Luận văn, kinh tế, quản trị, khóa luận, đề tài, chuyên đề
Trang 1Phần I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hai năm gần đây, với sự suy thoái toàn cầu, nền kinh tế thế giới rơi vàotrạng thái suy giảm, khủng hoảng trầm trọng đã ảnh hưởng rất lớn đến các nước pháttriển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam Các Công ty cũng như doanh nghiệpvừa và nhỏ điêu đứng, thậm chí là phá sản Cùng với đó, người tiêu dùng thắt chặt chitiêu khiến các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm không thể tiêu thụ hết sản phẩm, gâytồn đọng và ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là một trong 4 chức năng của quản trị doanh nghiệp Mặc dùsản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ là điều kiện tiền đề khôngthể thiếu của sản xuất Việc chú trọng đến công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ làm cho kếtquả sản lượng sản phẩm tiêu thụ của Công ty năm sau luôn cao hơn năm trước Do vậy,chỉ có tiêu thụ được sản phẩm thì doanh nghiệp mới có doanh thu và lợi nhuận Điềunày mới giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Mai là một bộ phận trong tổng thể các đơn vịkinh tế của đất nước, là một trong các thành viên thuộc tổng Công ty công nghiệp ximăng Việt Nam Qua nhiều năm hình thành, hoạt động phát triển thì hệ thống phânphối và tiêu thụ của Công ty liên tục được củng cố và hoàn thiện, thiết lập mối quan hệbền vững tốt đẹp với các nhà trung gian, đào tạo tuyển mộ được một đội ngũ cán bộ,nhân viên thị trường có nhiều kinh nghiệm thực tế Nhờ vậy mà hệ thống phân phối vàtiêu thụ của Công ty đã hoạt động có hiệu quả, doanh thu và lợi nhuận tiêu thụ luôntăng qua các năm, đời sống của công nhân được cải thiện Công ty không những thamgia xây dựng công trình của các tầng lớp dân cư mà còn tham gia các dự án lớn như:Cầu Vĩnh Tuy (Hà Nội), thuỷ điện Bản Vẽ (Nghệ An), thuỷ điện Hương Sơn (HàTĩnh), Trung tâm hội nghị Quốc gia (Hà Nội), dự án thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt(Thanh Hoá), thuỷ điện Hố Hô (Quảng Bình), thuỷ điện Buôn Kợup (Đăk Lăk) Sảnlượng tiêu thụ xi măng của Công ty năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt năm 2009,
Trang 2Công ty đã tiêu thụ vượt mức, đánh dấu một bước phát triển mới cho Công ty Công ty
đã có chủ trương và đã được Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam chấpthuận đầu tư dây chuyền sản xuất xi măng Hoàng Mai 2 với công suất 12.000 tấnclinker/ngày tương đương 4,5 triệu tấn xi măng/năm Dự án có tổng vốn đầu tư là10.800 tỷ đồng tương đương 650 triệu USD Thời gian đầu tư của dự án sẽ trong giaiđoạn từ năm 2010 đến 2014 Với dự án này, Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Mai sẽ làCông ty có dây chuyền sản xuất xi măng lớn nhất Việt Nam Mặt khác, theo dự báonăm 2010, nhu cầu xi măng tăng 11%, đây là điều kiện nhưng cũng là thách thức đểcác doanh nghiệp sản xuất xi măng vươn lên và cạnh tranh nhau Nhận thức được tầmquan trọng của việc tiêu thụ, trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần xi măng
Hoàng Mai, tôi đã chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm xi măng của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai” làm đề tài tốt
nghiệp cuối khóa
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đánh giá hoạt động phân phối và tiêu thụ xi măng của Công ty
cổ phần xi măng Hoàng Mai trong 3 năm 2007-2009 Từ đó phân tích tổng hợp và đềxuất một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công tytrong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận vănlà:
+ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tiêu thụ
+ Vận dụng lý thuyết đó để phân tích đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm củaCông ty
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn tiêu thụcủa Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai trên thị trường
Trang 3- Phạm vị nghiên cứu: Do thời gian thực tập hạn chế, khóa luận tập trung nghiên cứu lýthuyết tiêu thụ và thực tiễn tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
từ năm 2007 đến năm 2009
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê theo dãy số thời gian
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tốquyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là khâu bán hàng của hoạt độngkinh doanh thương mại Có thể hiểu tiêu thụ theo 2 quan điểm:
Theo nghĩa hẹp: “Tiêu thụ sản phẩm gắn liền với sự thanh toán giữa người mua vàngười bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa”(1) Ở đây, tiêu thụ sản phẩm được xem
là hoạt động bán hàng, là quá trình người bán giao hàng và người mua thanh toán tiền,tiêu thụ sản phẩm đến đây là kết thúc
Theo nghĩa rộng: “Tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp là quá trình gắn liền với: Cácnghiệp vụ kỹ thuật – sản xuất về tiêu thụ sản phẩm; Các nghiệp vụ về tổ chức quản lýtiêu thụ sản phẩm”(1)
1.2 Bản chất của tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được hiểu làmột quá trình gồm nhiều công việc khác nhau từ việc tìm hiểu nhu cầu, tìm nguồnhàng, chuẩn bị hàng, tổ chức bán hàng, xúc tiến bán hàng cho đến phục sau bán hàngnhư: chuyên chở, lắp đặt, bảo hành
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm cuả doanh nghiệp bao gồm hai quá trình có liên quan:
- Một là, các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất, chuẩn bị, tiếp nhận, phân loại bao gói, lênnhãn mác, xếp hàng vào kho, chuẩn bị đóng bộ, vận chuyển theo yêu cầu của kháchhàng
- Hai là, các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và kế hoạch hóa tiêu thụ sản phẩm nghiên cứuthị trường, tổ chức bán hàng, đào tạo bồi dưỡng và quản trị lực lượng bán hàng
Trang 51.3 Vai trò, ý nghĩa của công tác tiêu thụ
Vai trò
Thị trường sản phẩm là một khâu vô quan trọng đối với bất cứ một doanh nghiệp sảnxuất hay doanh nghiệp thương mại nào Có thể nói sự tồn tại của doanh nghiệp phụthuộc rất nhiều vào công tác tiêu thụ sản phẩm Hoạt động tiêu thụ sản phẩm chi phốicác khâu nghiệp vụ Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải được diễn raliên tục và nhịp nhàng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được đánh giá bởinhiều nhân tố trong đó có tốc độ quay vòng vốn mà tốc độ quay vòng của vốn lại phụthuộc vào tốc độ tiêu thụ của sản phẩm, do đó nếu như tiêu thụ sản phẩm tốt làm cho sốngày trong một vòng quay của vốn giảm đi
Đối với doanh nghiệp sản xuất, việc tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng
“ Tiêu thụ giúp cho quá trình tái sản xuất được giữ vững và có điều kiện phát triển”(2) .Một khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ tức là sản phẩm của doanh nghiệp
đã được thị trường chấp nhận Mức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện ở mứcbán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu tiêudùng và sự hoàn thiện của hoạt động dịch vụ Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm sẽ thểhiện đầy đủ điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp
Khi hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ thì có nghĩa là doanh nghiệp đã có một khoảntiền để có thể bù đắp được chi phí bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm Hơn nữa, thực hiệntốt công tác tiêu thụ làm cho chi phí lưu thông và các chi phí khác giảm xuống giúpdoanh nghiệp tăng thêm lợi nhuận để thực hiện quá trình tái sản xuất, bảo đảm cho hoạtđộng sản xuất diễn ra thường xuyên cho doanh nghiệp
Hơn nữa “ Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, tiêu thụ giúp chongười tiêu dùng có được giá trị sử dụng mà mình mong muốn và người sản xuất đạtđược mục đích của mình trong kinh doanh Nhà sản xuất thông qua tiêu thụ có thể nắmbắt được thị hiếu, xu hướng tiêu dùng, yêu cầu về sản phẩm, để từ đó mở rộng hướngkinh doanh, tạo ra sản phẩm mới, tìm kiếm khả năng và biện pháp thu hút khách hàng
Trang 6Doanh nghiệp có điều kiện sử dụng tốt hơn mọi nguồn lực của mình, tạo dựng một bộmáy kinh doanh hợp lý và có hiệu quả”(2) .
