nam Điều đặc biệt, thành viên Chính phủ rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau: quan lại cũ, trí thức, đảng viên cộng sản, không đảng phái và người của đảng phái đối lập nhưng họ đều chung một ý chí, đó là đoàn kết, chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, đồng thời bảo vệ nền độc lập dân tộc bằng tinh thần yêu nước cao cả Có thể khẳng định, đây là cuộc chiêu hiền đãi sĩ đầu tiên trong chế độ mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở thành bài học quý giá còn nguyên giá trị
Thực tiễn lịch sử cho thấy, chính sự linh hoạt, nhạy bén, cách đánh giá con người chính xác, có tình có lý giữa đức và tài, cũng như cách sử dụng người hiền tài không dựa vào nguồn gốc hay thành phần xuất thân, không phân biệt đảng phái, quan điểm chính trị mà dựa vào khả năng cống hiến và lòng nhiệt tình cách mạng, lấy hiệu quả công việc, khả năng đóng góp với đất nước làm làm tiêu chí tuyển dụng người hiền tài, vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người sáng lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân, đồng thời là người trực tiếp xây dựng bộ máy nhà nước phát huy hiệu quả cao nhất vượt qua được thách thức của lịch sử, trên cơ sở có sự đồng lòng của các hiền tài từ khắp mọi miền đất nước
Năm 1946, thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ mở rộng chiến tranh trên cả nước ta
Để dập tắt ngọn lửa chiến tranh, tránh tổn thất cho nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sang Pháp đàm phán, nhưng phía Pháp đã từ chối thiện chí hoà bình của nhân dân ta Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gặp gỡ, nói chuyện với nhân dân Pháp và kiều bào ta ở Pháp về nguyện vọng hòa bình, xây dựng quan hệ hợp tác thân thiện vơi nước Pháp để hai dân tộc cùng phát triển Nhưng Người cũng nêu rõ quyết tâm, nếu Pháp thực dân muốn cướp nước ta thì nhân dân Việt Nam sẽ đấu tranh bằng tất cả sức mạnh dân tộc Chính ý chí cùng với bầu nhiệt huyết nóng bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu phục được các trí thức Việt kiều
từ Pháp theo Bác về nước tham gia vào cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc Tên tuổi và những cống hiến hết mình của họ đã cổ vũ cuộc kháng chiến của nhân dân ta
đi đến thắng lợi trọn vẹn, đó là Anh hùng Trần Đại Nghĩa, Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, Anh hùng Tôn Thất Tùng, Nhà toán học Lê Văn Thiêm, gíao sư Hồ Đắc Di
Trang 20Tháng 11/1946, sau khi hai bản Tạm ước và Hoà ước không thể cứu vãn hoà bình, nguy cơ chiến tranh bùng nổ, nhiệm vụ kiến quốc cấp thiết hơn bao giờ hết Nhằm tăng cường lực lượng cho kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trên báo Cứu quốc bài Tìm ngươì tài đức (20/11/1946) Thật hiếm có vị Chủ tịch nước nào nhận khuyết điểm trước toàn thể nhân dân vì chưa tìm được nhiều hiền tài cho đất
nước: “Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài Trong số 20
triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi bực tài đức không thể xuất thân Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.”
Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nói và làm đã cách nay gần nửa thế kỷ, nhưng bài học và ý nghĩa của việc tuyển dụng nhân tài vẫn vô cùng sâu sắc và thiết thực, nhất là trong điều kiện đất nước từ nghèo nàn, lạc hậu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong hoàn cảnh trình độ công nghệ, năng lực sản xuất thấp, cơ sở vật chất - kỹ thuật thiếu thốn, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, hơn lúc nào hết người hiền tài có vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển
3 Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc tuyển dụng nhân tài mà Người rất quan tâm đến bồi dưỡng nhân tài
Ngay từ tháng 7/1926, khi mới đặt viên gạch đầu tiên cho sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một số thanh niên ưu tú Việt Nam sang Liên Xô, đất nước xã hội chủ nghĩa để học tập và rèn luyện trở thành thế hệ cách mạng đầu tiên cho đất nước
Năm 1951, trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa lớp cán bộ đầu tiên sang Liên Xô đào tạo ở những ngành kinh tế, khoa học mũi nhọn, chuẩn bị đội ngũ “ hiền tài” cho công cuộc kiến thiết đất nước khi chiến tranh kết thúc
Trong khói lửa chiến tranh ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh gửi nhiều thế hệ thanh niên ưu tú sang đào tạo ở các nước XHCN Vì thế, sau năm 1975, chúng ta có trên 30.000 cán bộ có trình độ trung cấp kỹ thuật trở lên, họ trở thành những nhà khoa học đầu đàn, là đội ngũ cốt cán của Đảng và Nhà nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc
Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, rèn luyện các thế hệ cách mạng luôn là sự quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ những ngày đầu thành lập tổ chức
cách mạng, cho đến khi trước lúc đi xa, Người vẫn ân cần dặn lại trong Di chúc: “Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”
Ngày nay, nhìn lại những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, những việc Người làm,
Trang 21chúng ta thấy vẫn còn nguyên tính thời sự về sự nghiệp “trồng người” cho đất nước, như là quy luật tất yếu, một vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam.
