Luận văn, khóa luận, kinh tế, quản trị, thương mại
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường và nhất là trong xu thế hội nhập về kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt Bất cứ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng luôn hướng tới mục tiêu sau cùng là doanh thu và lợi nhuận Mỗi một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình phải đạt được hiệu quả tốt Do đó, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu có tính chiến lược đối với mọi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh chi phí bỏ
ra và kết quả thu về so với mục tiêu đã đặt ra
Muốn có được sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tốt đòi hỏi ở các doanh nghiệp phải nghiêm túc nghiên cứu rõ các phương thức hoạt động sản xuất của mình, nắm bắt được các yếu tố biến động ảnh hưởng đến các hoạt động của chính đơn vị mình để từ đó
có các biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh
Ngày nay, ngành xây dựng đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của đất nước Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61 hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thi công xây lắp các công trình dân dụng Công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và sản xuất ống bê tông Đạt được hiệu quả kinh doanh luôn là một vấn đề đặt ra hết sức cần thiết cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và Xí nghiệp COSEVCO 61 nói riêng Trong những năm qua, Xí nghiệp đã nổ lực phát triển không ngừng, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, song bên cạnh đó hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn còn là vấn
đề cần được đánh giá xem xét kỹ của Xí nghiệp Xuất phát từ tình hình thực tế đó và
nhận thức tầm quan trọng của hiệu quả sản xuất kinh doanh, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61” làm nội dung cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Hệ thống hóa một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Xí nghiệp xây dựng COSEVCO
61 Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
Mục tiêu cụ thể: Đánh giá hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp qua các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng lao động, đánh giá sự hài lòng của nhân viên tại Xí nghiệp để biết được nhu cầu cũng như quan điểm của họ,
từ đó có những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động cũng như hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở lý luận chung
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Số liệu thông tin thứ cấp là các số liệu được cung cấp từ Xí nghiệp bao gồm Bảng báo cáo Tài chính, bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lao động, nguồn vốn… qua 3 năm 2007-2009 Ngoài ra, số liệu còn được thu thập từ các báo, tạp chí, Internet…
+ Số liệu thông tin sơ cấp là được thu thập từ sự đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên tại Xí nghiệp qua việc điều tra phỏng vấn 100 nhân viên Nó góp phần làm rõ nguyên nhân của vấn đề phân tích, giúp tìm hiểu tình hình thực tế tại Xí nghiệp Từ đó làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp
Kết hợp số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp không những đánh giá đúng thực trạng kết quả kinh doanh của Xí nghiệp trong thời gian qua mà còn giúp chúng ta tìm ra giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của Xí nghiệp trong thời gian tới
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
+ Phương pháp thay thế liên hoàn để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh: là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay
Trang 3thế lần lượt và liên tục các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định chỉ số của chỉ tiêu thay đổi
+ Phương pháp tổng hợp, so sánh: là phương pháp phổ biến nhằm xác định xu hướng, mức biến động của các chỉ tiêu phân tích Vì vậy, để tiến hành so sánh phải xác định số gốc, điều kiện cũng như mục tiêu để so sánh
+ Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: ứng dụng phần mềm SPSS với kỹ thuật
sử dụng thống kê mô tả và kiểm định giá trị trung bình của một mẫu (One Sample test)
T-Phương pháp kiểm định giá trị trung bình của một mẫu như sau:
Giả thiết: Ho : Mean = test value
H1 : Mean ≠ test valueQuy tắc kết luận giả thiết như sau:
Nếu Sig < α thì bác bỏ Ho, nghĩa là trung bình khác test value
Nếu Sig > α thì chưa có cơ sở bác bỏ Ho, nghĩa là giá trị trung bình bằng test value
- Và một số phương pháp khác:…
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: số liệu thứ cấp về hiệu quả kinh doanh được thu thập tại Văn phòng Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61 và số liệu sơ cấp là phiếu điều tra về mức độ hài lòng của nhân viên được thu thập tại văn phòng Xí nghiệp và công trường thi công
Phạm vi thời gian nghiên cứu: nghiên cứu, phân tích tài liệu thứ cấp về hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp qua 3 năm 2007-2009 và tài liệu sơ cấp được điều tra tại Xí nghiệp
Đề tài tập trung nghiên cứu về hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc khảo sát, điều tra: “Đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên tại Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61”
Trang 4CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề về hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn)
để đạt được mục tiêu xác định”, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó
Từ định nghĩa về quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu: Hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường
