1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận kinh tế và quản trị kinh doanh đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt trên địa bàn xã thanh bình, huyện chương mỹ, hà nội

64 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa Luận Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Chăn Nuôi Gà Thịt Trên Địa Bàn Xã Thanh Bình, Huyện Chương Mỹ, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Hữu Anh
Người hướng dẫn ThS. Ngô Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
    • 2.1 Mục tiêu chung (10)
    • 2.2 Mục tiêu cụ thể (10)
  • 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 5. Nội dung nghiên cứu (11)
  • 6. Bố Cục Khóa Luận (12)
  • CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG CHĂN NUÔI GÀ (12)
    • 1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế (13)
    • 1.2. Bản chất hiệu quả kinh tế (13)
    • 1.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế (14)
    • 1.4. Vai trò của ngành chăn nuôi gà (15)
    • 1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà (18)
    • 1.6. Đặc điểm đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt (23)
    • 1.7. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt (23)
  • Chương II ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA XÃ THANH BÌNH (12)
    • 2.1.1 Vị trí địa lý (27)
    • 2.1.2. Khí hậu, thủy văn (27)
    • 2.1.3 Đất đai (28)
    • 2.2 Điều kiện kinh tế xã hội của xã Thanh Bình (29)
      • 2.2.1 Dân số và lao động (29)
      • 2.2.2. Cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục (30)
      • 2.2.3. Vệ sinh môi trường (33)
      • 2.2.4 Tình hình phát triển kinh tế (33)
    • 2.3 Nhận xét chung về đặc điểm cơ bản của xã Thanh Bình (35)
      • 2.3.1 Thuận lợi (35)
      • 2.3.2 Khó khăn (36)
  • CHƯƠNG III HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI GÀ THỊT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THANH BÌNH, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI (12)
    • 3.1. Tình hình chung về chăn nuôi gà thịt xã Thanh Bình (37)
    • 3.2. Tình hình chăn nuôi gà của các hộ điều tra (39)
      • 3.2.1 Đặc điểm chung của các hộ điều tra (39)
      • 3.2.2 Thông tin về chăn nuôi gà của hộ (41)
      • 3.2.3 Tình hình sử dụng đất cho chăn nuôi gà của các hộ điều tra (42)
      • 3.2.4. Tình hình đầu tƣ cho hệ thống chuồng trại cho chăn nuôi gà của các hộ . 37 (0)
      • 3.2.5 Chi phí đầu tƣ cho chăn nuôi gà thịt trên địa bàn xã Thanh Bình (0)
      • 3.2.6. Tình hình tiêu thụ gà của các hộ điều tra (48)
      • 3.2.7. Kết quả và và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt của các hộ điều tra (50)
    • 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt tại xã Thanh Bình (52)
      • 3.3.1. Điều kiện tự nhiên (52)
      • 3.3.2. Đất đai (52)
      • 3.3.3. Nhóm yếu tố về năng lực của chủ thể chăn nuôi (52)
      • 3.3.4. Nhóm các yếu tố về thị trường (53)
      • 3.3.5. Nhóm yếu tố về chủ trương, chính sách của Nhà nước (53)
    • 3.4. Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà tại xã Thanh Bình (54)
      • 3.4.1. Xây dựng các cơ sở cung cấp giống, thức ăn có chất lƣợng, ổn định (54)
      • 3.4.2. Giải pháp về kĩ thuật (55)
      • 3.4.3. Với vốn đầu tƣ cho chăn nuôi (0)
      • 3.4.4. Thị trường tiêu thụ (56)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Ngành này bao gồm nhiều chuyên ngành như trồng trọt, chăn nuôi và sơ chế nông sản, và còn mở rộng ra lâm nghiệp và thủy sản Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, đặc biệt trong các thế kỷ trước khi công nghiệp phát triển.

Từ năm 1986, nông nghiệp đã được xác định là mặt trận kinh tế hàng đầu tại Việt Nam, với sự quan tâm đặc biệt từ Đảng và Chính phủ Nông nghiệp không chỉ có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội mà còn chiếm ưu thế trong cơ cấu nền kinh tế Sản phẩm nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu thiết yếu, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, việc phát triển nông nghiệp trở thành thách thức lớn đối với nhiều quốc gia Tại Việt Nam, nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt và chăn nuôi, đóng vai trò quan trọng Ngành chăn nuôi, đặc biệt là gia cầm, đã phát triển mạnh mẽ và trở thành hình thức chăn nuôi phổ biến trong các hộ gia đình, góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của ngành.

Thanh Bình, xã thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội, nổi bật với ngành chăn nuôi gà, đã có những bước phát triển mới trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, chăn nuôi gà vẫn còn nhiều hạn chế như tính tự phát, thiếu đầu tư và kỹ thuật, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp Mặc dù có nhiều biện pháp chuyển đổi sang chăn nuôi quy mô lớn, tiến trình này diễn ra chậm, với số lượng trang trại lớn còn hạn chế Nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không tuân thủ an toàn sinh học, gây khó khăn trong quản lý và tăng nguy cơ dịch bệnh Biến động thời tiết và giá cả cũng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của người dân Do đó, cần đánh giá mức đầu tư và hiệu quả chăn nuôi để đưa ra giải pháp tăng năng suất và chất lượng, nhằm phát triển bền vững ngành chăn nuôi gà tại xã Thanh Bình Tôi lựa chọn đề tài "Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt trên địa bàn xã Thanh Bình, huyện Chương Mỹ, Hà Nội" để cung cấp thông tin hữu ích cho lĩnh vực này.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Dựa trên kết quả điều tra và nghiên cứu tình hình chăn nuôi gà thịt tại xã Thanh Bình, bài viết đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi gà thịt nhằm nâng cao hiệu quả và kết quả trong những năm tới Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho người nông dân mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi gà thịt tại địa phương.

Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt

- Đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt thông qua hệ thống các chỉ tiêu trên địa bàn xã Thanh Bình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nuôi gà thịt trên địa bàn xã Thanh Bình trong thời gian tới.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tƣợng nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt của các hộ gia đình trên địa bàn xã Thanh Bình

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Thanh Bình, tập trung vào bốn thôn chính: Thanh Nê, Kim Nê, Tiến Phối và Trung Hoàng, nơi có tỷ lệ nuôi gà chiếm ưu thế trong toàn xã.

+ Số liệu thứ cấp của đề tài đƣợc thu thập trong 3 năm 2017 – 2019 + Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập trong tháng 3 và tháng 5 năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu:

Các số liệu trong bài viết được thu thập từ UBND xã Thanh Bình, phòng địa chính, phòng Thương binh xã hội và phòng kinh tế xã Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng tài liệu từ internet và thông tin đại chúng, kết hợp với việc tham khảo một số tài liệu liên quan khác.

Để đảm bảo tính đại diện cho mẫu điều tra, tôi đã thực hiện khảo sát trực tiếp 50 hộ gia đình chăn nuôi gà thịt thương phẩm tại xã, nơi có 4 thôn tập trung nhiều vào hoạt động chăn nuôi này Việc chọn ngẫu nhiên 50 hộ gia đình nhằm đảm bảo rằng cách thức chăn nuôi sẽ tương đồng, từ đó phản ánh chính xác thực trạng chăn nuôi gà thịt trong khu vực.

Trong đó tiến hành điều tra tại địa bàn 4: Thôn Thanh nê: 12 hộ, Thôn Kim nê: 8 hộ, Thôn Trung Hoàng: 15 hộ, Thôn Tiến Phối:15 hộ

Trong số 50 hộ, có 30 hộ thực hiện chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, trong khi 20 hộ áp dụng hình thức công nghiệp Đặc biệt, có 18 hộ nuôi gà Tam Hoàng và 32 hộ nuôi gà Lương Phượng.

