Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị, Savănnakhệt,Xalavăn sẽ làm hết sứ[r]
Trang 1Chuyên đề 3 VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAY XỎN PHÔMVIHẢN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫumực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữahai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch HồChí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản,đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dânhai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ĐôngDương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam: Chủ tịch
-Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào –Việt Nam
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêunước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tựmình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiệnchân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lêninvào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dântộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản
Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quantâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung
mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (1) Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn ÁiQuốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đếntháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động củaHội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điềukiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào,vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữaViệt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lậpHội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đấtLào Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trựctiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn ÁiQuốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thựcđịa tại Lào (2) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng ViệtNam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiênđược thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ởLào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dươngcủa Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chínhtrị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nướcĐông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt
Trang 2Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới củacách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào.
Ngày 3 -2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sánglập đã ra đời - tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầu nhữngtrang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, BanChấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập
Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêunước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạo củaĐảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triển mớitrong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam
Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sảnĐông Dương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộĐảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường sự quan hệ mậtthiết, nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấutranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳngđịnh: quá trình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức chocách mạng Việt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong chocách mạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụNguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp ngườicộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay làngười Campuchia Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt ViệtNam-Lào, Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoànkết đặc biệt đó
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch HồChí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàngthân Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trongviệc chọn lựa con đường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc mít tinh củahàng vạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở vềtham gia chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở
ra một kỷ nguyên mới ” Hình ảnh, uy tín, quyết tâm làm cách mạng, cứunước và những lời nói tốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào - Việt đã tác độnglớn lao đến sự hưởng ứng, tham gia cách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào,càng tạo thêm chất keo gắn kết tình cảm của nhân dân Lào với Việt kiều cũng nhưvới Việt Nam Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) vừa được thành lập cũng đã chủtrương: “Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhândân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương” (3) Thủ tướngKhăm Mạo tuyên bố với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt taynhau để kiến thiết quốc gia” (4) Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợLào – Việt (4) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt (5), đặt cơ sở pháp lýđầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của haidân tộc Việt - Lào
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Làohơn lúc nào hết, chỉ mong muốn được sống trong hòa bình, tiếp tục hợp tác, cùng
Trang 3nhau bảo vệ nền độc lập và xây dựng lại đất nước nhưng ngày 23 tháng 9 năm
1945, thực dân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ súng đánh chiếm thànhphố Sài Gòn Tiếp đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam Trung Bộcủa Việt Nam, sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương
Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam– Lào - Campuchia, ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnĐông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóngdân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt-Miên- Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường công tác vũtrang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trậnkháng Pháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê,đặng bao vây lại quân Pháp ở nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đấtLào” (6)
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn coi nhiệm vụ giúp cách mạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợpchiến đấu, đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảoĐông Dương Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả của Đảng Lao động ViệtNam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậuphương sẵn sàng chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiềungười con yêu dấu của mình sang phối hợp cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh dukích, phát triển lực lượng kháng chiến
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoàhợp dân tộc, thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1năm 1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vàBan Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Sở dĩ cáchmạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranhanh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo củaĐảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí vàTrung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôitrong mỗi giai đoạn của cách mạng”.(7)
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượngcách mạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiếnđấu giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chânthành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồngchí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào vàĐảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Namcho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất vàxương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đấtnước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xâydựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩaMác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”(8)
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình
tự giúp mình”, coi nhân dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng củabạn là trách nhiệm của mình, trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệcán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làm nhiệm vụ
Trang 4quốc tế ở Lào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch cànquét lấn chiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyềnkháng chiến, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang,phát triển chiến tranh du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào.Đồng thời, thực tiễn chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào cũng là cơ hộibồi dưỡng, rèn luyện rất bổ ích về các mặt quân sự, chính trị, nhất là nâng caothêm tinh thần đoàn kết quốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũchuyên gia Việt Nam.
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từliên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia
có độc lập chủ quyền Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũbão, đẩy nhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội Do đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và Lào đều có
cơ hội và điều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thànhtựu khoa học công nghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xâydựng đất nước…
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dânLào, Lào và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rúttoàn bộ quân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạchđịnh biên giới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọn phảnđộng trong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt độngnổi dậy ở nhiều nơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quantâm hàng đầu về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực củaViệt Nam Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Làotrong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối vớiLào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân ViệtNam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểucao cấp Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướngPhạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi
ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như cácvấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ vànhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còncủa hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xãhội Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệpước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòaDân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và raTuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiếnlược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cườnglâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệpước có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu
Trang 5một trong hai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất làmột năm trước khi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ vàphát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừngtăng cường tình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫnnhau về mọi mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắchoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau,tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữahai nước Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinhthần quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xãhội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực.