1.1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu,
Trang 5thiết bị máy móc, lao động và đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD chúng ta có thể dựa vào việc phân biệt hai khái niệm kết quả và hiệu quả:
+ Kết quả của hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh nghiệp Kết quả hoạt động SXKD có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng cân đong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh được mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu, uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng sản phẩm Chất lượng bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp
+ Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp thì sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó (cả trong lý thuyết và thực tế thì hai đại lượng này có thể được xác định bằng đơn vị giá trị hay hiện vật) nhưng nếu sử dụng đơn vị hiện vật thì khó khăn hơn vì trạng thái hay đơn vị tính của đầu vào và đầu ra là khác nhau còn sử dụng đơn vị giá trị sẽ luôn đưa được các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị Trong thực tế người ta sử dụng hiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất cũng có những trường hợp sử dụng nó như là một công cụ để đo lường khả năng đạt đến mục tiêu đã đặt ra
1.1.1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Để tiến hành bất kỳ hoạt động SXKD nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược và kế hoạch SXKD của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có Để thực hiện điều đó bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó có công cụ hiệu quả hoạt động SXKD Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động SXKD không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra các nhân tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả
và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 6Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu hoạt động SXKD quả đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động SXKD không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn
bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như đánh giá được từng bộ phận của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác, doanh nghiệp phải tự đưa ra chiến lược kinh doanh và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng mang tính chất quyết định Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD là tất yếu đối với mọi doanh nghiệp Mặt khác doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển được, phương châm của các doanh nghiệp luôn phải là không ngừng nâng cao chất lượng và năng suất lao động, dẫn đến việc tăng năng suất là điều tất yếu
Nói tóm lại, nâng cao hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng, nó là tiền đề cho sự phát triển của doanh nghiệp Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp tận dụng và tiết kiệm nguồn lực có hạn của mình, đồng thời vừa là tiền đề cho sự phát triển của đất nước Như vậy, nâng cao hiệu quả SXKD không chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp mà còn là vấn đề cấp thiết của đất nước, của xã hội vì nó có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của đất nước
1.1.2 Các lý luận liên quan đến xây dựng.
1.1.2.1 Khái niệm về ngành xây dựng.
Trong thực tiễn quản lý xây dựng đòi hỏi phải phân biệt các khái niệm: Ngành (hay lĩnh vực) xây dựng cơ bản (thường được gọi tắt là ngành xây dựng), ngành công
Trang 7nghiệp xây dựng, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và tổ hợp liên ngành thực hiện
và phục vụ công tác xây dựng
Ngoài ngành xây dựng cơ bản (ngành xây dựng) thường bao gồm các lực lượng của bên chủ đầu tư có liên quan trực tiếp đến xây dựng công trình, các lực lượng chuyên nhận thầu thi công xây dựng và các lực lượng dịch vụ trực tiếp phục vụ xây dựng như các tổ chức tư vấn, quy hoạch thiết kế, nghiên cứu, thông tin và đào tạo cán bộ cho ngành xây dựng
Ngành công nghiệp xây dựng chủ yếu chỉ bao gồm các tổ chức chuyên nhận thầu thi công xây dựng, kèm theo các tổ chức sản xuất phụ và các tổ chức quản lý, dịch vụ thuộc ngành công nghiệp xây dựng quản lý Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng về bản chất nó phải là một ngành riêng và có nhiệm vụ chuyên sản xuất các loại vật liệu khác bán thành phẩm và các cấu kiện xây dựng để bán cho ngành công nghiệp xây dựng
Ở nước ta hiện nay, ngành công nghiệp xây dựng còn bao gồm cả ngành vật liệu xây dựng và phân tán ở nhiều bộ và ngành sản xuất khác, trong đó bộ xây dựng đóng vai trò chủ chốt
Tổ hợp liên ngành thực hiện và phục vụ xây dựng, bao gồm các tổ chức nằm trong ngành xây dựng cơ bản ở trên và còn thêm các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế tạo thiết bị và máy móc xây dựng , các tổ chức vận tải và cung ứng phục vụ xây dựng
1.1.2.2 Khái niệm về sản phẩm của ngành xây dựng
Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn chỉnh theo nghĩa rộng là tổng hợp và kết tinh sản phẩm của nhiều ngành sản xuất như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành năng lượng, hóa chất luyện kim…và xây dựng là ngành đóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng để đưa chúng vào hoạt động
Trang 8Sản phẩm trực tiếp của ngành công nghiệp xây dựng chỉ bao gồm các công việc kiến tạo và kết cấu xây dựng làm chức năng bao che và nâng đỡ các công việc lắp đặt các thiết bị, máy móc cần thiết vào công trình xây dựng để đưa chúng vào hoạt động.