Ngoài ra tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân đối cung - cầu sảnphẩm trên thị trường Sản phẩm chỉ thực sự hoàn thiện chức năng của mình khi nóđược tiêu dùng
Ý nghĩa
“Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hóa, quá trình chuyển hóahình thái giá trị của hàng hóa từ hàng sang tiền, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi đượckhách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng”(2) Hoạt động hàng hóa có tiêu thụ được thìmới có thể xác định được kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp là lãi hay lỗ.Mặt khác, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa còn thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, tăngnăng suất lao động, đồng thời nâng cao chất lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu ngườitiêu dùng “Tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hóa là sảnphẩm sản xuất để bán và thu lợi nhuận”.(2)
Tóm lại, công tác tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Do vậy phải tăng cường đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ vì nóquyết định sự sống còn của các đơn vị sản xuất kinh doanh
1.4 Nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
Công tác tiêu thụ sản phẩm trong một doanh nghiệp bao gồm những nội dung sau:
- Điều tra nghiên cứu thị trường
Đây là công việc đầu tiều của bất cứ một doanh nghiệp nào, nó đóng vai trò quan trọngđến sự thành bại của doanh nghiệp trên thị trường Nghiên cứu thị trường nhằm trả lờinhững câu hỏi sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Để trả lờiđược những câu hỏi này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm một cách đúng mức vềkhách hàng của mình Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều hướng đếnkhách hàng Mục đích của công tác nghiên cứu thị trường là xác định nhu cầu thị
Trang 7trường, khả năng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường, từ đó doanh nghiệp đưa ra nhữngsản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường
- Lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu và tiến hành sản xuất
Chỉ có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì mới có thể tồn tại Trên cơ
sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp tiến hành sản xuất sản phẩm để cung ứng chothị trường Việc sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp phải đảm bảo về mặt số lượng lẫnchất lượng, giá cả Những yếu tố số lượng, chất lượng, giá cả quyết định dự thànhcông của sản phẩm trên thị trường, là những yếu tố mà khách hàng quan tâm và ảnhhưởng đến quyết định mua hàng
- Tổ chức hoàn thiện sản phẩm đưa hàng hóa về kho chuẩn bị cho hoạt động tiêu thụ
Đây là một chuỗi hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, bao gồm:tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu cho sản phẩm, đóng gói, xếp hàng về kho Các hoạtđộng này đều được thực hiện tốt thì sẽ giúp cho hàng hóa lưu thông một cách nhịpnhàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất
- Định giá cho sản phẩm và tiến hành thông báo giá
Đây là một nội dung khá phức tạp, giá bán ra của sản phẩm không những tạo ra thậtnhiều cho doanh nghiệp mà còn phải phù hợp với túi tiền của khách hàng Nếu giá đưa
ra mà không được thị trường chấp nhận thì đồng tiền sản phẩm đã thất bại Vì vậydoanh nghiệp cần nắm chắc chi phí sản xuất thông qua quá trình hoạch toán giá thành.Ngoài ra việc định giá sản phẩm còn phải quan tâm nhiều đến giá cả của đối thủ cạnhtranh, nhưng còn phải so sánh chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩmcủa đối thủ cạnh tranh
- Xác định phương án phân phối và kênh phân phối
Là toàn bộ những hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm cho doanhnghiệp Ngoài ra hoạt động xúc tiến bán hàng có vai trò quan trọng trong việc tăng chiphí của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 8- Thực hiện các kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng và đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Nghiệp vụ bán hàng bao gồm thực hiện các dịch vụ hậu mãi, hỗ trợ khách hàng lựa chọn sản phẩm Đánh giá quá trình tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp biết về tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ của mình, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục thúc đẩy hoạt động tiêu thụ
1.5 Khái niệm, chức năng của thị trường
1.5.1 Các khái niệm về thị trường
Thị trường là một phàm trù kinh tế khách quan Hiện nay có rất nhiều quan điểm khácnhau về thị trường
Theo Philip Kotler: “Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có mộtnhu cầu hay mong muốn củ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãnnhu cầu hay mong muốn đó”(5)
Ở Việt Nam có nhà kinh tế quan niệm: “ Thị trường là lĩnh vực trao đổi mà ở đó ngườimua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa và dịch vụ” (5)
Ngoài ra, ta có thể hiểu thị trường là là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch
vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩmnhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiếtcủa sản phẩm, dịch vụ
Như vậy, có thể hiểu thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện cáiquyết định của người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ cũng như quyết định của cácdoanh nghiệp về số lượng và chất lượng mẫu mã của hàng hóa Đó là những mối quan
hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu với cơ cấu của từng loại hàng hóa củ thể
1.5.2 Chức năng của thị trường
- Chức năng thừa nhận
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người nhà sản xuất và người tiêu dùng trong quá trìnhtrao đổi hàng hóa Nhà doanh nghiệp đưa hàng hóa ra thị trường với mong muốn là bán
Trang 9được hàng hóa với giá cả hợp lý để bù đắp chi phí và có lợi nhuận Người tiêu dùng tìmđến thị trường để mua những sản phẩm phù hợp với nhu cầu Quá trình trao đổi diễn ra
và đôi bên chấp nhận mua bán, trao đổi
- Chức năng thực hiện
Chức năng này đòi hỏi hàng hóa phải được thực hiện giá trị trao đổi: bằng tiền hoặcbàng hàng, bằng các chứng từ có giá khác Người bán cần tiền và người mua cần hàng.Hàng hóa bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hóa từ người bán sang người mua
- Chức năng điều tiết
Nhà sản xuất tạo ra cung và cầu là người tiêu dùng tạo ra Tuy nhiên, cung cầu luônthay đổi Khi có quan hệ cung cầu thì qúa trình tái sản xuất mới diễn ra trôi chảy và nóđược thực hiện thông qua sự định giá trên thị trường Thông qua quá trình định giá,chức năng điều tiết của thị trường được thể hiện thông qua sự phân bổ lực lượng sảnxuất từ ngành này sang ngành khác, từ khu vực này sang khu vực khác đối với mỗingười sản xuất
- Chức năng thông tin
Chức năng thông tin thể hiện ở chỗ, nó cho biết người sản xuất nên sản xuất hàng hóanào, khối lượng bao nhiêu, khi nào thì đưa ra thị trường để tiêu thụ Đồng thời nó chỉcho người tiêu dùng nên mua một hàng hóa hay mua hàng hóa thay thế để phù hợp vớithu nhập của họ Có thể nói thông tin thị trường là những thông tin quan trọng Không
có thông tin thị trường thì không thể quyết định đúng đắn trong sản xuất, kinh doanhcũng như các quyết định của các cấp quản lý Việc nghiên cứu thị trường và tìm kiếmcác thông tin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc ra các quyết định đúng đắntrong kinh doanh
1.6 Các công tác hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là một trong những nghiệp vụ quan trọng ảnh hưởng đến kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, để đẩy mạnh công táctiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp hỗ trợ như khuyến mãi,
Trang 10giảm chiết khấu, quảng cáo nhằm tác động đến người tiêu dùng, kích thích họ tiêu thụhàng hóa của mình
Hơn nữa, trong khi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nướcngày càng trở nên khốc liệt, nếu không lôi kéo được khách hàng về phía mình thìdoanh nghiệp đó sẽ phải ngừng sản xuất Do vậy, mà công tác hỗ trợ tiêu thụ là hết sứcquan trọng và doanh nghiệp phải biết vận dụng lợi thế cũng như tùy điều kiện hoàncảnh để đưa ra các biện pháp phù hợp
2.Cơ sở thực tiễn của việc tiêu thụ sản phẩm xi măng
Trong giai đoạn này, cơn bão khủng khoảng tài chính thế giới đã đẩy nền kinh tế ViệtNam tới nhiều thách thức khó lường Tuy nhiên trong khó khăn, kinh tế Việt Nam cónhiều lợi thế để vượt qua bão tố và tiến về phía trước Các doanh nghiệp sản xuất đã cónhững hướng đi đúng đắn và thoát ra được cơn bão khủng hoảng
Với lịch sử trên 100 năm hình thành và phát triển, cùng với những biến cố thăng trầmcủa đất nước, đến nay ngành xi măng Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc vềmọi mặt Là ngành công nghiệp trọng điểm trong sự nghiệp Công nghiệp hoá, ngànhcông nghiệp xi măng đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng cũng đang đứng trướcnhiều thách thức trước yêu cầu của phát triển đất nước trong giai đoạn mới Tuy nhiên,với sự lớn mạnh của mình, ngành xi măng Việt Nam đang dần khẳng định vị thế trênthị trường trong nước và vươn ra thị trường thế giới Năm 2009 được xem là năm đầutiên mà ngành xi măng trong nước sản xuất đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ Do đó,Việt Nam đã đứng trong danh sách 10 quốc gia có sản lượng xi măng lớn nhất thế giới,cùng với một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản Vượt qua cơnkhủng hoảng kinh tế, năm 2010 được đánh dấu là năm phát triển vượt bậc của ngành ximăng Cho đến nay trên cả nước đã có khoảng 90 Công ty, đơn vị tham gia trực tiếpsản xuất và phục vụ sản xuất xi măng, trong đó khoảng 33 thành viên thuộc Tổng Công
ty xi măng Việt Nam, 5 Công ty liên doanh, hơn 50 Công ty nhỏ và các trạm nghiền
Trang 11khác Ngành xi măng Việt Nam triển vọng phát triển, tăng trưởng cao và ổn định.Trong tiến trình hội nhập, ngành xi măng càng ngày càng lớn mạnh.