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp củaviệc giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủnghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực
về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986,lãnh đạo cấp cao hai Đảnghai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào,Lào - Việt Nam
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị:
“Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàndiện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lầnnày[1][11], các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạncần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt cáchiện tượng tiêu cực, các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phươnghại cho quan hệ đặc biệt giữa ta với Lào”[2][12] Về phía Lào, Ban Bí thư Trungương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thốnglịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cườngliên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchiamới trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịchcủa mỗi nước, là vấn đề sống còn của mỗi nước”[3][13] Đặc biệt, Chỉ thị của Ban
Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào ghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cườnggiáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn vàlâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong giaiđoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh nhữngbảo thủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm,chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi”[4][14]
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị
đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước.Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trongquan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam doTổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây làchuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt
Trang 6Nam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất vớinhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hainước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của quan
hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên địnhgiữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhândân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Làothăm chính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một tăngcường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữahai nước nhằm phối hợp các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trungương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệgiữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩađều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu vớinội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biênsoạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930– 2007 nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam– Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếptục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lênmột tầm cao mới
Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn PhúTrọng đã thăm hữu nghị chính thức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mongmuốn và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong việc gìn giữ,phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sản chung vô giá của haidân tộc Cũng trong năm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốc hội
và đại biểu Quốc hội của hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt độnggiao lưu giữa các cơ quan của hai Quốc hội như: Hội thảo giao lưu giữa Ủy banĐối ngoại Quốc hội Việt Nam - Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng 6/2011; Hộithảo giữa ba Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam - Lào - Campuchia tạiChămpaxắc (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòng Quốc hộiViệt Nam - Lào tại Savẳnnakhệt (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủy banVăn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của hai Quốc hội tháng2/2011 tại Lào, qua đó tăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diệngiữa hai Quốc hội nói riêng, hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam -Lào nói chung
Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummalyxaynhasỏn dẫn đầu Ðoàn đại biểu cấp cao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục gópphần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ truyền thống, hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kếtđặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hainước Lào - Việt Nam phát triển lên tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nướcLào - Việt Nam, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thếgiới Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
Trang 7"Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
Việt - Lào, hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long"
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: "Trong lịch sửcách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản,nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặcbiệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam"; "Núi có thể mòn, sông cóthể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòabình” với nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đòan kết hữu nghị đặc biệtViệt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nướcViệt Nam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan hệ hữu nghịhợp tác toàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗinước, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhândân tỉnh Quảng Trị cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị,Savănnakhệt,Xalavăn sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nộidung, cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động thúc đẩy quan hệ hữunghị hợp tác toàn diện lên tầm cao mới, trở thành mối quan hệ quốc tế mẫu mực,thuỷ chung trong sáng này ngày càng phát triển bền vững, trước mắt, thực hiện cácnội dung chương trình hợp tác mà lãnh đạo cao cấp 3 tỉnh đã ký kết hàng năm, gópphần cùng với hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam- Lào bảo vệ vànâng quan hệ đặc biệt lên tầm cao mới
NGƯỜI DỰ THI
Chuyên đề 4 NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã ghi vào lịch sử dân tộc của hai nướcnhững trang chói ngời nhất về tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung, lâudài và toàn diện, trở thành một trong những nhân tố bảo đảm phát triển của cáchmạng mỗi nước trên con đường phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành Đảng cộng sản Việt Namvào tháng 2-1930 và sau đó đổi tên thành Đảng cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930), mối quan hệ truyền thống, lâu đời của hai dân tộc được nâng lên thành quan
hệ đặc biệt, không ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước vunđắp và đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng
1 Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởinghĩa tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc
Trang 8Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng cộngsản Đông Dương đã đưa ra những luận điểm và chủ trương quan trọng chuẩn bịcho công cuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt Nam, Lào,Miên Do điều kiện cụ thể khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nướcViệt Nam, Lào tiến hành khởi nghĩa giành được độc lập.
Từ cuối năm 1939 đến tháng 8-1945, tuy cách mạng Việt Nam và cáchmạng Lào bị chính quyền thực dân Pháp, Nhật đàn áp, khủng bố rất khốc liệt,nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và đảng viên bị cầm tù và hy sinh, nhưng dưới sựlãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương, công tác chuẩn
bị về mọi mặt cho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vẫn được cán bộ, đảngviên, nhân dân hai nước tham gia tích cực và xúc tiến mạnh mẽ
Tại Việt Nam, căn cứ địa Việt Bắc, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chứcquần chúng do Đảng lãnh đạo được thành lập; nhiều đơn vị vũ trang như Cứu quốcquân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lần lượt ra đời Sau ngày Nhật đảochính Pháp (9-3-1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương
ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhiều tỉnh thành lậpchiến khu, khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương miền Bắc và miền Trung nổ
ra thắng lợi
Ở Lào, đầu năm 1945, Xứ ủy Lào được lập lại lần thứ tư và xác định các đôthị và địa phương lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹc, Savẳnnakhệt là địa bàn hoạtđộng chính Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, phong trào cứu nước càng phát triểnmạnh mẽ Tổ chức Lào Itxalạ (Lào tự do) bao gồm công chức, học sinh có tinhthần yêu nước, chịu ảnh hưởng đường lối cứu nước Đảng cộng sản Đông Dương
ra đời, nhiều căn cứ địa cách mạng xuất hiện Tháng 6-1945, đơn vị Việt Nam Độclập quân được thành lập ở chiến khu trên đất Thái Lan
Trung tuần tháng 8-1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện,lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dươngquyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (TuyênQuang vào ngày 14 và 15-8-1945) Nghị quyết hội nghị nêu rõ: “Những điều kiệnkhởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi, cơ hội cho ta giành quyền độc lập đãtới”1 Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Ngườidặn: thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phảigiành được chính quyền khi Đồng minh vào Pháp và Đồng minh Anh, Mỹ gắn bóvới nhau Pháp sẽ núp sau lưng Đồng minh để trở lại xâm lược Việt Nam, Lào,Miên, chúng ta phải đoàn kết để đánh kẻ thù chung
Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành côngtháng 8-1945
Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ pháttriển rực rỡ trong giai đoạn sau
2 Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược,hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Trang 9Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phóngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược.
Sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam đứng trước những thử thách hết sứcnghiêm trọng Song Chủ tịch tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực thi chính sách đối nội, đối ngoạiđúng đắn, đưa cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ thành quả cách mạng thángTám, bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối vớicách mạng Lào
Một là, ngay từ khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiếntrường Việt Nam, Lào đã bị các thế lực đế quốc vây hãm trên trên biển Đông vàlục địa, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ “phải liênminh với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận đểcủng cố công cuộc cách mạng của mình” Trên tinh thần đó, Chủ tịch Hồ ChíMinh và Chính phủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan ngoại giao mở một con đườngngoại giao ở hướng tây nam từ Việt Nam qua Lào tới Thái Lan từ giữa năm 1946đến năm 1951 Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của quốc gia Miến Điện (sau khiMiến Điện tuyên bố độc lập từ năm 1948) Chiến khu cách mạng của Lào được
mở tại Thái Lan, cán bộ và Việt kiều yêu nước trú chân tại Miến Điện để chuẩn bịlực lượng, gây dựng khu kháng chiến tại Lào
Các hoạt động ngoại giao trong những năm đầu kháng chiến chống thực dânPháp đã hỗ trợ nhiều mặt cho cuộc kháng chiến của hai dân tộc Việt Nam, Lào vàươm mầm cho sự phát triển của phong trào ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộccủa Việt Nam, Lào ở những chặng đường tiếp theo
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu tiên của quan hệ Việt Nam Lào
-Ngay từ khi Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ra đời và Đảng cộng sảnĐông Dương được thành lập, công tác xây dựng các tổ chức quần chúng cáchmạng và chi bộ Đảng tại Lào đã được tiến hành với sự tham gia của người Lào vàngười Việt, góp phần làm nên cách mạng tháng Tám Khi hai nước phải đứng lênkháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, việc xây dựng đội ngũ cán bộlãnh đạo chủ chốt đầu tiên cho nhiệm vụ tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào, Lào
- Việt Nam trở nên cấp bách Phía Việt Nam, Đảng, Nhà nước và quân đội vừa sửdụng những cán bộ, đảng viên cộng sản từng hoạt động tại Lào, Thái Lan, vừa tiếptục điều động nhiều cán bộ chính trị, quân sự bổ sung cho đội ngũ này Đồng thời,trong phong trào cách mạng của dân tộc Lào cũng xuất hiện nhiều cán bộ lãnh đạoxuất sắc, chủ chốt đầu tiên mà tiêu biểu là đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Hoàngthân Xuphanuvông và một đội ngũ cán bộ tiếp nối giàu tài năng, đạo đức cáchmạng
Ba là, gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặtquan hệ đoàn kết Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Đây là một nhiệm vụ cơ bản, rất quan trọng của cuộc chiến tranh cách mạnggiải phóng dân tộc Lào và cũng là một nhiệm vụ trọng yếu của quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào mà phía Việt Nam tự nguyện góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tếcao cả đó
Trang 10Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, Việt Nam tận tình giúpLào đào tạo cán bộ, truyền bá kinh nghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xâydựng cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi đểhình thành các khu kháng chiến, từng bước đưa phong trào cách mạng Lào pháttriển.
Bốn là, xây dựng tại mỗi nước Việt Nam, Lào, Miên một đảng Mácxít-Lêninnít và thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào để nâng cao sức mạnhquan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quan hệ đoàn kết Việt - Miên -Lào
Đến năm 1951, Đảng cộng sản Đông Dương đã trải qua 21 năm xây dựng
và phát triển, lãnh đạo nhân dân Đông Dương đấu tranh chống chế độ thuộc địacủa đế quốc Pháp, phát xít Nhật, tiến hành khởi nghĩa giành độc lập cho hai dântộc Việt Nam, Lào và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đánh chiếmĐông Dương lần thứ hai, làm thất bại nhiều kế hoạch xâm lược của chúng Đếnthời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng thấyrằng việc xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia một đảng Mácxít -Lêninnít trên cơ sở kế thừa bản chất và năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sảnĐông Dương đã có đủ điều kiện thực hiện
Tại Đại hội II của Đảng cộng sản Đông Dương tháng 2-1951, Chủ tịch HồChí Minh đề nghị thành lập tại mỗi nước Đông Dương một Đảng cộng sản Ý kiếnnày đã được đại biểu Đảng bộ Lào và đại biểu Đảng bộ Cămpuchia hết sức tánthành
Theo tinh thần đó, sau quá trình chuẩn bị với sự giúp đỡ của Việt Nam,tháng 4-1955, diễn ra Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào Đây là Đảng Mácxít-Lêninnít kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương, phấn đấu
vì nền độc lập và phồn vinh của nước Lào, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Lào,
là thành quả chính trị của quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, mộtnhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của mối quan hệ đó Từ đây,trên bán đảo Đông Dương, mỗi dân tộc có một Đảng Mácxít - Lêninnít đảm đươngvai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và thực hiện nghĩa vụ quốc
tế đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản, côngnhân quốc tế
Sau Đại hội II Đảng cộng sản Đông Dương, hội nghị thành lập Mặt trận liênminh Việt - Miên - Lào cũng diễn ra tại Việt Bắc vào tháng 3-1951, càng củng cốthêm mối quan hệ Việt Nam - Lào, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cáchmạng của ba nước
Năm là, Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực giúp nhau trong chiến đấu, lậpnhiều chiến công
Lãnh đạo nhân dân ba nước Đông Dương chống Pháp, Trung ương Đảngcộng sản Đông Dương đã quyết định: “Về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao
là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung” Chủ trương đó tạo cơ
sở cho khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc càng thêm củng cố vàtăng cường trên cùng một trận tuyến chống kẻ thù chung, thực hiện những mụctiêu chiến lược và kế hoạch tác chiến trên các chiến trường Đông Dương Theo đó,
Trang 11liên minh chiến đấu Việt - Lào xuất hiện giữa các đơn vị vũ trang hai nước; cácmặt trận phối hợp giữa các địa phương Việt Nam, Lào như Liên khu 10 vớiThượng Lào, Liên khu 4 với Trung Lào, Liên khu 5 với Hạ Lào, tiến tới quy môphối hợp lớn hơn về mặt chiến lược, về tổ chức chiến trường, bố trí lực lượng tácchiến và sử dụng các phương pháp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận buộc địchphải bị động đối phó Còn ta thì giành quyền chủ động chiến lược.
Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5-1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào
mở chiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi lớn: giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa,một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào.Đối với Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch,phá tan âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ củaPháp
Tiếp đó, từ tháng 12-1953 đến tháng 5-1954, liên quân chiến đấu Việt Nam
- Lào mở chiến dịch Trung - Hạ Lào Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phảitiếp tục phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủlực của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính ĐiệnBiên Phủ
Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ,quân và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lượccủa địch cho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợicho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến công địch, giành thắng lợi hoàntoàn
Trong các chiến dịch này, có sự tham gia chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh quânđội hai nước và nhiều tướng lĩnh cấp cao, tập hợp nhiều đơn vị quân đội ViệtNam, Lào cùng tham gia chiến đấu; được hậu phương hai nước cung cấp khốilượng lớn lương thực, thực phẩm Đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết, ý chíquyết chiến, quyết thắng của quân và dân hai nước, đánh bại hoàn toàn thực dânPháp, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:
21 năm chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã trở thành giá trị thiêng liêng của haidân tộc Hoạt động phối hợp �
NGƯỜI DỰ THI
Trang 12Chuyên đề 6 MỘT SỐ BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ, THỦY CHUNG SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA
Từ khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập năm 1955,dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ và biểu hiện hết sức sinh động trên tất cảcác lĩnh vực, không ngừng nâng cao theo sự phát triển của phong trào cách mạngcủa hai nước Trong những lúc cam go, gian khổ nhất, cán bộ, đảng viên, quân vàdân hai dân tộc vẫn sát cánh bên nhau với nghĩa tình “hạt muối cắn đôi, cọng raubẻ nửa”, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự docủa mỗi nước Trong giai đoạn hoà bình với nhiều điều kiện thuận lợi, hai dân tộccũng không ngừng vun đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt để cùngnhau tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Bài viết này xin nêu một số biểu hiện sinh động của mối quan hệ hiếm cónày
1 Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc ViệtNam - Lào đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ xâmlược
Sau Hiệp định Giơnevơ, theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào,Đảng và Nhà nước Việt Nam quyết định để lại một bộ phận chuyên gia tiếp tụcgiúp đỡ cách mạng Lào Tổng số chuyên gia gồm 964 đồng chí Đây là lực lượngrất quan trọng đối với cách mạng Lào sau ngày đình chiến
Thực hiện đề án đấu tranh ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ (là căn cứ tậpkết của lực lượng cách mạng Lào), được sự chỉ đạo phối hợp của Ban cán sự miềnTây, chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp đỡ bạn xây dựng hai tỉnh thành các khuchiến đấu liên hoàn, đáp ứng tình hình thực tế của từng địa bàn, khả năng tổ chức,quản lý của cán bộ Lào, đồng thời đề phòng chiến sự lan rộng Trong trường hợp
bị chia cắt, từng khu có thể đảm bảo độc lập tác chiến; đồng thời giúp bạn triểnkhai các mặt công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố cơ sở ở các địa phương tạođịa bàn vững chắc, ngăn chặn địch tấn công Nhờ đó, lực lượng Pathết Lào khôngchỉ đẩy lùi các đợt tấn công lấn chiếm của quân đội Vương quốc Lào, mà còn mởtrận đánh lớn thu thắng lợi, diệt được nhiều địch và mở rộng vùng giải phóng, làmnức lòng nhân dân hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ
Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất, Việt Nam đã nhậnđào tạo 330 cán bộ của Pa Thết Lào, nhằm chuẩn bị lực lượng cho phong trào cáchmạng cả nước Bức thư của Ban chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi Ban chấp hànhTrung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã khẳng định:
“Trong kháng chiến cũng như trong đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất đấtnước, cách mạng Lào luôn được sự giúp đỡ tận tình của cách mạng Việt Nam,Đảng Lao động Việt Nam Sỡ dĩ cách mạng Lào giành được thắng lợi to lớnđó cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”
Trang 13Mặc dù Chính phủ liên hiệp với mục tiêu đem lại hòa bình cho nước Lào đãđược thành lập nhưng đế quốc Mỹ và tay sai vẫn ra sức thi hành chính sách khủng
bố đối với cán bộ cách mạng và những người có tư tưởng hòa bình, tiến bộ Nhiềucán bộ và thường dân Lào ở các tỉnh biên giới chạy sang Việt Nam lánh nạn Đểtạo điều kiện giúp cách mạng Lào, ngày 13-12-1958, Ban chấp hành Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam đã ra Chỉ thị 120-CT/TW, nêu rõ: Hết lòng giúp đỡ cho
số cán bộ và thường dân Lào vì tránh khủng bố mà chạy sang biên giới ta về mọimặt tinh thần, vật chất theo khả năng của ta Nhận thức rõ nhiệm vụ quan trọngnày, tại Quảng Trị, khi Tỉnh ủy Savẳnnakhệt phải sang đóng ở A Vao (HướngHoá), bạn được Tỉnh ủy Quảng Trị, nhân dân các dân tộc Hướng Hoá bảo vệ, cungcấp lương thực, thực phẩm suốt trong thời gian lực lượng Pathet Lào bị bọn phảnđộng Phu Mi và Cà Tày (thân Mỹ) trở mặt phá bỏ Hiệp định Giơnevơ, truy lùng,khủng bố Quảng Trị đã trở thành căn cứ địa, hậu phương vững chắc của tỉnh bạn
Ở Thái Nguyên, trong lúc tình hình kinh tế còn rất nhiều khó khăn, nhưng cán bộ,học sinh Lào ở đây vẫn được cung cấp đủ tiêu chuẩn phụ cấp Những việc làm tìnhnghĩa này càng làm cho quan hệ vừa là đồng chí vừa là anh em giữa hai Đảng, haidân tộc thêm keo sơn, gắn bó
Về quân sự, Việt Nam không chỉ sát cánh bên bạn trong thời kỳ đầu củng
cố, phát triển lực lượng, xây dựng hậu cứ, cung cấp vũ khí, quân trang mà cònphối hợp với bộ đội PaThết Lào đánh địch giành thắng lợi oanh liệt Từ ngày 18- 8đến 15-9-1959, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với các đơn vịPaThết Lào mở đợt hai hoạt động trong mùa mưa Trong đợt hoạt động này, quántriệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, một
số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam (chủ yếu là lực lượng quân khu 4 tác chiến ởcác tỉnh Xiêng Khoảng, Liên huyện 90 và Khăm Muộn) đã vận dụng nhiều hìnhthức tác chiến linh hoạt như phục kích, tập kích, bao vây, bắn tỉa, địch vận, pháhoại cầu đường, đốt kho tàng địch, đánh cứ điểm bằng đặc công kết hợp hoảlực Đi đôi với tác chiến, các đơn vị tình nguyện Việt Nam đã tích cực giúp Làocủng cố cơ sở, phát động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tham gia các lực lượngdân quân tự vệ chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng Các đơn vị tình nguyệnphối hợp chặt chẽ với lực lượng PaThết Lào và nhân dân địa phương đánh 40 trận,giải phóng thêm 13 điểm Sau đợt hoạt động này, các tiểu đoàn 1, 2, 4 PaThết Làođược lệnh rút ra hoạt động ở biên giới Việt - Lào, sau đó sang tập trung ở huyệnYên Lập (Phú Thọ) để chấn chỉnh lực lượng Theo yêu cầu của Trung ương NeoLào Hắc Xạt, Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp xây dựng tiểu đoàn 1 và 2 PaThếtLào thành hai tiểu đoàn chủ lực mạnh, quân số mỗi tiểu đoàn từ 650 đến 700 chiếnsĩ; đồng thời bổ sung vũ khí, trang bị và cử các tổ chuyên gia giúp hai tiểu đoàn vềquân sự, chính trị và chuyên môn kỹ thuật
Khi cuộc kháng chiến của hai dân tộc ngày càng phát triển, các trận đánhphối hợp giữa quân tình nguyện Việt Nam với bộ đội PaThết Lào ngày càng cóquy mô lớn hơn, nhịp nhàng và chặt chẽ hơn Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ III (1960), Việt Nam đã chi viện pháo binh cho PaThết Lào,đồng thời tăng cường hoạt động uy hiếp Thà Khẹc, giúp bạn bảo vệ thủ đô ViêngChăn trước sự tấn công của địch Cuối năm 1960, quân tình nguyện Việt Nam phốihợp với bạn giải phóng Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, nối liền với Sầm Nưa,
Trang 14tạo căn cứ địa vững chắc để Chính phủ hợp pháp của Hoàng thân Xuvănna Phumađặt trụ sở chính thức ở Khăng Khay (Xiêng Khoảng).