4 Di sản sử dụng và đào tạo hiền tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn
Từ quan niệm và thực tiễn trọng dụng hiền tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy, tuyển chọn và sử dụng đúng hiền tài sẽ góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ cách mạng, có ảnh hưởng to lớn giáo dục đạo đức xã hội, vì người hiền tài
là kết tinh của trí tuệ và đạo đức của dân tộc, là phản ánh tinh hoa của thời đại, họ có khả năng sáng suốt dẫn dắt lịch sử đến bước ngoặt tiến bộ Trong thời kỳ hiện đại, nhiều nước coi việc “cầu hiền” là một chiến lược phát triển quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nhân tố con người được coi là động lực của sự phát triển Bên cạnh chúng ta, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc thực hiện thành công bài học trọng dụng hiền tài.Chẳng hạn, Trung Quốc coi phát triển nguồn nhân lực là yếu tố hàng đầu để chấn hưng đất nước, trong đó chiêu mộ nhân tài trở thành quốc sách Trong điều kiện giáo dục trong nước chưa đáp ứng yêu cầu, Trung Quốc khuyến khích lớp trẻ đi du học; hiện thường xuyên có 200.000 du học sinh Mặt khác, nhà nước có chế độ đãi ngộ cao với các nhà khoa học, doanh nhân trở
về xây dựng đất nước, như hỗ trợ tiền, ưu đãi nhà ở, xe hơi, kinh phí nghiên cứu khoa học, kinh phí đầu tư cho ngành kinh tế mũi nhọn Vì thế, từ năm 2000 đến nay, Trung Quốc có hàng loạt phát minh khoa học, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước mà không lệ thuộc vào công nghệ nước ngoài
Từ thực tiễn vận động của cách mạng Việt Nam, khởi đầu bằng sự kiện thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, đến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và xây dựng Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân, đến thắng lợi oanh liệt của hai cuộc kháng chiến chống đế quốc là minh chứng cho tầm quan trọng của việc trọng dụng hiền tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở thành bài học vô giá cho chúng ta trong giai đoạn đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Người hằng mong mỏi
Có thể thấy, quan niệm và thực tiễn trọng dụng hiền tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là bài học nóng bỏng trong mọi giai đoạn cách mạng Nếu chúng ta không kịp thời nhận thức đầy đủ vai trò của người hiền tài và có cách thức sử dụng nhân tài hợp lý nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân vào công cuộc xây dựng CNXH, thì sẽ trở thành nguy cơ đối với chế độ và đất nước Sử dụng nhân tài một cách hiệu quả là việc hàng đầu, nhưng bồi dưỡng nhân tài trở thành chiến lược phát triển của đất nước còn quan trọng hơn, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có một tầm nhìn dài hạn, thể hiện trong chủ trương, biện pháp thiết thực, phù hợp, khích
Trang 22lệ được tinh thần chủ động tự giác tham gia của nhân dân vào công việc chung, thu hút được nhiều hiền tài đóng góp sáng kiến cho đất nước Khi ấy mới thật sự thực hành triết lý đạt đến chiều sâu nhân văn “Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ghi chú:
(1) Luận ngữ, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, Nxb Văn học, HN, 1995, tr.207 (2) Đại việt sử ký toàn thư, t.2, tr.387
Trang 23XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG VỤ
Ở THỪA THIÊN-HUẾ
ThS LA ĐÌNH MÃO
Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên-Huế
gày nay việc ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất lao động tăng nhanh Nhưng khoa học và công nghệ có sức mạnh thế nào cũng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người Như vậy, nguồn nhân lực vẫn đóng một vai trò quyết định vào quá trình sản xuất, tăng trưởng
và phát triển kinh tế, xã hội mà đặc biệt là nguồn nhân lực trong nền công vụ
N