- Phương pháp thống kê Đây là phương pháp hệ thống hóa và phân tích, từ đó tìm ra mối liên hệ giữacác yếu tố trong quá trình sản xuất

Xác định độ biến động của các xu hướng và chỉ tiêu phân tích là rất quan trọng Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất được tính toán qua các chỉ tiêu như GO, IC, VA, GO/IC, MI/IC, VA/IC Để đánh giá mức độ đạt được về mặt kết quả và hiệu quả, cần so sánh các chỉ tiêu này theo hình thức nuôi và giống gà nuôi.

Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt

- Đặc điểm cơ bản của xã Thanh Bình

- Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt tại xã Thanh Bình

- Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt trên địa bàn xã Thanh Bình, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

Bố Cục Khóa Luận

 Ngoài phần Đặt vấn đề , Kết Luận và Tài liệu Tham khảo thì bố cục Khóa Luận gồm 3 chương sau:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG CHĂN NUÔI GÀ

Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là chỉ số quan trọng để đánh giá hoạt động kinh doanh của các đơn vị sản xuất Lợi nhuận được xem là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, các đơn vị còn chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Việc nâng cao hiệu quả kinh tế không chỉ cần thiết cho từng doanh nghiệp mà còn cho toàn xã hội.

HQKT trong sản xuất kinh doanh nói chung và trong chăn nuôi gà nói riêng đƣợc hiểu một cách khái quát nhƣ sau:

Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra, phản ánh cách sử dụng các yếu tố đầu tư, nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý để đạt mục tiêu sản xuất kinh doanh, đồng thời đáp ứng nhu cầu xã hội.

Bản chất hiệu quả kinh tế

Bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động, liên quan đến quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian lao động Nó thể hiện mối quan hệ so sánh giữa kết quả hữu ích và hao phí lao động xã hội, phản ánh hiệu quả của lao động xã hội.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất Để đạt được hiệu quả cao, cần tối ưu hóa kết quả với chi phí thấp nhất, thông qua việc áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến phù hợp Do đó, hiệu quả kinh tế kỹ thuật (HQKT) phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh.

HQKT không phải là mục tiêu cuối cùng của các đơn vị sản xuất kinh doanh Để nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất, cần không chỉ đánh giá hiệu quả đạt được mà còn tìm kiếm giải pháp để thúc đẩy sự phát triển sản xuất ở mức cao hơn Do đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một yếu tố kinh tế quan trọng để đánh giá trình độ sản xuất, nhưng không phải là mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất.

HQKT là chỉ tiêu cụ thể và thiết thực cho doanh nghiệp, nông hộ và nền sản xuất xã hội Nghiên cứu HQKT giúp tìm ra phương hướng và biện pháp phù hợp để thúc đẩy sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng cao Đồng thời, nghiên cứu này cũng góp phần phát triển sản xuất trong nước và hòa nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế.

Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế

Mọi quốc gia, ngành nghề và đơn vị sản xuất đều mong muốn tối ưu hóa nguồn lực để tạo ra sản phẩm với khối lượng lớn, giá trị cao và chất lượng tốt nhất Do đó, các hoạt động sản xuất cần được tính toán kỹ lưỡng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

HQKT là chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, tập trung vào việc tối ưu hóa cơ cấu đầu tư và ngành nghề Khác với phát triển theo chiều rộng, bao gồm việc tăng quy mô và mở rộng thị trường, phát triển chiều sâu nhấn mạnh vào ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Điều này trở nên cần thiết do sự khan hiếm nguồn lực như vốn, đất đai và tài nguyên, cùng với sự cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường Do đó, các đơn vị sản xuất kinh doanh cần chú trọng vào phát triển kinh tế theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả và bền vững.

Nâng cao hiệu quả kinh tế (HQKT) không chỉ giúp tăng lợi nhuận cho người sản xuất mà còn tối ưu hóa và tiết kiệm nguồn lực hiện có Điều này cho phép tích lũy vốn để đầu tư tái sản xuất mở rộng, đồng thời thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Hơn nữa, việc nâng cao HQKT còn góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.

Nhƣ vậy, nâng cao HQKT trong từng doanh nghiệp, từng ngành, từng địa phương và từng quốc gia là rất cần thiết và có ý nghĩa to lớn

Nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia súc có liên quan đến việc lựa chọn con giống, quy mô và hình thức nuôi, thời gian nuôi, cũng như sử dụng hiệu quả các nguồn lực Việc cải thiện hiệu quả kinh tế không chỉ giúp người chăn nuôi tăng lợi nhuận và tích lũy vốn để tái đầu tư mở rộng sản xuất, mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội.

Vai trò của ngành chăn nuôi gà

Trong ngành chăn nuôi, gia cầm đóng vai trò quan trọng, đứng thứ hai sau lợn và là vật nuôi phổ biến trong cộng đồng Gà thịt là loại gia cầm chủ yếu, chiếm khoảng 70% tổng số lượng đàn gia cầm, thể hiện nghề chăn nuôi truyền thống của người dân.

Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, Việt Nam tập trung vào việc phát triển đàn gà và duy trì đàn lợn, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của chăn nuôi gia cầm và gia súc trong nền kinh tế nông nghiệp.

- Chăn nuôi gà góp phần cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho người dân

Sản phẩm từ CNGT như thịt gà cung cấp giá trị dinh dưỡng cao, giàu năng lượng và các vitamin thiết yếu, đặc biệt có lợi cho trẻ em, người già và người bệnh.

Thịt gà chứa 65,5% nước, 13,7% mỡ, 19% đạm, cung cấp khoảng 200 calo và 23,3 gam protein trong 100 gam thịt Nó giàu vitamin như A, B1, B2, C, E, cùng với các khoáng chất như canxi, phốt pho, và sắt, dễ hấp thu và tiêu hóa Theo Đông Y, thịt gà có tính ôn ngọt, bổ dưỡng, giúp chữa trị nhiều bệnh như băng huyết, xích bạch đới, và ung nhọt, đồng thời giảm stress và bồi bổ cho người bệnh lâu ngày, dạ dày yếu không hấp thụ được thức ăn.

Thịt gà không chỉ giàu giá trị dinh dưỡng mà còn dễ dàng chế biến thành nhiều món ăn ngon như gà chiên, gà nướng, gà hấp và canh gà Chính vì vậy, thịt gà trở thành thực phẩm phổ biến và được ưa chuộng trên toàn thế giới, đặc biệt tại các chuỗi thức ăn nhanh nổi tiếng như McDonald's và KFC, nơi mà các sản phẩm chủ yếu được làm từ thịt gà.

- Chăn nuôi gà góp phần vào tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống

Theo nghiên cứu của FAO, khoảng 1 tỷ người nghèo trên thế giới, chủ yếu sống ở vùng nông thôn, phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi gia súc (CNGT) đóng vai trò quan trọng CNGT không chỉ tạo việc làm và nguồn tài chính cho người dân mà còn nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống, đặc biệt là cho những hộ nghèo Tại Việt Nam, chăn nuôi là một trong hai ngành kinh tế chủ chốt trong nông nghiệp, với khoảng 7,86 triệu hộ CNGT, chiếm 82% số hộ nông nghiệp và 52% số hộ nông thôn CNGT mang lại giá trị kinh tế lớn cho nông hộ, đặc biệt là hộ nghèo, bằng cách tận dụng sản phẩm đầu vào có giá trị thấp để sản xuất những sản phẩm có giá trị cao, từ đó tạo việc làm, giảm tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp và mang lại thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi.

Lê Văn Vinh cho biết, trong phạm vi cả nước Việt Nam, chăn nuôi gia súc, gia cầm (CNGT) chiếm khoảng 5% tổng thu nhập của nông hộ Đặc biệt, trong lĩnh vực chăn nuôi, tỷ lệ này lên tới 27% ở các tỉnh phía Bắc và 18% ở đồng bằng Sông Mekông Đối với các hộ nghèo, thu nhập từ CNGT có xu hướng chiếm tỷ lệ lớn hơn, với nghiên cứu của Miers và Sonaiya cho thấy thu nhập từ CNGT của hộ nghèo có thể chiếm từ 4,3% đến 100% tổng thu nhập của họ.

