chốt của đức dục đối với tuổi vị thành niên nói chung và sinh viên nói riêng đượctriển khai thực nghiệm từ thập niên 1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãitrong các trường từ năm
Trang 1A-MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước, việc coi trọng chất lượng cuộcsống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, động lực của chiếnlược phát triển kinh tế xã hội Đảng ta luôn luôn đề cao nhân tố con người, nghịquyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trương ương Đảng khoá VIII đã khẳngđịnh: " Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người vàthế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đứctrong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng va bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nướ ; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lựctiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc Việt Nam; cósức khoẻ, là người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên nhưlời dặn của Bác Hồ "
Khi đó, sinh viên là một lực lượng to lớn và là những chủ nhân tương lai củađất nước Bởi vậy, thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục sức khoẻ sinh sản, giáodục giới tính cho sinh viên không chỉ liên quan trực tiếp đến sự phát triển của mỗi
con người mà còn ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc Tuy nhiên, với cuộc
sống sinh viên xa nhà, thỏa mái, tự do, không bị kểm soát bởi cha mẹ khiến nhiềubạn sinh viên không làm chủ được bản thân Bên cạnh những bạn sinh viên tốt, cốgắng nỗ lực vươn lên trong học tập thì còn một bộ phận không nhỏ mải mê vớinhững trò vô bổ, những lối sống buông thả,…
Cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người, thiếu thốn tình cảm lại ở chung vớinhau trong một môi trường, một khuôn viên nên giữa các cô cậu sinh viên đã nảysinh ra những mối tình nên thơ, lãng mạn Nhiều sinh viên coi tình yêu là động lựcthúc đẩy họ thăng tiến trong học tập, niêm an ủi, chỗ dựa tinh thần Nhưng cũng cónhiều sinh viên xem tình yêu như một trò vui qua ngày với quan niệm tình dục làcái đích của tình yêu hay học tập bình thường, ăn uống khẩn trương, yêu đươngthỏa mái… Bên cạnh đó, sự du nhập của các nền văn hóa phương tây khiến cácbạn trẻ không chỉ được tiêp xúc với sự đa dạng của nó mà nhiều bạn đã bị ảnhhưởng không ít bởi chính nền văn hóa “lai căng ” Các bạn đã quên mất đi nền vănhóa truyền thống để thay vào đó là lối sống buông thả nên chuyện nạo phá thaiđang trở thành vấn đề cơm bữa của một số sinh viên hiện nay, mà nguyên nhân chủyếu là do sự thiếu hiểu biết về giới tính – sức khỏe sinh sản (SKSS)
Theo ông Đào Văn Dũng-Vụ trưởng Vụ các vấn đề xã hội, Ban Tuyên giáo
TƯ, hiện nay tỉ lệ nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên của Việt Nam khá cao,chiếm khoảng 20% trong tổng số ca nạo phá thai hằng năm (khoảng 300.000 ca)
Tỷ lệ nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên vẫn cao nhất so với các nước Đông Nam
Á Ngoài ra, Việt Nam cũng là 1 trong 5 quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thếgiới Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới trong đógiáo dục giới tính còn nhiều hạn chế Nhiều mô hình tập huấn cho trẻ vị thành niên
về các biện pháp tránh thai hiện nay cho thấy, chúng ta giới thiệu còn rất khiêmtốn, chưa đáp ứng được nhu cầu trong vấn đề giáo dục, tuyên truyền về giới tính,tình dục an toàn… tới trẻ vị thành niên Cũng theo thống kê trong những năm gầnđây của Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, tỷ lệ nạo phá thai vị thành niên
Trang 2tại Việt Nam không ngừng gia tăng Mỗi năm cả nước có khoảng 1,2 triệu đến 1,6triệu ca nạo phá thai; trong đó 20% là ở lứa tuổi vị thành niên và khoảng 15% đến20% số ca nạo phá thai là của thanh niên chưa lập gia đình, số thanh niên có quan
hệ tình dục trước hôn nhân tăng Thực tế này phản ánh tình trạng nhiều bạn trẻthiếu kiến thức cơ bản về tình dục, sức khỏe sinh sản dẫn đến những hệ lụy khônlường về tâm lý, thể chất và dẫn đến nguy cơ vô sinh Do đó, biện pháp hiệu quảnhất là truyền thông giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản, giáo dục tìnhdục cần phải được đi trước một bước để trẻ vị thành niên, đặc biệt là trẻ gái nhậnthức đúng vấn đề này, thậm chí phải giáo dục làm sao để các bạn hiểu và phân biệtthế nào là tình yêu, hôn nhân… và biết cách sử dụng các biện pháp tránh thai
Là người giáo viên trong tương lai, việc nhận thức và hiểu biết của các bạnngành sư phạm về giáo dục giới tính (GDGT) là hết sức cần thiết và có ý nghĩaquan trọng trong công tác giáo dục Bởi vì họ không chỉ là đối tượng của công tácGDGT mà còn là chủ thể của hoạt động này cho các em học sinh sau này Là sinhviên năm 2, đã trải nghiệm cuộc sống sinh viên, được tiếp cận với cách thứcGDGT ở trường đại học, vậy các bạn đã trang bị đủ cho mình kiến thức về GDGTchưa, có thấy được sự khác biêt giữa công tác GDGT ở bậc đại học so với THPT
