1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời

74 349 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Tác giả Trần Hồng Quân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thương mại điện tử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, kinh tế, quản trị, thương mại

Trang 1

TMĐT theo định nghĩa của bách khoa toàn thư mở Wikipedia là: quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị Tại đây một mối quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua Internet Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tác giao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thảo thuận hay cung cấp dịch vụ 7 1.2.1 Xu hướng thương mại điện tử toàn cầu 25

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cần thiết của đề tài

“Kể từ khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện, thương mại tự do và tốc độ lưu thông hàng hoá luôn là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của sức sản xuất và từ đó quyết định phương thức sản xuất mới 1000 năm trước, con đường tơ lụa xuyên sa mạc qua nhiều quốc gia, nối các đế chế La Mã với đế chế Trung Hoa không chỉ mang tơ lụa

và vàng bạc làm giàu cho nhiều nước mà còn giúp truyền bá công nghệ và triết lý Những phát kiến địa lý vào thế kỷ 14, 15 không chỉ đem lại sự phồn vinh cho các cường quốc hàng hải mà còn là một tiền đề quan trọng hình thành nên chủ nghĩa tư bản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”

“Sự phát triển của công nghệ thông tin toàn cầu ngày nay mà đại diện tiêu biểu của

nó là mạng Internet cũng có thể được nhìn nhận dưới cùng một góc độ với hai phát kiến trên, nhưng mang tính khác biệt về chất ở chỗ biên giới quốc gia bị vượt qua chỉ sau một cú nhấp chuột Ảnh hưởng của Internet mang tính toàn cầu và nó trở thành một phần của quá trình toàn cầu hoá, vốn đã và đang biến đổi sâu sắc mọi mặt xã hội loài người từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội” Cùng với sự phát triển của thế giới, đất nước Việt Nam đang chuyển mình để vươn ra biển lớn WTO Với mong muốn cho các khối doanh nghiệp và toàn xã hội nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và kinh doanh Hơn thế nữa việc xây dựng thương hiệu nhờ Internet sẽ là một bước ngoặc để thay đổi tư duy cả thế hệ của đất nước chúng

ta vì thế: “Internet – sẽ làm thay đổi mọi thứ trong kinh doanh và cuộc sống ”.

Thời gian gần đây, kinh doanh trên mạng Internet đang được các cá nhân và doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt quan tâm, nhất là hoạt động bán hàng qua mạng trong TMĐT

Đó như là một hệ quả tất yếu, và bất kì ai trong chúng ta cũng không thể đứng ngoài cuộc vì những lợi ích to lớn này Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế thì TMĐT như một giải pháp cứu cánh Trong tương lai, TMĐT sẽ là một trong những giải pháp hàng đầu cho kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 3

Hoà mình vào nhịp đập chung của thời đại, Công ty Cổ Phần Đầu Tư Mặt Trời ra đời dựa trên nền tảng công nghệ thông tin – Internet để cung cấp các giải pháp tối ưu về học tập, kinh doanh cho cá nhân và doanh nghiệp Được thành lập trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng với đội ngũ lãnh đạo là các kỹ sư công nghệ thông tin, cử nhân kinh tế được đào tạo chính quy trong nước và nước ngoài cùng ban cố vấn là các chuyên gia hàng đầu đang công tác tại các viện nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực E-commerce, công ty đã và đang phát triển vượt bậc Bên cạnh đó công ty CP

ĐT Mặt Trời đã nhận được sự đầu tư mạnh mẽ về tài chính, công nghệ và con người của nhiều đối tác

Xuất phát từ vai trò của hoạt động bán hàng qua mạng đối với Việt Nam nói chung

và công ty CP ĐT Mặt Trời nói riêng nên tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời” cho khóa

luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc đánh giá về hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu

tư Mặt Trời, từ đó đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động bán hàng của công ty trong thời gian tới

- Đánh giá của khách hàng về hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bán hàng qua mạng tại công ty CP ĐT Mặt Trời trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư

Mặt Trời

Trang 4

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin

Thông tin và số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp là nguồn số liệu đã được tính toán, công bố từ các cơ thống kê, kế hoạch phát triển của Tp HCM, của bộ Công thương Ngoài ra số liệu thứ cấp còn được tập hợp từ các báo cáo hoạt động kinh doanh của công ty CP ĐT Mặt Trời dùng cho việc phân tích, đánh giá tình hình cơ bản của công ty.Bên cạnh số liệu thứ cấp thì nguồn số liệu sơ cấp cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng để có nhận định đúng đắn về những nhân tố tác động đến hoạt động bán hàng qua mạng của công ty, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp

- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

Trong quá trình thực hiện, đối với từng mục tiêu sẽ được dùng hệ thống các phương pháp khác nhau để nghiên cứu

+ Đối với mục tiêu nghiên cứu các vấn đề có tính lý luận: Phương pháp tổng hợp được sử dụng để lựa chọn lý thuyết thích hợp về vấn đề nghiên cứu Các cơ sở lý thuyết được tập hợp, lựa chọn từ các tài liệu, giáo trình, tạp chí, báo cáo chuyên ngành và các kết quả nghiên cứu đã được công bố liên quan đến hoạt động thương mại điện tử, bán hàng qua mạng Lý thuyết tổng hợp được rút ra làm cơ sở cho việc phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp

+ Đối với mục tiêu phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động hoạt động bán hàng tại công ty: Phương pháp phân tích, quan sát, phân tổ thống kê và phân tích tổng hợp được sử dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của công ty cũng như quá trình mua hàng của người tiêu dùng Kết quả thu được kết hợp với các kết quả thu thập của các phương pháp khác (điều tra, phân tích số liệu thống kê…) làm cơ sở để đưa ra các nhận xét, kết luận

Trang 5

Phương pháp điều tra phỏng vấn khách hàng (cộng tác viên) tại văn phòng giao dịch của công ty.

+ Chọn mẫu điều tra: Phỏng vấn các cộng tác viên của công ty trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

+ Số lượng mẫu điều tra: Số lượng cộng tác viên được chọn để điều tra là 120 Số phiếu phỏng vấn, số phiếu thu về là 120 và số phiếu hợp lệ là 107

Dựa trên cơ sở lý luận đã được xây dựng ở chương 1, kết hợp với việc phân tích tình hình thực tế tại công ty và qua tham khảo ý kiến của lãnh đạo công ty, đề tài đã xác định các nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên website của công ty gồm 5 nhóm biến Phương pháp đánh giá theo thang điểm likert với 1: Rất đồng ý; 2: Đồng ý; 3: Không có ý kiến; 4: Không đồng ý; 5: Rất không đồng ý Sau đó đề tài đã tiến hành thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn cộng tác viên qua bảng hỏi đã được xây dựng sau quá trình nghiên cứu định tính Mục đích của bước nghiên cứu này là đo lường các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng đồng thời kiểm tra mô hình lý thuyết đã đặt ra

Để bảng hỏi trả lời có chất lượng tốt đề tài đã tiến hành phỏng vấn thử 15 cộng tác viên tại công ty Kết quả thu được có một số câu hỏi bị bỏ trống do chưa rõ hoặc câu hỏi mang tính cảm tính, không đạt như mục tiêu mong muốn Đề tài đã tiến hành chỉnh sửa lại phiếu điều tra cho phù hợp: sửa những câu cảm tính, làm rõ hơn những câu bị bỏ trống

- Trên cơ sở các số liệu đã được tổng hợp, đề tài vận dụng các phương pháp phân

tích thống kê như: số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân… Áp dụng phương pháp so

sánh để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với từng nhân tố Số liệu tổng hợp được tiến hành phân tổ thống kê căn cứ vào kết quả điều tra phỏng vấn theo các tiêu thức: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập qua những tiện ích của phần mềm tin học SPSS 15.0 Từ việc phân tổ thống kê này sẽ cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm tổ khác nhau, cụ thể hóa bằng những con số và giải thích nguyên nhân,

đề xuất giải pháp phù hợp cho từng đối tượng

5 Tóm tắt nghiên cứu

Trang 6

Đề tài tập trung vào đánh giá của khách hàng về hoạt động bán hàng qua mạng đối với công ty Gồm 3 phần chính:

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Tóm tắt bố cục của đề tài

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trong phần này bố cục gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về kinh doanh thương mại điện tử

- Trình bày cơ sở lý thuyết về thương mại điện tử và hoạt động bán hàng qua mạng

- Vai trò, lợi ích của thương mại điện tử và so sánh bán hàng qua mạng với bán hàng truyền thống

Chương 2: Đánh giá hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu

tư Mặt Trời

- Khái quát chung về công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời

- Đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng tại công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời trong giai đoạn từ: 08/2009 - 04/2010

- Thông tin khách hàng và đánh giá của họ về hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty.