Vì các sản phẩm công trình xây dựng thường rất lớn và phải xây dựng trong nhiều năm, nên để phù hợp với yêu cầu của công việc thanh quyết toán về tài chính, cần phân biệt sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng của xây dựng Sản phẩm trung gian có thể là các công việc xây dựng, các giai đoạn và đợt xây dựng đã hoàn thành và bàn giao Sản phẩm cối cùng ở đây là công trình hay hạng mục công trình xây dựng hoàn chỉnh và có thể bàn giao đưa vào sử dụng
Công trình xây dựng bao gồm một hay nhiều hạng mục công trình nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ và hoàn chỉnh để làm ra sả phẩm cuối cùng được nêu ra trong bản luận chứng kinh tế kỹ thuật (dự án khả thi) Liên hiệp công trình xây dựng bao gồm nhiều công trình tập trung tại một điểm hay khu vực, hình thành các giai đoạn sản xuất rõ rệt và có liên quan hữu cơ với nhau về mặt công nghệ sản xuất để làm ra sản phẩm cuối cùng
1.1.2.3 Các đặc điểm của ngành xây dựng
Đặc điểm sản phẩm của ngành xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản suất và quản lý kinh tế trong xây dựng, làm cho các công việc này có nhiều màu sắc khác nhau với các ngành sản xuất khác Sản phẩm xây dựng với tư cách là một công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có các tinh chất sau:
Sản phẩm của xây dựng là những công trình nhà cửa được xây dựng và sử dụng tại chổ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính chất lưu động cao và thiếu ổn định
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, mang nhiều tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng về cách cấu tạo và phương pháp chế tạo
Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, chi phí lớn, thời gian xây dựng và
sử dụng lâu dài Do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây nên lãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sữa chữa
Trang 9Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp nguyên vật liệu và cả về phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật quốc phòng.
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Như đã phân tích, hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, nó liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp Do đó, khi phân tích hiệu quả SXKD của doanh nghiệp phải kết hợp phân tích nhiều chỉ tiêu như: hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng lao động, khả năng sinh lợi của vố trên một đồng chi phí bỏ ra…
1.1.3.1 Chỉ tiêu kết quả kinh doanh
* Tổng doanh thu bán hàng: là tổng giá trị hàng hoá mà doanh nghiệp đã bán và thu được tiền trong kỳ nghiên cứu Do tính theo giá bán thực tế nên doanh thu của doanh nghiệp được chia làm hai loại:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ, các khoản thuế
- Doanh thu thuần: là doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ cộng các khoản hoàn nhập như dự phòng giảm giá hàng tồn kho, phải thu nợ khó đòi không phát sinh trong kỳ báo cáo
Doanh thu bán hàng chiếm toàn bộ tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ doanh thu của doanh nghiệp Nó phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất, phản ánh trình độ tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có được doanh thu bán hàng chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận rằng sản phẩm đó về mặt khối lượng, giá trị sử dụng, chất lượng và giá cả đã phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
Trang 10Doanh thu bán hàng còn là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, để trả lương, thưởng cho người lao động, trích Bảo hiểm xã hội và nộp thuế theo quy định…
Chỉ tiêu này được đánh giá bằng công thức:
DT = ∑ Pi Qi
Trong đó: DT : Tổng doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Pi : Giá bán đơn vị sản phẩm loại i
Qi : Khối lượng sản phẩm loại i tiêu thụ trong kỳ
* Chỉ tiêu chi phí:
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là các chi phí về vật tư, chi phí hao mòn về máy móc thiết bị và các tài sản cố định khác, chi phí về tiền lương
và tiền công cho người lao động và các chi phí bằng tiền khác
Toàn bộ chi phí sản xuất được phân làm hai loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi Do đó:
∑ Chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi
- Chi phí cố định là chi phí có tính độc lập, không lệ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ Doanh thu và số lượng sản phẩm sản xuất ra là bao nhiêu, định phí là
số tiền cố định không bién đổi Một số khoản chi điển hình về định phí là: Tiền thuê mặt bằng và các công cụ theo thời gian, Khấu hao TSCĐ, chi phí quản lý…
- Chi phí biến đổi là các khoản chi phí biến đổi trực tiếp với sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ Một số khoản biến phí điển hình đó là: Chi phí nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu; Tiền công lao động trực tiếp; Hoa hồng bán hàng…
* Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn của hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Do
đó, lợi nhuận phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp Từ công thức chung, kế toán doanh nghiệp tính các chỉ tiêu lãi như sau:
Trang 11- Lợi nhuận thuần = Doanh thu KD – Chi phí KD – Chi phí BH – Chi phí QLDN
- Lợi nhuận gộp = DT bán hàng và cung cấp dịch vụ - Giá vốn hàng bán
- Tổng lợi nhuận trước thuế: là lợi nhuận đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh và lợi nhuận từ hoạt động khác
- Lợi nhuận sau thuế: là phần còn lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao đông, tài sản cố định… Đồng thời nó là một nguồn thu điều tiết quan trọng của ngân sách nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, phát triển đất nước Đây cũng chính là nguồn tài chính quan trọng để tái sản xuất và mở rộng
Lợi nhuận được để lại để doanh nghiệp thành lập các quỹ tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên Lợi nhuận cũng là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở xây dựng chính sách phân phối đúng đắn