Trên cơ sở thoả thuận giữa hai Đảng, ngày 9-1-1961, Quân ủy Trung ương
và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế củachuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam đối với cách mạng Lào trong 5 năm1961-1965 là: Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng Lào về chuyên gia quân
sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển lực lượng vũtrang của bạn; khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợpchiến đấu với bộ đội bạn
Trung ương Đảng hai nước cũng xác định: Lực lượng PaThết Lào cần phốihợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, kiên quyết đập tan các hoạt độngphiêu lưu quân sự của địch, giữ vững vùng giải phóng và các cơ quan đầu não củaTrung ương Đảng Lào trong mọi tình huống
Căn cứ nhiệm vụ trên, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Namquyết định biên chế thời chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ đoàn 335 và Trung đoàn 148 thuộc Quân khuTây Bắc, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào
Trên tinh thần đó, các trận đánh phối hợp giữa hai bên ngày càng đạt hiệuquả cao, thu thắng lợi giòn giã trên các chiến trường như cuộc tiến công giảiphóng đường 8, giải phóng huyện Xê Pôn (Savẳnnakhệt), đẩy lùi các đợt tấn côngcủa địch vào Xiêng Khoảng Tiêu biểu là chiến dịch Nặm Thà năm 1962, do Bộ tưlệnh chiến dịch Nặm Thà trực tiếp chỉ huy với sự tham gia của các tướng lĩnh ViệtNam - Lào Chiến dịch Nặm Thà đã làm xoay chuyển tình thế có lợi cho cáchmạng Lào, có ý nghĩa quan trọng về quân sự và chính trị Liên quân Lào - Việtkhông chỉ tiêu diệt được một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của địch vừa mới xâydựng, mà còn giáng đòn mạnh về chính trị, đánh vào âm mưu của Mỹ và chínhquyền tay sai Phumi Nôxavẳn, làm cho tinh thần đội quân đánh thuê thêm hoangmang, dao động Uy tín của Neo Lào Hắc Xạt, quân đội PaThết Lào được nângcao, khu giải phóng mở rộng thành căn cứ liên hoàn đến tận biên giới Trung Quốc
Sau Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962, thực hiện cam kết của mình,Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định rút toàn bộ quân tình nguyệnViệt Nam và đại bộ phận chuyên gia quân sự về nước Thời gian này, Chính phủliên hiệp Lào đã lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tuy vậy, Hoàng thânXuvanuvông vẫn khẳng định: Người bạn cùng sống chết, chung một chiến hào với
ta chỉ có Việt Nam
Năm 1963, tình hình cách mạng Lào gặp khó khăn do đế quốc Mỹ và chínhquyền tay sai lật lọng âm mưu xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ Trước yêu cầu của bạn,Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam lại cử chuyên gia và quân tình nguyệnsang giúp đỡ Điều đáng trân trọng, biểu hiện tình cảm thủy chung giữa quân vàdân hai nước là đoàn chuyên gia Việt Nam phần lớn là các đồng chí đã từng hoạtđộng, chiến đấu trên đất bạn thời gian trước
Cuối năm 1964, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở “cuộc vậnđộng thu phục phỉ” nhằm ổn định vùng giải phóng Việt Nam đã giúp Lào các sảnphẩm thiết yếu như muối, vải, quần áo, thuốc men; đồng thời tại Lào, các đơn vị
Trang 15tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã sát cánh cùng quân, dân Lào triển khai cóhiệu quả cuộc vận động trên Nhiều ổ phỉ lâu đời bị giải tán, tạo sự ổn định mọimặt cho các vùng giải phóng.
