Ông bà ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, rõ ràng quan niệm này cho thấy việc xem trọng con trai: 1 con trai thì có, 10 con gái cũng như không. Mặc dù đó là quan niệm [r]
Trang 1BAI DỰ THI Tìm hiểu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới
–––––––––––––––––––––
Họ và tên: Vũ Thị Vang
Năm sinh: 12 - 10 - 1965.
Giới tính: Nữ.
Dân tộc: Kinh.
Đơn vị công tác: Chi hội phụ nữ thôn Lại, xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang, tỉnh
Hải Dương
Câu 1: Luật Bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng thuật ngữ và cho 2 ví dụ để minh hoạ cho 2 khái niệm bất kỳ ?.
Trả lời: Luật bình đẳng giới được quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông
qua và có hiệu lực tại kì họp thứ X ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007
* Những thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới được hiểu như sau:
1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ
xã hội
2 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.
3 Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
4 Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc
điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ
5 Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc
không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
6 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng
giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được
7 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề
giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
8 Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân
thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới
Trang 29 Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình
đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ
Ví dụ: Về định kiến giới
Ông bà ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, rõ ràng quan niệm này cho thấy việc xem trọng con trai: 1 con trai thì có, 10 con gái cũng như không Mặc dù đó là quan niệm sai lầm nhưng còn nặng trong tư tưởng của mỗi người dân Á đông cả trong xã hội hiện đại
Ví dụ: Về giới tính
Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ sinh giảm từ 2,33 con/phụ
nữ vào năm 1999 xuống còn 2,03 con/phụ nữ vào năm 2009 ở mức thấp, tầm vóc, thể lực còn hạn chế Đặc biệt, tỷ số chỉ số giới tính ở Việt Nam, từ 106,2 bé trai vào năm
2000 lên tới 110,5 bé trai vào năm 2009 Việc lựa chọn giới tính thai nhi cho thấy sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến giới tính
Câu 2: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là gì? Nêu các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực.
Trả lời: Luật bình đẳng giới quy định thực hiện bình đẳng giới trong 8 lĩnh
vực: Chính trị; Kinh tế; Lao động; Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; Y tế; bình đẳng giới trong gia đình
1 Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị;
2 Bình đẳng giới trong lĩnh vực Kinh tế;
3 Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động;
4 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo;
5 Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ;
6 Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao;
7 Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế;
8 Bình đẳng giới trong gia đình
* Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị bao gồm:
a) Bảo đảm tỉ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
b) Bảo đảm tỉ lệ thích đáng trong bổ nhiệm các chúc danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia bình đằng giới
Câu 3: Anh/chị hãy nêu những quy định về nội dung và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động? Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, chế độ nghỉ thai sản được quy định như thế nào?.
Trả lời: Căn cứ vào Điều 8, chương II, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày
10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
1 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập
Trang 3hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình
độ, năng lực vì lý do giới tính
2 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành
vi sau đây:
a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật;
b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động nữ
vì lý do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ
3 Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này
* Về chế độ thai sản được quy định tại Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 và Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:
1 Đối tượng hưởng:
- Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Lao động nữ mang thai
+ Lao động nữ sinh con
+ Người lao động nhận nuôi con nuôi ≤ 4 tháng tuổi
+ Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản
- Người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian
12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi
2 Thời gian hưởng:
- Quỹ BHXH chi trả cho thời gian nghỉ của người lao động nghỉ hưởng trợ cấp thai sản (kể cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần)
- Trong thời gian mang thai được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 2 ngày cho một lần khám thai
- Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu:
+ 10 ngày nếu thai < 1 tháng
+ 20 ngày nếu thai ≥ 1 đến 3 tháng
+ 40 ngày nếu thai từ ≥ 3 đến 6 tháng
+ 50 ngày nếu thai từ ≥ 6 tháng
- Thời gian hưởng chế độ khi sinh con:
+ Điều kiện lao động bình thường: 4 tháng
Trang 4+ Điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm 3 ca; phụ cấp kiêm việc hệ số ≥ 0,7; lực lượng vũ trang 5 tháng
+ Lao động tàn tật: 6 tháng
+ Trường hợp sinh đôi trở lên từ con thứ 2, cứ mỗi con được nghỉ thêm 30 ngày
- Trường hợp sau khi sinh con mà con chết mẹ được nghỉ:
+ < 60 ngày tuổi được nghỉ việc 90 ngày tính từ ngày sinh con
+ ≥ 60 ngày tuổi được nghỉ việc 30 ngày tính từ ngày con chết
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định
- Trường hợp nhận nuôi con nuôi < 4 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi
Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi
- Trường hợp thực hiện các biện pháp tránh thai:
+ Khi đặt vòng tránh thai: 7 ngày
+ Khi thực hiện biện pháp triệt sản: 15 ngày
Câu hỏi 4: Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đặt
ra mục tiêu, chỉ tiêu nào nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị? Bằng hiểu biết của mình, anh/chị hãy nêu tên đầy đủ các vị lãnh đạo nữ cấp cao hiện nay của Đảng, Nhà nước Việt Nam (gồm: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Chính phủ, các Bộ trưởng)?.