Hiện nay, các nhà máy xi măng Việt Nam đều được đầu tư về công nghệ sản xuất, dâychuyền thiết bị hiện đại Các công nghệ sản xuất xi măng hiện nay đang áp dụng là:Công nghệ xi măng lò đứng, công nghệ xi măng lò quay châu Âu, công nghệ xi măng
lò quay Trung quốc Bên cạnh đó là phương pháp sản xuất ướt đến phương pháp sảnxuất khô nhằm đem lại sản phẩm có chất lượng tốt, phù hợp tiêu chuẩn, được ngườitiêu dùng lựa chọn Trên thị trường hiện có nhiều chủng loại xi măng như: xi măngpooclăng(PC40), xi măng pooclăng hỗn hợp(PCB40 và PCB30)
Nghệ An được xem là tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú Đặc biệt là trữ lượng đávôi lớn, là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành sản xuất xi măng Hai huyện có trữlượng đá vôi lớn nhất là huyện Anh Sơn và huyện Quỳnh Lưu Và hiện có 3 nhà máysản xuất xi măng mà nhà máy sản xuất lớn là nhà máy xi măng Hoàng Mai ở QuỳnhLưu với công suất 1,4 triệu tấn/năm Nghệ An là địa bàn Công ty đóng chân, là nơi cónhu cầu tiêu thụ xi măng cao (trên 1.000.000 tấn/năm) trong đó Xi măng Hoàng Maichiếm hơn 70% thị phần và có độ phủ trên 90% Ngoài ra, Công ty có thị phần khá lớntại miền Trung và Tây Nguyên, khu vực đang được chú trọng đẩy mạnh phát triển Bêncạnh đó, Công ty cũng chú trọng phát triển kênh phân phối khắp toàn quốc, giúp tăngkhả năng giới thiệu sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của Công ty Tuy nhiên,thị trường hiện có rất nhiều loại xi măng cạnh tranh nhau như xi măng Hoàng Thạch, ximăng Bỉm Sơn, xi măng Nghi Sơn Chính vì vậy Công ty xi măng Hoàng Mai cầnthực hiện tốt các nghiệp vụ, đặc biệt là công tác tiêu thụ, tuyên truyền, quảng cáo đểsản phẩm xi măng đến được với mọi người tiêu dùng
Trang 12CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM 2.1 Tình hình cơ bản về Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty xi măng Hoàng Mai là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng Công ty ximăng Việt Nam, trụ sở tại thị trấn Hoàng Mai - Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An
Tên giao dịch: Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
Tên tiếng Anh: HOANGMAI CEMENT COMPANY
Địa chỉ: Thị trấn Hoàng Mai- huyện Quỳnh Lưu- tỉnh Nghệ An
288 triệu USD từ nguồn vốn vay trong và ngoài nước, là dự án lớn đầu tiên tại ViệtNam được chính phủ cho phép thí điểm thực hiện tự vay vốn đầu tư và chịu tráchnhiệm trả nợ
Ngày 09/06/1999, dự án xi măng Hoàng Mai đã tiến hành khởi công đồng loạt cáchạng mục công trình chính thuộc dây chuyền sản xuất và sau 32 tháng khởi công xây
Trang 13dựng, ngày 6/3/2002 Nhà máy đã cho ra lò những tấn clinker đầu tiên đạt chất lượngtốt.
Ngày 30/12/2000 UBND tỉnh Nghệ An và Tổng Công ty xi măng Việt Nam đã kí biênbản bàn giao Công ty xi măng Hoàng Mai thuộc UBND tỉnh Nghệ An trở thành thànhviên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam
Năm 2006, Công ty Xi măng Hoàng Mai là đơn vị đầu tiên thuộc tổng Công ty XiMăng Việt Nam thực hiện việc nâng 10% năng suất lò nung do Công ty LTV(TháiLan) thực hiện Dự án thành công rực rỡ với chi phí đầu tư chỉ hơn 1 triệu USD nhưngsản lượng sản xuất đã nâng lên 10% - Đây là tiền đề cho các nhà máy xi măng thuộctổng Công ty triển khai áp dụng đồng loạt Sau khi thực hiện đề tài, năng lực sản xuấtclinker năm 2006 đã đạt hơn 1,3 triệu tấn clinker so với 1,2 triệu tấn công suất tối đa doFCB thiết kế Ngày 09/03/2007, Bộ xây dựng ban hành Quyết định số 367/QĐ-BXD
về việc thực hiện cổ phần hóa các Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổngCông ty Xi măng Việt Nam( nay là Tổng Công ty công nghiệp Xi măng Việt Nam)Ngày 30/11/2007, Công ty xi măng Hoàng Mai đã tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu
ra công chúng tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội Ngày 27/02/2008 hộiđồng quản trị Tổng Công ty Công nghiệp xi măng ban hành quyết định số: 219QĐ-XMVN về việc điều chỉnh phương án cổ phần hóa và chuyển Công ty Xi măng HoàngMai thành Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Mai
Ngày 01/04/2008, Công ty cổ phần xi măng đã chính thức đi vào hoạt động với số vốnđiều lệ 720 tỷ đồng trong đó vốn nhà nước chiếm tỷ lệ 70,96% tương đương 510,918 tỷđồng
Trong nhiều năm hoạt động với mục tiêu chất lượng là hàng đầu, Công ty cổ phần ximăng Hoàng Mai đã đạt được nhiều danh hiệu Tháng 8 năm 2004, Công ty đã đượcTrung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chấtlượng cấp Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và ISO 14001:1996.Sản phẩm của Công ty đã đạt nhiều huy chương vàng tại các hội chợ triển lãm tổ chức
Trang 14tại Hà Nội, Thành phố Vinh, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, giải thưởng saovàng đất Việt năm 2004, giải thưởng chất lượng Việt Nam năm 2004, giải thưởng hàngViệt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn năm 2005, giải thưởng vàngchất lượng năm 2005 và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Cùng với sự phấn đấu bền bỉ trong những năm qua, Công ty cổ phần xi măng HoàngMai đã được Tỉnh Nghệ An; Bộ xây dựng, Tổng Công ty xi măng Việt Nam tặng nhiều
cờ thưởng thi đua Với nhiều thành tích đã đạt được trong công tác cũng như góp phầnvào sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc, ngày 21/09/2005, Thủtướng Chính phủ đã ký quyết định số 993/QĐ.TTg tặng bằng khen cho Công ty cổphần xi măng Hoàng Mai
2.1.2 Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
Trang 15Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty
Chú thích: Quann hệ trực tuyến
( Nguồn: Phòng tổ chức- lao động – Công ty xi măng Hoàng Mai)
Ban kiểm soát(5 người)
Phó giám đốc cơ điện
Xưởng mỏ
( 148 người)
Hội đồng quản trị
Phó giám đốc tiêu thụPhó giám đốc sản xuất
Phòng vật tư( 43 người)
Phòng cơ điện( 20 người)
Phòng tài chính kế toán( 19 người)
Xưởng cơ khí(88 người)
Xưởng điện- tự động hóa
( 74 người)
Phòng tiêu thụ(54 người)
Văn phòng( 144 người)Xưởng xây dựng- dịch vụ(95 người)
Ban giám đốc(4 người)
Hội đồng quản trị(7 người)Đại hội đồng cổ đông
Trang 162.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
Công ty xi măng Hoàng Mai có đầy đủ tư cách pháp nhân, được tổ chức
và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật hiện hành.Ngay từ khi mới thành lập Công ty đã quy định các chức năng và nhiệm vụ cụ thể
Chức năng
Chức năng chủ yếu của Công ty xi măng Hoàng Mai là sản xuất xi măng và Clinker.Mua bán xi măng, Clinker, thiết bị, phụ tùng, vật tư công nghiệp Ngoài ra Công ty cònkinh doanh vận tải đường bộ, đường sông, đường biển…