1.1.3.2 Chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh
a Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Để đánh giá đúng hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, cần phải tính toán và phân tích các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế x 100
Doanh thuChỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu bỏ ra thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao Do đó, doanh nghiệp cần nâng cao tổng mức lợi nhuận
Trang 12- Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
theo vốn kinh doanh =
Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
Vốn kinh doanhChỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh dùng vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng hiệu quả Bởi vậy, muốn nâng cao lợi nhuận phải có chính sách sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý cơ cấu vốn kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
theo chi phí
= Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
Chi phí sản xuấtChỉ tiêu này phản ánh cứ một dồng chi phí sản xuất thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận Để tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì cần hạn chế tối đa chi phí bỏ
ra để thu được lợi nhuận cao nhất
b Hiệu quả sử dụng vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, muốn có yếu tố đầu vào doanh nghiệp cần có vốn kinh doanh, thiếu vốn thì mọi hoạt động của doanh nghiệp bị đình trệ hay kém hiệu quả Do đó các nhà kinh tế cho rằng chỉ tiêu sử dụng vốn là một chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề then chốt qắn liền với sự tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh doanh Vốn là yếu tố hàng đầu để mở rộng sản xuất kinh doanh Vì vậy, phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ đánh giá được chất lượng quản lý kinh doanh, vạch ra các khả năng tiềm tàng để tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh
Các chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là: Hiệu suất sử dụng vốn, mức doanh lợi theo vốn…
Trang 13- Hiệu suất sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh tổng hợp của quá trình sử dụng vốn Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
VTrong đó: Hv : Hiệu suất sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
DT : Doanh thu, hoặc sản lượng sản phẩm tiêu thụ
V : Vốn kinh doanh bình quân dùng vào sản xuất kinh doanhChỉ tiêu trên phản ánh hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh: với một đơn vị tiền tệ đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong năm sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu Hv càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao
- Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh:
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận vốn
kinh doanh
Tổng số vốn kinh doanh bquânChỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn chứng
tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao
c Hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, hiệu quả sử dụng lao động góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong mỗi doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao hay thấp Hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đều phải sử dụng lao động, nhưng việc sử dụng đó sẽ mang lại hiệu quả ra sao thì chúng ta cần đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau: Năng suất lao động, sức sinh lợi của một lao động
- Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của lao động của quá trình sản xuất kinh doanh Phân tích năng suất lao động là việc đánh giá sử dụng tổng hợp các yếu tố hợp thành năng lực sản xuất của người lao động
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Trang 14W = Q
TTrong đó: W : năng suất lao động
Q : số lượng hay giá trị thành phẩm T: tổng số lao động hao phí hay thời gian lao động hao phíChỉ tiêu này cho biết bình quân một lao động trong kỳ kinh doanh sẽ có khả năng đóng góp sức mình vào sản xuất để thu lại bao nhiêu giá trị sản lượng cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng lao động càng hiệu quả
- Sức sinh lợi của một lao động:
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Sức sinh lợi của một
lao động
Tổng số lao độngChỉ tiêu này cho biết bình quân một lao động tham gia vào hoạt động sản xuất trong kỳ kinh doanh làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp các yếu tố sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả thì vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là vấn đề lao động Công tác tuyển dụng được tiến hành nhằm đảm bảo trình độ và tay nghề của người lao động
Có thể nói chất lượng lao động là điều kiện cần để tiến hành hoạt động SXKD và công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành hoạt động SXKD
có hiệu quả cao
Trong quá trình SXKD lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể có những sáng tạo khoa học và có thể áp dụng vào hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả SXKD Lực lượng lao động tạo ra những sản phẩm (dịch vụ) có kiểu dáng và tính năng mới đáp ứng thị hiếu thị trường làm tăng lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ được của doanh nghiệp, tăng doanh thu làm cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh
Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng suất lao động, trình độ sử dụng các nguồn lực khác như vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu nên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động SXKD Ngày nay hàm lượng khoa học kỹ
Trang 15thuật kết tinh trong sản phẩm ngày càng lớn đòi hỏi người lao động phải có một trình độ nhất định để đáp ứng được các yêu cầu đó, điều này phần nào cũng nói lên tầm quan trọng của nhân tố lao động.