hay không Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng giáo dục giới tính cho sinh viên khóa K14 khoa Lý–Hóa-Sinh trường đại học Quảng Nam”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn nhằm đánh giá thực trạngGDGT Từ đó đề ra các biện pháp có tính khoa học góp phần nâng cao hiệu quảcủa việc GDGT cho sinh viên trong khoa nói riêng và sinh viên toàn trường nóichung
3 Phạm vi nghiên cứu
-Vấn đề GDGT
-Sinh viên khóa K14
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
-Đối tương nghiên cứu: Thực trang GDGT cho sinh viên khóa K14
-Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục ở khoa Lý-Hóa-Sinh trường ĐHQuảng Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu nhập tài liệu có liên quan đen đề tài nghiên cứu như: sách, báo, các tàiliệu khoa học,…
-Phương pháp điều tra chọn mẫu
Phát khoảng 200 mẫu điều tra chia đều cho các lớp:sinh 01, sinh 02, lý 01, lý
Trang 3Hỏi-đáp với giáo viên - cán bộ của khoa về vấn đề tổ chức GDGT ở khoa hiệnnay, phương hướng và cách thức nâng cao hiệu quả GDGT cho sinh viên trongthời gian tới.
Trang 4B-NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề GDGT
1 Lịch sử nghiên cứu
Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã dược quan tâm tìm hiểu, tuy rằng rất thô sơ
và mang màu sắc cảm tính, mê tín Từ thời kỳ xa xưa của văn minh loài người, giớitính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận vềtình yêu như Kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius,
“Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “Bữa tiệc” của Platon…Trong đó các tác giả“ không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôngiáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lí học tìnhdục”
Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các đề tài nghiên cứu giới tính được
mở rộng hơn… Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học J.Bachocen (Thuỵ Sỹ), J Mac Lennan (Anh), E.Westermach (Phần Lan), LewisHenry Morgan Mĩ), X.M Kovalevxki (Nga)… không những đã gắn sự phát triểnquan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với yếu tố kháccủa chế độ xã hội và văn hoá
Vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục giới tính ở Việt Nam trong thời gian gầnđây đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tổ chức chính trị - xã hội quantâm nghiên cứu
Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởngPhạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyênnghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chươngtrình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức vềkhoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái.” Bộ Giáo dục đã đưa
ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thốngtrường học các cấp và các ngành học của cả nước Năm 1975, Bộ Đại học và trunghọc chuyên nghiệp đã phối hợp với công đoàn đại học tổ chức hội thảo về giáo dụcgiới tính cho sinh viên các trường đại học; tổ chức hai lớp tập huấn về giáo dụcgiới tính cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ tuyên huấn, cán bộ giáo vụ các trườngđại học và trung học chuyên nghiệp ở các tỉnh phía bắc tại Hà Nội và các tỉnh phíanam tại thành phố Hồ Chí Minh Qua tập huấn mọi người đều nhận nhận thức phảinhanh chóng đưa GDGT vào nhà trường, cung cấp cho thanh niên, sinh viên những
ý kiến về đặc điểm tâm-sinh lí giới tính về hôn nhân và gia đình, chuẩn bị cho họhành trang bước vào đời
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, vềtình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài,Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, BùiNgọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề,nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Những công trình này
đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giớitính ở Việt Nam Công trình nghiên cứu các dự án VIE/88/P09, VIE 88/P11 cấpquốc gia do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhóm nghiên cứu là các nhàkhoa học tầm cỡ của Việt Nam đã xem xét việc giáo dục giới tính là vấn đề mấu
Trang 5chốt của đức dục đối với tuổi vị thành niên nói chung và sinh viên nói riêng đượctriển khai thực nghiệm từ thập niên 1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãitrong các trường từ năm học 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặc quan trọng trongviệc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáoviên ở các cơ sở giáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính có phẩm chất, cónăng lực trình độ chuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đápứng kịp thời cho sự nghiệp ''trồng người''.