Từ năm 1965, liên minh chiến đấu Việt - Lào sát cánh bên nhau đánh bạichiến lược “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam ViệtNam và chiến lược “chiến tranh đặc biệt” tăng cường của đế quốc Mỹ tại Lào
Trước tình hình đế quốc Mỹ đánh phá vùng giải phóng Lào quyết liệt, đồngthời mở các chiến dịch ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh; dưới sự lãnhđạo của hai Đảng, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào không quảngian khổ, hy sinh chiến đấu anh dũng, kiên cường cùng quân, dân Lào bảo vệ vùnggiải phóng, tuyến hành lang chiến lược và mở các chiến dịch tấn công địch giànhthắng lợi to lớn Có những cuộc chiến đấu diễn ra gay go, ác liệt, lực lượng tuymỏng nhưng quân tình nguyện Việt Nam vẫn đặt lên trên hết nhiệm vụ bảo vệnhân dân các bộ tộc Lào Năm 1969, quân tình nguyện Việt Nam cùng Pa ThếtLào tổ chức chiến dịch phản công cuộc hành quân Cù Kiệt đánh ra Cánh đồngChum - Xiêng Khoảng của địch Tại khu vực điểm cao 1505, Lạt Huồng, sau khiđịch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm Phu Tôn, Cang Xẻng - Phu Hủa Xàng,chúng dùng cối 106,7 ly và pháo 105mm từ trung tâm Cánh đồng Chum bắn phá
ác liệt các điểm cao xung quanh Tiểu đoàn 924 thuộc Trung đoàn 866 quân tìnhnguyện Việt Nam đã kiên quyết giữ vững cao điểm 1505, Bạn Thặm, đồng thờigiúp nhân dân và cơ quan bạn sơ tán ra khỏi khu vực Tuy lực lượng chiến đấu cóhạn nhưng các đại đội vẫn cử ra một số tổ công tác để hướng dẫn và giúp dân sơtán Trong bom đạn ác liệt, bộ đội tình nguyện đã chiến đấu quên mình, giúp đỡnhân dân, nhường áo xẻ cơm, sẵn sàng xông pha vào những nơi nguy hiểm để bảo
vệ nhân dân Ở xưởng may của tỉnh Xiêng Khoảng, khi địch càn đến gần, anh chị
em công nhân được lệnh di chuyển nhưng có một chị tàn tật không đi được phải bòvào rừng lán nạn Biết tin đó, tổ công tác của trong đoàn đã vào rừng tìm kiếm,cứu được chị đưa về nơi sơ tán an toàn Trong những ngày ác liệt này, bộ đội ViệtNam đã phối hợp với các cơ sở Đảng, chính quyền đưa hơn 16.000 dân và gia đìnhcán bộ sơ tán qua Mường Xéng, Kỳ Sơn (Nghệ An) Nhân dân Nghệ An nhiệt tìnhđón tiếp, nhường áo xẻ cơm, cùng nhân dân Lào xây dựng nhà cửa, bệnh xá,trường học, ổn định cuộc sống nơi sơ tán Những tấm gương sáng, quên mình của
bộ đội tình nguyện, sự đón tiếp tận tình của nhân dân Nghệ An trong những ngàygian khó này đã góp phần làm cho tình đoàn kết chiến đấu của quân dân Việt Nam
- Lào càng thêm keo sơn, gắn bó
Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là minh chứng vô cùng sốngđộng về mối quan hệ Việt - Lào thắm thiết, ruột thịt Thực hiện quyết tâm chiếnlược của Trung ương Đảng hai nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủyĐảng, chính quyền cơ sở, đồng bào các bản, làng, mường Việt Nam và Lào trênđịa bàn dự kiến sẽ diễn ra chiến dịch đã tham gia hết sức hăng hái vào mọi côngviệc chuẩn bị Ngày ngày, trên khắp những nẻo đường hành quân, nhân dân QuảngTrị cùng nhân dân các bộ tộc Lào không quản mưa rừng, thác lũ sát cánh cùng cácđơn vị bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong bạt núi, mở đường, đào đắp, vậnchuyển hàng vạn mét khối đất đá, xây dựng cầu cống; truy bắt lực lượng thám báođịch bảo vệ sự an toàn và bí mật cho chiến dịch; tích cực tham gia xây dựng cáctrận địa bắn máy bay và vận chuyển các loại vũ khí, đạn dược, hàng hóa vào các vị
Trang 16trí tập kết đúng kế hoạch Xe trâu, xe bò, xe đạp thồ là cả gia tài đối với đồng bàonơi đây nhưng khi cách mạng cần, bà con sẵn sàng đóng góp để phục vụ yêu cầuvận chuyển đạn được, quân trang, quân nhu Những chàng trai, cô gái Vân Kiều,
Pa Cô và các bộ tộc Lào cùng trang lứa với sức trẻ và lòng nhiệt huyết cách mạng
đã đưa năng suất gùi thồ lên 90-100kg mỗi chuyến Nhiều người tuy sức khoẻ yếuhay vừa chữa lành vết thương vẫn xung phong đi phục vụ chiến dịch; có em nhỏmới 13-14 tuổi đã tình nguyện đóng góp sức mình vào việc khuân vác, chặt câyngụy trang mặt đường, làm liên lạc Đang làm nương rẫy, dân bản thấy bộ độihành quân liền tìm cách gây tiếng ồn để át tiếng động của các đoàn quân, tránh sựphát hiện của thám báo địch Thi thoảng, người dân ra bờ suối vắng thấy nhữngvết chân bộ đội in trên cỏ ướt đã bảo nhau lùa trâu, bò ra để xáo trộn, xoá đi Một
số đồng bào bị địch bắt, chúng dụ dỗ, mua chuộc hay tra tấn dã man, vẫn kiênquyết không khai báo, sắt son một lòng một dạ trung thành với cách mạng
Khi chiến dịch diễn ra ác liệt, trước yêu cầu phục vụ chiến trường, bà condân tộc Việt Nam và Lào nơi đây tiếp tục tự nguyện phối hợp với cùng các lựclượng vận tải tham gia vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốcmen phục vụ bộ đội Có những đoạn đường địch đánh phá dữ dội suốt ngày đêm,nhưng từng đoàn người gùi lương, tải đạn vẫn không ngừng toả đi các hướng vềnơi bộ đội đang chờ Nhiều nơi, đồng bào tự nguyện chỉ ăn củ mài và rau rừng,dành cho các chiến sĩ những hạt gạo, lát sắn, củ khoai cuối cùng để “ăn no màđánh thắng giặc Mỹ”
Từng đoàn dân công là con em các dân tộc ngày đem gùi lương, tải đạn rachiến trường, rồi lại tham gia vận chuyển thương binh về tuyến sau Nhiều thôn,bản thành lập các đội đi tìm kiếm chôn cất cán bộ, chiến sĩ hy sinh Bom đạn địchchà xát, tàn phá nhà cửa, nương rẫy nhưng không thể nào làm phai nhạt tình đoànkết chiến đấu giữa hai dân tộc, tình quân dân thắm thiết, thủy chung Đó là nhân tốlàm nên chiến thắng đường 9 - Nam Lào vang dội của quân và dân hai nước
