Nhưng môi trường kinh doanh thay đổi và khác nhau giữa các quốc gia, những lực lượng rủi ro trong kinh doanh cùng với các yếu tố thị trường ngày càng phức tạp hơn, vì thế quản trị rủi r
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
LÊ NGUYỄN TRỌNG HIẾU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2-
LÊ NGUYỄN TRỌNG HIẾU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI
RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN HOÀNG NGÂN
Tp Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3Tôi tên là Lê Nguyễn Trọng Hiếu, là học viên cao học khóa 22, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Tôi cam đoan luận văn sau đây là do chính bản thân tôi nghiên cứu và thực hiện
Các cơ sở lý luận được tham khảo trực tiếp từ các tài liệu về kinh doanh ngoại hối và quản trị rủi ro Kết quả phân tích và đánh giá được thực hiện và tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy
Tôi cam đoan luận văn này không được sao chép từ các công trình nghiên cứu khoa học khác
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015
Học viên
Lê Nguyễn Trọng Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
GIỚI THIỆU 7
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12
1.1 Rủi ro ngoại hối trong hoạt động của NHTM 12
1.1.1 Khái niệm rủi ro ngoại hối 12
1.1.2 Các nhân tố tác động đến rủi ro ngoại hối tại các NHTM 12
1.1.3 Các nhân tố tác động chung 12
1.1.3.1 Lạm phát 13
1.1.3.2 Thâm hụt cán cân thương mại 14
1.1.3.3 Tình trạng đôla hóa nền kinh tế 15
1.1.3.4 Trạng thái ngoại tệ 17
1.1.3.5 Cơ chế điều hành tỷ giá 18
1.1.3.6 Các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối 19
1.1.4 Các nhân tố tác động riêng 20
1.2 Quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM 20
1.2.1 Sự cần thiết của quản trị rủi ro ngoại hối 20
1.2.2 Mô hình quản trị rủi ro ngoại hối 21
1.2.2.1 Mô hình quản trị rủi ro tập trung 21
1.2.2.2 Mô hình quản trị rủi ro phân tán 21
1.3 Các biện pháp quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM 22
1.3.1 Sử dụng các giới hạn trạng thái ngoại hối giao dịch qua đêm 22
1.3.2 Cân bằng trạng thái ngoại hối 24
1.3.3 Sử dụng các kỹ thuật dự đoán tỷ giá 24
1.3.4 Sử dụng các công cụ phái sinh 27
1.3.5 Sử dụng công cụ VaR – Giá trị chịu rủi ro 31
1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro ngoại hối tại một số ngân hàng trên thế giới 34
1.4.1 Ngân hàng Societe Generale (Pháp) 34
1.4.2 Ngân hàng Barings (Anh) 35
1.4.3 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro ngoại hối đối với các NHTM Việt Nam 35 1.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN
HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 37
2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 37
2.2 Tổ chức phòng kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 37 2.2.1 Chức năng, phạm vi tham mưu 37
2.2.2 Quy trình xác định tỷ giá hối đoái 38
2.3 Phân tích thực trạng về quản trị rủi ro ngoại hối tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 39
2.3.1 Tình hình hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 39
2.3.2 Các nhân tố chung tác động đến rủi ro ngoại hối 47
2.3.2.1 Lạm phát 47
2.3.2.2 Thâm hụt cán cân thương mại 49
2.3.2.3 Tình trạng đôla hóa nền kinh tế 50
2.3.2.4 Cơ chế điều hành tỷ giá 50
2.3.3 Các nhân tố riêng tác động đến rủi ro ngoại hối 52
2.3.3.1 Rủi ro trạng thái ngoại hối và biến động tỷ giá 52
2.3.3.2 Rủi ro tác nghiệp 53
2.3.3.3 Rủi ro từ hệ thống công nghệ hỗ trợ: 54
2.3.4 Các công cụ quản trị rủi ro ngoại hối đang được áp dụng 54
2.3.4.1 Phân cấp hạn mức giao dịch 54
2.3.4.2 Sử dụng các công cụ phái sinh 55
2.3.4.3 Ứng dụng mô hình đo lường rủi ro VaR 56
2.4 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro ngoại hối của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 59 2.4.1 Quản trị rủi ro trong nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay 59
2.4.2 Quản trị rủi ro trong nghiệp vụ phái sinh ngoại tệ 61
2.4.3 Thành tựu trong hoạt động quản trị rủi ro ngoại hối 63
2.4.4 Hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro ngoại hối 64
2.4.5 Nguyên nhân của các hạn chế 64
2.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 66
3.1 Xây dựng khung quản trị rủi ro ngoại hối theo chuẩn mực quốc tế 66
3.2 Tăng cường sự kết hợp giữa các phòng ban có liên quan 66
3.3 Phân cấp hạn mức giao dịch chi tiết 69
3.4 Sử dụng các phương pháp dự báo tỷ giá 71
3.5 Tăng cường công tác kiểm tra, kiếm soát nội bộ 73
Trang 63.6 Thiết lập hệ thống công nghệ thông tin 74 3.7 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt
FXDS Foreign Exchange, Difference Settled Mua bán, thanh toán chênh
lệch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Lợi nhuận mua bán ngoại tệ của Sacombank 39
2 Bảng 2.2 Trạng thái ngoại hối và lãi/lỗ 53
3 Bảng 2.3 Tỷ giá của EUR theo USD cho tới ngày 23/10/2015 56
4 Bảng 2.4 Thống kê EUR/USD 57
5 Bảng 2.5 Bảng tính VaR 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Giá trị chịu rủi ro VaR 31
Hình 2.1 Giá vàng thế giới qua các năm 41
Hình 2.2 Giá vàng SJC qua các năm 42
Hình 2.3 Mô tả diễn biến tỷ giá và dollar-index từ 1/2011 đến 12/2011 42
Hình 2.4 Tỷ giá và dollar-index từ 1/2012 đến 12/2012 44
Hình 2.5 Tỷ giá và dollar-index từ 1/2012 đến 5/2015 45
Hình 2.6 Chỉ số CPI tại Việt Nam 47
Hình 2.7 Cán cân thương mại Việt Nam 49
Hình 2.8 Tỷ lệ đôla hóa tại Việt Nam 50
Hình 2.9 Phân phối xác suất chuẩn của tỷ giá EUR/USD 58
Trang 10GIỚI THIỆU
1 Lý do nghiên cứu
Kể từ ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và đang trong tiến trình cải cách để hội nhập vào nền kinh tế thế giới Tiến trình tự do hóa kinh tế tất yếu dẫn đến tự do hóa các dòng vốn, tự do hóa lãi suất và tự do hóa tỷ giá hối đoái Từ trước tới nay, nhờ chính sách can thiệp của nhà nước đã giúp cho lãi suất và tỷ giá hối đoái rất ổn dịnh, ngoại trừ một số thời điểm đặc biệt như khủng hoảng tài chính tiền tệ Ðông Nam Á năm 1997-1998 Tuy nhiên, giai đoạn 2006 tới nay tỷ giá đã nhiều lần biến động, biến động tỷ giá vừa tạo rủi ro vừa tạo cơ hội kinh doanh cho các ngân hàng Thêm vào
đó, hoạt động của các ngân hàng trong những năm trước đây chủ yếu tập trung vào khâu tín dụng, có những ngân hàng hoạt động kinh doanh tín dụng chiếm đến hơn 90% Vì thế, vấn đề KDNH cũng như quản lý rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng trong KDNH chưa được các ngân hàng quan tâm đúng mức Chỉ đến thời gian gần đây khi tỷ giá USD/VND tăng giảm nhanh, giá vàng biến động mạnh, tỷ trọng kinh doanh tín dụng giảm dần, áp lực cạnh tranh trên thị trường tăng cao thì các ngân hàng mới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi
ro tỷ giá cho KDNH và các giải pháp khác trong việc quản lý rủi ro trong hoạt động KDNH Về phía các Ngân hàng, hoạt động KDNH luôn được kỳ vọng đem lại nhiều lợi nhuận và rủi ro là thấp nhất Trong khi đó, sự biến động của tỷ giá ngoại tệ
và giá vàng là rất khó để dự đoán và có thể gây ra nhiều thiệt hại cho ngân hàng Cho nên, việc tìm ra các giải pháp để phòng ngừa và nâng cao hiệu quả quản lý rủi
ro ngoại hối cho hoạt động KDNH là thật sự cần thiết Chính vì lẽ dó, tác giả chọn
nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro ngoại hối tại
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín”
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, quản trị rủi ro cho hoạt động của NHTM nói chung và quản trị rủi
ro ngoại hối nói riêng đã được nghiên cứu nhiều ở các phát triển và đang phát triển
Trang 11Cho đến nay, kết hợp từ những công trình nghiên cứu và thực tiễn, có thể nói lý thuyết về quản trị rủi ro NHTM đã hình thành tương đối cơ bản
Nhưng môi trường kinh doanh thay đổi và khác nhau giữa các quốc gia, những lực lượng rủi ro trong kinh doanh cùng với các yếu tố thị trường ngày càng phức tạp hơn, vì thế quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM cũng phải liên tục được nghiên cứu, hoàn thiện để phù hợp và có hiệu quả với thực tiễn
Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề rủi ro và quản trị rủi ro ngoại hối, có thể kể đên tác giả sau:
- Hennie van Greuing và Sonia Brajovic Bratanovic, với nghiên cứu mang
tên “ANALYZING AND MANAGING BANKING RISK” 2003, phân tích và quản