Mức độ hài lòng của người lao động là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng lao động hay nói cách khác là ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Nghiên cứu mức độ hài lòng của người lao động là một trong những cách thức hiệu quả nhất đo lường mức độ hài lòng và mức độ cam kết của nhân viên trong Xí nghiệp Thông qua việc nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được thái độ cũng như ý kiến của người lao động để có các giải pháp cho các vấn đề đặt ra Theo Lý thuyết của Abrham Maslow (Nguồn tham khảo: http://tailieu.vn), mức độ hài lòng của người lao động được đánh giá dựa trên 7 yếu tố sau:
1 Đặc điểm cá nhân
2 Mục tiêu kinh doanh
3 Quan hệ làm việc (với cấp trên, với đồng nghiệp)
4 Nội dung công việc
5 Lương, thưởng, trợ cấp xã hội
6 Đào tạo, cơ hội thăng tiến
7 Không khí, điều kiện làm việc
* Mục đích của việc khảo sát mức độ hài lòng của nhân viên nhằm:
- Biết được nhu cầu của nhân viên để áp dụng chính sách nhân sự phù hợp
- Biết được quan điểm của nhân viên về các hoạt động trong Công ty
- Đánh giá các yếu tố quyết định đến sự gắn bó của nhân viên
- Cải thiện các vấn đề tồn tại của Công ty trong hoạt động, chính sách nhân
sự, quan hệ lao động
Từ đó biết được thực trạng cũng như những vấn đề còn tồn tại của Doanh nghiệp
để có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong thời gian tới
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 16Ngày nay, xây dựng là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh chóng Mức tăng trưởng của ngành xây dựng được thống kê luôn cao hơn mức tăng trung bình của ngành kinh tế Chính vì thế, hiệu quả SXKD ngành xây dựng là một trong những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của chính doanh nghiệp SXKD mà là vấn đề cấp thiết của đất nước, của xã hội vì nó có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của đất nước
Nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành xây dựng trong giai đoạn mới là nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Tại địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm vừa qua, hiệu quả kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng đã có nhiều bước phát triển mới, các công trình xây dựng, thiết bị ngày càng hiện đại đảm bảo sản xuất kinh doanh ổn định lâu dài Tuy nhiên, những dự
án hạ tầng và xây dựng quy mô lớn vẫn do một số ít các doanh nghiệp nhà nước lớn có khả năng tài chính kỹ thuật thực hiện đóng vai trò chủ lực Trong những năm qua, do thị trường thế giới có nhiều biến động cùng với suy thoái kinh tế cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh ngành xây dựng công trình Giá cả nguyên vật liệu tăng giảm bất thường là một trong những chi phí chính ảnh hưởng tới chi phí xây dựng công trình Do vậy, hiệu quả kinh doanh các năm qua cũng không cao
Nhìn chung, ngành xây dựng công trình ở Quảng Bình cũng như ở Việt Nam đã bộc lộ những mặt mạnh và hạn chế, cụ thể là:
Mặt mạnh của ngành: Hiện nay các ngành xây dựng phát triển khá mạnh mẽ, về nhân sự cũng như vốn đầu tư, trình độ của các công ty, chính vì điều này mà đã cho ra được các công trình thế kỷ, ngày càng có nhiều các kỹ sư giỏi đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng
Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh như vậy thì ngành xây dựng còn gặp phải một số các khó khăn cơ bản sau:
Trang 17+ Thứ nhất nguồn nhân lực có thể nói là đầy đủ nhưng hầu hết là những lao động phổ thông chưa được đào tạo về xây dựng chưa có trình độ chuyên môn nên hàng năm tai nạn nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng chiếm tỷ trọng rất lớn cũng như năng suất lao động chưa cao
+ Thứ hai cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu của ngành mới chỉ ở mức sơ khai nên còn thô sơ, lạc hậu do đó chưa đáp ứng được nhu cầu ở mức cao của khách hàng
+ Khi Việt Nam ra nhập WTO thì ngày càng có các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ có cơ sở vật chất hiện đại, nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu có kỹ năng tay nghề nên đã khiến cho các tập đoàn xây dựng của chúng ta phải cạnh tranh gay gắt
Trước những thực trạng nêu trên thì chúng ta có thể thấy được ngành xây dựng ở tỉnh Quảng Bình còn nhiều bất cập nên cần phải cố gắng hơn nữa để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói riêng cũng như chất lượng công trình nói chung, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và thế giới
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG COSEVCO 61
2.1 Giới thiệu tổng quan về xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61
Trang 18thành của Công ty cổ phần COSEVCO 6 Xí nghiệp Xây dựng COSEVCO 61 là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập tự chủ về tài chính và có tư cách pháp nhân và có tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Quảng Bình.