Hoạt động sản xuất từ chăn nuôi gà không chỉ giúp người chăn nuôi có thêm nguồn tài chính mà còn hỗ trợ cho việc chi tiêu cho giáo dục, y tế và trang thiết bị sinh hoạt trong gia đình Ngoài ra, việc bán sản phẩm từ chăn nuôi gà trở thành lựa chọn phổ biến để giải quyết những khó khăn tài chính khẩn cấp, đặc biệt trong các khu vực nông thôn.

CNGT không chỉ cung cấp thực phẩm quý giá, mà còn cải thiện chế độ ăn hàng ngày của người dân, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài và giúp tiết kiệm chi phí.

Chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực ở các quốc gia nông nghiệp như Việt Nam Hoạt động này giúp tận dụng nguồn lao động và tài nguyên nhàn rỗi, khắc phục tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp thường tạo ra nhiều sản phẩm phụ có giá trị kinh tế thấp, nhưng lại là nguồn thức ăn tốt cho chăn nuôi gà, từ đó tạo ra nguồn thu nhập đáng kể vào cuối chu kỳ sản xuất.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà

Trong chăn nuôi hiện đại, khí hậu và thời tiết là những yếu tố quan trọng cần chú ý Gia cầm, đặc biệt là gà thịt, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ điều kiện khí hậu, giống như con người và cây trồng Điều này càng rõ rệt hơn ở những trang trại nhỏ với chuồng trại đơn giản.

Tác động của khí hậu và thời tiết đến gia cầm, đặc biệt là gà thịt, không chỉ dựa vào bản chất của các yếu tố này mà còn phụ thuộc vào cường độ của chúng.

Sự thay đổi cường độ tác động môi trường ngoài giới hạn thích hợp có thể làm giảm năng suất và khả năng tồn tại của vật nuôi Mỗi loại gia cầm đều có vùng nhiệt độ, ánh sáng và cường độ gió tối ưu, được gọi là vùng trung tính Các giới hạn của vùng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, tuổi, số lượng đàn, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi Gia cầm non chịu ảnh hưởng của khí hậu và thời tiết mạnh mẽ hơn so với gia cầm trưởng thành, do khả năng điều hòa và thích nghi kém Đặc biệt, trong những giai đoạn chuyển mùa với sự thay đổi thời tiết đột ngột, tác động lên gia cầm trở nên rõ rệt hơn.

Đất đai là nguồn tài nguyên tự nhiên quan trọng, đóng vai trò cơ sở cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm Sự đa dạng của đất và nguồn nước dồi dào trong một vùng địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện Việc quy hoạch hợp lý và tập trung đất đai sẽ hỗ trợ chăn nuôi lớn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh Ngược lại, đất đai nghèo nàn, manh mún và địa hình bị chia cắt sẽ gây khó khăn cho hoạt động chăn nuôi, làm giảm năng suất và hiệu quả kinh tế.

(1) Nhóm yếu tố về năng lực của chủ thể chăn nuôi

- Kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi

Kiến thức và kinh nghiệm là yếu tố then chốt trong chăn nuôi, quyết định hiệu quả sản xuất Người nuôi thiếu kiến thức thường không tuân thủ quy trình kỹ thuật, dẫn đến sinh trưởng kém và tỷ lệ hao hụt cao do dịch bệnh Họ cũng khó nắm bắt diễn biến thị trường, gây khó khăn trong việc thu hoạch và bán sản phẩm với giá thấp, từ đó giảm lợi nhuận Ngược lại, những người có kiến thức và thường xuyên cập nhật tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ có giải pháp nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí và thu hoạch đúng thời điểm, giúp tăng lợi nhuận và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

- Hình thức tổ chức chăn nuôi

Hình thức tổ chức chăn nuôi ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội Chăn nuôi truyền thống quy mô nhỏ, với đàn gà không được chăm sóc đúng mức, dẫn đến tăng trưởng chậm và tỷ lệ hao hụt cao, làm giảm hiệu quả kinh tế Ngược lại, chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp quy mô lớn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giúp đàn gà lớn nhanh, tỷ lệ hao hụt thấp và hiệu quả kinh tế cao hơn Hệ thống chăn nuôi khép kín và tiêm phòng đầy đủ giúp giảm thiểu dịch bệnh và tác động tiêu cực đến môi trường.

Để lựa chọn hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp, cần xem xét cả yếu tố chủ quan như năng lực quản lý và khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào, lẫn yếu tố khách quan như thói quen tiêu dùng, mật độ dân cư, và khả năng tiếp cận dịch vụ cung cấp đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra.

Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm, việc lựa chọn quy mô sản xuất phù hợp là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế Gần đây, vấn đề quy mô nuôi đã được chú trọng, thể hiện qua Chiến lược phát triển chăn nuôi của Bộ NN&PTNT và Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam Để xác định quy mô nuôi thích hợp, các cơ quan quản lý và người chăn nuôi cần dựa vào các cơ sở khoa học của từng vùng, địa phương, bao gồm sự sẵn có của yếu tố đầu vào, biến động giá cả thị trường, và năng lực quản lý của người chăn nuôi.

Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng trong sản xuất, bao gồm tài liệu sản xuất, tri thức, sức khỏe và khả năng tổ chức quản lý Trong chăn nuôi gia súc, vốn được hiểu là giống, thức ăn, thuốc thú y và hệ thống chuồng trại Vốn ảnh hưởng lớn đến quá trình chăn nuôi, cho phép người chăn nuôi mở rộng quy mô, tăng đầu tư và cải thiện hiệu quả kinh tế Đầu tư vào vốn để mua con giống, thức ăn và xây dựng cơ sở hạ tầng là cần thiết, nhưng việc thu hồi chi phí sản xuất có thể gặp khó khăn Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp, vốn có độ rủi ro cao, một dịch bệnh lớn có thể làm mất trắng vốn đầu tư, gây tâm lý ngần ngại và giảm hiệu quả đầu tư.

(2) Nhóm các yếu tố về thị trường

Tất cả các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thị trường Đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi, cả thị trường đầu vào và đầu ra đều có tác động lớn đến kết quả và hiệu quả của quá trình này.

Khi giá cả đầu vào và đầu ra ổn định, cơ sở chăn nuôi có thể giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh Điều này cũng khuyến khích người chăn nuôi mở rộng quy mô sản xuất, từ đó thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi Ngược lại, nếu giá đầu vào quá cao hoặc giá đầu ra quá thấp, người chăn nuôi sẽ gặp khó khăn, dẫn đến thua lỗ và buộc phải giảm quy mô sản xuất hoặc ngừng hoạt động kinh doanh.

Sự sẵn có của các yếu tố đầu vào và đa dạng thị trường đầu ra, bên cạnh yếu tố giá cả, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi, giúp họ chủ động và tiết kiệm chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.

(3) Nhóm yếu tố về cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong khả năng hoạt động và hiệu quả kinh tế, không chỉ trong chăn nuôi gia cầm mà còn trong tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh Hệ thống cơ sở hạ tầng trong chăn nuôi bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện nước, và các nhà máy sản xuất, cùng với cơ sở hạ tầng xã hội như các chương trình nghiên cứu và đào tạo Đầu tư vào cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế Ngược lại, cơ sở hạ tầng kém phát triển sẽ gây khó khăn, tăng chi phí và giảm năng suất, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.

Chủ trương và chính sách của Nhà nước, cùng với chính quyền địa phương, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành chăn nuôi và HQKT CNGT Các chính sách liên quan đến tín dụng, đất đai, hỗ trợ đầu tư ban đầu và tập huấn kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến ngành chăn nuôi Những chính sách linh hoạt trong tín dụng và đất đai, cũng như việc tiếp cận khoa học kỹ thuật, sẽ khuyến khích người dân đầu tư và mở rộng sản xuất Ngược lại, các chính sách không phù hợp và ràng buộc sẽ cản trở đầu tư, làm giảm niềm tin và ảnh hưởng tiêu cực đến HQKT.

Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp và chăn nuôi gia cầm Các chính sách đầu tư, xuất nhập khẩu và chuyển giao khoa học kỹ thuật đang tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các cơ sở chăn nuôi Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt Thực tế cho thấy, hoạt động chăn nuôi, đặc biệt là gà thịt, tại Việt Nam còn yếu kém về năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, năng suất và chất lượng sản phẩm, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi gia cầm.

Đặc điểm đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt

CNGT và đánh giá HQKT CNGT có những đặc điểm phức tạp và đa dạng, khác biệt so với các loài vật nuôi khác Khi tiến hành đánh giá HQKT CNGT, cần chú ý đến các yếu tố đặc thù này để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình đánh giá.

Quá trình chăn nuôi gia cầm cần nhiều yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn, thuốc thú y, công lao động và đất đai Để đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, trước tiên cần xác định đơn vị tính toán phù hợp, dựa trên khảo sát thực tế và ý kiến chuyên gia Chúng tôi chọn đơn vị tính là 1000đ/100kg gà thịt hơi xuất chuồng Bên cạnh đó, để đảm bảo tính toàn diện trong việc tính toán hiệu quả kinh tế, cần xem xét các yếu tố đầu vào khác như chi phí, giá trị sản xuất, diện tích đất đai và công lao động sử dụng trong chăn nuôi.

Trong chăn nuôi gia cầm (CNGT), người chăn nuôi có thể lựa chọn các giống gà khác nhau, áp dụng nhiều hình thức chăn nuôi, quy mô và mùa vụ khác nhau Để đánh giá hiệu quả kinh tế (HQKT) trong CNGT, cần xem xét các tiêu chí này một cách rõ ràng.

HQKT CNGT chịu ảnh hưởng đáng kể từ các yếu tố như dịch bệnh, khí hậu, thời tiết và biến động giá cả thị trường Để có cái nhìn toàn diện về HQKT CNGT, cần thực hiện đánh giá trong khoảng thời gian dài Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc đánh giá HQKT CNGT qua hai mùa vụ đại diện là mùa Hè và Đông, vì hai mùa này có sự khác biệt rõ rệt về khí hậu, thời tiết và giá bán, đặc biệt là mùa Đông khi gà thịt thường có giá cao hơn do nhu cầu tăng vào dịp Tết âm lịch.

Ở Việt Nam, công nghệ nông nghiệp (CNGT) được áp dụng tại các trang trại, gia trại và nông hộ, là những đơn vị kinh tế độc lập Do đó, việc đánh giá hiệu quả kinh tế của CNGT được thực hiện thông qua nghiên cứu tại các cơ sở này.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA XÃ THANH BÌNH

Vị trí địa lý

Xã Thanh Bình nằm ở phía Tây của huyện Chương Mỹ, cách trung tâm huyện 10 km, có tiềm năng về nông nghiệp của huyện đƣợc giới hạn:

- Phía Bắc giáp xã Đông Sơn;

- Phía Nam giáp xã Tân Tiến(đê Tả Bùi);

- Phía Tây giáp xã Thủy Xuân Tiên ;

Khu vực phía Đông giáp xã Đông Phương Yên và xã Trung Hòa, với địa hình phức tạp, đất đai bị chia cắt bởi các gò đồi và đồng trũng Điều này tạo ra những khó khăn trong việc tiêu úng, đặc biệt là diện tích thuộc thôn Trung Hoàng nằm ngoài vùng đê bao do huyện quản lý.

Xã có tổng diện tích tự nhiên 530,62 ha, nằm trên 6 thôn thuộc vùng trũng giữa huyện, với Sông Bùi chảy qua Địa hình phức tạp và chức năng tiêu nước cho các xã lân cận, dẫn nước ra Sông Bùi, khiến khu vực này chịu ảnh hưởng của lũ rừng ngang.

Khí hậu, thủy văn

Xã Thanh Bình chịu ảnh hưởng khí hậu của miền bắc, hằng năm được chia làm 4 mùa rõ rệt:

+ Mùa Xuân từ tháng 3 đến tháng 6

+ Mùa Hạ từ tháng 6 đến tháng 9

+ Mùa Thu từ tháng 9 đến tháng 12

+ Mùa Đông từ tháng 12 đến tháng 3

Nhiệt độ quanh năm ôn hòa theo các mùa, trung bình hàng năm 19 0 C đến

30 0 C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 khoảng 38 0 C, có khi lên tới 40 0 C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 trung bình 19,9 0 C, có khi xuống 11 0 C.

Đất đai

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất của xã Thanh Bình năm 2019

STT Loại đất Diện tích Cơ cấu

Diện tích đất theo tiêu thức mục đích sử dụng 530,62 100

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 318,45 60,01

1.1.1 Đất cây trồng hàng năm 277,35 52,27

1.1.2 Đất cây trồng lâu năm 41,1 7,74

1.2 Đất nuôi trồng thủy sản 49,93 9,41

2.3 Đất có tôn giáo, tín ngƣỡng 4,12 0,77

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 6,58 1,24

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dung 22,32 4,2

3.1 Đất bằng chƣa sử dụng 7,14 1,35

Nguồn: Phòng địa chính Xã Thanh Bình

Qua bảng 2.1 cho thấy, năm 2019 diện tích tự nhiên toàn xã là 530,62 ha,

Cơ cấu đất tại xã Thanh Bình cho thấy đất nông nghiệp chiếm 73,2% tổng diện tích, với 388,43 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp đạt 318,45 ha, bao gồm 277,35 ha đất cây trồng hằng năm và 41,1 ha đất cây trồng lâu năm Đất nuôi trồng thủy sản chiếm 49,93 ha, còn đất nông nghiệp khác đạt 20,05 ha Đất phi nông nghiệp có diện tích 135,05 ha, chiếm 25,45%, bao gồm đất ở (35,53 ha), đất chuyên dùng (66,5 ha), đất tôn giáo (4,12 ha), đất nghĩa trang (6,58 ha) và đất mặt nước chuyên dụng (22,32 ha) Ngoài ra, đất chưa sử dụng chỉ chiếm 1,35% với 7,14 ha Điều này cho thấy tiềm năng đất đai đã được khai thác hiệu quả, với nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Điều kiện kinh tế xã hội của xã Thanh Bình

2.2.1 Dân số và lao động

- Tình hình dân số và lao động của xã Thanh Bình

- Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động: 4.367 người

- Tổng lao động có việc làm: 4.236/4.367 người

- Tổng số lao động có việc làm qua đào tạo: 2.054 người

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của xã Thanh Bình năm 2019

Lao động tại các công ty,xí nghiệp, khu công nghiệp

Lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn 89 2,1

Cán bộ, công chức, viên chức, công an, bộ đội, bác sỹ (làm việc tại các đơn vị, cơ quan nhà nước)

Lao động sản xuất nông nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp

2 Chất lƣợng lao động 2.054 100 Đại học cao đẳng trở lên 825 40,2

Công nhân kỹ thuật không bằng cấp 426 20,7

Nguồn: Thương Binh & Xã Hội xã Thanh Bình

Qua bảng trên ta thấy, năm 2019, toàn xã có 1787 hộ: 7.364 người, Người trong đổ tuổi có khả năng lạo động là 4.367 người

Tổng số lao động có việc làm trong xã là 4.236 người, chiếm 100%, trong đó lao động tại các công ty, xí nghiệp, khu công nghiệp chiếm 15,7% và lao động tại doanh nghiệp địa phương chiếm 2,1% Cán bộ, công chức, viên chức, công an, bộ đội, bác sĩ làm việc tại các đơn vị nhà nước chiếm 7,7%, trong khi lao động sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 36,1% Số lao động có việc làm qua đào tạo là 2.054 người, trong đó đại học và cao đẳng chiếm 40,2%, trung cấp chuyên nghiệp 19,4%, sơ cấp nghề 19,7%, và công nhân kỹ thuật không bằng cấp 20,7% Tình hình lao động cho thấy hơn nửa dân số xã có nhu cầu lao động cao, chủ yếu trong các ngành nghề khác, với lao động qua đào tạo chủ yếu là bậc đại học và cao đẳng trở lên.