Từ kết quả nghiên cứu về nhận xét của khách hàng đối với hoạt động bán hàng của công ty , lập ma trận SWOT và trình bày các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận và kiến nghị của đề tài Đề xuất các kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp cho nội dung nghiên cứu

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh doanh thương mại điện tử.

1.1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Là một lĩnh vực tương đối mới, TMĐT được nói đến bằng nhiều tên gọi khác nhau Mặc dù tên gọi “thương mại điện tử” (electronic commerce) được sử dụng nhiều nhất và trở thành quy ước chung, được đưa vào các văn bản quốc tế, các tên gọi khác như: “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại điều khiển học” (cybertrade),

“kinh doanh điện tử” (electronic business) hay “thương mại không có giấy tờ” (paperless commerce) vẫn được sử dụng và được hiểu với cùng nội dung

TMĐT theo định nghĩa của bách khoa toàn thư mở Wikipedia là: quy trình mua

bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị Tại đây một mối quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa

người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua Internet Hiểu theo

nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tác giao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thảo thuận hay cung cấp dịch vụ

Hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa nào về TMĐT được chấp nhận rộng rãi Tuy nhiên, nhiều chính phủ và tổ chức đã phát triển các khái niệm khác nhau về TMĐT dựa trên các ứng dụng của nó để có thể thu thập được số liệu hữu ích Những cố gắng đó đưa đến một khái niệm tổng quát về TMĐT, đó là “việc sử dụng rộng rãi các phương pháp điện tử để làm thương mại” hay “việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch”

Khái niệm “thương mại” trong TMĐT đã được chuẩn hoá trong “Đạo luật mẫu về TMĐT” do uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban

Trang 8

hành Thương mại theo đó không chỉ bó hẹp trong việc mua bán hàng hoá và dịch vụ mà

là “mọi vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng” Các mối quan hệ đó hiện nay bao gồm khoảng 1300 lĩnh vực bao quát một phạm vi rất rộng Do vậy việc áp dụng TMĐT sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu như các hoạt động kinh tế

1.1.1.2 Đặc trưng của thương mại điện tử.

So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt

Trong nền kinh tế số, TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau

b, Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) TMĐT trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.

TMĐT càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới Không chỉ các công ty hàng đầu thế giới mới có

Trang 9

thể tiếp cận những thị trường mới, mà ngay cả một công ty vừa mới khởi sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới ngay đầu ngón tay của mình Toàn cầu hóa, tự do hóa mậu dịch và phát triển là con đường nhanh chóng đưa các quốc gia và các doanh nghiệp thay đổi theo hướng cạnh tranh quốc tế trên phạm vi toàn cầu, kể cả việc giành lấy các thị trường nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

và các đối tác thương mại

c, Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham ra của ít nhất ba chủ thể, trong

đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực

Trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT

d, Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao

đổi dữ liệu, còn đối với TMĐT thì mạng lưới thông tin chính là thị trường

Thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới, trọng tài cho giới kinh doanh và tiêu dùng, các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính

Theo một số chuyên gia về kinh doanh trên mạng, chính những tính năng dễ sử dụng và hình thức vui mắt, dễ hiểu của các trang Web dành cho TMĐT là những yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng

Các trang Web khá nổi tiếng như: google, Yahoo hay America Online …, đóng vai trò như các trang Web gốc khác với vô số thông tin Các trang Web này đã trở thành các

“khu chợ” khổng lồ trên Internet Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao

Trang 10

1.1.2 Cơ sở hạ tầng của TMĐT

Song song với những lợi ích to lớn có thể mang lại, TMĐT đòi hỏi một cơ sở hạ tầng đa dạng, vững chắc bao gồm các mặt:

Hạ tầng kỹ thuật internet: phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nội dung

thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động Một hạ tầng internet mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạc v.v trực tiếp Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số người dùng internet phải lớn

Hạ tầng pháp lý: để TMĐT vận hành trôi chảy và đạt hiệu quả mong muốn, nhiều

vấn đề pháp lý đặt ra cần được nghiên cứu giải quyết Thực tế cho thấy, việc xây dựng

và từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các hình thức thương mại truyền thống (đã có) đã khó, nhưng khó khăn phức tạp hơn nhiều là việc tạo dựng khung pháp lý cho TMĐT Khó khăn đó có căn nguyên nằm trong tính phức tạp và trừu tượng của TMĐT

Do đó phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của các chứng từ điện tử, các hợp đồng điện tử ký qua mạng, phải có luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ sự riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng v.v để điều chỉnh các giao dịch qua mạng

Phải có cơ sở thanh toán điện tử an toàn bảo mật Thanh toán điện tử qua thẻ, qua

tiền điện tử, thanh toán qua EDI Các ngân hàng phải triển khai hệ thống thanh toán điện

tử rộng khắp đảm bảo quyền lợi cho khách hàng tham gia TMĐT

Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng nhanh chóng, kịp thời và tin cậy: Đây là

đặc trưng nổi bật của giao dịch TMĐT so với giao dịch thương mại truyền thống

Phải có hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhập trái phép, chống virus, chống thoái thác: Đây là những biện pháp để khắc phục những hạn chế của

TMĐT

Phải có nhân lực am hiểu kinh doanh, công nghệ thông tin, TMĐT: Để triển khai

tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và thanh toán qua mạng Khác với lĩnh vực thương mại đơn thuần, những người hoạt động trong lĩnh vực Thương mại điện tử không những phải là các nhà kinh doanh giỏi mà còn phải là các chuyên gia về công nghệ thông tin, bởi lẽ, nếu diễn đạt TMĐT tử theo một cách khác, chúng ta có thể nói rằng, thương mại điện tử là hoạt động sử dụng công nghệ để kinh doanh Những đòi hỏi

Trang 11

khắt khe như vậy về con người sẽ mang lại kết quả là những lợi nhuận khổng lồ mà TMĐT mang lại.

Văn hóa: thay đổi tập quán, lối sống, bảo vệ các đặc trưng văn hóa dân tộc, chống

ảnh hưởng tiêu cực của các dữ liệu không mong muốn

Không có một hạ tầng như vậy thì mọi lợi ích có được nhờ TMĐT chỉ là thứ hình dung ra, trong khi tổn thất lại có thể phát sinh Hạ tầng cơ sở cho TMĐT là một tổng hòa nhiều yếu tố đan xen vào nhau mà không thể xử lý riêng rẽ từng thứ một Cho nên

có thể hiểu được vì sao các nước đang phát triển dù bị thúc ép bởi nhiều yếu tố- trong

đó có yếu tố sợ bị tụt hậu- vẫn tránh né chưa lao ngay vào TMĐT, vì hạ tầng cơ sở cần thiết ở các nước này chưa được hình thành đầy đủ

1.1.3 Các loại hình giao dịch TMĐT

Các hình thức giao dịch này được tiến hành giữc 3 nhóm chủ yếu là: doanh

nghiệp, người tiêu dùng và chính phủ theo mô hình đưới đây, với quan hệ doanh nghiệp

- doanh nghiệp (B2B: Business to business) và doanh nghiệp - người tiêu dùng (B2C: Business to consumer) là chủ yếu:

Mua bán và thanh toán Thông tin,

trực tuyến, dịch vụ luật pháp,

khách hàng thuế

Tiêu dùng chính phủtrực tuyến, thông tinpháp luật pháp, quản lý, thuế

Trao đổi dữ liệu Trao đổi

mua bán, thông tin,

thanh toán hàng hóa

Sơ đồ 1: Quan hệ của một số loại hình giao dịch TMĐT chủ yếu

Người tiêu dùng

- công dân

Doanh nghiệp

Chính phủ

Doanh nghiệp

Chính phủ

Trang 12

1.1.3.1 Consumer-to-consumer (C2C)

C2C là hình thức TMĐT giữa những người tiêu dùng với nhau Loại hình TMĐT này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và đấu giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các công ty/doanh nghiệp có thể đấu thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau Có lẽ đây là tiềm năng lớn nhất cho việc phát triển các thị trường mới

Giao dịch khách hàng tới doanh nghiệp C2B bao gồm đấu giá ngược, trong đó khách hàng là người điều khiển giao dịch Một ví dụ cụ thể của nó là khi hãng hàng không cạnh tranh đưa ra cho người mua giá vé tốt nhất để đáp lại quảng cáo của người mua rằng anh ta muốn bay từ New York tới San Francisco

Có rất ít thông tin về quy mô của thương mại điện tử C2C Tuy nhiên, con số C2C

về các trang web thông dụng C2C như là eBay và Napster chỉ ra rằng thị trường này thì rất lớn Những trang web này tạo ra hàng triệu đô la bán hàng mỗi ngày

Ở Việt Nam, hiện có một số website thương mại điện tử C2C lớn như Chợ Mua Bán, Ahamai.com, Chợ điện tử, 5giây, Mua rẻ, …

1.1.3.2 Business-to- consumer (B2C)

B2C là mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng là mô hình bán lẻ

trực tiếp đến người tiêu dùng Trong TMĐT, bán lẻ điện tử có thể từ nhà sản xuất, hoặc

từ một cửa hàng thông qua kênh phân phối Hàng hoá bán lẻ trên mạng thường là hàng hoá, máy tính, đồ điện tử, dụng cụ thể thao, đồ dùng văn phòng, sách và âm nhạc, đồ chơi, sức khoẻ và mỹ phẩm, giải trí v.v

Trang 13

Mô hình kinh doanh bán lẻ có thể phân loại theo quy mô các loại hàng hoá bán (Tổng hợp, chuyên ngành), theo phạm vi địa lý (toàn cầu , khu vực ), theo kê bán (bán trực tiếp, bán qua kênh phân bố).

Một số hình thức các cửa hàng bán lẻ trên mạng: Brick-and-mortar là loại cửa

hàng bán lẻ kiểu truyền thống, không sử dụng internet, Click-and-mortar là loại cửa hàng bán lẻ truyền thống nhưng có kênh bán hàng qua mạng và cửa hàng ảo là cửa hàng bán lẻ hoàn toàn trên mạng mà không sử dụng kênh bán truyền thống

1.1.3.3 Business-to-business (B2B)

B2B là việc thực hiện các giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau trên mạng

Các bên tham gia giao dịch B2B gồm: người trung gian trực tuyến, người mua và người bán Các loại giao dịch B2B gồm: mua ngay theo yêu cầu khi giá cả thích hợp và mua theo hợp đồng dài hạn, dựa trên đàm phán cá nhân giữa người mua và người bán Các loại giao dịch B2B cơ bản:

- Bên bán: (một bên bán, nhiều bên mua) là mô hình dựa trên công nghệ web trong

đó môt cty bán cho nhiều cty mua Có 3 phương pháp bán trực tiếp trong mô hình này: Bán từ catalog điện tử, bán qua quá trình đấu giá, Bán theo hợp đồng cung ứng dài hạn

đã thoả thuận trước Công ty bán có thể là nhà sản xuất loại click-and-mortar hoặc nhà

trung gian thông thường là nhà phân phối hay đại lý

- Bên mua: một bên mua - nhiều bên bán

- Sàn giao dịch: nhiều bên bán - nhiều bên mua

- TMĐT phối hợp: Các đôi tác phối hợp nhau ngay trong quá trình thiết kế chế tạo

sản phẩm

Ba loại giao dịch trên là giao dịch cơ bản của TMĐT, ngoài ra trong TMĐT người

ta còn sử dụng các loại giao dịch: Government-to-Business (G2B) là mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp với cơ quan chính phủ, Government-to-citizens (G2C) là mô hình TMĐT giữa các cơ quan chính phủ và công dân còn gọi là chính phủ điện tử, và mobile commerce (m-commerce) là TMĐT thực hiện qua điện thoại di động

1.1.4 Các hình thức hoạt động chủ yếu của TMĐT

Mặc dù có hơn 1300 lĩnh vực áp dụng nhưng TMĐT có thể được phân làm 5 hình

thức chủ yếu là:

Trang 14

1.1.4.1 Thư điện tử

Các cá nhân, doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, sử dụng thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail, viết tắt là e-mail) Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào

1.1.4.2 Thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua bức thư điện tử (electronic message) ví dụ, trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v thực chất đều là dạng thanh toán điện tử Ngày nay, với sự phát triển của TMĐT, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là:

a Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau

bằng điện tử

b Tiền lẻ điện tử (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (ngân hàng

hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là

“tiền mặt số hóa” (digital cash) tiền lẻ điện tử đang trên đà phát triển nhanh

c Ví điện tử (electronic purse): là nơi để tiền mặt Internet, chủ yếu là thẻ thông minh

(smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card), tiền được trả cho bất kỳ ai đọc được thẻ đó kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền lẻ điện tử” Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, có một chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ để lưu trữ tiền số hóa, tiền ấy chỉ được “chi trả” khi sử dụng hoặc thư yêu cầu (như xác nhận thanh toán hóa đơn) được xác thực là

“đúng”

d Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking) Hệ thống thanh toán điện tử của

ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ: Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng, thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán, thanh toán nội bộ một

hệ thống ngân hàng, thanh toán liên ngân hàng

Trang 15

1.1.4.3 Trao đổi dữ liệu điện tử

Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (stuctured form), từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau.EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho việc mua

và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu gửi hàng, hóa đơn v.v…), người ta cũng dùng cho các mục đích khác như: thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v

Ngày nay EDI chủ yếu được thực hiện thông qua mạng Internet Để phục vụ cho buôn bán giữa các doanh nghiệp thuận lợi hơn với chi phí truyền thông không quá tốn kém người ta đã xây dựng một kiểu mạng mới gọi là “mạng riêng ảo” (virtual private network), là mạng riêng dạng intranet của một doanh nghiệp nhưng được thiết lập dựa trên chuẩn trang Web và truyền thông qua mạng Internet

Vấn đề này đang được tiếp tục nghiên cứu và xử lý, đặc biệt là buôn bán giữa các nước có quan điểm chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau, đòi hỏi phải có một pháp lý chung trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do hóa thương mại và tự do hóa việc sử dụng mạng Internet, chỉ như vậy mới bảo đảm được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của việc trao đổi dữ liệu điện tử

1.1.4.4 Truyền dung liệu

Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa số, giá trị của nó không phải trong vật mang tin và nằm trong bản thân nội dung của nó Hàng hoá số có thể được giao qua mạng Ví dụ hàng hoá số là: Tin tức, nhạc phim, các chương trình phát thanh, truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm, v.v…

Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng cách đưa vào đĩa, vào băng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng gói bao bì chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như của hàng, quầy báo v.v.) để người sử dụng mua và nhận trức tiếp Ngày nay, dung liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” (digital delivery) Các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể chuyện v.v cũng được số hóa, truyền qua Internet, người sử dụng

Trang 16

tải xuống (download) và sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử.