Giáo dục giới tính bao hàm những tri thức về mối quan hệ giữa sự phát triểntình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên thôngqua các hình thức: lồng ghép vào một số môn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, sinhhoạt ngoại khóa bằng phương pháp dạy học tích cực và việc trao đổi kinh nghiệmgiáo dục để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới tính trong nhàtrường
Các tác giả, các nhà nghiên cứu giáo dục, các chuyên gia đầu ngành trong
và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính trongnhà trường, về vai trò của các nhà giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục như:
- Dự án VIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thànhniên (SKSS-VTN) cho rằng: ''Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trongcuộc đời con người Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về SKSS -VTN sẽtrưởng thành lên người lớn Lại có một lớp VTN mới cần được thông tin giáo dục
về SKSS - VTN Và vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục cho vị thành niên là mộtnhu cầu thường xuyên, liên tục.''
- Dự án VIE/88/P10 đã nghiên cứu về kiến thức y học liên quan đến giới tính.Đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản trong thanh niên
- Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dụcđời sống gia đình và giới tính cho học sinh đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáodục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thựchiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp củaGiáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rấtthận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm vềtình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáoviên, học sinh,sinh viên, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiếnhành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến bậc đại học
- Tác giả J.P.MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giớitính cho rằng: ''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tựlần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động,không biết khi nào cần nói và nói như thế nào Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế
hệ chúng ta Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác Mục đích của toàn bộ chươngtrình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bịkiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quanniệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộcsống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội.”- sách “giới tính tuổi hoa”
- Tác giả Nguyễn Quang Dương cho rằng:'' Trở ngại lớn trong việc giáo dụcgiới tính trẻ vị thành niên là do thầy cô và cha mẹ thường chỉ chú trọng việc giáo
Trang 6dục bằng sức ép từ trên dội xuống và tác động một chiều, không cởi mở, thiếu lắngnghe Điều đó càng tạo thêm hố sâu, khoảng cách giữa thầy cô, cha mẹ và con cái,làm giảm thiểu (có khi phản tác dụng) về hiệu quả giáo dục Chính vì vậy, màviệc liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong vấn đề này là vô cùng quantrọng.” - tạp chí phát triển giáo dục số 165.