lý các rủi ro chung trong ngân hàng bao gồm rất nhiều loại rủi ro trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối và các vấn đề khác
có liên quan Quản trị rủi ro ngoại hối trong ngân hàng là một đề tài mang tính chất thực tế cao nên ít có các giả thuyết lý luận trong các nghiên cứu của các tác giả đi trước Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chủ yếu nêu lên phương pháp lượng hóa rủi ro bằng kỹ thuật tính toán VAR
- “Foreign exchange risk management in commercial bank in Pakistan” của
tác giả Maroof Hussain năm 2010 tại trường The University of Lahore
- “Management of Foreign exchange risk in selected commercial bank, in
Nigeria” của nhóm tác giả J.O Adetayo, E.A Dionco Adetayo và B Oladejo năm
2008 tại trường Obafemi Awolowo University
Trong các đề tài kể trên, các tác giả đã chủ yếu đi sâu vào phân tích rủi ro ngoại hối là gì? Các tác động của rủi ro ngoại hối đến hoạt động của NHTM cũng như đề ra các giải pháp để quản lý hiệu quả rủi ro ngoại hối
Các nghiên cứu trong nước:
- Luận văn thạc sỹ “Quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ của Ngân Hàng
TMCP Hàng Hải” của tác giả Nguyễn Thanh Hải năm 2012 tại Đại học
Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu, đánh giá
Trang 12tình hình quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh ngoại hối hiện tại của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam; Nhận diện các rủi ro kinh doanh ngoại hối mà Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đã và đang đối mặt; Đưa ra được các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát rủi ro kinh doanh ngoại tệ áp dụng hiệu quả tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam và có thể áp dụng được trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ “Quản lý rủi ro trong KDNH của các ngân hàng thương
mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Bùi Quan Tín năm
2013 tại trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài đã xác định được những nguyên nhân của tồn tại trong quản lý rủi ro ngoại hối của các NH TMCP và từ đó đề ra các giải pháp để hạn chế rủi ro trong KDNH tại các NH TMCP nói chung và các NHTMCP trên địa bàn TP.HCM nói riêng Ngoài ra, đề tài còn kiến nghị những biện pháp nhằm
hỗ trợ cho sự phát triển hoạt động KDNH và quản lý rủi ro trong KDNH
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về quản trị rủi ro ngoại hối trong hoạt động của NHTM, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu riêng về quản trị rủi ro ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín để từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa, quản trị rủi ro phù hợp với tình hình kinh doanh thực tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và đưa ra một số giải pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro ngoại hối có thể áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực quản trị
rủi ro ngoại hối tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” nhằm:
- Làm rõ những lý luận chung về quản trị rủi ro ngoại hối, phương pháp xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro ngoại hối
- Nghiên cứu những rủi ro thực tế xảy ra và thực trạng quản trị rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh ngoại hối
Trang 13- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ðối tuợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng quản trị rủi ro ngoại hối từ đó đề xuất các giải pháp trong việc tăng cường quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Ngoài ra, trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, Luận văn này chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là các loại ngoại tệ mạnh (gồm có: USD, EUR, GBP, AUD, JPY, CAD, CHF),
vì đây là các ngoại tệ giao dịch chủ yếu và lớn nhất hiện nay tại Ngân hàng
Nghiên cứu phân tích hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín từ năm 2008 đến 2015 Dữ liệu để chạy mô hình VaR, tác giả lấy tỷ giá theo ngày của các ngoại tệ đến ngày 23 tháng 10 năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, phương pháp tính toán VaR để thực hiện nghiên cứu
và đối chiếu giữa chính sách quản lý của nhà nước với thực tế hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Trong quá trình nghiên cứu
có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn đồng thời tham khảo các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nuớc liên quan đến nội dung nghiên cứu, cũng như sử dụng các số liệu tham khảo từ các cơ quan hữu quan và các số liệu
từ tài liệu nước ngoài
Dữ liệu thu thập chủ yếu dựa trên các nguồn chính thức như báo cáo hoạt động kinh doanh, báo cáo thường niên, các báo cáo nội bộ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và từ các cơ quan thống kê, các tài liệu nuớc ngoài
Bên cạnh đó tác giả có tham khảo các nguồn tư liệu từ nghị định của chính phủ, các văn bản hướng dẫn của NHNN, các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành, các tài liệu của các nhà khoa học, các ý kiến của đồng nghiệp và những nhà quản lý ngân hàng
Trang 14Dữ liệu thu thập sẽ được thống kê, phân tích, tổng hợp, hiệu chỉnh và đánh giá Đồng thời sử dụng bảng, biểu và hình để minh họa làm tăng độ tin cậy trong nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài được phân bổ thành 3 chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro ngoại hối trong hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ và giá vàng làm ảnh hưởng xấu đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng: (1) các ngân hàng giao dịch các đồng tiền nước ngoài, vàng nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính ngân hàng mình; (2) các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (long hoặc short) trong mua bán ngoại hối và tron cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ Nếu tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn
1.1.2 Các nhân tố tác động đến rủi ro ngoại hối tại các NHTM
Các nhân tố tác động đến rủi ro trong KDNH của các NHTM được chia ra làm hai nhóm, bao gồm nhóm các nhân tố tác động chung và nhóm các nhân tố tác động riêng:
Nhóm các nhân tố tác động chung gồm nhóm các yếu tố tác động từ môi trường kinh tế - chính trị - xã hội của các nước trên thế giới gọi là nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố chủ yếu từ môi trường kinh tế trong nước
Nhóm các nhân tố tác động riêng là các yếu tố gây ra rủi ro cho KDNH của các NHTM xuất phát từ hoạt động của các ngân hàng
1.1.3 Các nhân tố tác động chung
Bao gồm các nhân tố đến từ ngoài nền kinh tế và các nhân tố bên trong nền kinh tế Các nhân tố đến từ ngoài nền kinh tế là các yếu tố chủ yếu thuộc các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội của các nước trên thế giới có ảnh hưởng đến nền kinh tế của một Quốc gia nói chung và hoạt động KDNH nói riêng Mức độ tác động này có thể tùy theo độ mở cửa của từng nền kinh tế khác nhau Tuy nhiên qua các năm, mức độ ảnh hưởng của sự biến động của các nền kinh tế trên thế giới sẽ
Trang 16tác động ngay đến các hoạt động của nền kinh tế của một Quốc gia theo chính sách
mở cửa của Quốc gia đó
Các nhân tố đến từ bên trong nền kinh tế là các yếu tố tác động từ nội tại của nền kinh tế ở một Quốc gia, trong đó chủ yếu bao gồm: lạm phát, thâm hụt cán cân thương mại, tình trạng đôla hóa nền kinh tế, trạng thái ngoại tệ, cơ chế điều hành tỷ giá và các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối
1.1.3.1 Lạm phát
Quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái không phải là quan hệ một chiều
mà là quan hệ vòng, tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi yếu tố này là nguyên nhân và yếu tố kia là kết quả Điều đó có thể tạo ra các thiệt hại tài chính lớn hơn nhiều do “vòng xoáy” lạm phát - tỷ giá gây ra Giá trị tiền đồng giảm sẽ làm tăng giá hàng nhập khẩu và tạo thêm áp lực lên CPI, rồi từ CPI lên cao trở lại sẽ gây áp lực mặt bằng lãi suất cao và làm tiền đồng thêm mất giá Bên cạnh đó, mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền nước còn lại
Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của hai đồng tiền PPP (Purchasing Power Parity Theory) Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối so với mức tăng giá của nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền của nước đó giảm giá và ngược lại Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ có ảnh hưởng đến biến động của tỷ giá trong dài hạn Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến động của tỷ giá trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đáng tin cậy