1.1.4.5 Mua bán hàng hóa hữu hình

Đến nay, danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng, từ hoa tới quần áo, ôtô và xuất hiện một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử” (electronic shopping), hay “mua hàng trên mạng” ở một số nước, internet bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hữu hình (Retail of tangible goods) Tận dụng tính năng đa phương tiện (multimedia) của môi trường Web và Java, người bán xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (virtual shop), gọi là ảo bởi vì, cửa hàng có thật nhưng ta chỉ xem toàn bộ quang cảnh cửa hàng và các hàng hóa chứa trong đó trên từng trang màn hình một

Để có thể mua - bán hàng, khách hàng tìm trang wed của cửa hàng, xem hàng hóa hiển thị trên màn hình xác nhận mua và trả tiền bằng thanh toán điện tử Lúc đầu (giai đoạn một) việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ khai: Người mua chọn hàng và đạt hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay trên trang web Nhưng có trường hợp muốn lựa chọn giữa nhiều mặt hàng ở những trang web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng hóa miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác gây nhiều phiền toái Để khắc phục, giai đoạn 2 xuất hiện nhiều phần mềm mới, cùng với hàng hóa của cửa hàng trên màn hình đã có thêm phần “xe mua hàng” (shopping car, shopping trolley), giỏ mua hàng (shopping basket, shopping bag) giống như giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật người mua thường dùng khi vào cửa hàng, siêu thị Xe và giỏ hàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang web này đến trang wed khác để chọn hàng Khi tìm được hàng vừa ý, người mua ấn phím “hãy bỏ vào giỏ” (put in intro shopping bag), các xe hay giỏi mua hàng này có nhiệm vụ tự động tính tiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách hàng Vì hàng hóa là hữu hình nên tất yếu sau đó cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng theo kiểu truyền thống để đưa hàng tới tay người tiêu dùng

1.1.5 Vai trò của TMĐT

Sự phát triển và phồn vinh của một nền kinh tế không còn chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động, mà ở mức độ lớn được quyết định bởi trình độ

Trang 17

công nghệ thông tin và tri thức sáng tạo Cùng với xu thế đó, TMĐT xuất hiện đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới bởi những ảnh hưởng to lớn của mình:

- Làm thay đổi tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu

- Làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng tăng lên và tri thức đã thực sự trở thành nhân tố và nguồn lực sản xuất quan trọng nhất, là tài sản lớn nhất của một doanh nghiệp

- Mở ra cơ hội phát huy ưu thế của các nước phát triển sau để họ có thể đuổi kịp, thậm chí vượt các nước đã đi trước

- Xây dựng lại nền tảng, sức mạnh kinh tế quốc gia và có tiềm năng làm thay đổi cán cân tiềm lực toàn cầu

- Rút ngắn khoảng cách về trình độ tri thức giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển

- Cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tuyến

1.1.6 Lợi ích của TMĐT

Với vai trò to lớn của mình, TMĐT mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người bán, người mua và toàn xã hội:

1.1.6.1 Thu thập được nhiều thông tin

TMĐT giúp người tham gia thu được nhiều thông tin về thị trường, đối tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo dựng và củng cố quan hệ bạn hàng Các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế thị trường, nhờ

đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện nay đang được nhiều nước quan tâm, coi là một trong những động lực phát triển kinh tế

1.1.6.2 Giảm chi phí sản xuất, bán hàng và giao dịch

TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng

không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn hầu như được bỏ hẳn); theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30% Điều quan trọng hơn, với góc độ chiến lược, là các nhân viên có năng lực được giải phóng

Trang 18

khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài.

TMĐT giúp giảm thấp chi bán hàng và chi phí tiếp thị Bằng phương tiện

Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, catalogue điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và nhiều các đơn hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm bán được

600 cuộc gọi điện thoại

Bảng 1: Một số ví dụ về chi phí giao dịch

New York đi Tokyo

New York đi Los Angeles

(Nguồn: ITU, “Challenges to network”, Geneva)

TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán) Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường

Trang 19

Tổng hợp tất cả các lợi ích trên, chu trình sản xuất được rút ngắn, nhờ đó sản phẩm mới xuất hiện nhanh và hoàn thiện hơn.

1.1.6.3 Tạo lợi thế cạnh tranh và dịch vụ tốt hơn cho khách hàng

Lợi thế cạnh tranh: việc kinh doanh trên mạng là một “sân chơi” cho sự sáng tạo,

nơi đây, bạn tha hồ áp dụng những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị v.v… Và một khi tất cả các đối thủ cạnh tranh đều áp dụng TMĐT, thì phần thắng sẽ thuộc về ai sáng tạo hay nhất để tạo ra nét đặc trưng cho doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ của mình để có thể thu hút và giữ được khách hàng

Dịch vụ tốt hơn cho khách hàng: với TMĐT,các doanh nghiệp có thể cung cấp

catalogue, brochure, thông tin, bảng báo giá cho đối tượng khách hàng một cách cực kỳ nhanh chóng, bạn có thể tạo điều kiện cho khách hàng mua hàng trực tiếp từ trên mạng v.v… Nói tóm lại, TMĐT mang lại cho các công ty nhiều công cụ để làm hài lòng khách hàng, bởi trong thời đại ngày nay, yếu tố thời gian thực sự là vàng bạc, không ai

có đủ kiên nhẫn phải chờ đợi thông tin trong vài ngày Hơn nữa, ngày nay chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ là những yếu tố rất quan trọng trong việc tìm và giữ khách hàng Nếu các doanh nghiệp không xử lý yêu cầu thông tin của đối tượng quan tâm một cách nhanh chóng, họ sẽ không kiên nhẫn mà chờ, trong khi đó có biết bao đối thủ cạnh tranh đang săn đón họ

1.1.6.4 Xây dựng quan hệ đối tác

TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các nhân tố tham gia vào quá trình thương mại Thông qua mạng, các đối tượng tham gia có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau nhờ đó sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục tạo điều kiện tìm kiếm các bạn hàng mới, cơ hội kinh doanh mới trên bình diện toàn quốc, khu vực và thế giới

1.1.6.5 Thúc đẩy công nghệ thông tin phát triển, tạo điều kiện sớm tiếp cận “nền kinh tế số hóa”

Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt, TMĐT kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế Nhìn rộng hơn, TMĐT tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy)

Trang 20

Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển, có thể tạo ra một bước nhảy vọt, tiến kịp các nước trong một thời gian ngắn nhất

1.1.6.6 Lợi ích của thương mại điện tử đối với người mua.

- Có thêm một hình thức mua hàng thuận tiện, dễ dàng, nhanh chóng

- Có thêm một hình thức thanh toán mới tiện lợi, an toàn

- Mở rộng sự chọn lựa khi mua hàng theo thị hiếu và nhu cầu

- Có cơ hội mua sản phẩm và dịch vụ trực tiếp từ nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp chính không qua trung gian

Người mua thực sự trở thành người chủ với toàn quyền lựa chọn sản phẩm, tìm kiếm bất kỳ thông tin nào về sản phẩm theo nhu cầu, so sánh giá cả, đặt mua hàng với

hệ thống tính toán tiền tự động, đầy đủ, rõ ràng, trung thực và chính xác nhất

1.1.7 Hoạt động bán hàng bằng hình thức TMĐT

1.1.7.1 Tìm hiểu về hoạt động bán hàng qua mạng

Một trong những ứng dụng của TMĐT đang được nhiều công ty, doanh nghiệp áp dụng trên khắp thế giới và cả Việt Nam đó là hình thức bán hàng qua mạng (bán hàng bằng hình thức TMĐT)

Quy trình bán hàng qua mạng:

- Quy trình đặt hàng trong bán hàng qua mạng

- Quy trình giao - nhận

- Quy trình thanh toán

Các công đoạn của một giao dịch mua bán trên mạng Gồm có 6 công đoạn sau:

1 Khách hàng, từ một máy tính tại một nơi nào đó, điền những thông tin thanh toán và điạ chỉ liên hệ vào đơn đặt hàng (Order Form) của Website bán hàng (còn gọi là Website thương mại điện tử) Doanh nghiệp nhận được yêu cầu mua hàng hoá hay dịch

vụ của khách hàng và phản hồi xác nhận tóm tắt lại những thông tin cần thiết nh mặt hàng đã chọn, địa chỉ giao nhận và số phiếu đặt hàng

2 Khách hàng kiểm tra lại các thông tin và kích (click) vào nút (button) "đặt hàng", từ bàn phím hay chuột (mouse) của máy tính, để gửi thông tin trả về cho doanh nghiệp