Năm 2003, Võ Bình Dũng với luận văn thạc sĩ mang tên " Một số biện phápphối hợp giữa trường cao đẳng sư phạm Quảng Nam và Đoàn thanh niên tỉnh trongviệc giáo dục giới tính cho sinh viên"
- Tác giả Võ Hưng, tại hội thảo khoa học ''Đề xuất và thử nghiệm giải phápđưa giáo dục giới tính vào trường trung học tại Tp HCM'' khẳng định: ''Các bậccha mẹ cần hiểu rõ mục đích giáo dục giới tính là giúp con em biết tự tin, tự trọng
và tự bảo vệ để sau này trở thành người có trách nhiệm với xã hội, biết tôn trọngnhau trong quan hệ nam nữ, tạo điều kiện để xây dựng cuộc sống hạnh phúc'' - báogiáo dục và thời đại số 37-2004
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trêncác tập san chuyên nghành như: nghiên cứu giáo dục, giáo dục phổ thông, Nhữngcông trình này thực sự nghiên cứu những mảng đề tài hết sức thiết thực, cụ thểtrong công tác quản lý, xây dựng đội ngũ làm công tác giáo dục giới tính trong cáctrường phổ thông, đặc biệt là bậc đại học
2 Một số khái niệm
2.1 Giáo dục
Giáo dục là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có
tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người đượcgiáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội củaloài người
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có ý thức và phát triển cao chỉriêng biệt có trong xã hội loài người, nhờ đó giúp cho con người trở thành chủ thểnhận thức, cải tạo, sáng tạo cả thế giới, đồngng thời nhận thức, cải tạo và sáng tạochính bản thân mình
Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác địnhđược tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) củacác cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhâncách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báocáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lênlớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cáchcủa người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta luôn luôn xác định “Giáo dục là quốc sáchhàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”, “giáo dục là chìakhóa mở cửa tiến vào tương lai”…Từ việc xác định vị trí của giáo dục trong xã hộinhư vậy cho thấy giáo dục đóng vai trò quan trọng trong xã hội, là yếu tố quantrong quyết định sự tồn tại, phát triển của một đất nước, một quốc gia Chính vì xácđịnh vị trí đó của giáo dục mà Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm và đầu tưcho giáo dục, tỷ lệ % ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng cao hàng năm
Trang 7Thực tế cho thấy những quốc gia, đất nước nào đầu tư cho giáo dục nhiều thì quốcgia đó có sự phát triển về kinh tế, xã hội.
Trong xã hội hiện nay vị trí vai trò của giáo dục càng được coi trong Khi loàingười đang còn tồn tại thì giáo dục luôn là yếu tố để thúc đẩy sự phát triển của xãhội loài người, vị trí của giáo dục luôn luôn được xem trọng và mãi mãi chiếm vịtrí hàng đầu trong xã hội.Như vậy: Giáo dục luôn luôn chịu sự chế ước của xã hội,
và ngược lại giáo dục cũng luôn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đóng vịtrí quan trọng trong xã hội
2.2 Giới tính
Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sửdụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục…Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tínhdục Đó là quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu vềmột mặt nào đó của giới tính
Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:
- Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểmcủa giới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng Vì giới vừa baogồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giớitính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội
- Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặctrưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia Những đặc điểmtrên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa hai giới.Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia Có thểđịnh nghĩa, giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệtgiữa nam và nữ
Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôn tác độngđến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự quan hệ này bị chiphối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặc điểm vềvăn hoá, chính trị, phong tục tập quán của xã hội, trong đó có các đặc điểm đặctrưng của mỗi giới Từ đó lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiện tượng mớitrong đời sống giới tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạn khác giới,quan hệ tình yêu, hôn nhân…Đời sống giới tính của con người rất phong phú và đadạng Đó là những hiện tượng tâm lí và sinh lí nảy sinh trong đời sống của mỗingười, trong mối quan hệ giữa người này với người kia, trong cuộc sống chung củamỗi người, trong sự tồn tại của xã hội Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạpcác hiện tượng tâm lí và sinh lí có liên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặthoạt động, mọi mối quan hệ… trong đời sống của con người, trong đời sống xã hộiloài người Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thểxuất hiện trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tínhdục), những hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí ngườitrong mối quan hệ với người khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu… ), nhữnghiện tượng trong đời sống xã hội như hôn nhân, gia đình…Gần đây còn xuất hiệnnhững biểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu
Trang 8đương ngoài hôn nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữanhững người khác giới…
Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện
về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu vàtình bạn, sự giao tiếp nam nữ…
GDGT là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo dục nhân cách,giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợp một cách hài hòa
sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác.Theo A.X.Makarenko: “khi giáo dục cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả năng làmviệc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm xúc và hứng thúcủa họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó về quan hệ giới tính”
Giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạođức con người, là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnhvực thầm kín của đời sống con ngưòi, hình thành những quan niệm đạo đức lànhmạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế
có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của người học.Theo giáo sư Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xét nhưmột bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối quan hệ mật thiết vớigiáo dục dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân - gia đình và với các mặt giáodục khác trong nhà trường phổ thông Do vậy cần phải tiến hành công tác giáo dụcgiới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống vớicác mặt giáo dục khác
Ngoài ra còn rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu vềtâm lí học giới tính Có thể nói rằng, giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dụcđạo đức, tư tưởng và phải tiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng Giáodục giới tính cũng phải gắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáodục toàn diện Từ những quan niệm trên, PGS.TS Bùi Ngọc Oánh đã kết luận:
“Giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làmcho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính,
có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để pháttriển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhấtcuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển
Trang 9- Tính hiện thực: Việc GDGT phải xây dựng trên cơ sở hiểu biết thực tế về
sự phân hóa giới tính, về những khác biệt giới tính và tình dục của con người
- Tính tích cực: kết hợp giữa chủ đạo định hướng của các nhà sư phạm vớichủ động tích cực nhận thức của người học
- Tính chân thật: Luôn nói sự thật và chỉ nói sự thật một cách phù hợp vớilứa tuổi và khả năng nhận thức của từng người
- Tính thuần khiết: Đòi hỏi không được quy rút giới tính chỉ về mặt đạo đứccủa nó, nhưng phải chống lại thái độ tầm thường, vô liêm sỉ hoặc khêu gợi dục tínhkhi trình bày các tài liệu về giới tính và các mối quan hệ của hai giới