Tinh thần đoàn kết, tình cảm thủy chung, gắn bó keo sơn của cán bộ, đảngviên, chiến sĩ Việt Nam với dân tộc Lào anh em đã được Tổng Bí thư CayxỏnPhômvihản nêu rõ: Nhiều đồng chí Việt Nam đã hy sinh trên chiến trường SầmNưa, Cánh đồng Chum Nhiều cán bộ Việt Nam đã sang Lào hoạt động từ lúccách mạng mới bắt đầu cho đến khi tóc đã bạc, coi nhân dân Lào như nhân dân củamình, coi sự nghiệp cách mạng Lào như sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đối vớiViệt Nam, sự hết lòng yêu quý, giúp đỡ của nhân dân các bộ tộc Lào luôn là nguồnđộng viên, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội tình nguyện và cácchuyên gia Việt Nam Đặc biệt, nhân dân Lào đã cùng chia sẻ với nhân dân ViệtNam trước bom đạn ác liệt của giặc Mỹ, tạo mọi điều kiện để bộ đội Việt Nam mởđường Trường Sơn và mở các chiến dịch lớn, góp phần giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước
2 Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu hiện vô cùng sinh độngmối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam
Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trungương Đảng Lao động Việt Nam quyết định thành lập đoàn 959 chuyên gia giúpLào ở mặt trận Hạ Lào Cũng trong thời gian này, Bộ Quốc phòng quyết định
Trang 17thành lập đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đưa đón cán bộ,
bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảo đảm hậu cầncho đoàn 959 chuyên gia ở Lào và vận chuyển vật chất giúp bạn Lào
Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc Mỹ
và chính quyền Sài Gòn đã kết hợp các lực lượng không quân, bộ binh với phươngtiện chiến tranh hiện đại liên tục đánh phá Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không quađược đường 9 Trước tình hình đó, trên cơ sở quan hệ truyền thống vốn có giữa haidân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện cho chiến trường miền Nam, Lào
và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đường phía TâyTrường Sơn chạy trên đất Lào Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vịtình nguyện Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân
sự ở miền Trung và Hạ Lào, giải phóng một vùng rộng lớn từ Căm Cớt, Lắc Xaođến Mường Phìn, Sê Pôn, Bản Đông, nối đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạothành một hành lang dài và rộng theo chiều Đông - Tây Toàn bộ 6 mường củaLào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng
Năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục đưa quân bao vây,đồng thời đánh phá quyết liệt tuyến vận tải phía đông Trường Sơn Trước tình hình
đó, được sự lãnh đạo của hai Đảng, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa ThếtLào quyết định mở chiến dịch 128 giải phóng toàn bộ vùng cao nguyên Trung Lào
có biên giới chung với Việt Nam dài trên 700km Thắng lợi của chiến dịch 128 đãtạo điều kiện cho Việt Nam chuyển toàn bộ đường vận tải sang hướng Tây trên đấtLào
Trong quá trình này, bộ đội tình nguyện, đoàn chuyên gia cố vấn Việt Namdưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã thường xuyên phối hợp với quânkhu Trung - Hạ Lào, Đảng bộ và chính quyền 7 tỉnh có đường Hồ Chí Minh xuyênqua tổ chức khảo sát địa hình, phối hợp mở đường và chiến đấu bảo vệ căn cứ vàtuyến đường chiến lược, tổ chức đánh địch tại chỗ, giải phóng đất đai, mở rộngvùng giải phóng, tạo điều kiện để tuyến đường được mở rộng và phát triển
Để có con đường chiến lược với hơn 20.000km, các chiến sĩ, lực lượngthanh niên xung phong và nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào đã đổ bao
mồ hôi, xương máu, của cải và hàng ngàn người đã ngã xuống để xây dựng, bảo
vệ và vận chuyển hàng hóa, nhân lực phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ của hainước Việt - Lào
Đối với cách mạng và nhân dân Lào, từ khi mới hình thành cho đến khi kếtthúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh đi qua
17 mường (huyện) ở Trung và Nam Lào với tổng chiều dài hàng ngàn km Trong
16 năm (1959-1975), đế quốc Mỹ đã rải xuống các cánh rừng dọc tuyến đườnghàng triệu tấn bom các loại, hàng ngàn tấn chất độc hóa học và nhiều thiết bị điện
tử tinh vi nhằm phát hiện, ngăn chặn lực lượng vận tải chiến lược Đế quốc Mỹ vàchính quyền tay sai Nam Việt Nam, Lào, Campuchia còn sử dụng lực lượng lớnquân đội và vũ khí đánh vào các vùng thuộc hành lang của tuyến đường, quy môlớn nhất là chiến dịch Lam Sơn 719 với 20.000 quân Sài Gòn cùng sự yểm trợ của9.000 quân Mỹ, 2.000 máy bay các loại đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào.Riêng năm 1969, máy bay Mỹ đã đánh phá hàng nghìn trận vào 180 bản làng củađồng bào các dân tộc Lào dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, thiêu hủy 845 nóc nhà,
Trang 18giết hại 482 người, làm bị thương 344 người, phá 337 nương rẫy Bất chấp sự hủydiệt tàn bạo và những âm mưu thâm độc của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của ĐảngNhân dân cách mạng Lào, nhân dân các bộ tộc Lào đã hết lòng giúp đỡ bộ đội ViệtNam trong việc mở đường, bảo vệ tuyến đường và vận chuyển hàng hóa phục vụchiến trường Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng đánh phá, nhân dân 17huyện thuộc 7 tỉnh của Lào trên mảnh đất Tây Trường Sơn đã tự động dời nhà, bỏnương rẫy đi vào rừng sâu sinh sống Bộ đội và du kích Lào phối hợp chặt chẽ với
bộ đội Việt Nam đánh trả máy bay địch, ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm,tập kích của chúng Nhân dân Lào còn đóng góp hàng triệu ngày công cùng bộ đội
và lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam làm mới, sửa chữa đường xá, vậnchuyển lương thực, thương bệnh binh, góp phần vào mọi hoạt động của tuyếnđường Hồ Chí Minh