Nhiệm vụ
- Công ty có nhiệm vụ sản xuất và cung cấp xi măng cho các công trình xây dựngtrong nước Đồng thời, Công ty phải cung cấp xi măng cho các địa bàn trên toàn quốctheo sự điều hành tiêu thụ của Tổng Công ty xi măng Việt Nam nhằm góp phần vào sựbình ổn giá cả trên thị trường
- Bên cạnh đó, Công ty thực hiện tốt quá trình hoạt động nhằm sử dụng hợp lý, hiệuquả nguồn vốn và lao động, quản lý đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên để đáp ứngyêu cầu của việc kinh doanh ở Công ty
- Đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường, an ninh chính trị tốt
- Chăm lo cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhânviên để họ yên tâm lao động
- Luôn vạch ra những chiến lược và định hướng để tổ chức sản xuất kinh doanh vượtmức kế hoạch đề ra
- Mặt khác, Công ty thực hiện tốt nhiệm vụ nộp ngân sách; chấp hành các chính sách,chế độ và pháp luật của Nhà nước; bảo vệ môi trường quản lý chỉ đạo của Công ty theo
cơ chế hiện hành, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, thực hiện nghĩa vụ đóng góp mangtính chất từ thiện
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng
Trang 17 Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có thẩmquyền cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề được pháp luật và Điều lệ Công
ty quy định Đại hội đồng cổ đông sẽ được thông qua các báo cáo tài chính hàng nămcủa Công ty, ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, bầu miễn nhiệm, bãi nhiệm thànhviên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát Công ty
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan công lý Công ty gồm có (07) thành viên do Đại hội đồng
cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông, có toànquyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợicủa Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát của Công ty gồm có (05) thành viên, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra.Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt độngkinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hộiđồng quản trị và Ban Giám đốc
Ban Giám đốc
Ban Giám đốc Công ty gồm Giám đốc và (03) Phó Giám đốc Giám đốc được Hộiđồng quản trị ủy quyền, là người đại diện theo pháp luật của Công ty, điều hành mọihoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiệncác quyền và nhiệm vụ được giao Phó Giám đốc phụ trách các mảng khác nhau, gồm:Phó Giám đốc phụ trách sản xuất; Phó Giám đốc phụ trách cơ điện và Phó Giám đốcphụ trách kinh doanh
Các phòng ban chức năng
Phòng tiêu thụ
Phòng tiêu thụ của Công ty chuyên thực hiện các công tác liên quan đến tiêuthụ, bán sản phẩm do Công ty sản xuất; tham mưu có trách nhiệm chính trong việc
Trang 18giúp Giám đốc Công ty hoạch định chính sách tiêu thụ, tổ chức bán hàng tại nhà máy
và cung ứng cho các nhà phân phối; có trách nhiệm chỉ đạo về mặt nghiệp vụ đối vớicác nhà phân phối, các đại diện tiêu thụ và chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của phòng Thịtrường Tổng Công ty; tiếp thị thu nhận xử lý thông tin, dự báo khả năng và năng lực thịtrường qua từng thời gian kế hoạch nhằm quản lý, tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả caonhất và mở rộng thị phần tiêu thụ cho Xi măng Hoàng Mai
Phòng kế toán tài chính
Giúp Giám đốc Công ty tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán trong toàn Công
ty theo quy định của Nhà nước và Tổng Công ty công nghiệp Xi măng Việt Nam.Tham mưu cho Giám đốc Công ty trong công tác quản lý tài chính, đảm bảo cho việcbảo toàn và phát triển vốn tại đơn vị, thực hiện việc đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh, cân đối chi phí và nguồn thu để đảm bảo khả năng trả nợcác khoản vay trong và ngoài nước Kiểm soát, kiểm tra, giám sát quá trình phân phối,
sử dụng vốn, tài sản đảm bảo đúng chế độ quản lý hiện hành của nhà nước và của Côngty; giúp Giám đốc chỉ đạo sản xuất kinh doanh kịp thời và có hiệu quả kinh tế cao
Phòng tổ chức
Là phòng nghiệp vụ, có trách nhiệm tham mưu cho Giám đốc về công tác tổ chức quản
lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức lao động tiền lương, tiền thưởng, định mức laođộng và các chế độ chính sách khác Thực hiện công tác hợp đồng lao động, đào tạo,bồi dưỡng thi đua, khen thưởng thanh tra pháp chế bảo vệ bí mật nội bộ
Hợp đồng lao động, sắp xếp, đạo tạo bồi dưỡng thi nâng bậc cho CBCNV có đủ trình
độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh.Thực hiện chế độ nghiêm chỉnh chế độ báo cáo thống kê về số lượng, chất lượnglao động, thu nhập, tiền lương, tiền thưởng theo định kỳ của cấp trên quy định
Quản lý đội ngũ, cán bộ công nhân viên về phẩm chất, chính trị, tư tưởng, đạo đức,năng lực công tác, quản lý chặt chẽ và bổ sung hồ sơ lý lịch, nhận xét cán bộ nhân viênhàng năm theo quy chế và báo cáo kịp thời cho các cấp quản lý
Trang 19Điều động thuyên chuyển cán bộ trong Công ty phù hợp định biên, trình độ kỹ thuậtchuyên môn nghiệp vụ và năng lực của mỗi người Trên cơ sở quy hoạch cán bộ,nghiên cứu chuẩn bị và làm các thủ tục bổ nhiệm cán bộ thông qua Đảng ủy và trìnhlãnh đạo, Giám đốc quyết định.
Xây dựng các tiêu chuẩn định mức lao động, định mức công việc có khoa học, trìnhcấp trên để áp dụng Xây dựng đơn giá tiền lương, hình thức trả lương, phân phối tiềnlương cho các đơn vị và toàn Công ty
Theo dõi, lập báo cáo tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất; theo dõi việc kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm của Công ty; Lập kế hoạch đầu tư, tái đầu tư; theo dõi thực hiệnđúng trình tự về công tác đầu tư…
Thực hiện việc cung ứng, mua sắm vật tư, thiết bị, phụ tùng, nguyên, nhiên liệu đápứng kịp thời phục vụ sản xuất và các nhu cầu khách liên quan đến sản xuất kinh doanhcủa Công ty Nhận, cấp phát, bảo quản toàn bộ quản lý các kho vật tư, thiết bị, phụtùng, nguyên nhiên liệu phục vụ yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty
Trực tiếp làm việc với các phòng ban, xưởng trong Công ty và các đơn vị ngoài để giảiquyết các công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh củaCông ty
Văn phòng Công ty
Có trách nhiệm quản lý hành chính, văn thư, lưu trữ, tài sản được giao, mua sắm thiết
bị văn phòng phục vụ công tác hành chính các phòng ban, xưởng…theo đúng quy địnhcủa Nhà nước Quản lý thông tin tuyên truyền, thi đua, công tác phục vụ hội nghị, hội
Trang 20thảo, khách đến giao dịch, nơi làm việc và phục vụ lãnh đạo Công ty Quản lý hệ thốngmạng LAN, Internet của Công ty.