- Tính thành thục: Người dạy phải luôn tự nhiên và thoải mái, không bị xấu
hổ, không tạo ra những tình huống căng thẳng cho cả người học và bản thân mình.Việc giáo dục giới tính cho thanh niên học sinh là vấn đề quan trọng, cầnthiết Tuy nhiên cũng là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị Vì vậy, ngoài việc phảiđảm bảo những nguyên tắc chung trên cần phải chú ý thêm những vấn đề sau đây:
- Giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục đạo đức, giáo dục nhâncách, hình thành thế giới quan khoa học Giáo dục giới tính phải gắn liền với việcgiáo dục và hình thành nếp sống sinh hoạt lành mạnh, lối sống văn hoá văn minh.Cần phải xác định rằng, đó là một trong những mục tiêu cơ bản của giáo dục giớitính
- Giáo dục giới tính phải được thực hiện một cách toàn diện cả về sinh lígiới tính, tâm lí giới tính, thẩm mĩ giới tính, xã hội giới tính Không nên chỉ tậptrung vào những vấn đề sinh lí tính dục mà coi nhẹ các vấn đề tâm lí xã hội giớitính
- Phải kết hợp việc giảng dạy tri thức khoa học với việc hình thành thái
độ đúng đắn Khi giảng dạy những “vấn đề nhạy cảm”, không nên chỉ tập trung mô
tả các sự kiện, hiện tượng một cách “trần trụi”, “sống sượng”, mà cần chú ý kếthợp với việc hình thành ý thức đạo đức, phê phán những biểu hiện sai trái
- Phải kết hợp việc truyền thụ những tri thức lí luận với những kiến thứcthực tiễn nhất là những vấn đề thực tiễn trong đời sống sinh hoạt của thanh niên,học sinh
- Giáo dục giới tính phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểmtâm sinh lí của lứa tuổi, của lớp học, của yêu cầu giáo dục đặc trưng thích hợp vớiđối tượng, phải phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương
4 Mục đích, nhiệm vụ, nội dung GDGT
4.1 Mục đích giáo dục giới tính
Mục đích GDGT là nhằm hình thành ở người học sự hiểu biết đúng đắn vềbản chất các tiêu chuẩn và tâm thế đạo đức trong lĩnh vực quan hệ giữa hai giới vànhu cầu hành động theo các tiêu chuẩn và tâm thế đó trong tất cả mọi lĩnh vực hoạtđộng
Điều đó có nghĩa là GDGT làm cho người học:
- Hiểu được ý nghĩa xã hội chứa đựng trong các quan hệ giữa mình với ngườikhác giới
Trang 10- Biết cách tìm được lối giải quyết đúng đắn các vấn đề đạo đức cụ thể, xuấthiện trong các lĩnh vực, các quan hệ theo tinh thần của đạo đức xã hội
- Kiên định trước ảnh hưởng của tư tưởng cổ vũ cho tính phóng đãng về tìnhdục và thái độ hưởng thụ đối với người khác giới, coi thường các giá trị đạo đức
4.2 Nhiệm vụ giáo dục giới tính
- Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học, thái độ vàquan niệm đúng đắn về những hiện tượng của đời sống giới tính, sinh lí tính dục,
về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan của cơ thể, nhất là hệ cơ quan sinhdục; về sự cư xử đúng đắn, về những vấn đề đạo đức giới tính, thẩm mỹ giới tính,tình yêu, hôn nhân và đời sống gia đình…
- Giúp cho các bạn có bản lĩnh vững vàng bước vào đời sống xã hội, biết bảo
vệ, giữ gìn sức khoẻ cho người bạn và cho chính mình, có khả năng chống chọi lạinhững cạm bẫy, quyến rũ của lối sống ăn chơi đồi truỵ, biết phê phán, bác bỏnhững quan niện không đúng về tình yêu, tình dục, quan hệ tình dục quá sớm hoặcbuông xuôi, cả nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi, yêu nhau, bỏ nhau quá dễdàng
- Giúp cho các bạn biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêngliêng của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thuỷ, biếtđược cái hay cái đẹp của nếp sống văn hoá văn minh
- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho họphát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia đìnhhạnh phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hộiphát triển, giàu mạnh
Tóm lại, nhiệm vụ của giáo dục giới tính bao gồm cả việc truyền thụ trithức về giới tính, về mối quan hệ nam nữ và các mối quan hệ khác (với người lớn,với gia đình, xã hội, bản thân…) và cả việc giáo dục những phẩm chất đạo đức,những hành vi cư xử với mọi người, nhất là làm cho các em biết được những hành