Không thể kể hết những tình cảm quý báu của nhân dân các bộ tộc Lào dànhcho các chiến sĩ, cán bộ Việt Nam Năm 1964, địch đánh phá ác liệt, thời tiết phứctạp khiến việc vận chuyển hàng hóa và dẫn quân của đoàn 559 trên tuyến tâyTrường Sơn gặp rất nhiều khó khăn Có thời điểm đường bị tắc, khách qua tuyếndồn ứ hàng ngàn người ở các trạm giao liên gần một tháng Việc đảm bảo lươngthực, thực phẩm cho bộ đội trở thành vấn đề “nước sôi, lửa bỏng” Trước tình hình
đó, chỉ huy đoàn 559 cùng đoàn chuyên gia 763 ở Hạ Lào trực tiếp đề xuất vớiTỉnh ủy Távên Oọc của Lào vận động nhân dân địa phương giúp đỡ Với tinh thầnquốc tế cao cả, trong sáng, nhân dân tỉnh Távên Oọc, đặc biệt là các huyện CàLươn, Xê Camản nhanh chóng thu gom thóc, giã gạo phục vụ bộ đội Việt Nam.Mặc dù là địa phương nghèo, nhân dân sống phân tán, nhưng chỉ trong vòng nửatháng, bạn đã huy động được hơn 30 tấn lương thực, góp phần quan trọng giảiquyết khó khăn cho đoàn 559
Nhờ sự phối hợp liên minh này mà hàng hoá không còn bị ứ đọng trên tuyếnđường 9, vào chiến trường miền Nam và nước bạn thông suốt, kịp thời Tuy nhiên,sức người có hạn, việc vận chuyển hàng hoá còn phải dựa vào voi, trâu, bò Bàcon dân tộc đông - tây Trường Sơn rất quý voi, coi voi là thần, là tượng trưng cho
sự giàu có, danh giá Làng nào có voi rất tự hào Thế nhưng khi cách mạng cần,nhân dân cả Việt - Lào đều sẵn sàng hiến voi, đưa voi ra trận tuyến
Trong những năm ác liệt, gian khó đó, điều quý nhất ở bạn là tấm lòng chânthật, trong sáng, ngay thẳng, không nề vất vả, hy sinh và tuyệt đối tin tưởng vàocán bộ, bộ đội Bà con dân tộc Lào ở đây đã nói với cán bộ, bộ đội Việt Nam rằng:
“Tao đói còn đi đào được củ rừng để ăn Tụi mày làm cách mạng còn phải đi làmmãi Củ sắn, lúa chúng tao dành cho chúng mày…” Bà con Mường Noòng 3 nămkhông có muối phải ăn tro từ rễ tranh đốt ra Đến khi ta đưa muối sang, liền nhắccông ơn cụ Hồ Có người chưa hề thấy ảnh Bác, hỏi cụ Hồ có phải như ông Voikhông? ông trời không? Những lúc giáp hạt, bị cái đói hành hạ, bà con dắt nhau đitìm rau rừng, xuống khe bắt ốc sống cầm hơi, không hề nghĩ đến việc lấy một lưnggạo, hạt muối ở các kho lương thực, thực phẩm của các binh trạm đặt giữa rừngtrên đất bạn
Trong những năm tháng khó khăn hay trong những trận đánh ác liệt, nhiều
bà mẹ, gia đình Lào trong khi cuộc sống còn rất thiếu thốn vẫn chắt chiu từng bát
Trang 19gạo để nuôi dưỡng thương binh, vượt qua bom đạn của địch đưa rau, gạo, thuốcmen đến các binh trạm trên tuyến đường để trao tận tay cho các chiến sĩ Việt Nam.
Đáp lại lòng quý mến và đùm bọc của nhân dân Lào trên dọc tuyến đườngTrường Sơn, các đơn vị bộ đội Việt Nam đã tích cực cùng với bộ đội PaThết Làochiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân các bộ tộc Lào, giúp đồng bàotăng gia sản xuất, cứu đói cho dân khi gặp thiên tai, địch họa Bộ đội Việt Namtrên tuyến đường Hồ Chí Minh còn giúp nhân dân Lào xây mới một số tuyếnđường liên bản, liên xã, liên huyện, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, pháttriển kinh tế - xã hội vùng giải phóng Chính vì vậy, tuy phải chịu đựng hy sinh,gian khổ, nhưng nhân dân các bộ tộc Lào dọc tuyến đường vẫn hết lòng yêuthương, ủng hộ quân đội cách mạng hai nước
Nhờ có con đường chiến lược Hồ Chí Minh, tính chung trong vòng 16 năm(1959-1975), tuyến giao thông vận tải quân sự Trường Sơn đã vận chuyển được1.349.000 tấn hàng hóa, vũ khí, trong đó giao cho các chiến trường và cách mạngLào, Campuchia hơn 583.000 tấn, 515 triệu m3 xăng dầu Riêng 4 tháng trongcuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, tuyến vận tải 559 qua đường
Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ,230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng
3 Quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam càng phát triển sống động trong giai đoạn hoà bình, xây dựng đất nước phồnvinh, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước đều nhận thức rõ việc củng cố,
mở rộng và phát triển một cách toàn diện mối quan hệ Việt Nam - Lào là yêu cầutất yếu Vì vậy, hai nước nhanh chóng đi đến ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tácvào tháng 7-1977, đặt cơ sở pháp lý vững chắc, lâu dài cho quan hệ hai nước trongthời kỳ mới Trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, quan hệViệt Nam - Lào nhanh chóng được triển khai thông qua các tổ chức đoàn thể nhândân và các ban, ngành, địa phương với nhiều hình thức sáng tạo, phong phú, phùhợp với đặc điểm của từng ngành, từng địa phương Ngành thông tin, tuyêntruyền, báo chí xuất bản của hai nước tăng cường các hoạt động tuyên truyền nhânnhững ngày lễ trọng đại của hai dân tộc làm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quânnhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng, nội dung mối quan hệ đặc biệt Việt - Làotrong giai đoạn mới của cách mạng
Đi đôi với quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước,các bộ, ngành Trung ương, giữa các tỉnh Việt Nam với 12 tỉnh và thành phố củaLào cũng có nhiều hình thức hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau phong phú và hiệu quả
Các tổ chức hội hữu nghị trên nhiều lĩnh vực với hàng nghìn hội viên từTrung ương đến cơ sở ra đời, nhiệm vụ chủ yếu là giới thiệu, thông tin cho cáctầng lớp nhân dân hai nước về lịch sử đất nước, con người, nền văn hóa, thành tựuxây dựng và bảo vệ đất nước, làm cầu nối vận động và thúc đẩy các hoạt động hữunghị, hợp tác và giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật một cách có hiệu quả,thiết thực; tổ chức các đoàn hữu nghị, giao lưu, trao đổi thông tin với các tổ chức
xã hội - kinh tế - văn hóa của hai nước