Trả lời: Ngày 24 tháng 12 năm 2010, chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc
gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 bằng Quyết định 2351/QĐ-TTg Có thể thấy, Chiến lược là một nỗ lực lớn của chính phủ trong việc bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta Chiến lược cũng là những hoạt động quan trọng để thực hiện Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia vào 29/7/1980 và phê chuẩn vào 27/11/1981
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới mục tiêu "Đến 2020 về cơ bản đảm bảo bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước"
Chiến lược có 7 mục tiêu cụ thể, mỗi mục tiêu lại có những chỉ tiêu đo đếm được Các mục tiêu và các chỉ tiêu được nêu trong chiến lược là
* Mục tiêu 1 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh
đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị
- Chỉ tiêu 1 Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ
2016-2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016-2020 trên 35%
Trang 5- Chỉ tiêu 2 Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95%
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ
- Chỉ tiêu 3 Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội có lãnh đoạ chủ chốt là nữ nếu ở
cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao đông
* Các vị nữ cấp cao hiện nay của Đảng, Nhà nứớc Việt Nam, như sau:
1 Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá XI:
- Bà Tòng Thị Phóng
2 Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XI:
- Bà Hà Thị Khiết
- Bà Nguyễn Thị Kim Ngân
3 Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội khoá XIII:
- Bà Tòng Thị Phóng - Phó Chủ tịch Quốc hội khoá XIII
- Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Phó Chủ tịch Quốc hội khoá XIII
- Bà Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Uỷ Ban về các vấn đề xã hội
- Bà Nguyễn Thị Nương - Trưởng Ban công tác đại biểu
4 Phó Chủ tịch nước Việt Nam:
- Bà Nguyễn Thị Doan
5 Bộ trưởng:
- Bộ trưởng y tế - Bà Nguyễn Thị Kim Tiến
- Bộ trưởng LĐTB&XH - Bà Phạm Thị Hải Chuyền
Câu hỏi 5: Từ những tình huống, câu chuyện thực tế trong cuộc sống xung quanh mình, anh/chị hãy viết một bài (tối đa 1.500 từ) về tấm gương của cá nhân hoặc tập thể điển hình hoặc chia sẻ câu chuyện, sự kiện ấn tượng trong việc thực hiện bình đẳng giới
Từ kịch đến … đời!
Trong tọa đàm “Chị em của Nora – Quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình” Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Thanh Hoà nói, Việt Nam tuy có nhiều tiến bộ bình đẳng giới nhưng định kiến vẫn còn
“Chị em của Nora – Quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình” là tên cuộc tọa đàm về bình đẳng giới do Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (Bộ LĐTB&XH), Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam cùng Đại sứ quán
Na Uy tổ chức sáng 27/3, tại Hà Nội
Đây là một trong chuỗi các Hội thảo mang tên “Các chị em của Nora” được tổ chức ở nhiều nước trên thế giới kể từ năm 2006, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của nhà soạn kịch Na Uy Henrik Ibsen, tác giả vở kịch “Nhà búp bê” với Nora là tên nhân vật chính Sự kiện văn hoá đặc biệt này nhằm khơi nguồn cho việc nhận thức các vấn
đề liên quan đến bình đẳng giới của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội ở Việt Nam
Trang 6Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Thanh Hoà cho rằng, trong gia đình, để đạt được bình đẳng giới, đòi hỏi các thành viên mà trước hết là vợ
và chồng, cùng phải có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên một cách công bằng, đồng thời cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau.