Trang 21

3 Doanh nghiệp nhận và lưu trữ thông tin đặt hàng đồng thời chuyển tiếp thông tin thanh toán (số thẻ tín dụng, ngày đáo hạn, chủ thẻ ) đã được mã hoá đến máy chủ (Server, thiết bị xử lý dữ liệu) của trung tâm cung cấp dịch vụ xử lý thẻ trên mạng Internet Với quá trình mã hóa các thông tin thanh toán của khách hàng được bảo mật an toàn nhằm chống gian lận trong các giao dịch (chẳng hạn doanh nghiệp sẽ không biết được thông tin về thẻ tín dụng của khách hàng)

4 Khi trung tâm xử lý thẻ tín dụng nhận được thông tin thanh toán, sẽ giải mã thông tin và xử lý giao dịch đằng sau bức tường lửa (FireWall) và tách rời mạng Internet (off the Internet), nhằm mục đích bảo mật tuyệt đối cho các giao dịch thương mại, định dạng lại giao dịch và chuyển tiếp thông tin thanh toán đến ngân hàng của doanh nghiệp (Acquirer) theo một đường dây thuê bao riêng (một đường truyền số liệu riêng biệt)

5 Ngân hàng của doanh nghiệp gửi thông điệp điện tử yêu cầu thanh toán (authorization request) đến ngân hàng hoặc công ty cung cấp thẻ tín dụng của khách hàng (Issuer) và tổ chức tài chính này sẽ phản hồi là đồng ý hoặc từ chối thanh toán đến trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên mạng Internet

6 Trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên Internet sẽ tiếp tục chuyển tiếp những thông tin phản hồi trên đến doanh nghiệp, và tùy theo đó doanh nghiệp thông báo cho khách hàng được rõ là đơn đặt hàng sẽ được thực hiện hay không

Toàn bộ thời gian thực hiện một giao dịch qua mạng từ bước 1 -> bước 6 được xử

lý trong khoảng 15 - 20 giây

TMĐT chứa trong nó đặc thù so với thương mại truyền thống: khả năng tạo ra

một cửa hàng ảo (Virtual store) trên Internet ngày càng giống như thật, với thời gian thật Nó được hoạt động 24/24 giờ trong một ngày, 7/7 ngày trong 1 tuần, 365/365 ngày trong 1 năm, không có ngày nghỉ Có khả năng đến mọi nơi, khoảng cách địa lý không

bị ràng buộc trong TMĐT Không cần phải tiến hành giao dịch qua trung gian, khách hàng và nhà cung cấp có thể giao dịch trực tiếp Tạo một kênh marketing trực tuyến, đồng thời có thể thực hiện thống kê trực tuyến TMĐT đặc biệt thích hợp với việc cung cấp hàng trực tuyến đối với một số dung liệu (Hàng hoá đặc biệt), hay dịch vụ như phim ảnh, âm nhạc, sách điện tử, phần mềm, tư vấn…

1.1.7.2 So sánh bán hàng qua mạng với bán hàng truyền thống.

Trang 22

Hoạt động thương mại truyền thống đầu tiên xuất hiện khi tổ tiên của chúng ta quan tâm đến các hoạt động hàng ngày của mình Mỗi gia đình thay vì trồng cấy để thu hoạch, săn bắn để lấy thịt, tạo ra các công cụ sản xuất Để phát triển và hoàn thiện từng

kỹ năng trên rồi trao đổi sản phẩm của mình lấy các sản phẩm cần thiết khác Dần dần việc đổi chác dẫn đến việc sử dụng tiền tệ làm cho việc giao dịch trở nên dễ dàng hơn, tuy nhiên thương mại cơ bản giống nhau về mặt cơ học Thương mại hoặc là làm kinh doanh, là thoả thuận trao đổi các đối tượng có giá trị hoặc các dịch vụ giữa các bên (ít nhất là 2 bên) và gồm các hoạt động mà mỗi bên phải đảm nhận để hoàn thành việc giao dịch

Bán hàng qua mạng có rất nhiều ưu điểm so với bán hàng truyền thống nhưng chúng

ta chỉ tập trung vào một số ưu điểm cơ bản sau:

Bảng 4: So sánh bán hàng qua mạng với bán hàng truyền thống

Bán hàng qua mạng Bán hàng truyền thống

Đảm bảo hàng thật Có thể gặp hàng giả, hàng nhái…

1 ngày và kéo dài liên tục trong nhiều tháng Như vậy chi phí cho quảng cáo rất lớn cộng với việc tăng giá ở mỗi khâu trung gian đã đẩy giá thành tăng lên từ 70-80%, trong khi giá thành sản xuất ra một sản phẩm tại nhà máy thường chỉ chiếm từ 20-30% mà thôi, nhưng người tiêu dùng chúng ta luôn phải mua với 100% giá thành, nên dù muốn hay không cũng vẫn phải gánh chịu khoản chi phí này

Với bán hàng qua mạng chúng ta chỉ phải trả một khoản chi phí chủ yếu là vận chuyển (một số trường hợp chi phí này bằng 0), bởi chi phí cho quảng cáo trên internet

là rẻ hơn rất nhiều so với các hình thức quảng cáo khác như: TV, báo chí, radio… Đó là một quyền lợi lớn và chính đáng của người tiêu dùng

Trang 23

Sơ đồ kênh phân phối của các hình thức thương mại:

Đối với hàng hóa lưu thông qua quan hệ thống KDTT

Sơ đồ 2: Hàng hóa lưu thông nhập khẩu

30% - 40%

20%-30% 40% 100%

(nguồn: http://www.saga.vn)

Sơ đồ 3: Hàng hóa lưu thông trong nước

(nguồn: http://www.saga.vn)

Đối với hàng hóa lưu thông qua hệ thống bán hàng qua internet

Sơ đồ 4: Hàng hóa lưu thông qua hệ thống bán hàng qua mạng

QUẢNG CÁO = TIẾP THỊ = KHUYẾN MÃI

Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% - 80%

TỔNG ĐẠI LÝ

ĐẠI LÝ LỚN

ĐẠI LÝ NHỎ

C.HÀNG B.LẺ

QUẢNG CÁO = TIẾP THỊ = KHUYẾN MÃI

Trang 24

(nguồn: http://www.saga.vn )

b, Hàng hóa đảm bảo chất lượng:

Với TMĐT người mua có thể vào Internet, tìm kiếm các mặt hàng cần mua, hoặc đặt hàng trên các diễn đàn Người mua hàng có thể xem trước mặt hàng mà không cần phải mất thời gian để tìm kiếm Khi đã lựa chọn được mặt hàng cần mua, chọn mua và làm một số thủ tục khác thì nhà sản xuất (người bán) sẽ trực tiếp gửi hàng hóa đó đến tận tay người tiêu dùng Tránh được các khâu trung gian không cần thiết Vì vậy hàng hóa sẽ đảm bảo chất lượng người tiêu dùng tránh gặp phải hàng nhái, kém chất lượng

Ở Việt Nam, các giao dịch qua mạng hiện nay chủ yếu là “tin nhau”, chứ chưa có ràng buộc pháp lý Ngay cả quản trị mạng rao bán hàng qua mạng cũng chỉ có thể kiểm soát mua - bán hàng cấm, hàng nhạy cảm, chứ chưa thể kiểm soát hết các hành vi lừa đảo, bán hàng nhái, hàng kém chất lượng Chính vì thế, các chuyên gia lĩnh vực TMĐT

và quản trị mạng đều đưa ra lời khuyên: Khách hàng cần tự bảo vệ mình Vì vậy nếu một tổ chức, công ty nào đảm bảo được lòng tin cho khách hàng thì sẽ phát huy hết được lợi ích của hình thức bán hàng ưu việt này – một mục tiêu mà tất cả các website mua bán ở VN đang cố gắng thực hiện

c, Được phục vụ:

Với mua bán qua mạng, khách hàng chỉ cần truy cập internet, vào website mua bán, chọn mua và thanh toán Khi đó sẽ có nhân viên giao hàng mang hàng tới tận nơi khách hàng yêu cầu, như vậy sẽ đảm bảo sự tiện lợi cho khách hàng Người tiêu dùng sẽ không phải di chuyển ra cửa hàng, siêu thị mà vẫn mua được hàng, giảm được chi phí đi lại và tiết kiệm rất nhiều thời gian Điều này đối với các nước phát triển là rất quan trọng và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại

Ngoài ra, tổ chức UNESCAP còn so sánh giữa bán hàng qua mạng và bán hàng truyền thống như sau:

Bảng 3: So sánh bán hàng qua mạng và bán hàng truyền thống của UNESCAP

TIÊU DÙNG

Trang 25

Phương diện Bán hàng qua mạng Bán hàng truyền thống

Kênh bán hàng Doanh nghiệp → Internet

→Khách hàng

Nhà sản xuất → Bán buôn → Bán lẻ → Khách hàng

Thời gian/khu vực

bán hàng

Bán hàng 24x 7 ngàyBán hàng trên toàn thế giới

Thời gian bán hàng giới hạnĐịa điểm bán hàng giới hạn

Cách thức bán

hàng

Không gian bán hàng trên mạngBán hàng dựa trên thông tin và hình ảnh

Bán hàng tại cửa hàngBán hàng hoá trưng bày thực tế

Thu thập thông tin Thu thập thông tin khách hàng

qua Internet

Thu thập thông tin bán hàng qua khảo sát thị trường và nhân viên bán hàng

Khách hàng Dữ liệu số, không cần nhập lại Thông tin cần phải nhập lại

Hoạt động tiếp thị Tiếp thị 1:1 thông qua giao tiếp 2

chiều

Tiếp thị một chiều đến khách hàng

Khoảng trễ thời gian trong hỗ trợ nhu cầu khách hàng

Khoảng trễ thời gian trong nắm bắt nhu cầu khách hàng

(Nguồn: Tham khảo trên internet)

Trên đây là một số ưu điểm cơ bản của bán hàng qua mạng so với bán hàng truyền thống Trong thời điểm kinh tế suy thoái, việc phát triển kênh trực tuyến vừa giúp doanh nghiệp tăng thêm doanh số bán hàng nhờ thêm khách hàng mới, vừa tạo thêm công ăn việc làm cho cán bộ nhân viên, giúp doanh nghiệp có thời gian tiếp cận những ưu khuyết của việc bán hàng trực tuyến, điều chỉnh dần những sai sót, chuẩn bị nhân lực và vật lực cho vài năm tới, khi thương mại điện tử bùng nổ Cũng giống như một mũi tên

đạt được hai mục đích: vừa tăng doanh số bán hàng, vừa đón đầu tương lai.

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Xu hướng thương mại điện tử toàn cầu

Internet phát triển mạnh mẽ sẽ là động lực để thúc đẩy sự tăng trưởng buôn bán trên phạm vi toàn cầu Các nước trên thế giới đã và đang sẵn sàng nhập cuộc Dự báo

Trang 26

trong thời gian tới, thương mại điện tử sẽ đem lại cho các doanh nghiệp một nguồn lợi nhuận khổng lồ

1.2.1.1 Doanh thu từ bán hàng qua mạng sẽ chiếm một phần lớn

Bán hàng qua mạng Internet không mất nhiều thời gian đã trở nên phổ biến giữa khách hàng và các nhà kinh doanh trong những năm gần đây, đặc biệt là trong kỷ nguyên tới, doanh thu bán hàng từ TMĐT đã chiếm một phần quan trọng trong tổng doanh thu tại hầu hết các công ty trên thế giới Qua đợt khảo sát gần đây, các giao dịch thương mại điện tử chiếm 9% doanh thu hằng năm tại 300 công ty Con số này được thay đổi từ 6% tại các công ty có qui mô vừa và nhỏ tới 13% tại các công ty lớn

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, doanh thu từ bán hàng qua mạng Internet sẽ tiếp tục tăng những năm tới và sẽ giữ mức ổn định trong vài năm tiếp theo

1.2.1.2 Thách thức từ thương mại điện tử

Mặc dù bán hàng qua mạng Internet đang phát triển một cách nhanh chóng nhưng cũng phải cần nhiều thời gian để có thể đạt được doanh thu cao của hầu hết các công ty

Đã có những lo ngại về sự cạnh tranh với TMĐT của các đối thủ trong thế giới kinh doanh truyền thống Tùy từng ngành công nghiệp khác nhau sẽ phải đối đầu với những thách thức khác nhau, trong ngành công nghiệp máy tính, 60% chuyên gia công nghệ thông tin lo lắng về các hoạt động TMĐT của các đối thủ cạnh tranh hơn các phương thức kinh doanh truyền thống xưa nay Tuy nhiên, các ngành sản xuất và dịch vụ khác thì chỉ có khoảng 30% lo ngại về dạng kinh doanh qua thương mại điện tử của đối thủ

1.2.1.3 Thương mại điện tử toàn cầu đang phát triển mạnh

Với khu vực thị trường nội địa to lớn, nhiều công ty của Mỹ còn chậm trong việc bán hàng ra toàn thế giới Hiện nay, chỉ có khoảng 12% lượng hàng bán ra từ các công

Trang 27

ty lớn của Mỹ ra thị trường nước ngoài Nhưng theo xu hướng phát triển tất yếu, con số này đang có chiều hướng gia tăng và dự báo sẽ tăng 15% trong hai năm tới.

Một số nước ở Châu Á cũng đang tích cực trong cuộc chạy đua với các quốc gia

phát triển Trong vòng 5 năm tới, số luợng người châu Á truy cập vào mạng Internet sẽ vượt quá tổng số người truy cập ở châu Âu và Bắc Mỹ gộp lại Dự kiến doanh thu mua bán hàng trên mạng Internet tại châu Á sẽ tăng lên rất nhiều, chiếm 1/4 thu nhập mại Internet trên toàn cầu Các công ty lớn với nguồn hàng ổn định luôn mong muốn mở rộng thị trường, rất tích cực trong việc triển khai thương mại điện tử, tăng cường việc bán hàng ra toàn cầu, đồng thời triển khai việc mua hàng hóa và dịch vụ từ nguồn bên ngoài

1.2.2 Tiềm năng và xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam

Các chuyên gia thương mại nhận định, phương thức kinh doanh qua mạng sẽ phát triển mạnh ở Việt Nam trong thời gian tới với xu hướng hình thành các trang web chất lượng cao nhằm khẳng định uy tín của DN và tạo lập sự tin cậy ở khách hàng

1.2.2.1 Tiềm năng phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam

Việt Nam có tiềm năng rất lớn để phát triển TMĐT vì các lý do sau :

- Việt Nam là nước xuất khẩu nhiều mặt hàng, TMĐT giúp doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng trên toàn thế giới

- Việt Nam có thể “xuất khẩu” dịch vụ, sản phẩm thông tin, sản phẩm tri thức bằng cách bán qua mạng Internet

- Du lịch Việt Nam cần tận dụng TMĐT để quảng bá, đặt dịch vụ qua mạng, thanh toán qua mạng, hỗ trợ du khách qua mạng

- Nhà nước chủ trương thúc đẩy TMĐT phát triển

- CNTT, Internet ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển nhanh với tốc độ rất nhanh

- Chính những khả năng, lợi ích TMĐT mang lại cho doanh nghiệp, nhà đầu tư là động cơ lớn thúc đẩy doanh nghiệp tham gia TMĐT

Trang 28

- Nhân lực Việt Nam tiếp thu công nghệ mới nhanh, đặc biệt là CNTT.

Biểu đồ 1: Số trường triển khai đào tạo về TMĐT qua các năm

(Nguồn: báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2008)

1.2.2.2 Xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam:

Hiện nay TMĐT ở Việt Nam được tận dụng phục vụ việc marketing, bán hàng cho doanh nghiệp là chính Ngoài ra, một số website sàn giao dịch B2B, siêu thị điện tử B2C, website C2C như rao vặt, đấu giá , website thông tin (tin tức là chính) đã được xây dựng và đưa vào hoạt động Thanh toán qua mạng trong và ngoài nước vẫn còn rất

ít ỏi và bất tiện Doanh số từ mô hình B2B vẫn hầu như chưa có, trong khi doanh số B2B xấp xỉ 80 – 90% tổng giá trị giao dịch TMĐT trên toàn cầu Trong giai đoạn 2006 – 2010, xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam sẽ đi theo 03 nhóm:

- Các doanh nghiệp tận dụng TMĐT phục vụ marketing, bán hàng, hỗ trợ khách hàng, mở rộng thị trường, xuất khẩu

- Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT tử với những website TMĐT, kinh doanh trên mạng

Trang 29

- Doanh nghiệp bắt đầu tận dụng TMĐT trong B2B để mua sắm nguyên vật liệu phục vụ việc kinh doanh sản xuất một cách tự động hoặc bán tự động.