Nhận thức được tầm quan trọng này, tỉnh Thừa Thiên-Huế coi vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cho nền công vụ là một nhân tố quyết định thúc đẩy sự đổi mới bộ máy nhà nước, là động lực chủ yếu của sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội Qua hơn 20 năm đổi mới, tỉnh Thừa Thiên-Huế có đội ngũ nhân lực công vụ không ngừng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, kiến thức và năng lực thực tiễn được nâng lên
Nói đến nguồn nhân lực là nói đến nguồn nhân lực lãnh đạo và nguồn nhân lực làm chuyên môn Do đó kế hoạch đào tạo phải đáp ứng đầy đủ cả hai nguồn lực này
Kế hoạch đào tạo phải được xây dựng trên cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật hiện có
và khả năng sẽ có trong tương lai Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải góp phần quan trọng trong việc nâng cao mặt bằng chung về trình độ và năng lực của đội ngũ CBCC; từng bước tiêu chuẩn hoá ngạch, bậc theo quy định của Nhà nước
Trong những năm qua tỉnh Thừa Thiên - Huế đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về
lý luận chính trị được 5.534 lượt người; quản lý nhà nước 3.287 lượt người; chuyên môn, nghiệp vụ 3.826 lượt người; tin học 2.555 lượt người; ngoại ngữ hơn 1.500 lượt người Hàng năm đã cử đi đào tạo thạc sỹ trong nước và nước ngoài ở các lĩnh vực quản lý hành chính công, kinh tế và một số ngành còn thiếu cán bộ
Ngoài việc cử CBCC đi đào tạo tập trung, chính quy, tỉnh đã kết hợp nhiều loại hình đào tạo nhằm chuẩn hoá chức danh CBCC theo quy định Quan tâm cử CBCC đi đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, học tập, tham quan ở nước ngoài, đồng thời có kế hoạch mời chuyên gia về giảng dạy tại tỉnh Tổ chức các lớp chuyên đề, các hoạt động tham quan, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm tạo điều kiện cho CBCC nắm bắt kịp thời những nhiệm vụ trọng tâm của từng thời kỳ và tăng cường năng lực thực tiễn
Trang 24Song song với việc mở rộng các hình thức đào tạo tập trung, tỉnh đầu tư mở một số lớp đặc biệt, chất lượng cao Số lớp này không nhiều nhưng thực sự có chất lượng Người học được lựa chọn kỹ, học cơ bản, hệ thống; đào tạo có mục tiêu, địa chỉ rõ ràng Công tác bồi dưỡng tập trung vào việc bổ trợ các kiến thức về ngoại ngữ, tin học, quản lý nhà nước, bồi dưỡng chuyên đề các chính sách của Đảng và Nhà nước CBCC sau khi được đào tạo nhận thức chính trị vững vàng hơn, hiệu quả công tác được nâng lên rất rõ CBCC được đề bạt, bổ nhiệm hầu hết phát huy tốt chức trách của mình trên cương vị mới.
Hiện nay, đội ngũ CBCC, viên chức toàn tỉnh có 23.673 người Trong đó có 2.152 người làm nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước chiếm 9,09%; 21.521 người
ở các đơn vị sự nghiệp chiếm 90,9% Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: trên đại học 2,90%; đại học và cao đẳng 81,11%; trung cấp 13,41%; các hình thức khác còn lại 2,58%; quản lý nhà nước 16,72%; tin học 54,19%, trong đó đại học và trên đại học 4,45%; ngoại ngữ 30,54%, trong đó đại học 4,15%
Đội ngũ CBCC quản lý hành chính nhà nước có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đại học và trên đại học chiếm 83,71%; cao đẳng, trung cấp 11,73%; lý luận chính trị 28,10%, trong đó cử nhân và cao cấp chính trị 11,42%; đã qua bồi dưỡng quản lý nhà nước 59,97% Về tuổi đời, dưới 30 tuổi chiếm 22,63%; từ 30 tuổi đến 50 tuổi 69,77%
Đội ngũ cán bộ, viên chức các đơn vị sự nghiệp có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đại học và trên đại học 42,28%; cao đẳng, trung cấp 48,56%; lý luận chính trị 5,3%, trong đó cử nhân và cao cấp chính trị 0,56%; đã qua bồi dưỡng quản lý nhà nước 12,4% Về tuổi đời, dưới 30 tuổi 27,26%; từ 30 tuổi đến 50 tuổi 62,20%