2.2.2 Cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được thực hiện hiệu quả, với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra thiết thực, ý nghĩa và tiết kiệm Công tác tuyên truyền về nếp sống văn minh, lịch sự và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc cưới, việc tang được chú trọng Hệ thống đài truyền thanh xã và các băng rôn khẩu hiệu được sử dụng để tuyên truyền cho các ngày lễ lớn và nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng.

Công tác xây dựng danh hiệu văn hóa tại xã đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, với việc tổ chức thành công Lễ đón nhận danh hiệu “Làng văn hóa” cho thôn Đồi Chè, Trường tiểu học và Trường THCS Ngoài ra, các thôn Trung Hoàng, Kim Nê, Thanh Nê cũng được UBND huyện công nhận làng văn hóa vào năm 2019 Đến nay, 100% cơ quan, đơn vị và làng văn hóa trên địa bàn xã đã được công nhận đạt chuẩn văn hóa.

Công tác bình xét, công nhận và khen thưởng danh hiệu Gia đình văn hóa được thực hiện một cách công khai, minh bạch và theo đúng quy định Năm 2019, có 1.562 hộ gia đình được công nhận đạt danh hiệu văn hóa, chiếm 91,1%, trong đó có 970 hộ gia đình duy trì danh hiệu này trong 3 năm liên tục.

- Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng đƣợc duy trì và phát triển rộng khắp trên địa bàn xã

Hội người cao tuổi xã đã tham gia hội thao người cao tuổi huyện Chương Mỹ năm 2019, với các môn thi đấu đa dạng như bóng bàn, cờ tướng, bóng chuyền hơi, thái cực quyền 24 thức, thái cực kiếm, bóng ly tâm, thể dục với cầu, khỏe vì nước và rumba Kết quả, hội đã giành được 2 giải nhất và 1 giải ba trong môn dưỡng sinh Nhân dịp kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975), các câu lạc bộ bóng chuyền hơi trong xã cũng đã tổ chức thi đấu giải bóng chuyền hơi.

Các ban ngành đoàn thể xã đã chủ động tham gia các hội thao do ngành dọc tổ chức nhằm kỷ niệm các ngày truyền thống của hội Công đoàn cơ quan UBND xã cũng đã tích cực tham gia hội thao do Liên đoàn lao động huyện tổ chức để chào mừng sự kiện này.

129 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2019) và đã đạt đƣợc 01 giải nhất nhảy ba bố, giải ba kéo co cụm

Năm 2019, huyện Chương Mỹ tổ chức nhiều sự kiện nổi bật như Hội thi thiếu niên giới thiệu sách hè, giải cầu lông thanh thiếu niên, giải cầu lông các câu lạc bộ mở rộng, giải chạy Báo Hà Nội mới, và liên hoan nghệ thuật quần chúng.

Phối hợp cùng MTTQ xã thăm tặng quà chúc mừng các cơ sở tôn giáo trên địa bàn xã vào các ngày lễ, tết

Các trường học đã nỗ lực nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đồng thời duy trì chất lượng phổ cập giáo dục ở các bậc học Kết quả đạt được thể hiện rõ qua những thành tựu cụ thể sau đây:

Năm 2019, tỷ lệ học sinh giỏi của trường trung học cơ sở đã vượt kế hoạch đề ra, với 3 em đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp Thành phố, 38 em đạt học sinh giỏi cấp huyện, cùng với 3 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện và 4 giáo viên được công nhận là lao động tiên tiến cấp huyện.

Trường Tiểu học và Mầm non đã đạt nhiều thành tích xuất sắc trong năm học, với 01 giáo viên được công nhận danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp huyện và tập thể nhà trường nhận bằng khen từ UBND Thành phố Cụ thể, Trường Tiểu học có 38 học sinh giỏi cấp huyện, 01 giáo viên giỏi cấp huyện và 03 giáo viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến cấp huyện Tương tự, Trường Mầm non có 15 học sinh giỏi cấp huyện, 03 giáo viên giỏi cấp huyện và 04 giáo viên đạt lao động tiên tiến, cùng với 01 giáo viên đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp huyện.

Trường mầm non tiếp tục duy trì danh hiệu trường chuẩn quốc gia mức độ 1 Trong năm học 2019 – 2020, nhà trường đã chỉ đạo tổ chức lễ khai giảng và trang trọng tuyên dương, khen thưởng những thành tích xuất sắc của các thầy cô giáo nhân dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, tạo không khí vui tươi và ý nghĩa.

Cơ sở hạ tầng tại xã Thanh Bình đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự phát triển thống nhất của nông thôn Xã có nhiều tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ 1A và các đường liên xã, liên thôn, giúp việc di chuyển trở nên thuận lợi Chất lượng các tuyến đường khá tốt, tạo điều kiện cho việc vận chuyển sản phẩm chăn nuôi Bên cạnh đó, xã có 08 trạm biến thế và 7,5 km đường bê tông, cùng với việc đầu tư 2 trạm bơm dã chiến do có Sông Bùi chảy qua Việc phát triển cơ sở hạ tầng là điều kiện vật chất thiết yếu cho nhu cầu phát triển kinh tế và phúc lợi của cư dân Hiện tại, xã đang nỗ lực tháo gỡ các khó khăn, đặc biệt là về giải phóng mặt bằng, nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình và mở rộng quy mô sản xuất chăn nuôi.

Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được thực hiện hiệu quả thông qua các chương trình y tế quốc gia và tiêm chủng mở rộng, đặc biệt trong việc phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết tại địa phương Mạng lưới y tế thôn duy trì hoạt động hiệu quả, đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người có thẻ bảo hiểm y tế, người cao tuổi và người tàn tật, với tổng số 4.630 lượt khám, giảm 399 lượt so với cùng kỳ Tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi được tiêm chủng mở rộng đạt 100%, trong khi 99,7% trẻ em trong độ tuổi được uống vitamin Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế cũng đạt 86%.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Đã tổ chức giám sát đƣợc 140/140 đám cỗ đông người đạt 100%

Tỷ lệ suy dinh dƣỡng chiều cao là 15,01%, tỷ lệ suy dinh dƣỡng cân nặng là 9,3%

Duy trì chế độ trực làm việc và hoàn thành tốt công tác chuyên môn là rất quan trọng Chỉ đạo các thôn thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường vào sáng thứ 7 hàng tuần, đồng thời bảo đảm giữ gìn vệ sinh môi trường trước, trong và sau Tết Nguyên Đán Hưởng ứng chiến dịch Giờ Trái Đất tại địa bàn xã, cần phối hợp với các ban ngành đoàn thể tổ chức tổng vệ sinh nhân dịp các ngày lễ lớn của đất nước và dân tộc.

Tổ chức kiểm tra và rà soát việc sử dụng chất nổ, xung điện, và chất độc trong khai thác thủy sản Phối hợp với Đoàn thanh niên để xây dựng kế hoạch tình nguyện “Vì môi trường xanh - sạch - đẹp” trong mùa hè 2019.

2.2.4 Tình hình phát triển kinh tế

*Về sản xuất TTCN- Thương mại- Dịch vụ:

HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI GÀ THỊT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THANH BÌNH, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

Tình hình chung về chăn nuôi gà thịt xã Thanh Bình

Thanh Bình, một trong bốn xã nghèo của huyện Chương Mỹ, đang đối mặt với địa hình phức tạp và năng suất cây trồng thấp, gây khó khăn cho đời sống người dân Để cải thiện tình hình, xã đã triển khai các giải pháp chuyển đổi kinh tế, tập trung vào mô hình chăn nuôi gia súc và gia cầm, nhằm thay đổi tập quán sản xuất và nâng cao thu nhập cho nông dân, hướng tới mục tiêu xây dựng nông thôn mới (NTM).