vi tốt và xấu, đúng và sai trong quan hệ với người khác giới, những tri thức vàquan niệm đúng đắn về đời sống giới tính của con người
4.3 Nội dung giáo dục giới tính
Nội dung GDGT cho sinh viên phải đảm bảo cung cấp những kiến thức cơbản về tình dục học, về tình bạn, tình yêu, về các bệnh lây qua đường tình sinh dục,hiểu biết về sinh sản và các biện pháp phòng tránh thai
Có thể chia thành ba nội dung:
- Giáo dục tâm lí nhân cách: các đặc điểm tâm lí, hành vi đạo đức, phép ứng
xử, thái độ đối với mọi người,…
- Giáo dục sinh lí, đời sống sinh sản: đặc điểm và những điều cần biết vềvấn đề sinh lí, giới tính, về hôn nhân cho mỗi giới, mỗi lứa tuổi
- Giáo dục xã hội: nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của từng giới vớinhau, với xã hội và ngược lại
Trang 11Chương 2: Thực trạng GDGT cho sv khóa K14 ở khoa Lý-Hóa-sinh
1 Thực trạng các biện pháp GDGT cho sinh viên ở khoa
Ở khoa và nhà trường đã có sự kết hợp chặt chẽ trong việc tổ chức GDGT chosinh viên Vào mỗi kì, sẽ tổ chức các cuộc đối thoại về GDGT, có mời các bác sĩkhoa phụ sản ở trung tâm y tế Tam Kì đến giải đáp thắc mắc cho sinh viên, đồngthời trình bày một số vấn đề liên quan đến giới tính như tỉ lệ mang và phá thai ởlứa tuổi vị thành niên, ở sinh viên hiện nay, một số biện pháp phòng tránh việc lâylan các bệnh qua đường tình dục…
Việc lồng ghép GDGT vào nội dung chương trình học đã được áp dụng Tuynhiên, chỉ những môn chuyên ngành mới được nhắc đến còn hầu hết là không đềcập Do đó, giáo viên bộ môn phải hiểu rõ mục đích, nội dung của GDGT, biết xácđịnh đúng mức, liều lượng lồng ghép để tránh hiện tượng quá thiên về nội dunggiới tính, làm ảnh hưởng nội dung của môn học chính Nhiều giảng viên, giáo viêntrẻ còn ngại khi trả lời những vấn đề liên quan đến GDGT Khi được hỏi về vấn đềnày, cô Nguyễn Hoàng Lan Anh chia sẻ: “Nhiều lúc cũng ngại khi trả lời nhữngvấn đề này Có những trường hợp, sinh viên hỏi những vấn đề quá tế nhị, cô chỉ trảlời trong những phạm vi cô biết”
Việc tuyên truyền chăm sóc SKSS cho sinh viên cũng được quan tâm nhưngchưa phổ biến, thường xuyên, nhất là đối với sinh viên Lào
Phần lớn các biện pháp trên chưa thu hút được sự hưởng ứng nhiệt tình củacác bạn Đa số cho rằng hoạt động GDGT ở trường chưa đáp ứng được nhu cầucủa bản thân, nội dung chưa sát thực, chưa đi sâu vào nhiều khía cạnh, và có sựtrùng lặp về nội dung tổ chức giữa các năm, gây nhàm chán
2 Đánh giá của giáo viên - cán bộ về nhận thức giới tính, GDGT của sinh viên
Hầu hết các bạn đã có những kiến thức, kĩ năng cơ bản về vấn đề này nhưngchưa quan tâm tìm hiểu các khía cạnh liên quan Tâm lí e ngại, sợ sệt khi chia sẻnhững suy nghĩ, ý kiến thực của mình vẫn còn chiếm đa số “Hầu như không cósinh viên nào đến tìm cô chia sẻ những vấn đề riêng tư, hay xin lời khuyên về vấn
đề giới tính Chỉ có khi bài học liên quan đến nội dung này, mới có một vài sinhviên đứng lên hỏi” - đó là chia sẻ của cô Lan Anh Thông qua việc điều tra, chúngtôi cũng nhận thấy rằng: Nhiều bạn không trả lời đúng với suy nghĩ của mình, phầnlớn trả lời theo số đông Một số ít thì tỏ ra không quan tâm, bỏ trống nhiều câu trảlời
Trong các buổi đối thoại về GDGT, nhiều sinh viên có thái độ thờ ơ, thiếu tôntrọng mọi người, coi việc tham dự những buổi đối thoại này là nhiệm vụ phải làm,không có tinh thần tự nguyện “Nếu không bị trừ điểm, thì thà ở trọ ngủ chosướng”, đây là ý kiến của hầu hết các bạn Một số sinh viên còn có những câu hỏihết sức thiếu tế nhị
Nhiều sinh viên Lào gặp khó khăn trong việc học nên vấn đề GDGT ở trườngcũng không được các bạn quan tâm Hầu hết trong các buổi ngoại khóa số lượngsinh viên Lào còn ít, nhà trường, giáo viên và bạn cùng lớp cần tạo điều kiện giúp
đỡ những bạn đó
Trang 12Các thầy cô cũng cho rằng việc thực hiện những nội dung về GDGT mộtcách đồng bộ sẽ góp phần quan trọng giíup sinh viên tập trung học tập, ổn định sứckhỏe và nhân cách, tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài sau này của các em.
Nhận thức của sinh viên trong khoa về tầm quan trọng và ý nghĩa của GDGTđối với bản thân mình còn thấp Các bạn nên mạnh dạn, tự tin bày tỏ những thắcmắc, lo lăng hay tâm sự của mình với thầy cô hoặc bạn bè