Quản lý công tác tiếp đón khách đến làm việc và các tài liệu văn bản liên quan đếnCông ty
Quản lý, tổ chức nhà ăn, phục vụ ăn ca cho cán bộ công nhân viên Quản lý nhà kháchphục vụ nơi ăn nghỉ Quản lý khu tập thể, quản lý điện nước sinh hoạt để phục vụ đờisống cán bộ công nhân viên Quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bện, cấpcứu, ốm đau, tai nạn lao động cho cán bộ công nhân viên theo khả năng chuyên môn vàphân cấp của ngành y tế
Phòng kĩ thuật sản xuất
Tham mưu cho giám đốc quản lý và chỉ đạo chuyên sâu kĩ thuật công nghệ để tổchức, sản xuất Clinker, xi măng từ các nguyên nhiên liệu, đảm bảo chất lượng sảnphẩm xi măng Hoàng Mai đạt tiêu chuẩn theo các quy định của Nhà nước và theo tiêuchuẩn quốc tế
Tham mưu cho Giám đốc trong việc tổ chức, chỉ đạo, vận hành toàn bộ hệ thốngthiết bị trong dây chuyền sản xuất của Nhà máy, đảm bảo duy trì các thiệt bị hoạt động
ổn định và có hiệu quả ngày càng cao
Tham mưu cho Giám đốc chỉ đạo việc điều độ kế hoạch sản xuất giữa các đơn vị phùhợp với kế hoạch sản xuất của Công ty và có trách nhiệm tổng hợp, lập báo cáo tiến độhàng ngày, tháng, quý cho Công ty
Trực tiếp điều hành sản xuất thông qua hệ thống điều hành trung tâm đảm bảosản xuất liên tục không bị gián đoạn
Trực tiếp kiểm tra và xác định chất lượng nguyên, nhiên liệu, phụ gia, bán thành phẩmtừng công đoạn theo quy định của hợp đồng đã ký kết
Kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm từ giai đoạn cung ứng nguyên vật liệu, sảnxuất, lưu kho cho đến khi xuất cho khách hàng, đảm bảo các tiêu chí thể hiện trongmục tiêu chất lượng của Công ty
Trang 21Tham mưu cho Giám đốc tổ chức nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học công nghệvào thực tế sản xuất tại Công ty nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành sảnphẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Phòng cơ điện
Theo dõi, giám sát lắp đặt, chạy thử toàn bộ thiết bị ở dây chuyền sản xuất chính
và thiết bị phụ trợ trong toàn nhà máy trong giai đoạn lắp đặt, chạy thử và đưa vào nhàmáy sản xuất thử
Quản lý chuyên sâu kỹ thuật các thiết bị cơ điện, tự động hóa và động lực trongtoàn Công ty Quản lý danh mục chủng loại, số lượng vật tư, phụ tùng, thiết bị cần cho
dự phòng trong quá trình sữa chữa và sản xuất hàng năm của Công ty
Tham mưu cho lãnh đạo Công ty về giải pháp kỹ thuật trong quá trình vận hành,bảo dưỡng, bảo quản nhằm đảm bảo thiết bị cơ điện – động lực trong dây chuyền sảnxuất vận hành liên tục, ổn định, đồng bộ, đạt hiệu quả cao nhất
2.1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của các xưởng
Xưởng xi măng
Tham mưu cho Giám đốc quản lý, chỉ đạo và tổ chức vận hành hệ thống nghiêncứu và đóng bao xi măng, đảm bảo khai thác công suất thiết bị cao nhất và an toàn.Phối hợp với phòng tiêu thụ để xuất Clinker, xi măng theo kế hoạch
Tham mưu cho lãnh đạo Công ty về quản lý con người, thiết bị, nhà xưởng, tài sản, vật
tư, vật liệu, sản phẩm có trong công đoạn nghiền xi măng và đóng bao cũng như sảnphẩm đầu vào, đầu ra của xưởng
Kết hợp với các phân xưởng, phòng ban liên quan trong Công ty để tổ chức thựchiện công việc bảo dưỡng, sữa chữa định kỳ, đúng tiến độ, chất lượng tốt để đảm bảothiết bị hoạt động luôn tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt, tuổi thọ cao
Xưởng mỏ
Khai thác và bốc xúc đá vôi, đá sét trong địa bàn quản lý
Trang 22Quản lý tài nguyên mỏ và hồ sơ lý lịch mỏ, quản lý chỉ giới và tài nguyên mỏ đượcgiao
Quản lý tài sản, vật tư, thiết bị máy móc được giao phục vụ khai thác mỏ
Quản lý, sử dụng các xe vận chuyển đá vôi, đá sét, các phượng tiện vận tải nội bộ, máyphát dự phòng có hiệu quả và an toàn
Bảo dưỡng sữa chữa vừa và lớn tất cả các phương tiện vận tải đá vôi, đá sét, cácphương tiện vận tải nội bộ, máy phát dự phòng …
Xây dựng và thực hiện kế hoạch vận chuyển đá vôi đá sét từ các mỏ khai thác về cácmáy đập, đảm bảo sản xuất liên tục, ổn định theo kế hoạch và vật tư khác của Công ty
Xưởng Điện – Tự động hóa
Tham mưu cho Giám đốc trong công tác quản lý, vận hành, sữa chữa bảo dưỡngcác thiết bị thuộc hệ thống khu cấp điện, trạm điện, thiết bị điện trong dây chuyền sảnxuất của nhà máy Quản lý, vận hành, sữa chữa hệ thống PLC Đảm bảo vận hành antoàn các thiết bị cung cấp điện của Công ty, cung cấp nguồn điện cho các thiết bị Côngnghệ, phụ vụ sinh hoạt liên tục Thường xuyên theo dõi, kiểm tra hệ thống điện lưới,thiết bị điện trước và sau sữa chữa
Xưởng Clinker
Quản lý và sử dụng có hiệu quả thiết bị, vật tư, tài sản và nhân lực được giao.Phối hợp với phòng kỹ thuật sản xuất vận hành an toàn, đồng bộ các thiết bị trong dâychuyền và theo dõi hoạt động các thiết bị thuộc xưởng nhằm quản lý an toàn và đồng
bộ, đảm bảo hoàn thành kế hoạch Công ty giao về năng suất, chất lượng Clinker; thamgia cùng các phòng ban chức năng lập kế hoạch ngân sách, dự trù vật tư, phụ tùng thaythế hàng quý, hàng tuần
Trang 23công trình kiến trúc bao gồm cả phần điện nước, xây dựng mới các công trình kiếntrúc vừa và nhỏ trong và ngoài Công ty
Xưởng cơ khí
Thực hiện công việc sữa chữa, lắp đặt, hiệu chỉnh thiết bị cơ khí Gia công chế tạo,phục hồi các thiết bị cơ khí trên hệ thống công nghệ của Nhà máy; tham gia công tácquản lý vận hành, kỹ thuật bảo dưỡng sữa chữa, đảm bảo tiến độ và an toàn trên hệthống công nghệ Quản lý lao động và trang thiết bị được giao Tổ chức việc thực hiệngia công các thiết bị trong khả năng phân xưởng có thể thực hiện được, phục hồi sữachữa các thiết bị có điều kiện phục hồi nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cho nhàmáy
2.1.3 Nguồn lực của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
2.1.3.1 Đặc điểm về nguồn nguyên liệu
Nguyên liệu chính dùng để sản xuất xi măng chủ yếu là đá vôi và đất sét Đây lànguồn nguyên liệu Công ty tự khai thác ở mỏ đá Hoàng Mai với trữ lượng 132.646.000tấn và mỏ sét Quỳnh Vinh với trữ lượng 4.279.000 tấn đủ nguyên liệu để nhà máy hoạtđộng liên tục trên 80 năm với chất lượng ổn định
Ngoài ra, Công ty sử dụng quặng sắt, bôxit hoặc silic để làm nguyên liệu điều chỉnh
2.1.3.2 Đặc điểm về sản phẩm của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
Công ty xi măng Hoàng Mai chủ yếu sản xuất xi măng pooc lăng hỗn hợp PCB40; PCB 30; PC40; PCB 40; PC40; PC 50, Clinker, xi măng thương phẩm CPC 40;CPC 50 và các loại xi măng đặc biệt theo đơn đặt hàng Đây là các sản phẩm đạt tiêuchuẩn Việt Nam và chất lượng sản phẩm xi măng PCB 40 theo tiêu chuẩn 6260:1997
và PC40 TCVN 2682:1999 Hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, Công ty sẽsản xuất đại trà các chủng loại xi măng PCB 40; PC 40; PC 50 nhằm đáp ứng nhu cầukhắt khe về chất lượng của các công trình trọng điểm của quốc gia
Chủng loại PCB 40 và PCB 30 là tên gọi tắt của xi măng pooclăng hỗn hợp Hailoại này có thể đáp ứng cho mọi công trình xây dựng như: Cầu đường, dân dụng, nhà
Trang 24cao tầng, xây dựng thủy điện và các công trình đặc biệt …chống xâm thực trong cácmôi trường, có cường độ nén cao, cường độ uốn, độ bền hóa học cao, phù hợp với khíhậu Việt Nam.Tuy nhiên sự khác nhau cơ bản là cường độ chịu nén của PCB 40 tốthơn so với PCB 30 sau 28 ngày dưỡng hộ tính bằng N/mm2 Hiện nay, xi măng PCB
30 rời đã dần dần bị thay thế và chủng loại PCB 40 và PCB 30 bao là được tiêu thụ tốt
Lý do là khách hàng không còn ưa chuộng sản phẩm chất lượng thấp mà đã quan tâmđến sản phẩm có chất lượng và uy tín
2.1.3.3 Đặc điểm về công nghệ
Dây chuyền sản xuất xi măng của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai vớicông nghệ lò quay phương pháp khô có hệ thống xuclon 5 tầng trao đổi nhiệt và buồngdôt Cancinier đầu lò loại Nox thấp với công suất 4400T Clinker/ ngày Nhà máy cócông nghệ sản xuất do hãng FCB( cộng hòa Pháp) thiết kế và cung cấp các thiết bị chủyếu
Hệ thống làm nguội kiểu ghi công suất 4000 tấn clinker/ ngày của hãng BMHS( cộnghòa Pháp), khả năng làm nguội nhanh, hiệu suất thu hồi nhiệt cao, nhiệt độ clinker saulàm nguội dưới 85 độ C
Các thiết bị trong dây chuyền được điều khiển tự động từ bộ phận điều khiểntrung tâm chính trực tiếp vận hành và giám sát các thiết bị từ kho đồng nhất sơ bộ, khotổng hợp đến các Silo xi măng Ngoài ra còn có các trung tâm nhỏ tại công đoạn đávôi, đá sét, tiếp nhận công đoạn đầu vào và đóng bao
Bộ phận thí nghiệm KCS( kiểm tra chất lượng sản phẩm) được trang bị hiện đại
và đồng bộ Hệ thống điều khiển chất lượng tự động QCX: gồm hệ thống máy tính vàphổ kế rơngen loại mới nhất với chương trình phần mềm chuyên ngành tối ưu, quản lýchất lượng bột liệu cho phép phân tích chính xác đưa ra các tỷ lệ cấp liệu hợp lý, đảmbảo sai số nhỏ nhất
2.1.4 Tình hình sử dụng lao động của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
Trang 25Lao động là một yếu tố hết sức quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanhđối với bất kỳ một doanh nghiệp nào Sự kết hợp và phân bổ hợp lý lao động sẽ giúpCông ty giảm được chi phí lao động và tăng hiệu quả sản xuất.