Huyện đặc biệt chú trọng công tác thú y và phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, triển khai tiêm phòng và vệ sinh môi trường theo kế hoạch Trạm Thú y huyện phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ, nhân viên trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y Hàng năm, huyện tiêm hàng vạn liều vắc xin cho gia súc, gia cầm và sử dụng hàng nghìn lít thuốc cho công tác vệ sinh môi trường Người chăn nuôi quan tâm đến việc vệ sinh chuồng trại, dành ít nhất 30 ngày sau mỗi lứa để khử trùng theo quy trình Trong những năm qua, huyện Chương Mỹ và xã Thanh Bình không xảy ra dịch bệnh lớn, các ổ dịch nhỏ được xử lý kịp thời, giúp người chăn nuôi yên tâm sản xuất và nâng cao đời sống.

Khó khăn lớn nhất hiện nay đối với nghề chăn nuôi tại huyện Chương Mỹ là tình trạng đầu ra không ổn định Trước đây, nhiều hộ chăn nuôi lợn và gà thường cung cấp cho Công ty CP Chăn nuôi CP Việt Nam với đầu ra tương đối ổn định, nhưng giá cả lại thấp hơn so với thị trường Điều này khiến nhiều hộ và trang trại quyết định tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Hiện tại, khoảng 50% số hộ nuôi gà vẫn cung cấp cho Công ty CP Việt Nam, trong khi 50% còn lại tự sản xuất, trong khi chăn nuôi lợn chủ yếu vẫn phụ thuộc vào Công ty này.

Bảng 3.1 Số hộ chăn nuôi gà tại xã Thanh Bình ĐVT:( hộ)

Tổng số hộ chăn nuôi gà 138 100,00 138 100,00 136 100,00

Nguồn: UBND xã Thanh Bình

Bảng 3.1 cho thấy, tổng số lƣợng hộ chăn nuôi gà tại xã khá ổn định trong

Trong 3 năm qua, chỉ có năm 2019 ghi nhận sự giảm sút với 2 hộ chăn nuôi, bao gồm 1 hộ nuôi gà thịt và 1 hộ nuôi gà đẻ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do công tác phòng dịch của hai hộ này không hiệu quả và họ thiếu kinh nghiệm trong chăn nuôi, dẫn đến thua lỗ trong 2 năm liên tiếp Do đó, họ đã quyết định chuyển sang kinh doanh khác thay vì tiếp tục hoạt động chăn nuôi.

Các hộ chăn nuôi gà trên địa bàn xã chủ yếu nuôi gà thịt, chiếm 60% tổng số hộ

Các hộ chăn nuôi trong khu vực thường chọn giống gà phù hợp với nhu cầu thị trường, bao gồm gà Lương Phượng, Tam Hoàng và gà ri.

Về hình thức nuôi; hiện nay chủ yếu trên địa bàn xã có 2 hình thức nuôi chính: nuôi công nghiệp và bán công nghiệp

Chăn nuôi gà mang lại thu nhập cao hơn so với trồng trọt tại xã, do đó, bên cạnh nỗ lực của người dân, chính quyền địa phương cần chú trọng hơn đến hoạt động này.

Tình hình chăn nuôi gà của các hộ điều tra

3.2.1 Đặc điểm chung của các hộ điều tra Đặc điểm chung của các hộ điều tra thể hiện trên Bảng 3.2

Bảng 3.2 Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Cao nhất Thấp nhất Bình quân

Trình độ văn hoá chủ hộ Lớp 12 8 9,98

Số nhân khẩu BQ/ hộ Khẩu/Hộ 6 3 6,34

BQLĐ nuôi gà/ hộ LĐ/Hộ 5 3 2,95

Số năm kinh nghiệm nuôi gà Năm 21 8 12,5

Tỷ lệ hộ vay vốn % 100 62 55

(Nguồn : Số liệu điều tra, 2020)

Tuổi trung bình của chủ hộ chăn nuôi là 49,9 tuổi, cho thấy rằng độ tuổi này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, năng lực sản xuất và khả năng áp dụng các phương pháp chăn nuôi hiệu quả Độ tuổi thấp nhất là 35, cho phép chủ hộ dễ dàng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và tích lũy kinh nghiệm Tuy nhiên, độ tuổi cao nhất là 66, thường là những người thuê lao động, gặp khó khăn trong việc tiếp cận kỹ thuật và thông tin mới, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm lâu năm Điều này cho thấy sự chênh lệch về độ tuổi trong các hình thức chăn nuôi, và tuổi trung bình cao có thể là một thách thức đối với sự phát triển bền vững trong ngành chăn nuôi.

Trình độ văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức, lối sống và khả năng tiếp cận cũng như ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong phương pháp và kỹ thuật chăm sóc.

Trình độ văn hoá BQ của hai hình thức nuôi đạt 9,98, cho thấy đây là mức văn hoá tương đối cao, giúp dễ dàng tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật So với hình thức nuôi công nghiệp, nuôi bán công nghiệp có trình độ văn hoá thấp hơn 0,04 Điều này chỉ ra rằng, khi tuổi đời thấp, trình độ văn hoá có xu hướng được nâng cao, nhờ vào sự phát triển kinh tế của các hộ gia đình, dẫn đến nhận thức ngày càng hoàn thiện.

Nhân khẩu đề cập đến số lượng người sống trong một gia đình, và mức nhân khẩu này có thể thay đổi tùy thuộc vào nhận thức và hoàn cảnh của từng gia đình Mỗi gia đình có thể có số lượng thành viên giống nhau hoặc khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong cấu trúc xã hội.

Nhân khẩu bình quân mỗi hộ là 6,34 khẩu, trong đó hình thức nuôi công nghiệp có mức nhân khẩu cao nhất là 5,94 khẩu, thấp hơn 0,81 khẩu so với nuôi bán công nghiệp Dù nhân khẩu cao hay thấp đều mang lại những thuận lợi và khó khăn riêng, trong đó khó khăn lớn nhất là nâng cao mức sống cho gia đình, tạo ra gánh nặng cho các hộ gia đình.

Lao động dồi dào là yếu tố thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong chăn nuôi gà, với bình quân 2,95 lao động/hộ, bao gồm cả lao động gia đình và lao động thuê ngoài Hoạt động chăn nuôi gà hiện đang ở mức trung bình, trong đó nuôi công nghiệp yêu cầu 3,1 lao động, cao hơn so với nuôi bán công nghiệp Để đáp ứng xu thế phát triển chung, cần thiết phải đào tạo thêm lực lượng lao động nhằm nâng cao trình độ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi gà.

Số năm kinh nghiệm là yếu tố quan trọng, thường liên quan đến độ tuổi Những người lớn tuổi thường tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn Trong hình thức nuôi công nghiệp, độ tuổi trung bình của chủ hộ là một chỉ số đáng chú ý.

49,70 và số năm kinh nghiệm là 11,9 Con số này so với hình thức nuôi BCN lần lƣợt là 50,29 tuổi và 13,2 năm Tuổi bình quân của mẫu điều tra là 49,9

Tỷ lệ hộ vay vốn cho thấy rằng hầu hết các hộ gia đình đều có nhu cầu vay tiền, chủ yếu từ các tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng, với lãi suất dao động từ 0,7% đến 0,9% Họ cũng có thể vay từ người thân và các tổ chức như hội phụ nữ, hội nông dân.

3.2.2 Thông tin về chăn nuôi gà của hộ

Chăn nuôi gà của các nông hộ có sự đa dạng rõ rệt, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình Mức đầu tư cho việc chăn nuôi gà sẽ khác nhau, thể hiện qua bảng 3.3.

Theo bảng kết quả điều tra, trong một năm, hộ chăn nuôi gà thịt có thể nuôi tối thiểu 2 lứa và tối đa 3 lứa, với trung bình là 2,5 lứa.