Như vậy, đa số CBCC làm công tác quản lý hành chính nhà nước đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Vấn đề đáng quan tâm là sự thiếu hụt về lý luận chính trị và trình độ tin học; thiếu đồng bộ về một số ngành và lĩnh vực, nhất là cán bộ đầu đàn trong lĩnh vực du lịch Phần đông cán bộ trẻ có kiến thức, có trình độ học vấn, năng động và mạnh dạn nhưng thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý điều hành, chưa được chuẩn bị chu đáo
Kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn về kinh tế thị trường, về quản lý nhà nước, quản lý đô thị của một số CBCC chậm được đào tạo mới, đào tạo lại Đã có hiện tượng “chảy máu chất xám” do một số CBCC sau khi được cho đi đào tạo sau đại học
đã bỏ cơ quan nhà nước để làm việc cho các đơn vị liên doanh, tổ chức nước ngoài hoặc đến những đơn vị có chế độ ưu đãi và thu nhập cao hơn
Một số CBCC trình độ và năng lực quản lý điều hành chưa ngang tầm với nhiệm vụ, thiếu chủ động sáng tạo; việc vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của từng địa phương chưa linh hoạt, nhiều nơi còn sao chép một cách máy móc Không ít CBCC chưa nắm vững chức năng,
Trang 25nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, không nắm vững các quy định của pháp luật, vì vậy quá trình chỉ đạo điều hành, giải quyết công việc còn mang tính chủ quan, tuỳ tiện dẫn đến vi phạm.
Một số CBCC năng lực thực hiện nhiệm vụ chuyên môn còn thấp, chưa có tính chuyên nghiệp, phần lớp thiếu khả năng độc lập, quyết đoán trong giải quyết công việc, thụ động trong thực thi công vụ; thiếu khả năng bao quát tình hình, đồng thời chậm thích ứng với nhiệm vụ mới Chưa có khả năng tư duy, dự báo, xây dựng chương trình kế hoạch, thiếu khả năng nghiên cứu, tổng hợp tình hình, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; tinh thần hợp tác, phối hợp công việc còn nhiều hạn chế, nên hiệu quả công tác không cao
Nguyên nhân của những vấn đề nêu trên là do công tác quản lý CBCC ở cơ sở chưa tốt, chậm được đổi mới Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa được coi trọng đúng mức, chưa thực hiện một cách đồng bộ và khoa học Do đó không chủ động được nguồn lực cho việc bố trí thay thế, thiếu nguồn bổ sung, làm cho lực lượng CBCC bị hẫng hụt
Việc kiểm tra, đánh giá về công tác CBCC, công tác quy hoạch đào tạo của các cấp uỷ, chính quyền các cấp không thường xuyên, chưa có biện pháp khắc phục những yếu kém một cách có hiệu quả Nhiều nơi còn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ; chính sách đãi ngộ, khen thưởng đối với CBCC cơ sở chưa thoả đáng, chưa tạo động lực, thu hút được đội ngũ cán bộ về công tác ở cơ sở
Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC của địa phương chưa đồng bộ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu Nội dung đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu cân đối giữa việc trang bị trình độ lý luận chính trị với kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ; một số lĩnh vực chưa sâu, còn nhiều lý thuyết, ít kiến thức thực tiễn Đào tạo chưa gắn liền với quy hoạch Đào tạo và sử dụng chưa phối hợp chặt chẽ Đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự đồng bộ với yêu cầu chuẩn hoá đội ngu CBCC
Để phát triển nguồn nhân lực công vụ đến năm 2015, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã xác định và coi đây là nhiệm vụ đột phá với mục tiêu phát triển đội ngũ CBCC theo hướng chuẩn hoa,á có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ Hàng năm lựa chọn từ 25-30 CBCC trong diện quy hoạch để đào tạo sau đại học ở nước ngoài theo các ngành mũi nhọn của tỉnh Ngoài ra, tỉnh đang xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, giỏi ở các ngành đang còn thiếu hụt
Đội ngũ CBCC hành chính và viên chức sự nghiệp các cấp phải đạt yêu cầu tiêu chuẩn theo chức danh ngạch bậc quy định, chú ý đến đội ngũ CBCC quản lý hành chính Viên chức ngành Giáo dục phải có trình độ trung cấp lý luận chính trị đạt từ 25% đến 30% Đối với CBCC ngạch chuyên viên và chuyên viên chính trong độ tuổi phải được đào