Một nền kinh tế sẽ vận hành tốt và hiệu quả hơn khi xét về tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế, về việc làm, và về cải thiện đời sống nhân dân, nếu tỷ lệ lạm phát thấp
và được duy trì ổn định ở mức đó Bởi vì, kỳ vọng lạm phát sẽ khiến hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế trở nên không ổn định Có thể nói, mọi động thái bất thường và bất hợp lý của chỉ số lạm phát đều để lại những hiệu quả tiêu cực cho nền
Trang 17kinh tế, tạo ra nhiều rủi ro cho các hoạt động trên thị trường ngoại hối Lạm phát đồng nghĩa với đồng tiền giảm giá trị là những tin tức tiêu cực đối với hầu hết người dân, các tổ chức kinh tế Lạm phát bóp méo giá cả, giảm độ tin cậy vào đồng tiền của Quốc gia đó, tăng cầu về ngoại tệ (đặc biệt là USD), không khuyến khích đầu
tư, đầu tư vào vàng, hạn chế tăng trưởng kinh tế và tới cực điểm nó có thể gây ra những bất ổn về mặt xã hội và chính trị
Cho nên, lạm phát tại một Quốc gia tạo ra tỷ giá của USD hay một ngoại tệ khác với đồng tiền của Quốc gia đó thường có xu hướng tăng và nhu cầu đầu tư vào vàng nhằm làm nơi trú ẩn an toàn ngày càng tăng cao và làm cho giá vàng trong nước thường cao hơn giá vàng thế giới Từ đó, những biến động trên dễ tạo ra nhiều rủi ro cho hoạt động KDNH của các NHTM, đặc biệt đối với một nền kinh tế chưa liên thông đầy đủ với các nền kinh tế trên thế giới như tại Việt nam
1.1.3.2 Thâm hụt cán cân thương mại
Nhập siêu hay tình trạng thâm hụt cán cân thương mại là sự mất cân đối giữa nhập khẩu và xuất khẩu trong điều kiện nhập khẩu vượt quá xuất khẩu Nếu tình trạng này duy trì trong dài hạn và vượt quá mức độ cho phép có thể ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai và gây nên những biến động bất lợi đối với nền kinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc làm và ở mức trầm trọng hơn có thể gây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ
Cán cân thương mại cung cấp những thông tin liên quan đến cung cầu tiền tệ của một quốc gia, cụ thể là thể hiện sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với ngoại tệ Khi một nước nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, nghĩa là cung đồng tiền quốc gia đó có khuynh hướng vượt cầu trên thị trường ngoại hối nếu các yếu tố khác không thay đổi Và như vậy có thể suy đoán rằng đồng tiền nội tệ của nước đó
sẽ bị sức ép giảm giá so với các đồng tiền khác Khi đồng tiền của một quốc gia giảm giá, sẽ làm tăng giá trị nhập khẩu tính bằng đồng tiền nước này Với cùng một
số tiền không đổi chi cho nhập khẩu, khi giá tăng thì khối lượng nhập khẩu sẽ phải giảm, tuy số lượng nhập khẩu giảm, nhưng giá trị nhập khẩu có thể tăng Sau khi đồng tiền giảm giá, chi tiêu bằng đồng nội tệ cho nhập khẩu có thể tăng, song do giá
Trang 18xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm đă kích thích tăng khối lượng xuất khẩu, do đó không làm cho cán cân thương mại xấu đi
Như vậy, nhập siêu có tác động nhất định tới tỷ giá hối đoái, làm đồng tiền nội tệ của một nước có khuynh hướng giảm giá, tuy nhiên trong dài hạn sự giảm giá của đồng nội tệ không có tác động xấu tới cán cân thương mại, do có tác dụng kích thích sản xuất hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu
Ngoài ra, nhập siêu ở mức cao, kéo dài gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế
và điều hành chính sách tiền tệ, thể hiện qua các đặc điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, nhập khẩu lạm phát gây khó khăn cho việc điều hành các chính
sách kinh tế vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát,
ổn định thị trường ngoại hối Mặc dù vậy, cơ cấu đầu vào sản xuất theo nguồn của nước ta cho thấy nhập khẩu có tác động không nhỏ tới giá cả trong nước Với những đặc điểm như vậy, giá cả nhập khẩu sẽ tác động mạnh tới chi phí sản xuất của nhiều ngành sản xuất, gây áp lực tới giá bán và giá sản phẩm tiêu dùng cuối cùng Trong điều kiện nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất hay nói cách khác là hỗ trợ tăng trưởng, việc điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát nhập khẩu trong trường hợp có dấu hiệu của nhập khẩu lạm phát nhằm ổn định giá cả và duy trì tăng trưởng là không dễ dàng
Thứ hai, nhập siêu gây bất ổn cán cân thanh toán tổng thể, từ đó tạo áp lực
tới cung cầu ngoại tệ và tỷ giá
Thứ ba, nhập siêu tạo áp lực suy giảm dự trữ ngoại hối
Thứ tư, thâm hụt cán cân thương mại tạo ra sự giảm lòng tin của người dân
vào đồng tiền của một Quốc gia, tăng cầu về USD hay một ngoại tệ khác và tăng đầu tư vào vàng nhằm bảo tồn giá trị
Với các đặc điểm trên, thâm hụt cán cân thương mại càng làm cho tỷ giá của USD hay một ngoại tệ khác với đồng tiền của Quốc gia đó và giá vàng trong nước thường biến động theo chiều hướng tăng; cuối cùng tạo ra nhiều rủi ro cho KDNH của các NHTM một khi cung cầu trên thị trường thay đổi
1.1.3.3 Tình trạng đôla hóa nền kinh tế
Trang 19Theo IMF, đôla hóa là tình trạng mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% tổng khối tiền tệ mở rộng (M2) bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ
Đôla hóa được hiểu theo cách đơn giản nhất là ngoại tệ USD được sử dụng rộng rãi bên cạnh đồng nội tệ làm đồng tiền thanh toán trong các giao dịch thương mại Điển hình như, IMF đã xếp Việt Nam thuộc nhóm quốc gia đôla hóa không chính thức Đôla hóa không chính thức là trường hợp đồng đôla được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế nhưng không được quốc gia đó chính thức thừa nhận
Đôla hóa tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đôla hóa có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân và các tổ chức kinh tế có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đôla Mỹ, làm cho cầu của đôla Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá
Đối với quốc gia có tình trạng đôla hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định, trong trường hợp có biến động, người dân và các tổ chức kinh tế bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác hay còn gọi là hoạt động đầu cơ tỷ giá Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng và hoạt động của thị trường ngoại hối
Ngoài ra, tình trạng đôla hóa còn gây áp lực tới việc NHTW can thiệp trên thị trường ngoại hối ngay cả khi tổng thể nền kinh tế không bị mất cân đối cung cầu ngoại tệ, tại vì các khu vực của nền kinh tế có xu hướng găm giữ ngoại tệ Một nền kinh tế không có sự găm giữ ngoại tệ, NHTW chỉ bán ngoại tệ khi các khu vực trong nền kinh tế đã giao dịch với nhau nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ Tuy nhiên, ở Việt Nam lại khác, ngay cả khi tổng thể nền kinh tế có dư cung ngoại tệ, NHNN vẫn phải bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
Cũng giống như các phân tích trên, một khi nền kinh tế bị đôla hóa nặng nề, người dân ưa chuộng sử dụng USD hay một ngoại tệ mạnh khác trong các thanh
Trang 20toán hàng ngày, càng làm cho cầu USD hay một ngoại tệ mạnh khác tăng cao và họ mất niềm tin vào đồng tiền của Quốc gia mình Cho nên, người dân có xu hướng tìm đến vàng và giảm dần niềm tin vào đồng tiền của Quốc gia mình Từ các diễn biến như vậy trên thị trường ngoại hối, hoạt động KDNH rất dễ gặp rủi ro một khi giá vàng trên thị trường thế giới biến động mạnh và giá trị USD không duy trì được sức mạnh của mình
1.1.3.4 Trạng thái ngoại tệ
Điển hình như tại Việt nam, theo Thông tư số 07/2012/TT-NHNN ngày 20/03/2012 do NHNN ban hành quy định về trạng thái ngoại tệ của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trạng thái ngoại tệ là trạng thái nguyên tệ của ngoại tệ
đó được quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá quy đổi trạng thái
Thông tư cũng quy định một số nội dung mới so với các quy định trước đây
về giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ như sau: Giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ được tính bằng tỷ lệ giữa tổng trạng thái ngoại tệ dương hoặc tổng trạng thái ngoại tệ âm chia cho vốn tự có của TCTD Vốn tự có để tính giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ của TCTD là vốn tự có của tháng liền kề trước kỳ báo cáo của TCTD Tổng trạng thái ngoại tệ dương cuối ngày của TCTD không được vượt quá 20% vốn tự có và tổng trạng thái ngoại tệ âm cuối ngày của TCTD không được vượt quá 20% vốn tự