Thời gian nuôi gà trung bình mỗi vụ thường kéo dài hơn 100 ngày, nhưng khảo sát thực địa cho thấy thời gian xuất chuồng thực tế chỉ khoảng 90 ngày.

Bảng 3.3 Tình hình chăn nuôi gà của nông hộ Chỉ tiêu ĐVT Nhỏ nhất Lớn nhất BQC

Số lứa nuôi trong năm Lứa/năm 2 3 2,5

Thời gian nuôi bình quân ngày/lứa 75 150 112,5

Số lƣợng nuôi mỗi lứa con/lứa 2500 7000 3906,1

Tỉ lệ hao hụt khi nuôi %/lứa 8 10 9

Trọng lƣợng bình quân kg/con/lứa 1,3 3 1,98

( Nguồn: Số liệu điều tra,2020)

Số lượng gà nuôi mỗi lứa của mỗi hộ chăn nuôi dao động từ 2.500 đến 7.000 con, với trung bình là 3.906,1 con, chủ yếu là các hộ nuôi quy mô lớn và vừa Tỷ lệ hao hụt đã giảm đáng kể nhờ vào việc mua giống từ các cơ sở uy tín và áp dụng công nghệ, kỹ thuật tốt, với tỷ lệ hao hụt trung bình là 9% và cao nhất là 10% Trọng lượng gà khi xuất chuồng đạt 1,3 kg/con, chủ yếu là gà kiến lai, trong khi giống gà công nghiệp có thể đạt tới 3 kg/con Mật độ nuôi gà dao động từ 0,06 đến 12,5 con/m2, trung bình là 2,203 con/m2 Nhiều hộ chăn nuôi địa phương chọn mua giống từ thương lái để tiết kiệm chi phí vận chuyển, dù chất lượng giống không đảm bảo Tham gia các lớp tập huấn không ảnh hưởng nhiều đến kết quả chăn nuôi, nhưng nông dân cần chú ý đến dịch bệnh Phần lớn nông hộ tự tiêm vacxin cho đàn gà, trong khi một số hộ khác chọn dịch vụ kiểm dịch thú y để phòng bệnh.

3.2.3 Tình hình sử dụng đất cho chăn nuôi gà của các hộ điều tra Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, quan trọng, chủ yếu và không thể thiếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường sản xuất ra luơng thực, thực phẩm với giá thành thấp nhất, là một nhân tố quan trọng của môi trường sống và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay huỷ diệt các nhân tố khác của môi trường Chính vì vậy sử dụng đất hợp lý là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái bền vững của tất cả các nước trên thế giới cũng như của nước ta hiện nay Quy mô đất lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ trong việc chăn nuôi, sử dụng máy móc hiện đại góp phần nâng cao năng suất, sản lƣợng Tình hình sử dụng đất đai của các hộ sản xuất đƣợc thể hiện qua bảng dưới đây

Bảng 3.4: Tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra ĐVT:(m 2 )

Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất sử dụng BQ/hộ 1733 100,00 2550 100,00

- Diện tích chăn nuôi gà BQ/hộ 733,3 42,3 1135 44,5

- Diện tích khác BQ/hộ 1000 57,7 1415 55,5

Nguồn: số liệu điều tra hộ nuôi gà thịt năm 2020

Theo bảng số liệu điều tra, diện tích đất sử dụng bình quân mỗi hộ nuôi công nghiệp (CN) là 1733 m², trong khi đó, các hộ nuôi bán công nghiệp (BCN) có diện tích đất sử dụng bình quân là 2550 m² Cụ thể, mỗi hộ nuôi CN dành khoảng 733,3 m² cho việc chăn nuôi gà, trong khi các hộ nuôi BCN dành tới 1135 m² cho cùng mục đích.

Hình thức nuôi nhốt hoàn toàn đòi hỏi diện tích đất để xây dựng chuồng trại, với mỗi hộ thường có từ 1-2 chuồng, mỗi chuồng có diện tích từ 50-100 m² Trong khi đó, hình thức nuôi bán chăn thả (BCN) không chỉ cần diện tích cho chuồng trại mà còn yêu cầu một phần lớn diện tích để chăn thả gà, đặc biệt là gần đồng ruộng, sau khi gà đạt khoảng 20-30 ngày tuổi.

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt tại xã Thanh Bình

gà thịt tại xã Thanh Bình

Khí hậu và thời tiết ảnh hưởng đến gia cầm, đặc biệt là gà thịt, không chỉ dựa vào tính chất của các yếu tố này mà còn phụ thuộc vào cường độ của chúng.

Sự thay đổi trong cường độ tác động vượt quá giới hạn thích hợp có thể dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của vật nuôi.

Xã Thanh Bình cũng nhƣ miền Bắc nói chung, với điều kiện thời tiết nóng ẩm, rất dễ phát sinh dịch bệnh nhƣ dịch cúm A/H5N6, H7N9…

3.3.2 Đất đai Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên tự nhiên quan trọng nhất, là cơ sở cho mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp Không có đất đai thì không thể tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó có hoạt động CNGT Và đất đai có ảnh hưởng lớn đến năng suất, HQKT sản xuất nông nghiệp nói chung và CNGT nói riêng

Hộ chăn nuôi gà tại xã Thanh Bình hiện có điều kiện đất đai thuận lợi, cho phép họ không chỉ sử dụng diện tích hiện có mà còn có thể thuê thêm đất để mở rộng quy mô chăn nuôi.

3.3.3 Nhóm yếu tố về năng lực của chủ thể chăn nuôi

* Kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi

Kiến thức và kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chăn nuôi Những người nuôi thiếu kiến thức và kinh nghiệm thường không tuân thủ quy trình kỹ thuật, dẫn đến sự sinh trưởng kém của vật nuôi, lãng phí tài nguyên và tỷ lệ hao hụt cao do dịch bệnh.

Người chăn nuôi gà tại xã Thanh Bình có kinh nghiệm và thường xuyên tìm hiểu các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi Tuy nhiên, việc tự học hỏi và tìm tòi vẫn còn hạn chế, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả và hiệu quả sản xuất.

* Hình thức tổ chức chăn nuôi

Hiện nay, các hộ xã Thanh Bình chủ yếu áp dụng hai hình thức chăn nuôi chính là chăn nuôi công nghiệp (CN) và chăn nuôi bán công nghiệp (BCN) với quy mô lớn Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi giúp đàn gà nhanh lớn, tỷ lệ hao hụt thấp và đạt hiệu quả kinh tế cao Chăn nuôi khép kín cùng với việc tiêm phòng đầy đủ đã làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh.

Để chọn quy mô nuôi phù hợp, các cơ quan quản lý và người chăn nuôi cần dựa vào các cơ sở khoa học của từng vùng, địa phương Điều này bao gồm sự sẵn có của các yếu tố đầu vào, biến động giá cả thị trường và năng lực quản lý của người chăn nuôi.

Tuy nhiên, người chăn nuôi xã Thanh Bình chủ yếu lựa chọn quy mô phù hợp với khả năng vốn, điều kiện đất đai và kinh nghiệm của họ

3.3.4 Nhóm các yếu tố về thị trường

Trong hoạt động chăn nuôi gia súc, các yếu tố thị trường, bao gồm thị trường đầu vào và đầu ra, đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất.

Trong những năm gần đây, thị trường đầu vào cho chăn nuôi gà, bao gồm thức ăn và giống, đã tương đối ổn định Tuy nhiên, thị trường đầu ra lại gặp nhiều biến động, với giá gà giảm mạnh, đặc biệt là vào tháng 4 năm 2020, khiến người chăn nuôi phải bán gà với giá thấp Thêm vào đó, sự thiếu liên kết giữa các hộ chăn nuôi đã dẫn đến việc họ thường bị tư thương ép giá.

Ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà, đang nhận được sự quan tâm từ Bộ NN & PTNT cùng các Bộ, ngành Tuy nhiên, để khuyến khích người chăn nuôi phát triển mạnh mẽ hơn, cần có những biện pháp quyết liệt hơn.