Lao động của Công ty trong 3 năm giảm dần về số lượng nhưng không ngừng tăng lên
về chất lượng Nguyên nhân chính là do năm 2008 Công ty chuyển sang hình thức cổphần hóa nên phải sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy có năng lực điều hành tốt, gọnnhẹ
Phân theo giới tính
Tốc độ tăng của lao động nam cao hơn lao động nữ và lao động nam cũng caohơn lao động nữ Trong đó lao động nam chiếm khoảng trên 85% trong tổng lao động.Điều này là do tính chất công việc, kinh doanh về lĩnh vực sản xuất xi măng nên số laođộng nam cần nhiều hơn để phục vụ cho công tác sản xuất Trong khi đó lao động nữchủ yếu làm việc văn phòng và các công việc khác nên nhu cầu lao động nữ không cao
Củ thể năm 2007 số lao động nam là 881 người, năm 2008 tăng thêm 70 người tức tăngthêm 7,95 % Tuy nhiên đến năm 2009 số lượng giảm xuống còn 839 người tức giảm
112 người tương ứng giảm 11,78% do lao động đã đến tuổi về hưu và thuyên chuyểnnơi làm việc nên số lao động nam giảm
Đối với lao động nữ thì năm 2007 là 140 người, năm 2008 là 152 người, năm
2009 là 154 người Nhìn chung số lao động nữ có tăng nhẹ Năm 2008 so với năm
2007 tăng 12 người tương ứng tăng 8,57%, năm 2009 so với năm 2008 tăng 2 ngườitương ứng tăng 1,32%
Phân theo trình độ
Nhìn chung trong 3 năm thì lao động đại học và công nhân kỹ thuật chiếm phầnlớn trong tổng số lao động do công việc sản xuất và điều hành cần đến những cán bộgiỏi cũng như những công nhân phục vụ sản xuất Năm 2007, lao động đại học là 185người chiếm 19,79%, lao động cao đẳng là 86 người chiếm 8,42%, công nhân kỹ thuật
là 539 người chiếm 52,79% Còn lại là lao động sơ cấp và lao động không nghề Sang
Trang 26năm 2008 thì số lao động đại học, cao đẳng giảm nhưng công nhân kỹ thuật tăng Năm
2009, lao động đại học là 203 người chiếm 20,44%, tăng 18 người so với năm 2008.Trong khi đó lao động cao đẳng và công nhân kỹ thuật giảm Củ thể lao động cao đẳng
là 76 người, giảm 6 người tức giảm 7,32% so với năm 2008, công nhân kỹ thuật là 530người, giảm 13 người so với năm 2008
Phân theo mối quan hệ sản xuất
Lao động trực tiếp sản xuất nhiều hơn lao động gián tiếp sản xuất do đặc thù củangành sản xuất xi măng Trong 3 năm, lao động trực tiếp giảm dần, lao động gián tiếptăng thêm Củ thể năm 2007 lao động trực tiếp là 626 người, năm 2008 giảm 52 ngườitức giảm 8,31% Năm 2009, số này giảm còn 553 người tức giảm 21 người Đối với laođộng gián tiếp, năm 2007 là 395 người, năm 2008 là 429 người Năm 2008 tăng 34người tương ứng tăng 8,61% Đến năm 2009, số lao động này tăng thêm 11 ngườitương ứng tăng 2,56%
Như vậy, qua bảng 1, ta thấy đội ngũ lao động tương đối ổn định, lao động có sựtăng lên về chất lượng và có sự phân hóa hợp lý theo công việc Việc sắp xếp lao độngkhoa học là cơ sở làm tăng hiệu quả công việc cũng như giảm được chi phí lao động
Trang 27Bảng1: Tình hình lao động của Công ty qua 3 năm 2007- 2009
ĐVT: Người Năm
( Nguồn: Phòng tổ chức - Lao động )
Trang 282.1.5 Tình hình nguồn vốn và tài sản
Ở bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn là yếu tố đầu tiên và quan trọng thể hiệnkhả năng, tiềm lực của đơn vị kinh doanh để từ đó đầu tư cho các yếu tố đầu vào nhưtuyển dụng lao động, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất Vốn làmột phần chủ yếu để phát huy tài năng ban lãnh đạo trong doanh nghiệp, là điều kiện
để thực hiện các chiến lược kinh doanh, đồng thời nó là yếu tố để hoàn thành các quan
hệ kinh tế Chính vì vậy, việc huy động, sử dụng hợp lý để bảo toàn và phát triển vốn
là hết sức quan trọng
Là một đơn vị đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh hơn 10 năm nên Công ty ximăng Hoàng Mai luôn cố gắng và xác định được cơ cấu vốn hợp lý nhằm sử dụngđúng mục đích, có hiệu quả và đảm bảo độ an toàn nhất định
Để thấy được tầm quan trọng của tài sản, nguồn vốn của Công ty, ta tiến hànhphân tích cơ cấu tài sản, nguồn vốn của Công ty qua 3 năm qua
Từ bảng số liệu ta nhận thấy, tổng giá trị tài sản năm 2007 đạt 2.733.101 triệu đồngnhưng đến năm 2008 thì tổng giá trị đạt 2.389.847 triệu đồng Như vậy, so với năm
2007, tổng giá trị tài sản năm 2008 đã giảm 343.254 triệu đồng tương đương giảm12,56% Đến năm 2009, tổng giá trị tài sản đạt 2.248.001 triệu đồng So với năm 2008thì năm 2009 tổng giá trị tài sản lại giảm 141.846 triệu đồng tương ứng giảm 5,94%.Tổng giá trị tài sản qua 3 năm giảm dần Do vậy ta cần xem xét sự thay đổi này do sựtác động của nhân tố nào và sự thay đổi đó là tốt hay xấu
Trước hết, ta xem xét sự biến động của hai nhân tố chính là tài sản cố định và tàisản lưu động(TSLĐ)
- Tài sản lưu động và ngắn hạn
TSLĐ của Công ty qua 3 năm nhìn chung giảm rồi tăng nhẹ Củ thể năm 2008
so với năm 2007 giảm 154.387 triệu đồng tương ứng giảm 24,90% Năm 2009 so vớinăm 2008 tăng lên 58.292 triệu đồng chiếm 12,52%
Trang 29Như vậy, sự thay đổi trên chủ yếu là do khoản tiền mặt năm 2008 rất thấp (chiếm1,91%) và các khoản phải thu trong năm này cũng cao nhất, nó đã làm thay đổi cơ cấu.Điều này cũng dễ hiểu vì năm 2008 là năm mà toàn Công ty đang dốc sức để chuyểnđổi sang hình thức Công ty cổ phần.