có của TCTD, riêng các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có vốn tự có
từ 25 triệu đô la Mỹ trở xuống thì trạng thái ngoại tệ được quy định: tổng trạng thái ngoại tệ dương cuối ngày quy ra đô la Mỹ không được vượt quá 5 triệu đô la Mỹ và tổng trạng thái ngoaị tệ âm cuối ngày quy ra đô la Mỹ không được vượt quá 5 triệu
đô la Mỹ
Đây cũng là một trong những công cụ để điều hành của NHNN Càng co hẹp trạng thái ngoại tệ, càng hạn chế được khả năng đầu cơ ngoại tệ, hạn chế việc chuyển đổi các đồng tiền Do vậy, với việc giảm trạng thái ngoại tệ trong quy định mới có thể khiến thị trường ngoại tệ biến động nhiều hơn trong thời gian tới và tạo
ra nhiều biến động cho tỷ giá USD/VND Mặt khác, việc các TCTD phải điều chỉnh lại trạng thái ngoại tệ theo hạn mức mới đồng nghĩa với việc tổ chức phải mua lại nếu đang ở trạng thái âm lớn hơn hạn mức Nhu cầu mua lại có lẽ sẽ gây áp lực nhất
Trang 21định cho thị trường ngoại hối vì tình trạng chênh lệch lãi suất vay USD và VND thời gian qua đã khuyến khích hoạt động chuyển vốn, chẳng hạn bán USD ra để đổi sang VND nhằm cho vay
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc mua bán vàng trên tài khoản vàng tại nước ngoài cũng có ảnh hưởng nhất định đến trạng thái ngoại tệ của các NHTM Từ đó, trạng thái ngoại tệ này ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động KDNH của các ngân hàng
1.1.3.5 Cơ chế điều hành tỷ giá
Kể từ năm 1999, khi Việt Nam có sự thay đổi lớn trong cơ chế tỷ giá, bảng phân loại cơ chế tỷ giá của IMF xếp Việt Nam vào nhóm cơ chế tỷ giá thả nổi với mức phân định là cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước (Managed floating with no predetermined for exchange rate) cùng với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore Ở cùng thời gian này, Malaysia và Trung Quốc vẫn được xếp vào nhóm cố định truyền thống (Conventional pegged arrangement) tức là có
cơ chế tỷ giá “cứng” hơn so với Việt Nam Tuy nhiên, từ cuối năm 2004 trở lại đây, IMF chuyển Việt Nam sang nhóm nước có cơ chế cố định truyền thống vì nhận định rằng kể từ tháng 8/2004, NHNN công bố sẽ không để tỷ giá USD/VND tăng quá 1%/năm Có thể thấy, dưới góc nhìn của IMF, Việt Nam đã có sự chuyển đổi cơ chế tỷ giá theo hướng lùi về nhóm “cứng”
Với độ mở thương mại khá cao, sự thiếu ổn định của tỷ giá sẽ gây nên vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Trong ngắn hạn và kể cả trung hạn, Việt Nam khó có thể chuyển sang trạng thái có độ mở thương mại thấp nên nếu dựa trên yếu tố này, điều đương nhiên là Việt Nam sẽ chưa thể lựa chọn cơ chế thả nổi Tuy nhiên, nếu đeo đuổi cơ chế tỷ giá theo hướng cứng kém linh hoạt, Việt Nam sẽ đối mặt với áp lực điều chỉnh tỷ giá lớn “bất thường” (dù có thể không liên tục) khi nền kinh tế đối mặt với bất ổn trong cán cân thanh toán, vì duy trì tỷ giá cứng khá lâu Kết quả là chính những lần điều chỉnh lớn “bất thường” như vậy sẽ làm gia tăng rủi ro tỷ giá, tăng chi phí giao dịch, tác động tiêu cực đến việc khuyến khích hoạt động thương mại và đầu tư, gây rối loại trên thị trường ngoại hối
Trang 22Ngoài ra, với việc quy định tỷ giá USD/VND theo hướng thị trường và có điều tiết của NHNN dễ dàng tạo ra rủi ro tỷ giá như phân tích ở trên, đồng thời kéo theo rủi ro cho hoạt động kinh doanh vàng của các ngân hàng với lý do là giá vàng trong nước được xác định dựa vào giá vàng thế giới, tỷ giá USD/VND và các chi phí khác, cho nên rủi ro tỷ giá cũng tất yếu gây nên rủi ro trong hoạt động kinh doanh vàng của ngân hàng
1.1.3.6 Các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên
cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, lãi suất, v.v Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi hay những sản phẩm phái sinh kết hợp
Mặc dù, xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là một công cụ phòng chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính, các công cụ tài chính phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiến lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ Ngày nay, hoạt động kinh doanh của các NHTM trở nên phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết, bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng mang tính truyền thống thì các ngân hàng đã không ngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới, hiện đại, trong đó, phải kể đến các giao dịch kinh doanh ngoại tệ với doanh số giao dịch lớn hơn nhiều so với trước đây Đây là hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho NHTM, nhưng cũng chứa không ít rủi ro Khi tham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng sẽ tạo ra trạng thái ngoại tệ mở và dẫn đến rủi ro tỷ giá cho ngân hàng nếu tỷ giá trên thị trường biến động Để có thể hạn chế được rủi ro này, ngân hàng sẽ phải tiến hành các biện pháp phòng ngừa, một trong những công cụ hữu hiệu phòng ngừa tỷ giá đó chính là các hợp đồng phái sinh tiền
tệ Các hợp đồng phái sinh tiền tệ cơ bản bao gồm: hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn và hợp đồng ngoại hối
Trang 23tương lai Công cụ phổ biến nhất để kiểm soát rủi ro giao dịch ngoại hối là những hợp đồng tương lai, hoán đổi và quyền chọn tiền tệ (Joel Bessis, 2011)
Như vậy, công cụ phái sinh ngoại hối ra đời là để bảo hiểm rủi ro tỷ giá Tỷ giá biến động theo một biên độ lớn và ngẫu nhiên, phản ánh quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro Trên thị trường ngoại hối, bên cạnh việc phản ánh quan hệ cung cầu
về ngoại tệ thì thị trường còn ẩn chứa các yếu tố đầu cơ và chênh lệch giá về ngoại
tệ Đây cũng là những yếu tố quan trọng trong việc làm cho tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối biến động một cách khó dự đoán Chính vì sự không dự đoán trước được những thay đổi của tỷ giá trên thị trường các NHTM luôn có mong muốn bảo hiểm rủi ro để chống lại những tổn thất có thể xảy ra đối với các dòng tiền ngoại tệ của mình Ngược lại, một khi các NHTM không sử dụng các sản phẩm phái sinh cho các giao dịch ngoại hối thì đây là một trong các nguyên nhân gây ra rủi ro ngoại hối cho các ngân hàng
1.1.4 Các nhân tố tác động riêng
Là các yếu tố từ nội tại ngân hàng, bao gồm chiến lược quản trị tỷ giá phù hợp, sự chặt chẽ trong quy trình quản trị và kiểm tra, giám sát rủi ro tỷ giá Khả năng phân tích rủi ro tỷ giá và dự báo sự biến động tỷ giá hối đoái hợp lý Ngoài ra, trình độ và năng lực quản trị, đạo đức của nhân viên quản trị rủi ro và nhân viên giám sát rủi ro cũng là những yếu tố quan trọng trong quản trị rủi ro ngoại hối
1.2 Quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM
1.2.1 Sự cần thiết của quản trị rủi ro ngoại hối
Quản trị rủi ro ngoại hối với nội dung chính là quản trị rủi ro kinh doanh ngoại
tệ có vai trò tối đa hóa thu nhập ròng hoặc tài sản ròng của mỗi ngân hàng tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro, đảm bảo các giới hạn an toàn trong hoạt động của ngân hàng, kiểm soát rủi ro tỷ giá theo quy định , xác định, hệ thống nội dung quản trị rủi ro tỷ giá nhằm nhận diện, đo lường, đánh giá, giám sát và giảm thiểu rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hạn chế mức độ tổn thất giá trị tài sản ròng của ngân hàng trước biến động tỷ giá trong quá trình hoạt động kinh
Trang 24doanh, phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân, đơn vị trong quá trình quản trị rủi ro ngoại hối
1.2.2 Mô hình quản trị rủi ro ngoại hối
1.2.2.1 Mô hình quản trị rủi ro tập trung
Các ngân hàng trên thế giới đều có rất nhiều điểm giao dịch tại nhiều quốc gia trên thế giới bao gồm các chi nhánh và các điểm giao dịch Tuy nhiên, đa số các ngân hàng đề có xu hướng tập trung hoạt động KDNH về một hoặc một số đầu mối tại mỗi quốc gia để giảm chi phí quản lý, đào tạo và tập trung các luồng tiền Thông qua việc tập trung các giao dịch KDNH vào một đầu não chính, công tác quản trị rủi
ro cũng sẽ được tập trung và một đầu mối
Ưu điểm của mô hình này:
- Ngân hàng dễ dàng tổ chức một bộ máy KDNH đầy đủ và một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả, bao gồm những bộ phận cần thiết trong quá trình hoạt động