Biểu đồ 2: Tỷ lệ doanh nghiệp có website qua các năm 2004- 2008

(Nguồn: báo cáo TMĐT 2008 của Bộ công thương)

Thực tiễn phát triển TMĐT tại Việt Nam cho thấy các mô hình kinh doanh trực tuyến theo hình thức B2C (website bán hàng chuyên doanh hoặc tổng hợp) và B2B (nơi doanh nghiệp đăng tải thông tin, tìm kiếm đối tác, cơ hội kinh doanh, v.v ) đang xuất hiện ngày càng nhiều Những mô hình kinh doanh này có rất nhiều tên gọi khác nhau như: chợ trực tuyến, sàn giao dịch TMĐT, siêu thị trực tuyến, siêu thị điện tử, cửa hàng trực tuyến, v.v Trong khi chưa có cách định danh chính thức được pháp luật thừa nhận, các tên gọi này đang được doanh nghiệp sử dụng một cách tương đối linh hoạt và được xã hội chấp nhận

Bảng 4: Đánh giá ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp qua các năm

Trang 30

(Nguồn: báo cáo TMĐT 2008 của Bộ công thương)

Theo báo cáo TMĐT năm 2008 của Bộ công thương: có tới 99% số doanh nghiệp

đã kết nối Internet, trong đó kết nối băng thông rộng chiếm 98% Số người dùng Internet phát triển mạnh từ thành thị cho đến nông thôn Việt Nam hiện nay là một trong những quốc gia có số người dùng Internet cao trong khu vực và trên thế giới Lượng doanh nghiệp tham gia các sàn TMĐT cả trong và ngoài nước cũng đang tăng rất nhanh Sau hơn một năm hoạt động, Cổng thương mại điện tử quốc gia ECVN

đã có trên 1.500 thành viên Con số mà Vụ Thương mại điện tử công bố mới đây cho biết, trong cả nước hiện có khoảng 300 sàn thương mại điện tử đang hoạt động Đó là những tiền đề rất lớn để Việt Nam có những bước đột phá về TMĐT và hoạt động bán hàng qua mạng trong thời gian tới

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG

QUA MẠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ MẶT TRỜI

2.1 Tổng quan về công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời

Công ty CP ĐT Mặt Trời (viết tắt là EMT) được Sở Kế Hoạch Đầu Tư TP.HCM cấp giấy phép kinh doanh ngày cấp: 12/08/2009 Vốn điều lệ của công ty: 9.900.000.000 đồng (chín tỷ chín trăm triệu đồng)

- Tên đầy đủ: Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Mặt Trời

- Tên Tiếng Anh: Sun Investment Corporation

- Trụ sở: 232/7 Nguyễn Thượng Hiền, Phường 5, Quận Phú Nhuận, Tp.Hồ Chí Minh

Trang 31

- Văn phòng giao dịch: Số 26 Hạnh Thông, Phường 3, Quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh

- Mã số thuế: 0309137602

- Số tài khoản ngân hàng: 0103814075 (ngân hàng Đông Á)

- Website: www.emt.v n và www. emt com v n

Ngày 28 thánh 10 năm 2009 EMT chính thức trở thành thành viên của hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam (VECOM)

Với tiềm lực vốn có của mình, công ty đang xây dựng và phát triển EMT trở thành sàn giao dịch thương mại điện tử thành công tại Việt Nam để có thể sánh vai cùng các sàn giao dịch đàn anh trên thế giới Và phấn đấu trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời TMĐT nước nhà, được ví như những google, yahoo, alibaba …

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của công ty:

- Giải pháp xây dựng website và các ứng dụng phần mềm

- Giải pháp thương mại điện tử và kinh doanh trực tuyến

- Giải pháp đầu tư và thương mại hóa toàn cầu

- Chương trình vì môi trương thế giới

Lưu trình thực hiện dự án của công ty:

Với sự lớn mạnh của internet và những thành quả đạt được của TMĐT công ty

CP ĐT Mặt Trời đã và đang thực hiện:

- Xây dựng sàn giao dịch C2C, B2C, B2B

- Xây dựng một hệ thống siêu thị trực tuyến

- Xây dựng hệ thống thanh toán trực tuyến và một ngân hàng TMĐT

- Xây dựng một hệ thống truyền thông đa phương tiện, một kênh thông tin của người tiêu dùng…

- Góp phần xây dựng ý thức của cộng đồng về sự nóng lên của khi hậu toàn cầu và bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp

2.1.3 Cách thức hoạt động của công ty CP ĐT Mặt Trời:

Trang 32

Ngoài lĩnh vực chính là TMĐT công ty CP ĐT Mặt Trời còn hoạt động theo nhiều lĩnh vực khác nhau theo hình thức khá đặc biệt: Đó là đi “xây dựng cộng đồng” Các sản phẩm, hàng hóa của EMT có tới 95% là do cộng đồng EMT trên cả nước mua, mặc dù công ty bán hàng qua hệ thống website nhưng cộng đồng EMT là hiện hữu, để có thể kết nối cộng đồng một cách nhanh chóng và bền vững công ty đã tạo ra những quyền lợi miễn phí cho mỗi thành viên khi tham gia vào cộng đồng EMT (gọi là CTV) bao gồm:

- Được mua hàng giá rẻ (được giảm giá từ 5-30% so với giá thị trường, một số mặt hàng giảm tới 50%)

- Được học những khóa học về kỹ năng mềm: giao tiếp, ngoại ngữ, đàm phán, ứng

sử, lãnh đạo, kiến thức làm giàu… của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam (được cấp bằng)

- Tham gia các câu lạc bộ: nhịp sống trẻ, anh văn, thể thao…

- Được sử dụng một gian hàng trực tuyến trên hệ thống siêu thị EMT.VN (EMT.COM.VN)

- Được cấp một tài khoản ATM tại ngân hàng Techcombank và sử dụng các tiện ích cao cấp như SMS, liên kết thanh toán…

- Được mua sắm trực tuyến trên hệ thống siêu thị EMT.VN (EMT.COM.VN) và tham gia chương trình mua hàng tính điểm (tích lũy điểm tiêu dùng)

- Tham gia chương trình đấu giá trực tuyến, học và chơi chứng khoán ảo trên sàn chứng khoán EMT.VN (EMT.COM.VN)

- Được tặng hoa hồng khi kết nối được những CTV khác (áp dụng mô hình MLM)

- Ngoài ra mỗi CTV còn đóng góp một phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường thế giới

Mỗi thành viên để trở thành CTV và được đảm bảo những quyền lợi trên thì phải

có đủ các tiêu chuẩn sau:

Bảng 5: Tiêu chuẩn tham gia cộng đồng EMT

- Đủ 18 tuổi và có CMND

Trang 33

- Có địa chỉ Email

- Có người giới thiệu

- Mức phí 500.000 đồng

(Nguồn : Số liệu phòng kế toán)

Như vậy, bán hàng qua mạng chỉ là một hình thức hoạt động trong rất nhiều hình thức hoạt động khác của EMT nhưng nó đóng một vai trò quan trọng không nhỏ đối với công ty Trong thời gian gần đây, hoạt động bán hàng qua mạng của EMT phát triển rất nhanh và ngày càng tạo ra được một cộng đồng mua hàng lớn

2.1.4 Nguồn lực của công ty cổ phần đầu tư Mặt Trời

2.1.4.1 Tình hình lao động:

Khi mới thành lập EMT chỉ có 42 thành viên, lúc đó công ty mới hoạt động trên địa bàn TP HCM và một số địa bàn lân cận là chủ yếu, hơn nữa do đặc thù của hình thức bán hàng qua mạng nên công ty không phải thông qua các đại lý trung gian, phân phối nên số lượng lao động chưa nhiều là điều dễ hiểu cuối tháng 12 công ty mở được chi nhánh miền miền Bắc tại Hà Nội và cuối tháng 2 năm 2010 công ty lại thành lập chi nhánh miền Trung (Đà Nẵng) làm cho số lao động tăng lên 102 người tương ứng tăng 142,86%