3.3.5 Nhóm yếu tố về chủ trương, chính sách của Nhà nước

Chủ trương và chính sách của Nhà nước cùng chính quyền địa phương có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế trong ngành chăn nuôi Các chính sách như tín dụng, quản lý đất đai, hỗ trợ đầu tư ban đầu và đào tạo khoa học kỹ thuật có tác động trực tiếp đến sự phát triển của ngành này Việc nới lỏng các chính sách về tín dụng và đất đai, cũng như tạo điều kiện tiếp cận công nghệ sẽ khuyến khích người dân đầu tư mạnh mẽ vào chăn nuôi và mở rộng quy mô sản xuất.

Hiện nay, người chăn nuôi xã Thanh Bình vẫn tự tìm hướng đi cho mình

Người chăn nuôi tại huyện Chương Mỹ chưa nhận được sự quan tâm và hỗ trợ đầy đủ từ chính quyền địa phương Để khuyến khích họ yên tâm đầu tư sản xuất, các cấp chính quyền cần tạo điều kiện thuận lợi bằng cách hỗ trợ về vốn, đất đai và công nghệ.

Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà tại xã Thanh Bình

3.4.1 Xây dựng các cơ sở cung cấp giống, thức ăn có chất lượng, ổn định

Chọn giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gà Do đó, cần thiết phải có các cơ sở giống cung cấp giống gà chất lượng cao, với thời gian nuôi ngắn và tỷ lệ hao hụt thấp.

Hiện nay, các hộ chăn nuôi ưa chuộng giống gà truyền thống hơn giống gà công nghiệp do nhu cầu ăn uống ngày càng cao Gà truyền thống được nuôi lâu hơn, vận động nhiều, dẫn đến thịt săn chắc và chất lượng ngon hơn Cần xây dựng cơ sở giống và nghiên cứu lai tạo giống mới với năng suất và chất lượng cao hơn, khả năng đề kháng tốt và tỉ lệ hao hụt thấp Điều này sẽ khắc phục tình trạng thiếu giống cho người chăn nuôi, giúp họ dễ dàng chọn giống và cung cấp con giống với giá hợp lý, từ đó hạ giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Trong tổng chi phí chăn nuôi gà, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất và có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi.

Thức ăn kém chất lượng có thể làm giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi gà, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các hộ chăn nuôi Do đó, việc mở rộng mạng lưới đại lý cung cấp thức ăn chất lượng cao là cần thiết, giúp các hộ chăn nuôi dễ dàng tiếp cận nguồn thức ăn đảm bảo chất lượng.

Giá thành sản phẩm là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh, trong đó chi phí thức ăn đóng vai trò chủ chốt Chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí chăn nuôi gà, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của người chăn nuôi Thức ăn kém chất lượng không chỉ giảm năng suất mà còn làm giảm hiệu quả chăn nuôi, từ đó tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các hộ chăn nuôi Vì vậy, việc kiểm soát chất lượng thức ăn từ các đại lý là rất cần thiết.

3.4.2 Giải pháp về kĩ thuật

* Chuyển đổi phương thức chăn nuôi

Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, cần chuyển đổi từ hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung và khép kín Các chuồng trại nên được xây dựng ở vị trí xa khu dân cư và thuận tiện cho việc giao thông Đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, cần chú trọng vào việc xây dựng chuồng trại có rào ngăn cách, không cho phép chăn thả tự do để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh từ các hộ khác, đồng thời thuận lợi cho việc kiểm soát dịch bệnh.

* Ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào chăn nuôi

Chăn nuôi khép kín với các chuồng nuôi tiên tiến như chuồng kín, chuồng lồng, và hệ thống máng ăn, máng uống tự động đang được áp dụng Để nâng cao trình độ chăn nuôi, chính quyền địa phương cần tổ chức thường xuyên các lớp học hướng dẫn kỹ thuật và cách sử dụng công nghệ mới, giúp người dân dễ dàng áp dụng và bắt kịp với sự hiện đại trong ngành chăn nuôi.

* Phát triển hình thức nuôi BCN và duy trì hình thức nuôi CN

Chăn nuôi gà thịt theo hình thức BCN mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với hình thức CN Do đó, cần thiết phải có các chính sách khuyến khích và hỗ trợ để phát triển hình thức chăn nuôi này.

* Đẩy mạnh công tác thú y

Để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ sức khỏe động vật, cần hoàn thiện hệ thống tổ chức thú y tại tất cả các xã, phường trong thị xã Đồng thời, việc tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch cho tất cả đàn gia cầm nuôi tập trung, đặc biệt là vacxin cúm gia cầm, là rất quan trọng để ngăn chặn dịch bệnh và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Để ngăn chặn dịch cúm hiệu quả, cần tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người dân hiểu rõ tác hại kinh tế và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm là rất quan trọng Gia cầm ốm bệnh không được phép bán chạy hay chôn vứt bừa bãi; thay vào đó, cần tiến hành tiêu hủy đúng quy trình để ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh.

3.4.3 Với vốn đầu tư cho chăn nuôi

Chính quyền địa phương cần triển khai các chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay, từ đó giúp họ mở rộng quy mô chăn nuôi hiệu quả hơn.

Xây dựng các tổ chức hỗ trợ vay vốn tại địa phương, như hội phụ nữ, ngân hàng chính sách xã hội và hội cựu chiến binh, nhằm đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn với lãi suất thấp Điều này sẽ giúp các hộ chăn nuôi yên tâm mở rộng quy mô chăn nuôi của họ.

Các cơ quan chính quyền cần cung cấp thông tin thị trường đầy đủ và kịp thời để hộ chăn nuôi nắm bắt, tránh bị thương lái ép giá Đồng thời, chính quyền cũng nên hỗ trợ nông dân trong việc tiêu thụ sản phẩm gà thịt thông qua các hình thức liên kết và ký hợp đồng với các cơ sở thu mua, công ty, và trung tâm giết mổ.

Các hộ chăn nuôi đang xây dựng mối liên kết chặt chẽ với nhau và với các đơn vị thu gom, nhằm bán sản phẩm với giá tốt nhất và tránh tình trạng bị ép giá bởi tư thương Nhờ đó, các nhóm hộ có khả năng tự tiêu thụ sản phẩm cho các công ty và trung tâm thu mua lớn mà không cần phải phụ thuộc vào tư thương Tuy nhiên, nhiều hộ chăn nuôi vẫn chưa chủ động trong việc tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến việc lợi nhuận bị giảm sút do sự phụ thuộc vào các tư thương.

Chăn nuôi gà thịt ở xã Thanh Bình đang phát triển, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Tuy nhiên, sự phát triển này chưa tương xứng với tiềm năng do tính tự phát và thiếu quy hoạch đồng bộ, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Ngoài ra, ngành chăn nuôi gà thịt còn gặp khó khăn như dịch bệnh chưa được kiểm soát, chăn nuôi manh mún, trình độ người chăn nuôi hạn chế và thị trường tiêu thụ không ổn định.

Ngày đăng: 30/05/2021, 22:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết HĐND xã về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, 2018, 2019 của xã Thanh Bình Khác
2. Đỗ Thị Ngà - Ngô Thị Thuận và các tác giả (1997), Thống kê nông nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp Khác
3. Mai Văn Nam, Nguyễn Thị Ngọc (2010), Hiệu quả chăn nuôi gia cầm ở Đồng bằng Sông Cửu Long Khác
4. Nguyễn Duy Hoan – Giáo trình chăn nuôi gia cầm, NXB nông nghiệp Hà Nội 1999 Khác
5. Nguyễn Quốc Nghi - Trần Quế Anh - Trần Thị Ngọc Hân (2011) - Phân tích hiệu quả mô hình nuôi gà thả vườn bán công nghiệp ở huyện Châu Thành A,tỉnh Hậu Giang Khác
6. Nguyễn Thế Nhã . Vũ Đình Thắng (2004), Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w