- Xây dựng chính sách quản trị rủi ro ngoại hối thống nhất Thiết lập và duy trì môi trường quản trị rủi ro đồng bộ Hoạt động quản trị rủi ro xuyên suốt và không
1.2.2.2 Mô hình quản trị rủi ro phân tán
Hoạt động KDNH được tiến hành tại nhiều điểm giao dịch trong cùng một hệ thống ngân hàng tại một hay nhiều quốc gia Khi đó quản trị rủi ro sẽ được thực hiện trên tất cả các điểm giao dịch có hoạt động KDNH
Ưu điểm của mô hình này là: Các điểm giao dịch ít ảnh hưởng đến nhau Nếu một điểm giao dịch gặp sự cố không thế giao dịch được, thì các điểm giao dịch khác vẫn không bị ảnh hưởng
Nhược điểm của mô hình này là:
- Tất cả các điểm giao dịch cùng thực hiện công việc KDNH và quản trị rủi ro KDNH như nhau nên không tối ưu được nguồn lực
Trang 25- Tốn nhiều chi phí để tổ chức một bộ máy KDNH và quản trị rủi ro đầy đủ ở tất cả các điểm giao dịch
1.3 Các biện pháp quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM
1.3.1 Sử dụng các giới hạn trạng thái ngoại hối giao dịch qua đêm
Hạn mức (position limits) là giới hạn trạng thái ngoại hối tối đa mà mỗi nhóm,
cá nhân KDNH được phép thực hiện Tùy theo kinh nghiệm, trình độ, mục đích kinh doanh, năng lực tài chính và trang thiết bị mà hạn mức giữa các tổ chức, giữa các nhân viên kinh doanh là không giống nhau Việc quản lý hạn mức kinh doanh tại một NHTM có thể căn cứ vào một số tiêu chí như sau:
Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh, trên cơ sở đó phân bổ hạn mức cho từng nhà kinh doanh cụ thể Nguyên tắc phân bổ hạn mức cho từng nhà kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thâm niên và năng lực kinh doanh trên thị trường ngoại hối Những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, có thâm niên, đã gặt hái được nhiều thành công thường là những nhà kinh doanh chính (chief dealer) được giao hạn mức cao hơn rất nhiều so với những nhân viên kinh doanh vừa vào nghề
Hạn mức theo các đồng tiền kinh doanh: Ngoài việc quy định tổng hạn mức chung, đối với những nhóm và cá nhân kinh doanh liên quan đến nhiều đồng tiền, thì việc quy định hạn mức kinh doanh đối với mỗi đồng tiền là cần thiết Những đồng tiền ít biến động thì hạn mức có thể cao, còn những đồng tiền biến động mạnh thì hạn mức thấp hơn
Hạn mức cho các loại nghiệp vụ cụ thể, ví dụ hạn mức cho từng nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn Phương pháp quản lý và đánh giá đối với một số trạng thái chính như sau:
- Trạng thái giao ngay:
Do đặc thù của thị trường giao ngay là chịu sự tác động bởi các yếu tố ngắn hạn lên tỷ giá Những tin đồn, những cuộc giao dịch lớn, can thiệp của NHTW, những biến cố bất ngờ xảy ra, đều có thể ảnh hưởng nhanh chóng và mạnh mẽ lên
sự biến động tỷ giá Những biến động đến ngạc nhiên của tỷ giá chỉ diễn ra trong vài phút, do đó, nhà kinh doanh phải nhanh chóng và thường xuyên thay đổi trạng thái kinh doanh để chớp cơ hội kiếm lãi hoặc thoát khỏi rủi ro
Trang 26Tại bất kỳ thời điểm nào, nếu nhà kinh doanh duy trì trạng thái giao ngay (trạng thái mở) đều phải chịu rủi ro tỷ giá Tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro càng lớn Để quản lý tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn lỗ vốn, người ta sử dụng kỹ thuật định giá cuối mỗi ngày giao dịch Căn cứ vào trạng thái cuối ngày, từng nhà kinh doanh phải định giá kết quả kinh doanh của chính mình theo tỷ giá đóng cửa của ngày giao dịch Kết quả này phải được báo cáo cho nhà kinh doanh chính và lãnh đạo phòng KDNH
- Trạng thái kỳ hạn:
Trên thị trường liên Ngân hàng, các giao dịch kỳ hạn thường thuộc loại Spot - Forward Swap, nghĩa là mỗi giao dịch gồm hai vế là: vế giao ngay áp dụng tỷ giá giao ngay, còn vế kỳ hạn áp dụng tỷ giá kỳ hạn, và hai vế có ngày giá trị khác nhau
Do đó, trạng thái ròng của giao dịch kỳ hạn phụ thuộc vào độ lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay Tỷ giá kỳ hạn được hình thành trên cơ sở chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Trong điều kiện bình thường, các mức lãi suất tiền tệ là ổn định, làm cho các điểm kỳ hạn biến động cũng ít Lãi suất không tăng lên nhanh chóng rồi sau đó lại giảm xuống nhanh chóng giống như tỷ giá giao ngay Do đó, nếu nhà kinh doanh dự tính sai lầm về hướng biến động của lãi suất, thì ít có cơ hội
để khắc phục thua lỗ nặng nề trong tương lai Kinh doanh kỳ hạn không thể có tốc
độ nhanh như kinh doanh giao ngay Nhà kinh doanh kỳ hạn không thể thay đổi thường xuyên trạng thái kỳ hạn, mà nó thường được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Cũng giống như giao ngay, trạng thái kỳ hạn ròng cuối ngày cũng có thể trường hoặc đoản, bao gồm các trạng thái của tất cả các hợp đồng còn hiệu lực và
có các ngày giá trị khác nhau Việc định giá kết quả kinh doanh kỳ hạn hằng ngày được tính theo phương pháp giả định rằng tất cả các hợp đồng kỳ hạn còn hiệu lực đều được thanh lý ngay lập tức theo tỷ giá kỳ hạn cuối ngày hôm đó áp dụng tương ứng cho từng kỳ hạn
Ngoài việc định giá lại hằng ngày các trạng thái kỳ hạn, để quản lý rủi ro tỷ giá tốt hơn, các nhà kinh doanh kỳ hạn còn phải duy trì hạn mức cho từng kỳ hạn cụ thể theo quy tắc kỳ hạn càng dài hạn mức càng thấp
Trang 27Để quản lý rủi ro các trạng thái kỳ hạn một cách vĩ mô, các NHTM còn áp dụng “Hạn mức rủi ro tỷ trọng của các trạng thái theo kỳ hạn” Thông thường các trạng thái kỳ hạn thường có các kỳ hạn khác nhau, từ một ngày đến vài năm Một trạng thái trường 12 triệu USD kỳ hạn 6 tháng sẽ có rủi ro nhiều hơn một trạng thái đoản cũng 12 triệu USD có kỳ hạn 1 tháng Trong khi đó, về mặt hình thức thì trạng thái ngoại hối kỳ ngày hôm nay của nhà kinh doanh là bằng 0, nhưng rủi ro thực tế đối với hai trạng thái này là rất khác nhau
1.3.2 Cân bằng trạng thái ngoại hối
Có hai nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro ngoại hối, đó là:
Ngân hàng duy trì sự không cân bằng trạng thái ngoại hối: do Ngân hàng mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng và mua bán cho chính mình, và Ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại tệ ròng (trường hoặc đoản) đối với hầu hết các NHTM
Sự biến động của tỷ giá hối đoái Nếu Ngân hàng duy trì trạng thái trường (hoặc đoản) về ngoại tệ mà không có thay đổi về tỷ giá, Ngân hàng sẽ không gặp phải rủi ro hối đoái Nếu tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn
và ngược lại
1.3.3 Sử dụng các kỹ thuật dự đoán tỷ giá
Kinh doanh ngoại tệ đã từ lâu chắc chắn không chỉ là một nghiệp vụ chuyên biệt của các NHTM tại Việt Nam, mà còn trở thành một kênh đầu tư, kinh doanh kiếm lợi của một bộ phận không nhỏ tổ chức hay cá nhân trong nền kinh tế Với tốc
độ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, chắc chắn lĩnh vực này sẽ ngày càng phát triển mạnh thành một kênh đầu tư chính thức và quan trọng trong nền kinh tế, như đầu tư vào thị trường chứng khoán và bất động sản Chúng ta có thể phần nào nhận biết mức độ phổ biến của kênh đầu tư này qua việc hầu hết các Ngân hàng có uy tín trên thế giới đều duy trì các trang web giao dịch kinh doanh ngoại tệ qua mạng với mục đích phục vụ nhiều dạng nhà đầu tư, từ nhà đầu tư nhỏ với các tài khoản tối thiểu từ 200-300 USD cho đến các nhà đầu tư “vừa và lớn” với các tài khoản có mức ký quỹ trên 50.000 USD Trước tình hình như vậy, việc sử dụng kỹ thuật dự
Trang 28đoán tỷ giá là vô cùng quan trọng trong việc quản lý và phòng ngừa rủi ro trong KDNH tại các NHTM
Phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là phân tích cơ bản Những người sử dụng phương pháp này dựa vào những phân tích về “những nhân tố cơ bản” như GDP, đầu tư, tiết kiệm, sản lượng, lạm phát, cán cân thanh toán,… Những phân tích này không được mô hình hóa bằng kinh tế lượng mà chỉ mang tính định tính nhằm xác định tác động của nhân tố này đến xu hướng biến động dài hạn của tỷ giá Một phương pháp khác cũng được nhiều nhà quản trị Ngân hàng sử dụng là phương pháp phân tích kỹ thuật Phương pháp này dựa trên những nguyên tắc của trường phái nghiên cứu “hành vi học trong tài chính” (behavioral finance) Theo quan điểm này, các nhà phân tích kỹ thuật có thể dự báo được những “mẫu hình” của thị trường bằng cách “đọc” các đồ thị tỷ giá Phương pháp này ra đời vào khoảng hơn một thế kỷ trước, đánh dấu bằng việc Charles Dow (1851-1902, cha đẻ của các nguyên lý cơ bản trong phân tích kỹ thuật thuộc lĩnh vực chứng khoán) sử dụng biến động giá chứng khoán trong quá khứ làm hướng dẫn cho những quyết định đầu tư Phương pháp này đã được sử dụng phổ biến trong thị trường chứng khoán và thị trường tương lai hàng hóa Kể từ thập niên 1970, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trong thị trường ngoại hối, đặc biệt là sau khi chế độ Bretton Wood sụp đổ khiến cho mức độ bất ổn của tỷ giá ngày một gia tăng Những nhà phân tích kỹ thuật thì tin rằng thị trường về mặt nào đó là không hiệu quả và do