Bảng 6: Tình hình lao động tại công ty CP ĐT Mặt Trời

Trang 34

Xét theo giới tính: Số lao động tại công ty cũng như số lao động tăng thêm có xu

hướng nghiêng về lao động nam Do đặc thù của bán hàng qua mạng nên công ty cần mội đội ngũ IT chuyên nghiệp và đội ngũ giao hàng lớn nên số lao động nam nhiều hơn chiếm 64,71% Nhân viên nữ của công ty chủ yếu làm ở bộ phận kế toán và chăm sóc khách hàng chiếm 35,29% Cơ cấu lao động này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của công ty

Về trình độ lao động: Số lao động ở tất cả mọi trình độ đều tăng đáng kể , lao động

phổ thông có mức tăng rất lớn chiếm 414,29% nguyên nhân làm số lao động phổ thông tăng cao như thế là do công ty tuyển thêm nhân viên giao hàng để đảm bảo cho công tác giao hàng được nhanh chóng, thuận lợi Tuy tăng với mức rất nhanh nhưng lao động phổ thông tính đến thời điểm 03/2010 chỉ chiếm 35,29% Trong số 64,71 % số lao động

có trình độ từ trung cấp trở lên thì có tới 41,18% có trình độ đại học và trên đại học Như vậy, cơ cấu lao động theo trình độ của công ty có sự thay đổi nhiều là để phù hợp với xu thế phát triển Điều này thể hiện sự ứng biến nhanh nhạy của cán bộ lãnh đạo công ty trong cơ cấu lao động nhằm đáp ứng phù hợp với biến động của tình hình công ty

2.1.4.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty

Công ty CP ĐT Mặt Trời tuy mới được thành lập chưa đầy một năm nhưng do được đầu tư xây dựng ngay từ đầu nên công ty đã có một cơ cấu tổ chức bộ máy khá hoàn thiện Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty là mô hình trực tuyến-chức năng và đã phát huy được những lợi thế mà nó mang lại Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại gồm các phòng ban theo sơ đồ:

Phòng

kế toán

Phòng

tổ

chức

Phòng IT

Phòng chăm sóc khách hàng

Phòng đào tạo

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

Trang 35

Quan hệ trực tuyến:

Quan hệ chức năng:

Sơ đồ 5: Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty EMT

2.1.4.3 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban

- Hội Đồng Quản Trị

Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị cao nhất của công ty, có đầy đủ quyền hạn để thay mặt công ty quyết định các vấn đề liên quan đến mục tiêu và lợi ích của công ty, ngoại trừ các vấn đề thuộc quyền hạn của đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu ra Hiện tại hội Đồng quản trị công ty có 3 thành viên như sau:

Bảng 7: Danh sách những cổ đông sáng lập công ty

1 Đỗ Văn Hiền Chủ tịch Hội đồng quản trị 30,00

(Nguồn: Số liệu phòng kế toán)

Trang 36

- Ban Kiểm Soát

Ban Kiểm soát do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Công ty Thành viên ban kiểm soát của công ty gồm 3 người, trong đó có một kiểm soát viên có chuyên môn về

kế toán Ban kiểm soát bầu 1 người làm trưởng ban

- Ban giám đốc

Ban Giám đốc bao gồm tổng giám đốc và giám đốc điều hành kinh doanh, do HĐQT quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty và là người điều hành cao nhất mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty Cơ cấu Ban Giám đốc hiện tại gồm 1 tổng giám đốc và 1 giám đốc điều hành kinh doanh

- Phòng tổ chức

Tham mưu giúp việc cho Giám đốc điều hành kinh doanh và chịu trách nhiệm trước tổng iám đốc về công tác tổ chức, quản lý lao động, tiền lương và công tác hành chính Thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản trị nhân sự và hành chính trong Công

- Phòng chăm sóc khách hàng

Trang 37

Có trách nhiệm trong quá trình bán hàng và sau bán hàng, tư vấn cho khách hàng

về sản phẩm và quản lý đội ngũ giao hàng, bất kỳ mọi thắng mắc của khách hàng đều được phòng chăm sóc khách hàng giải đáp thông qua: điện thoại, yahoo, mail…Phòng chăm sóc khách hàng luôn có 2 người online trực tuyến sẵn sàng giải đáp thắc mắc cho khách hàng

- Phòng đào tạo

Phòng gồm những cán bộ chịu trách nhiệm chính là giảng dạy trong những khóa học về kỹ năng mềm cho CTV Gồm nhiều người là giáo sư, tiến sĩ thuộc các trường đại học cán bộ lãnh đạo các tổ chức khác trên địa bàn Phòng còn có trách nhiệm tư vấn cho ban giám đốc trong những hoạt động như: Lĩnh vực về bảo vệ môi trường, các chiến dịch PR…

- Phong IT:

Chịu trách nhiệm quản lý website, cập nhật liên tục các thông tin về sản phẩm như: giá, thông số kỹ thuật, chế độ bảo hành…Hướng dẫn CTV khi hỏi đáp về cách chăm sóc gian hàng…

- Chi nhánh của công ty phía miến Bắc, miền Nam

Quản lý các văn phòng giao dịch của công ty trong các tỉnh thành khác trực thuộc khu vực

Ngoài các bộ phận chính công ty còn có tổ bảo vệ gồm 3 người có trách nhiệm trông xe và hướng dẫn khách hàng khi tới công ty

2.1.4.3 Kết quả kinh doanh của công ty

Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là mụa đích mà EMT quan tâm nhất Nhưng do là một công ty mới thành lập nên công ty chưa thể đặt mục tiêu lợi nhuân lên hàng đầu, tuy nhiên sau 4 tháng kinh doanh trên website công ty cũng đã đạt được lợi nhuận theo bảng 7

Ngày đăng: 11/12/2013, 20:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Quan hệ của một số loại hình giao dịch TMĐT chủ yếu - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Sơ đồ 1 Quan hệ của một số loại hình giao dịch TMĐT chủ yếu (Trang 11)
Bảng 1: Một số ví dụ về chi phí giao dịch - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 1 Một số ví dụ về chi phí giao dịch (Trang 18)
Sơ đồ kênh phân phối của các hình thức thương mại: - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Sơ đồ k ênh phân phối của các hình thức thương mại: (Trang 23)
Bảng 4: Đánh giá ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp qua các năm - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 4 Đánh giá ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp qua các năm (Trang 29)
Bảng 6: Tình hình lao động tại công ty CP ĐT Mặt Trời - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 6 Tình hình lao động tại công ty CP ĐT Mặt Trời (Trang 33)
Sơ đồ 5:  Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty EMT - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Sơ đồ 5 Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty EMT (Trang 35)
Bảng 8: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CP ĐT Mặt Trời (từ tháng 8/2009 đên tháng 12/2009) - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 8 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CP ĐT Mặt Trời (từ tháng 8/2009 đên tháng 12/2009) (Trang 38)
Bảng 9: Danh mục các mặt hàng của công ty CP ĐT Mặt Trời - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 9 Danh mục các mặt hàng của công ty CP ĐT Mặt Trời (Trang 40)
Bảng 11: Lý do CTV chưa mua hàng hóa của EMT - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 11 Lý do CTV chưa mua hàng hóa của EMT (Trang 50)
Bảng 14: Đánh giá của khách hàng về các sản phẩm mang thương hiệu EMT - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 14 Đánh giá của khách hàng về các sản phẩm mang thương hiệu EMT (Trang 54)
Bảng 17: Đánh giá về mức độ quan trọng các quyền lợi - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 17 Đánh giá về mức độ quan trọng các quyền lợi (Trang 59)
Bảng 18: Đánh giá chung của khách hàng - Nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua mạng tại công ty cổ phần đầu tư mặt trời
Bảng 18 Đánh giá chung của khách hàng (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w