3 Thực trạng nhận thức của sinh viên K14 về các vấn đề liên quan tới giới tính
3.1 Đặc điểm giải phẫu-sinh lí liên quan đến giới tính
Việc đánh giá được mức độ hiểu biết của sinh viên về các vấn đề liên quanđến giải phẫu-sinh lí giới tính là một trong những nội dung chủ yếu của giáo dụcgiới tính trong nhà trường
Phần lớn các bạn còn tỏ ra ngại ngùng, xấu hổ khi trả lời những câu hỏi liênquan đến cấu tạo cơ quan sinh dục nam, nữ; về tuổi trưởng thành sinh dục và về sựthụ thai Theo điều tra có 33.33% không trả lời những câu hỏi liên quan đến vần đềnày, chỉ có 6,06% sinh viên trả lời đúng tất cả, 36,36% sinh viên trả lời đúng hơnmột nữa số câu hỏi Điều đáng chú ý là 6,06% sinh viên trả lời đúng đều thuộc vềhai lớp sinh Kết quả này cho thấy sự hiểu biết của sinh viên K14 về đặc điểm giảiphẫu-sinh lí giới tính còn thấp
3.2 Các biện pháp phòng ngừa thụ thai
Rõ ràng việc GDGT không chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp kiến thức chongười học về đặc điểm sinh lí giới tính mà còn phải trang bị các tri thức, biện phápphòng ngừa thai Nhiều sinh viên khi xảy ra quan hệ, không chú ý đến vấn đề này
đã dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn Từ đó phát sinh nhiều vấn đề như:nạo phá thai, bỏ học, kết hôn khi còn đang đi học,…
Khi được hỏi về việc sử dụng các biện pháp phòng ngừa thai khi quan hệ,chúng tôi nhận được nhiều câu trả lời là các bạn ít khi để ý đến vấn đề này, hầunhư là không bao giờ sử dụng bao cao su khi quan hệ, việc phòng tránh mang thainên để các bạn nữ uống thuốc tránh thai khẩn cấp sau khi quan hệ chứ việc dùngbao cao su sẽ làm các bạn cảm thấy mất hứng, không vui… Qua phiếu điều tra,chúng tôi tổng kết có:
Các biện pháp
tránh thai
Uống thuốctránh thai
Sử dụng baocao su
Tính chu kìkinh nguyệt
Trang 13trứng rụng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như ăn uống, nghỉ ngơi,… vì vậy rứng
có thể rụng sớm hoặc muộn hơn nên việc tính toán thời kì trứng rụng khó có thểchính xác cũng như việc xuất tinh ra ngoài cũng khó kiểm soát Cách tốt nhất lànên sử dụng bao cao su
Kết quả này, cho thấy sinh viên K14 đã có ý thức trong việc tìm hiểu kĩ năngphòng ngừa thụ thai Việc phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn là trách nhiệm của
cả hai bên, cả hai phải có ý thức bảo vệ cho nhau Tuy nhiên, hiện nay các bạnđang là sinh viên, vấn đề chính của các bạn là học, tham gia vào các hoạt động xãhội,…do đó các bạn không nên để xảy ra quan hệ sớm, phải biết tự bảo vệ bảnthân
3.3 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách phòng ngừa
Quan hệ tình dục không chỉ xảy ra việc mang thai ngoài ý muốn mà còn lànguyên nhân để lây truyền một số bệnh qua con đường này
Hàng năm có khoảng 300 triệu người mắc các bệnh lây qua đường tình dục
Vì vậy, hiểu tác hại, cơ chế lây lan bệnh tình dục và biết cách phòng tránh là mộttrong những mục tiêu chủ yếu của GDGT
Nhằm kiểm tra kiến thức của các bạn sinh viên K14 về các bệnh lây truyềnqua đường tình dục Nhóm chúng tôi có đưa ra một vài câu hỏi liên quan, đây làmột ví dụ minh họa: Theo bạn, trong các bệnh dưới đây, bệnh nào lây qua đườngtình dục:
a Giang mai d Sa dạ con
b Lậu e Viêm đường tiết niệu
c Siđa f Viêm da vùng cơ quan sinh dục
Đáp án đúng: a, b,c
Thống kê kết quả:
Bệnh Giangmai Lậu Siđa Sa dạ con
Viêmđường tiếtniệu
là bệnh lây qua đường tình dục 11%, bệnh sa dạ con 7.5%, viêm da vùng cơ quansinh dục là 85% Trong số sinh viên trả lời đúng thì có 30% sinh viên đang họcchuyên ngành sinh Điều này đã phản ánh lên tình trạng các bạn chưa có được sựhiểu biết rõ ràng về các bệnh lây qua đường tình dục, nhất là các bạn lớp sinh, mặc
dù chuyên ngành các bạn đang học có nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề này.Đây là một thực trạng đáng buồn, các nội dung liên quan đến giới chưa được cácbạn quan tâm, tìm hiểu, hiểu biết của sinh viên về mặt này còn yếu, trong khi đóđây là các bệnh phổ biến lây qua đường tình dục
Điều đáng chú ý là có tới 99% sinh viên chỉ ra được si đa là bệnh lây quađường tình dục, 1% còn lại không trả lời câu hỏi này do nhiều nguyên nhân chủ