đó “nhân loại có thể tìm thấy tương lai trong quá khứ”
Phương pháp phân tích kỹ thuật dựa trên nền tảng những lý thuyết sau:
Lý thuyết về chu kỳ thị trường: Lý thuyết cho rằng thị trường có những
xu hướng, có xu hướng chính, xu hướng hiện tại và xu hướng phụ với mức độ dài hạn và ngắn hạn khác nhau ứng với từng xu hướng Và vì
có những xu hướng khác nhau như vậy nên thị trường sẽ thường xuất hiện trường hợp đảo chiều xu hướng (trend reversal) và vì vậy hình thành nên đỉnh và đáy của các đồ thị giá Nhiệm vụ của nhà phân tích
kỹ thuật là phải dự đoán được khi nào xu hướng thị trường đảo chiều, đỉnh và đáy ở đâu
Trang 29Lý thuyết thị trường tài chính và chu kỳ kinh doanh: Các nhà đầu tư của thị trường tài chính sẽ có những phản ứng tâm lý khác nhau ứng với các thông tin cơ bản về nền kinh tế đồng thời bản thân họ cũng có những kỳ vọng về triển vọng của nền kinh tế Vì vậy, nhà đầu tư trên thị trường tài chính đặc biệt quan tâm đến chu kỳ kinh doanh, nhất là giai đoạn mà nền kinh tế không ở trong tình trạng ổn định hoặc cân bằng, vì ở những thời điểm đó họ mới có thể tìm kiếm được lợi nhuận
từ giao dịch một cách nhanh chóng Khi họ nhận thấy nền kinh tế bắt đầu chuyển hướng và từ bỏ một trạng thái này và có xu hướng tiến trở
về trạng thái cân bằng (theo lý thuyết này thì nền kinh tế biến động quanh trạng thái cân bằng), họ sẽ có những quyết định mua bán tương ứng ngay lập tức
Lý thuyết Dow: đây là lý thuyết lâu đời nhất về xác định các xu hướng chính trên thị trường Lý thuyết này có sáu nguyên tắc cơ bản Các nguyên tắc này có thể tóm tắt như sau: thay đổi trong mức giá đóng cửa phản ánh tất cả tâm lý và nhận định về thị trường của các thành viên tham gia; các thị trường đang tăng giá và giảm giá có ba giai đoạn biến động: biến động chính, biến động thứ cấp và biến động phụ; tất cả những dấu hiệu chỉ báo trong các giai đoạn này như đường biểu diễn giá, mối quan hệ giá/khối lượng giao dịch cung cấp các chỉ dẫn hữu ích
về việc đảo ngược xu hướng thị trường; và những chỉ dẫn đó sẽ được khẳng định là hữu ích hay không thông qua việc phân tích đường trung bình Các công cụ để phân tích kỹ thuật đã phát triển trong hơn một thế
kỷ qua, tuy nhiên, để thuận tiện cho việc sử dụng và truyền đạt thông tin, người ta có thể chia ra hai nhóm công cụ sau: nhóm công cụ về đồ thị và cách đọc đồ thị (charting), và nhóm công cụ về quy tắc quyết định (mechanical rules) Các nhà phân tích kỹ thuật bằng đồ thị thường xác định các đỉnh, đáy và xu hướng của thị trường và điểm đảo ngược
xu hướng Các nhà phân tích này có thể sử dụng các phương pháp mẫu hình đồ thị (chart pattern), các đường xu hướng, đường kháng cự và
Trang 30chống đỡ để dự báo và ra quyết định mua bán Ngoài ra, hiện nay phương pháp phân tích bằng đồ thị hình nến (candle stick) của người Nhật cũng rất phổ biến Gần đây, một công cụ phân tích kỹ thuật khác đang bắt đầu được sử dụng rất phổ biến là công cụ tính toán số Fibonacci kết hợp lý thuyết sóng Elliot
Có người cho rằng phương pháp này vẫn còn quá phức tạp so với trình độ chung của thị trường ngoại hối Việt Nam nên chưa thể áp dụng được và chỉ nên áp dụng phương pháp phân tích cơ bản truyền thống và tiếp cận phương pháp kỹ thuật sau một thời gian nữa khi thị trường đã được phát triển hơn Tuy nhiên, nếu nhìn vào tốc độ hội nhập kinh tế và tiến trình mở cửa thị trường tài chính thì chúng ta có thể nhanh chóng nhận ra rằng thị trường sẽ không cho chúng ta thêm thời gian chuẩn bị Với việc mở cửa, nhà đầu tư Việt Nam chắc chắn sẽ được tiếp cận với các phương thức giao dịch trực tuyến, dịch vụ KDNH bằng tài khoản ký quỹ (margin trading) của các Ngân hàng và công ty tài chính nước ngoài Các Ngân hàng trong nước chắc chắn cũng không chịu thua kém và cũng sẽ xin triển khai các dịch vụ tiềm năng này Bên cạnh đó, có một thực tế là các NHTM - những chủ thể có thể nói đã đầy kinh nghiệm với thị trường ngoại hối cũng chưa quen sử dụng phương pháp này, và do đó chưa thể tư vấn và hướng dẫn cho các nhà đầu tư tiếp cận với các công cụ phân tích kỹ thuật một cách tốt nhất
1.3.4 Sử dụng các công cụ phái sinh
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên
cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, lãi suất, giá vàng, … Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi
ro, trong đó thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợp đồng tương lai (future contracts) Những công cụ trên còn có thể kết hợp với nhau để tạo nên các công cụ lai tạo
Mặc dù xuất hiện lần đầu tiên của công cụ tài chính phái sinh với tư cách là một công cụ phòng chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị
Trang 31trường tài chính, các công cụ tài chính phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiến lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ Chính vì những biến tướng như vậy nên không phải lúc nào sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro cũng có hiệu quả Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi và mang theo một
số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Tuy vậy, các công cụ tài chính phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và được sử dụng rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn của thế giới với mục đích chính và phổ biến là để phòng chống rủi ro trong hoạt động KDNH
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác định trên một hoặc một số công cụ tài sản khác Các loại công cụ phái sinh khác nhau bao gồm: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng tương lai, Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng hoán đổi và các sản phẩm lai tạp
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng kỳ hạn
Trên thị trường mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp xuất hay nhập khẩu thường có nhu cầu bán ngoại tệ hay mua ngoại tệ để thanh toán cho các hợp đồng xuất nhập khẩu với các nước khác Với tình trạng tỷ giá ngoại tệ luôn biến động bất thường, các nhà xuất nhập khẩu có xu hướng mua các hợp đồng kỳ hạn với các ngân hàng để phòng ngừa rủi ro tỷ giá Sau khi đã thực hiện hợp đồng bán
kỳ hạn với các doanh nghiệp, để phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho chính ngân hàng mình, các ngân hàng này cần thực hiện mua đối ứng các giao dịch kỳ hạn này tại thị trường ngoại hối nước ngoài hoặc tại thị trường ngoại hối trong nước Với các giao dịch kỳ hạn này, ngân hàng trong nước chỉ hưởng phí dich vụ, là khoản chênh lệch giữa phí kỳ hạn tính cho khách hàng trong nước và phí kỳ hạn mà ngân hàng nước ngoài tính cho ngân hàng trong nước khi thực hiện giao dịch kỳ hạn ngoại tệ
Hàng hóa ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hóa nào: các loại ngoại tệ Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thỏa thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính cá nhân Giá hàng hóa đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hóa có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng Khi đó, một trong hai bên
Trang 32mua và bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng
kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình Vì chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng Khi có thay đổi giá
cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng tương lai
Cách thức phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng tương lai cũng gần tương tự như trường hợp phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng kỳ hạn, như: khách hàng có nhu cầu bán hay mua một loại ngoại tệ nào đó trong tương lai cho nhu cầu xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và lo ngại tỷ giá biến động nhiều sẽ gây rủi ro cho số lượng ngoại