- Tài sản cố định
Tài sản cố định của Công ty luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản Củ thểnăm 2007 chiếm 77,32%, năm 2008 chiếm 80,52%, tuy nhiên năm 2009 lại giảm nhẹchỉ chiếm 76,70% Điều này cũng phù hợp vì giá trị tài sản của Công ty là dây chuyềnsản xuất xi măng Qua 3 năm qua, Công ty đầu tư nhiều trang thiết bị máy móc để phục
vụ cho sản xuất như: phương tiện vận tải, thiết bị văn phòng và trang bị thêm máymóc…
Xét theo nguồn hình thành tài sản:
- Nợ phải trả:
Ta thấy nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn Qua bảng số liệu
ta thấy nợ phải trả giảm dần qua 3 năm: Năm 2007 Công ty phải trả một khoản nợ là2.255.376 triệu chiếm 80,52% trong tổng nguồn vốn của đơn vị nhưng đến năm 2008con số này giảm xuống còn 1.591.892 triệu So với năm 2007, năm 2008 nợ phải trảgiảm xuống một khoản là 663.484 triệu đồng tức giảm 29,42% Đến năm 2009, nợ phảitrả tiếp tục giảm xuống còn 1.390.528 triệu chiếm 61,86%, giảm hơn so với năm 2008
là 201.364 triệu đồng tương ứng giảm 12,65% Như vậy, ta nhận thấy rằng các khoản
nợ phải trả của Công ty giảm dần qua các năm, thể hiện Công ty làm ăn ngày càng cóhiệu quả và hợp lý
- Nguồn vốn chủ sở hữu:
Ta nhận thấy nguồn vốn qua các năm diễn biến theo chiều hướng tăng, điều nàyrất có lợi cho Công ty Vốn chủ sở hữu năm 2007 là 477.725 triệu đồng chiếm 17,48%trong tổng nguồn vốn Năm 2008 nguồn vốn chủ sỡ hữu lại tăng thêm 320.230 triệuđồng tức tăng thêm 67,03% Và đến năm 2009 nguồn vốn này tiếp tục tăng thêm
Trang 3059.518 triệu đồng tức tăng thêm 7, 46%.Nhìn chung, tình hình sử dụng vốn của Công
ty tương đối ổn định qua 3 năm, chứng tỏ Công ty đã sử dụng vốn có hiệu quả
Trang 31Bảng 2 : Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty qua 3 năm( 2007- 2009)
Trang 322.1.6 Tình hình kết quả kinh doanh qua 3 năm 2007- 2009
Kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp phản ánh khả năng, trình độ quản lýcủa nhà quản trị Điều này cũng gián tiếp cho thấy những điều kiện về điều kiện tựnhiên, môi trường kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp
Từ khi hoạt động đến nay, Công ty xi măng Hoàng Mai đã từng bước lớnmạnh, doanh thu ngày càng cao, tạo được chỗ đứng vững trên thị trường Để thấy rõtình hình hoạt động của Công ty trong 3 năm qua, ta xem xét bảng 3
Năm 2007, Công ty đã phải chịu lỗ với số tiền lớn, tuy nhiên hai năm tiếp theo tìnhhình đã được cải thiện Công ty đã thu được lợi nhuận và lợi nhuân tăng rất cao
Năm 2007, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là một con số âm 347.400 triệu đồng.Năm 2008 lợi nhuận đạt được là 78.018 triệu đồng Như vậy lợi nhuận tăng 431.662triệu đồng Nguyên nhân của việc tăng được lợi nhuận này là do:
Doanh thu bán hàng tăng 155.123 triệu đồng tương ứng tăng 16,29% Năm 2008, sảnlượng của Công ty có giảm so với năm 2007 nhưng chính giá thay đổi theo chiềuhướng tăng làm doanh thu bán hàng tăng mạnh
Chi phí tài chính giảm từ 470.734 triệu đồng xuống còn 135.092 triệu đồngtương ứng giảm 335.642 triệu đồng Đây là một thành tích của Công ty khi lãi vay phảitrả bằng đồng ngoại tệ đã giảm và Công ty giờ chỉ phải trả theo đơn vị Việt Nam đồng
vì bộ tài chính cho phép trả từ vốn ngoại tệ sang Việt Nam đồng nên Hoàng Mai bớt
đi nỗi lo áp lực đồng ngoai tệ tăng giá Vốn chủ sở hữu tăng lên, nợ trả vốn vay đầu tư
có được lối ra thông thoáng Giờ đây Công ty đã có thể giảm được một khoản tiền lớntrong việc trả lãi vay Chi phí bán hàng giảm từ 129.575 triệu đồng xuống 37.026 triệuđồng tương ứng giảm 92.549 triệu đồng Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 21.915triệu đồng tương ứng tăng 58,94%
Năm 2009 so với năm 2008, lợi nhuận sau thuế của Công ty khẳng định mộtnăm làm ăn tăng trưởng Lợi nhuận năm 2009 đạt 151.397 triệu đồng tăng 73.379 triệuđồng ứng với 94,05% Lợi nhuận này thu được là do Công ty đã phối hợp nhịp nhàng
Trang 33cả sản xuất và tiêu thụ, mạnh tay rà soát chi phí, giảm tiêu hao trong sản xuất Điều nàythể hiện củ thể:
Công ty đã tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp Năm 2009, chi phí này
đã giảm được 4.950 triệu đồng Chi phí tài chính cũng tiếp tục giảm từ 135.092 triệuđồng xuống còn 109.572 triệu đồng Trong khi đó, Công ty lại đầu tư chi phí cho côngtác thị trường, tăng cường các cán bộ thị trường đi khắp các khu vực để khảo sát, nắmtình hình để có kế hoạch tiêu thụ hợp lý Củ thể năm 2009, chi phí bán hàng tăng55.712 triệu đồng, như vậy so với năm 2008 thì chi phí này tăng 18.686 triệu đồngtương ứng tăng 50,47% Ngoài những nhân tố làm tăng lợi nhuận thì các nhân tố nhưthu nhập khác năm 2009 tăng so với năm 2008 và chi phí năm 2009 giảm so với mạnh
so với năm 2008
Như vậy, ta có thể nhận thấy Công ty xi măng Hoàng Mai là Công ty có sự phát triển mạnh, đi lên từ vốn vay Những năm trước Công ty rất khó đầu ra, thương hiệu chưa được biết đến nhưng nay đã trở thành thương hiệu có tiếng, Công ty đã làm ăn tốthơn và trong những năm tới Công ty cố gắng tăng trưởng nhanh và bền vững hơn nữa
Trang 34Bảng 3: Tình hình kết quả kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2007- 2009
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
So sánhNăm 2008/2007 Năm 2009/2008
1.Tổng doanh thu bán hàng 952.115 1.107.238 1.380.567 155.123 116,29 273.329 124,68
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 945 0 0
3 Doanh thu thuần 951.170 1.107.238 1.380.567 156.068 116,41 273.329 124,68
17 Lợi nhuận sau thuế (354.005) 78.018 151.396 431.662 -22,06 73.378 194,05
( Nguồn: Phòng Tài chính- Kế toán)
Trang 352.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG HOÀNG MAI
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố tác động trực tiếphoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Những tác động của môitrường có thể cùng chiều hay ngược chiều, trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ mang lại chodoanh nghiệp những cơ hội cũng như thách thức mà doanh nghiệp phải vượt qua.Chính vì vậy, phân tích và nắm rõ các diễn biến thay đổi của thị trường sẽ giúp doanhnghiệp nhìn được điểm mạnh hay điểm yếu của mình để có những giải pháp phù hợp,giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
2.2.1 Môi trường vĩ mô
2.2.1.1 Môi trường kinh tế
Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hìnhthành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước có tác dụngcản trở hoặc ủng hộ lớn đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Có khi một chínhsách kinh tế của Nhà nước là có lợi cho doanh nghiệp này nhưng đôi khi lại làm mất cơhội cho một doanh nghiệp khác
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thunhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng Đây là cơhội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu kịp thời khách hàng tạo nên sự thànhcông cho doanh nghiệp Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định kéo theo hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
- Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố tác động sâu sắc và nhanh chóng tới từng quốc gia vàtừng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa Khi đồng nội tệ lên giá
sẽ khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽgiảm trên thị trường nội địa Các doanh nghiệp trong nước mất dần cơ hội mở rộng thịtrường, phát triển kinh doanh Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá dẫn đến xuất khẩu
Trang 36tăng, cơ hội sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng, khả năng cạnh tranh cao hơn ởthị trường trong nước và thị trường quốc tế.
- Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanhcao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Lạm phát cao doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh đặc biệt là đầu
tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh nghiệp vìdoanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật, không có khả năng thu hồi vốn sảnxuất
2.2.1.2 Môi trường chính trị, pháp luật
Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, ổn định sẽ làm
cơ sở cho việc đảm bảo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnhtranh bình đẳng Việt Nam đượ xem một trong 10 nước có môi trường chính trị ổnđịnh Điều này tạo lợi thế trong việc thu hút trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Hiệnnay, các chính sách mới, thông thoáng như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luậtthương mại… Các chính sách đã quan tâm và có bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp.Ngoài ra, bộ máy nhà nước cùng từng bước được nâng cao và hoàn thiện Tuy nhiên,
hệ thống thủ tục rườm rà, chồng chéo và hiện tượng quan liêu vẫn còn tồn tại và ảnhhưởng đến quá trình phát triển của nền kinh tế nói chung và Công ty cổ phần xi măngHoàng Mai nói riêng
2.2.1.3 Môi trường khoa học – công nghệ
Đối với mỗi Công ty thì công nghệ là yếu tố đóng vai trò then chốt để tạo lợi thếmạnh kinh tế Với các phát minh cũng như sự tiến bộ vượt bậc của khoa học thế giớicũng đã tạo điều kiện cho Công ty nắm bắt kịp các thiết bị hiện đại và đưa vào sảnxuất Chính vì có ưu thế về công nghệ mà Công ty là đơn vị đầu tiên trong tổng Công
ty xi măng Việt Nam thực hiện nâng 10 % năng suất lò nung Đây là điều kiện thuậnlợi cho Công ty phát triển Chính vì vậy mà Công ty luôn chú trọng vào việc thay thế
và mua sắm các thiết bị công nghệ mới
Trang 372.2.1.4 Môi trương tự nhiên
Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai nằm ở Thị trấn Hoàng Mai, Nghệ An Với
vị trí giao thông nằm ở giao lưu Bắc - Nam, Đông - Tây, hệ thống đường bộ, đườngsắt, đường biển, đường hàng không đều phát triển, việc vận chuyển xi măng tiêu thụ ởcác tỉnh khác cũng như xuất khẩu đều thuận lợi
Ngoài ra, phía tây Nghệ An có 2 cửa khẩu thông sang Lào là Nậm Cắn vàThanh Thuỷ Lào chỉ có 2 cơ sở xi măng lò đứng theo công nghệ Trung Quốc có khảnăng sản xuất 150 ngàn tấn/năm chỉ mới đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu xâydựng trong nước Vậy nên, thị trường Lào là khu vực có triển vọng đối với việc tiêuthụ xi măng Nghệ An trong tương lai
2.2.1.5 Môi trường văn hóa – xã hội
Yếu tố văn hóa- xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tiêu thụ sản phẩmcủa Công ty
Xét về yếu tố xã hội thì mỗi vùng miền có những sở thích và đặc thù về địa lýkhác nhau, do vậy nhu cầu về sản phẩm của Công ty cũng khác nhau Công ty cầnnghiên cứu, phân tích từng loại khách hàng, từng khu vực địa lý để có thể phân phốisản phẩm một cách hợp lý nhằm đáp ứng đúng và đủ nhu cầu của khách hàng
Xét về yếu tố văn hóa thì Công ty cần phải chú trọng đến phong cách sống cũng nhưđiều kiện sống của khách hàng để đưa ra những sản phẩm phù hợp
2.2.2 Môi trường vi mô
2.2.2.1 Khách hàng
Yếu tố khách hàng quyết định đến mức tiêu thụ sản phẩm, đến doanh số cũngnhư sự thành bại của một doanh nghiệp Trước đây, cách thức chủ yếu để phát triểnkinh doanh là tăng chủng loại mặt hàng và giữ giá cả ở mức thấp hơn so với các đối thủcạnh tranh Tuy nhiên theo nghiên cứu cho thấy, 70% người tiêu dùng từ chối mua sảnphẩm/dịch vụ vì nhà sản xuất đã không chú ý hoặc phớt lờ nhu cầu của họ, 15% do thấtvọng về sản phẩm/dịch vụ và chỉ có 10% là vì giá cả Chính vì vậy, các Công ty kinh
Trang 38doanh phải lấy khách hàng làm trọng tâm cho mọi hoạt động của mình Nhất là khi sảnphẩm/dịch vụ của bạn không khác mấy so với sản phẩm/dịch vụ tương tự của các đốithủ cạnh tranh, thì sự khác biệt chỉ nằm ở trong chiến lược xây dựng quan hệ với kháchhàng.
Khách hàng chính của Công ty Xi măng là các nhà phân phối chính, đại lý muavới số lượng lớn để bán lại cho các đại lý và cửa hàng của họ Do vậy, Công ty luôndành các hỗ trợ lớn cho các nhà phân phối chính, coi họ là bạn hàng thân thiết, là ngườimang lại thu nhập cho Công ty
2.2.2.2 Nhà cung ứng
Công ty Xi măng Hoàng Mai là Công ty sản xuất nên nguồn nguyên liệu đầuvào là một yếu tố quan trọng quyết định đến sản phẩm của Công ty Ngoài các nguyênliệu chính mà Công ty sỡ hữu thì các nguyên liệu phụ trợ cũng không thể thiếu được
Do vậy, việc tìm được các nhà cung cấp có uy tín và chất lượng sẽ góp phần làm giảmgiá thành và nâng cao được khả năng cạnh tranh về giá của Công ty
2.2.2.3 Đối thủ cạnh tranh
Ngày nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì thị trường là của chung của tất cảcác doanh nghiệp trong và ngoài nước Đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thứccạnh tranh cho các doanh nghiệp
Hiện nay trên thị trường tồn tại rất nhiều loại xi măng của các Công ty như ximăng Bỉm Sơn, xi măng Hoàng Thạch, xi măng Nghi Sơn…Các Công ty này đangthực hiện nhiều chính sách về giá cũng như khuyến mãi khiến cho thị trường xi măngcàng sôi động và cạnh tranh gay gắt hơn Do vậy, muốn khẳng định được vị trí củamình và nâng cao thương hiệu của Công ty mình thì việc tìm hiểu đối thủ cạnh tranh làmột việc hết sức cần thiết và mang ý nghĩa lâu dài
Theo điều tra của các nhân viên thị trường thì hiện nay cùng với xi măng Hoàng Maicòn có các loại sản phẩm khác dưới đây:
Bảng 4:Các đối thủ cạnh tranh với xi măng Hoàng Mai trên thị trường ở 3 khu vực
Trang 39STT Khu vực Bắc Trung Bộ Khu vực Trung
Trung bộ Khu vực Nam Trung Bộ
1 Hoàng Thạch(li xăng) Hoàng Thạch Hoàng Thạch PCB40
( Nguồn: Phòng tiêu thụ)
2.2.2.4 Rào cản xâm nhập thị trường
Rào cản xâm nhập thị trường là các nhân tố gây khó khăn tốn kém cho các đốithủ khi họ muốn thâm nhập ngành, và thậm chí khi họ có thể thâm nhập, họ có thể đặtvào thế bất lợi Các rào cản chính khi xâm nhập là : Sự trung thành nhãn hiệu, lợi thếchi phí tuyệt đối, kỹ thuật, vốn, các nguồn lực đặc thù,…
Trong những năm trở lại đây, sức hấp dẫn của ngành lớn nên có rất nhiều doanh nghiệp
đã tham gia vào ngành, các doanh nghiệp đã gia nhập thì mở rộng thêm quy mô Tuynhiên, trên thị trường hiện nay đã tồn tại một số Công ty có thương hiệu, chỗ đứng như
xi măng Bỉm Sơn, xi măng Nghi Sơn, xi măng Hoàng Thạch, xi măng Hoàng Mai với
số lượng khách hàng lớn cũng như sự tin yêu của người tiêu dùng
Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai là một trong những doanh nghiệp đã tạocho mình một chỗ đứng vững chắc, một lợi thế an toàn trong cạnh tranh như: Côngnghệ hiện đại, là doanh nghiệp đầu tiên áp dụng bán hàng qua nhà phân phối chính, làdoanh nghiệp tiêu hao nguyên nhiên vật liệu để sản xuất clinker và xi măng của Công
ty thuộc hàng thấp trong các Công ty sản xuất xi măng trong cả nước Hơn nữa, Công
ty xi măng Hoàng Mai là một trong mười doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty côngnghiệp xi măng Việt Nam Các doanh nghiệp trong tổng Công ty có sự hỗ trợ và giúp