Vở kịch "Nhà búp bê" với sự tham gia của NSND Lê Khanh vai nữ chính đã thu hút đông đảo công chúng Hà Nội
Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận, ở Việt Nam, tuy đã đạt được nhiều tiến bộ về bình đẳng giới nhưng định kiến giới vẫn còn tồn tại Đó là tư tưởng trọng nam hơn
nữ, như: công việc chăm sóc gia đình vẫn chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm; phụ nữ và các bé gái vẫn thường phải “Nhường nhịn” các điều kiện và cơ hội phát triển cho nam giới và các bé trai… Những yếu tố này đã làm hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì thế, “Thực hiện tốt bình đẳng giới trong gia đình
là biện pháp hữu hiệu để xây dựng một “Tế bào” xã hội no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hoà nhấn mạnh
Còn Đại sứ Na Uy Kjell Storlokken cho biết thêm, sự nổi loạn của Nora chống lại người đàn ông không xem cô là một con người, chống lại xã hội trao cho người phụ nữ rất ít quyền tự do, đã có giá trị biểu tượng to lớn Trong 125 năm qua, tuyên
Trang 7bố nổi tiếng của Nora “Trước khi trở thành một ai khác, tôi là một con người” đã trở thành ngọn hải đăng cho vô vàn phụ nữ trên thế giới Trước đó, tối 26/3, Nhà hát Tuổi trẻ đã trình diễn lại vở kịch “Nhà búp bê” để các đại biểu tham dự nắm bắt được ý nghĩa sâu sắc của Tọa đàm, có thêm thông tin làm cơ sở thảo luận những vấn đề liên quan Vở kịch này khi ra mắt lần đầu tiên ở Châu Âu đã gây "Sốc" bởi tính chất "Phản tỉnh" vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội nó được coi như một dấu mốc khởi phát cho việc giải quyết các vấn đề về bình đẳng giới
Câu hỏi 6: Theo anh/chị, bản thân anh/chị và cơ quan, tổ chức, địa phương nơi anh/chị làm việc hoặc sinh sống nên làm gì để thực hiện bình đẳng giới được tốt hơn?
Trả lời: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, hiệu
quả quản lý của các cơ quan nhà nước các cấp đối với công tác phụ nữ, nhằm phấn đấu đến năm 2015, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực có sự bất bình đẳng hoặc nguy
cơ bất bình đẳng giới cao, tạo đà cho sự thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2020 Về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội
Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị
- Rà soát các quy định của Nhà nươc về bình đẳng giới
- Nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày
- Xây dựng cơ chế đảm bảo thúc đẩy sự tham gia của nữ trên mọi lĩnh vực công tác và đời sống hàng ngày
- Tăng cường công tác tuyên truyền về bình đẳng giới cho cán bộ, đoàn viên, hội viên và nhân dân nắm được để thực hiện bình đẳng gíơi
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện Luật bình đẳng giới
- Hỗ trợ việc làm, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn về mọi mặt cho phụ nữ
Vì sự tiến bộ của phụ nữ, pháp luật nói chung, Luật bình đẳng giới nói riêng đi vào cuộc sống, trách nhiệm của cá nhân tôi và nơi tôi đang công tác trong việc thúc đẩy bình đẳng giới như sau:
- Mỗi người không phân biệt nam hay nữ cần tích cực tìm hiểu, nghiên cứu Luật bình đẳng giới; nghiên cứu các văn bản pháp quy và tuyên truyền về việc thúc đẩy bình đẳng giới
- Nắm vững mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới; chính sách
Trang 8bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật
- Nắm được bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung
- Nắm được các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới; nắm được trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới
- Tích cực tuyên truyền và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới Đẩy mạnh
và đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới Mở rộng đối tượng tuyên truyền, từ nam giới, đến nữ giới, từ cán bộ công nhân, viên chức, nhân dân, học sinh Đối với các cấp uỷ đảng, chính quyền, Uỷ ban Mặt trận tổ Quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường mở các lớp tập huấn về kỹ năng nồng ghép giới cho cán bộ, công chức, người lao đồng, toàn thể nhân dân để đưa được vấn đề giới vào trong kế hoạch giáo dục đào tạo, bồi dưỡng và trong các quy định của Nhà nước./