tệ mà họ cần bán hay mua trên, khách hàng sẽ mua một hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, ngân hàng sau khi bán hợp đồng tương lai, phải thực hiện giao dịch đối ứng trên thị trường ngoại hối và hưởng chênh lệch phí đồng thời phòng ngừa được rủi ro có thể xảy ra khi tỷ giá biến động bất lợi
Tuy nhiên, một trong những điểm khác biệt cơ bản của giao dịch tương lai và
kỳ hạn trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá là: hợp đồng kỳ hạn được thương lượng trực tiếp giữa hai chủ thể, không cần chuẩn hóa sản phẩm và không yêu cầu thủ tục phức tạp, trong khi hợp đồng tương lai được giao dịch trên Sở giao dịch tương lai nên việc chuẩn hóa hợp đồng là điểm quan trọng, vì vậy rủi ro tín dụng cũng được hạn chế nhiều hơn so với các giao dịch kỳ hạn
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng quyền chọn
Tương tự như hai loại sản phẩm phái sinh trên, khách hàng xuất nhập khẩu có nhu cầu mua sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi tỷ giá do tỷ giá có thể biến động bất lợi và gây tổn thất đến số lượng ngoại tệ dự kiến trong tương lai Trong trường hợp này, khách hàng chọn mua hợp đồng quyền chọn (quyền chọn bán hoặc hoặc chọn mua) Còn ngân hàng thì bán quyền chọn bán hoặc bán quyền chọn mua Đối với nước ta, trong thời gian trước đây khi cho thực hiện giao dịch quyền chọn, thì
Trang 33khách hàng chỉ được mua quyền chọn, chứ không được bán quyền chọn để phòng ngừa rủi ro hay đầu cơ Ngân hàng chỉ được thực hiện bán quyền chọn cho khách hàng có nhu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Sau khi ngân hàng bán quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua cho khách hàng,
để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, ngân hàng cần thực hiện mua lại quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua trên thị trường ngoại hối Lúc đó, ngân hàng chỉ hưởng phí quyền chọn chênh lệch
Do khách hàng là bên mua quyền chọn, cho nên khách hàng có quyền mà không có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn Khi khách hàng thực hiện quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua, ngân hàng cũng phải nhận hàng hay giao hàng tương ứng Cùng lúc đó, do ngân hàng cũng là người mua trên thị trường ngoại hối, nên ngân hàng cũng được quyền thực hiện hợp đồng và yêu cầu phía ngân hàng đối tác nhận hàng và giao hàng với số lượng tương ứng với số lượng phải giao cho khách hàng Lúc đó, ngân hàng không gặp rủi ro khi khách hàng yêu cầu thực hiện hợp đồng
Ngược lại, khách hàng không thực hiện hợp đồng do tỷ giá biến động bất lợi cho họ, ngân hàng cùng lúc cũng không thực hiện hợp đồng với phía ngân hàng đối tác Lúc này, ngân hàng cũng không phải chịu rủi ro phát sinh do khách hàng không thực hiện hợp đồng
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng hoán đổi
Giao dịch hoán đổi là một sự kết hợp giữa giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn Bản thân giao dịch hoán đổi giải quyết được nhược điểm của hợp đồng giao ngay là có thể thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm tương lai, đồng thời khắc phục được nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn ở chỗ có thể thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm hiện tại Trong trường hợp này ngân hàng cần mua đối ứng giao dịch hoán đổi tương ứng với đối tác trên thị trường ngoại hối nhằm tránh rủi ro khi tỷ giá biến động bất lợi
Vào ngày hiệu lực hợp đồng hoán đổi, ngân hàng có thể kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và giá bán ngoại tệ giao ngay và tránh được rủi ro tỷ giá đối với nguồn ngoại tệ đáp ứng cho giao dịch giao ngay Vào ngày đáo hạn hợp đồng hoán
Trang 34đổi ngoại tệ trên, ngân hàng kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và giá bán
kỳ hạn và cũng tránh được rủi ro khi tỷ giá biến động bất lợi đối với nguồn ngoại tệ đáp ứng cho giao dịch kỳ hạn
1.3.5 Sử dụng công cụ VaR – Giá trị chịu rủi ro
- Giá trị chịu rủi ro – Value at Risk (VAR): Dùng để đo lường khoản tiền tối
đa có thể bị mất trên một danh mục tài sản trong một khoảng thời gian nắm giữ với một độ tin cậy cho trước
Hình 1.1 Giá trị chịu rủi ro VaR
VAR được tính toán đặc trưng cho khoảng thời gian trong một ngày – gọi là thời gian nắm giữ (holding period) – và thường được tính toán với độ tin cậy 95%
Độ tin cậy 95% nghĩa là có 95% khả năng (bình quân) xảy ra thua lỗ/mất mát đối với danh mục tài sản ở mức thấp hơn mức VAR đã tính toán
Nói cách khác, VAR trả lời câu hỏi: “Giá trị lớn nhất ngân hàng có thể bị tổn
thất trong khoảng thời gian xác định là bao nhiêu sao cho tổn thất thực sự cao hơn giá trị đó chỉ xảy ra với xác suất thấp, ví dụ 5%?”
VÍ DỤ: giá trị chịu rủi ro VAR tính theo ngày của một danh mục là 1.2 triệu USD với độ tin cậy 95% ngĩa là chỉ có 5 ngày trong 100 ngày, tính trung bình, giá trị tổn thất tính theo ngày của danh mục sẽ cao hơn 1.2 triệu USD
Các phương pháp tính VaR: Có 4 phương pháp tính VaR thông dụng nhất:
Phương pháp phương sai, hiệp phương sai (Variance and Covariance Method)
Giả thiết của phương pháp này là tỷ suất sinh lợi và rủi ro tuân theo phân bố chuẩn VaR được tính như sau:
Value at Risk
Certainty is 95.00% from 2.6 to +Infinity 000
.005 011 016 022
0 108.2 216.5 324.7 433
1.5 2.9 4.3 5.6 7.0
Trang 35- Tính giá trị hiện tại P0 của danh mục đầu tư
- Từ những dữ liệu quá khứ, tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng µ và độ lệch chuẩn suất sinh lợi σ của danh mục đầu tư
- VaR được xác định theo công thức sau đây:
VaR=P 0 ×(−µ+ασ)
với α bằng -1.65 nếu mức độ tin cậy là 95% và bằng -2.33 nếu độ tin cậy là 99%
(α là hệ số rủi ro, đã được tính toán và kiểm chứng ở mức chuẩn là -1.65 và -2.33
tuy nhiên hệ số này có thể điều chỉnh phụ thuộc vào mô hình QTRRTT của từng NH)
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được tính theo công thức sau:
σp = [W1 σ12 + +Wn σn + 2W1W2σ1σ2ρ12 +…+ 2WN-1WN σN-1σNρN-1,N]1/2 Trong đó:
+ W1 Wn: là lượng của một tài sản trong danh mục đầu tư W1= P1/P
+ σ1 σn: là độ biến động theo % của từng tài sản trong danh mục
+ ρ12 ρN-1,N: tỷ lệ % tương quan của σ1 σn trong danh mục đầu tư
Nếu như tỷ suất sinh lời trung bình xấp xỉ bằng 0 thì lúc đó VaR= P0× ασ,
giả sử σ = 2.6, với độ tin cậy 95% thì khoản lỗ tối đa không được vượt quá -1.65 x 2.6 = 4.29% và 99% thì khoản lỗ tối đa không được vượt quá -2.33 x 2.6 = 6.058%
Phương pháp phân tích quá khứ (Historical Simulation)
Phương pháp này đưa ra giả thuyết rằng sự phân bố tỷ suất sinh lợi trong quá khứ có thể tái diễn trong tương lai VaR được xác định như sau :
- Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư
- Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng hệ số rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, v.v)
- Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất
- Tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ
Ví dụ: có một danh sách bao gồm 1400 dữ liệu quá khứ (historical data) và
nếu độ tin cậy là 95%, thì VaR là giá trị thứ 70 trong danh sách này (1 − 0.95) ×
1400 Nếu độ tin cậy là 99% thì VaR là giá trị thứ 14 (1-0.99) x 1400
Trang 36Phương pháp Ma trận rủi ro (Risk Metrics)
Nguyên tắc tính VaR theo phương pháp ma trận rủi ro tương tự với nguyên tắc tính VaR của phương pháp Phương sai - hiệp phương sai, nhưng thay vì tính độ lệch chuẩn σ cho tất cả các tỷ suất sinh lợi, ta tính σ theo những suất sinh lợi mới nhất Phương pháp này phản ứng nhanh chóng khi thị trường thay đổi đột ngột và đồng thời quan tâm đến những sự kiện cực kỳ quan trọng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị của danh mục đầu tư Nói cụ thể, thuật toán tính VaR là như sau:
- Tính độ lệch chuẩn quá khứ σ0 (historical volatility) của danh mục đầu tư
- Dùng các tỷ suất sinh lợi xếp theo thứ tự thời gian, tính độ lệch chuẩn bằng công thức sau đây:
2 1 2
1 2
n
Trong đó:
+ σn−1 là độ lệch chuẩn, rn−1là tỷ suất sinh lợi ở thời điểm n−1
+ hằng số λ được cố định là 0.94 đối với độ biến động trong 1 ngày và 0.97 đối với độ biến động trong 1 tháng
Dùng giá trị ước tính mới nhất của độ lệch chuẩn σn , tính VaR theo biểu thức của phương pháp Phưong sai - hiệp phương sai
Phương pháp mô phỏng Monte Carlo (Monte Carlo Simulation)
Phương pháp này mô phỏng những yếu tố thị trường thay đổi trong quãng thời gian N dựa theo dữ liệu quá khứ để đưa ra N giả thiết lãi/lỗ trong danh mục đầu tư Sau đó một biến giả ngẫu nhiên (Psuedo-random number) được tạo ra
và cho chúng chạy theo những biến động của thị trường để tìm ra giả thiết lỗ/lãi có thể xảy ra trong tương lai Sau đây là cách tiếp cận để tính VaR:
- Mô phỏng một số lượng rất lớn N bước lặp, ví dụ N>10,000
- Cho mỗi bước lặp i, i<N
- Tạo ngẫu nhiên một kịch bản được căn cứ trên một phân bố xác suất
về những hệ số rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ suất, vv) mà ta nghĩ
Trang 37rằng chúng mô tả những dữ liệu quá khứ (historical data) Ví dụ ta giả sử mỗi hệ
số rủi ro được phân bố chuẩn với kỳ vọng là giá trị của hệ số rủi ro ngày hôm nay Và từ một tập hợp số liệu thị trường mới nhất và từ mô hình xác suất trên
ta có thể tính mức biến động của mỗi hệ số rủi ro và mối tương quan giữa các
hệ số rủi ro
- Tái đánh giá danh mục đầu tư Vi trong kịch bản thị trường trên
- Ước tính tỷ suất sinh lợi (khoản lời/lỗ) ri = Vi − Vi−1 (giá trị danh mục đầu tư ở bước i−1)
- Xếp các tỷ suất sinh lợi ri theo thứ tự giá trị từ thấp nhất đến cao nhất
- Tính VaR theo độ tin cậy và tỷ lệ phần trăm(percentile) số liệu ri Ví dụ: nếu ta mô phỏng 5000 kịch bản và nếu độ tin cậy là 95%, thì VaR là giá trị thứ 250 Nếu độ tin cậy là 99%, VaR là giá trị thứ 50
1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro ngoại hối tại một số ngân hàng trên thế giới
1.4.1 Ngân hàng Societe Generale (Pháp)
Jerome Kerviel sinh ngày 11/01/1977 là nhân viên môi giới tài chính của ngân hàng Societe Generale, ngân hàng lớn thứ 2 của Pháp Jerome Kerviel đã thực hiện các giao dịch trái phép, giả mạo nhiều tài liệu chứng từ, cũng như mở nhiều tài khoản ảo trên thị trường chứng khoán để thực hiện các giao dịch ảo lớn hơn giá trị vốn hóa của ngân hàng Societe Generale đăng ký trên thị trường là khoảng 36 tỷ Euro, dẫn đến một khoản lỗ khổng lồ khoảng 4,9 tỷ Euro Nguyên nhân là do sự kiểm soát lỏng lẻo tại ngân hàng
Sự việc của Jerome Kerviel đã chứng tỏ tình trạng kém hiệu quả nghiêm trọng của hệ thống giám sát giao dịch trong nội bộ ngân hàng Tất cả hệ thống quản trị rủi
ro và kiểm toán của Ngân hàng Societe Generale đã không phát hiện được gì trong suốt một thời gian dài Vụ bê bối tại Ngân hàng Societe Generale không những gây trở ngại cho hoạt động tài chính ở Pháp, mà còn gây tác động không nhỏ tới hệ thống ngân hàng Châu Âu
Trang 381.4.2 Ngân hàng Barings (Anh)
Ngân hàng Barings (Anh) được thành lập vào năm 1762 Trước khi giải thể vào năm 1995, Barings Bank là một NHTM lâu đời và có uy tín tại London
Mọi chuyện bắt nguồn từ việc một nhân viên của ngân hàng tên là Nicolas Leeson, 28 tuổi, tại chi nhánh Singapore đã gây nên khoản lỗ 827 triệu bảng Anh, tương đương 1,3 tỷ đô la do đầu cơ vào các hợp đồng tương lai
Sự việc bắt đầu tồi tệ sau vụ động đất ở Nhật Bản Chỉ số chứng khoán Nikkei tại Nhật Bản bất ngờ sụt thấp nhất trong khí Nicolas Leeson lại đặt cược lên Khi giá đi ngược chiều thì lẽ ra anh ta phải có biện pháp để dừng lỗ, nhưng Nicolas Leeson không thực hiện dừng lỗ và vẫn tiếp tục mua vào các hợp đồng Cách làm này của Nicolas Leeson chẳng khác gì hành động của một con bạc đang khát nước Nicolas Leeson đặt hết tiền vào con bài đỏ thì lại về con bài đen
Ngân hàng Barings ở London đã giao Nicolas Leeson nắm cả khâu kinh doanh lẫn khâu kiểm tra kiểm soát, để mặc cho Nicolas Leeson muốn làm gì thì làm Nicolas Leeson che giấu mọi thứ bằng một chuỗi các bản báo cáo kế toán phức tạp, với hy vọng kéo dài thời gian chờ thị trường hồi phục nhưng mọi việc đi theo hướng ngược lại
Đến tháng 03/1995, mọi chuyện được đưa ra ánh sáng Thông tin được công
bố đã đặt dấu chấm hết cho NHTM lâu đời và uy tín nhất London Ngân hàng Baring bị bán cho tập đoàn tài chính ING có trụ sở tại Hà Lan, với giá tượng trưng chỉ 1 bảng Anh Sự sụp đổ của ngân hàng Barings một phần do lỗi của Nicolas Leeson khi anh dự báo sai về thị trường chứng khoán nhưng lại không thực hiện dừng lỗ, để ngày càng lún sâu vào thị trường Một phần do lỗi của Ban Lãnh đạo ngân hàng Barings, đã sai lầm khi giao cho Nicolas Leeson vừa kinh doanh vừa kiểm soát, dẫn đến việc không có một bộ phận nào của ngân hàng dự báo và năng chặn rủi ro khi cần thiết
1.4.3 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro ngoại hối đối với các NHTM Việt Nam
Hậu quả từ những rủi ro gặp phải của những ngân hàng nêu trên là quá lớn
Trang 39Rủi ro làm ngân hàng bị lỗ ngoài tầm kiểm soát và mất uy tín như ngân hàng Societe Generale, thậm chí là dẫn đến phá sản như ngân hàng Barrings Bài học quản trị rủi ro ngoại hối được rút ra từ tình hình thực tế các ngân hàng trên:
- Ngân hàng phải xây dựng quy trình hoạt động kinh doanh và quy trình này phải tách rời bộ phận kinh doanh với bộ phận kiểm tra, kiểm soát để hoạt động này được khách quan
- Bộ phận quản trị rủi ro của ngân hàng phải xây dựng các công cụ quản trị rủi ro cho từng mảng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Bộ phận quản trị rủi ro phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các công cụ quản trị rủi ro trong quá trình giao dịch của bộ phận kinh doanh
- Thường xuyên nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các chuyên viên quản trị rủi
ro và chuyên viên kiểm soát nội bộ
- Thiết lập hệ thống công nghệ phục vụ công tác quản trị rủi ro của ngân hàng Hệ thống quản trị rủi ro này phải phát hiện được những rủi ro đang xảy ra và tiến hành phân tích tìm ra các nguyên nhân gây rủi ro, đồng thời phải dự báo đượng những rủi ro có thể xảy ra Từ đó, bộ phận quản trị rủi ro tham mưu hướng giải quyết cho Ban Lãnh đạo của ngân hàng
- Ngân hàng phải thiết lập hạn mức giao dịch chi tiết, điểm chốt lời và dừng
lỗ, hạn mức trạng thái từng loại ngoại tệ Từ đó, ngân hàng có thể kiểm soát được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh
1.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác đã đã trình bày các khái niệm cơ bản về rủi ro ngoại hối, các yếu tố tác động đến rủi ro ngoại hối cũng như vai trò của quản trị rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương 1 cũng đã khái quát các biện pháp, công cụ để quản trị rủi ro ngoại hối: Sử dụng công cụ hạn mức, các công cụ phái sinh và công cụ VaR,…
Thông qua phân tích một số tình huống thực tiễn về quản trị rủi ro của các ngân hàng trên thế giới và đề xuất những bài học kinh nghiệm đối với các NHTM Việt Nam
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN
HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có tên viết tắt là Sacombank Địa chỉ 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP HCM Sacombank là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên được thành lập tại TP HCM từ việc hợp nhất ngân hàng Phát triển kinh tế Gò Vấp cùng 3 hợp tác xã tín dụng là Tân Bình, Thành Công và Lữ Gia vào năm 1991
Năm 1993 Sacombank là ngân hàng TMCP đầu tiên của TP HCM khai trương chi nhánh tại Hà Nội Trong những năm đầu mới thành lập, vốn điều lệ của Sacombank khoảng 3 tỷ đồng Trong những năm 1995-1998 Sacombank cổ phần hóa, nâng vốn điều lệ từ 21 tỷ lên 71 tỷ đồng
Năm 2002, Sacombank thành lập công ty trực thuộc đầu tiên – Công ty quản
lý nợ và khai thác tài sản Sacombank, bước đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính Năm 2003, Sacombank thành lập công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam với đối tác Dragon Capital
Sacombank cũng là ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE với tổng số vốn 1.900 tỷ đồng vào năm 2006 Khi thị trường chứng khoán bùng nổ, Sacombank phát triển mạnh về vốn và các chi nhánh Các đối tác chiến lược của Sacombank gồm ANZ, IFC, Dragon Capital và REE
2.2 Tổ chức phòng kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
2.2.1 Chức năng, phạm vi tham mưu
Theo thông tin về các đơn vị nghiệp vụ ngân hàng có chức năng tham mưu của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, bộ phận kinh doanh ngoại hối được tổ chức theo chức năng nhiệm vụ, phạm vi tham mưu và tiêu chí tham mưu như sau
Chức năng nhiệm vụ: Thực hiện kinh doanh vàng – ngoại tệ Quản lý hoạt động kinh doanh vàng – ngoại tệ toàn hệ thống Kinh doanh và cung cấp dịch vụ trên thị truờng hàng hóa phái sinh theo quy định của NHNN Xây dựng và phát triển