Trụ sở cố định tại: Tiểu khu 14- Phường Bắc Lý- Thành phố Đồng Hới- Tỉnh Quảng Bình
Điện thoại: 0522.211.687
Tháng 4 năm 1998, thực hiện quyết định số 71/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Bình, sáp nhập 4 công ty là Công ty xi măng Áng Sơn, Công ty xây lắp I, Công ty xây lắp II và Công ty gạch ngói 1-5 thành Công ty xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Quảng Bình, các Công ty trở thành các Xí nghiệp trực thuộc trong đó Công ty xây lắp I trở thành Xí nghiệp xây dựng số 1
Tại quyết định 289/QĐ- BXD ngày 11 tháng 3 năm 2002 của Bộ xây dựng về việc tiếp nhận Công ty XD&VLXD Quảng Bình làm doanh nghiệp thành viên của Tổng Công ty Xây dựng Miền Trung và đổi tên doanh nghiệp thành Công ty XD&SXVLXD COSEVCO 6 Xí nghiệp xây dựng số 1 đổi tên thành Xí nghiệp COSEVCO 61
Quyết định số 2120/QĐ-BXD ngày 15 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ xây dựng về việc điều chỉnh phương án cổ phần hoá và chuyển Công ty XD&SXVLXD COSEVCO 6 thuộc Tổng Công ty Xây dựng Miền Trung thành Công ty cổ phần và đổi tên doanh nghiệp thành Công ty cổ phần COSEVCO 6 Theo quyết định số 09/QĐ-HĐQT của hội đồng quản trị Công ty COSEVCO 6, thực hiện sáp nhập Xí nghiệp COSEVCO 61 và Xí nghiệp COSEVCO 62 và đổi tên thành Xí nghiệp Xây dựng COSEVCO 61 trực thuộc Công ty cổ phần COSEVCO 6
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh với năng lực hiện có của mình, xí nghiệp COSEVCO 61 đã tham gia thực hiện thi công xây dựng nhiều công trình lớn như Công trình nhà máy xi măng Sông Gianh, công trình thuỷ điện Bản Vẽ, Nhà máy xi măng Áng Sơn Các công trình hoàn thành chất lượng cao như: Trụ sở Viện kiểm soát, trụ sở tỉnh Đoàn Quảng Bình, Khách sạn Phong Nha, nền đường quốc lộ 1A đoạn Hồng Thuỷ, nhà máy gạch Tuynel Phú Thuỷ
Trang 19Ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Xí nghiệp còn mở rộng thị trường kinh doanh ra các tỉnh khác như: Nghệ An, Ninh Thuận
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
2.1.2.1 Chức năng
Xí nghiệp có chức năng thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, sân bay bến cảng, đường dây và trạm biến thế điện, công trình kỷ thuật hạ tầng đô thị, khu công nghiệp; gia công lắp đặt máy móc, thiết bị, kết cấu kim loại phục vụ xây dựng
Xí nghiệp luôn thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước, Công ty, của các ngành trong lĩnh vực xây dựng góp phần nhỏ vào ngân sách Nhà nước, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, bảo toàn và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn kinh doanh
2.1.2.2 Nhiệm vụ
- Thực hiện hạch toán kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm sử dụng hợp
lý lao động, tài sản, vật tư, tiền vốn đảm bảo hiệu quả cao trong kinh doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Công ty và Nhà nước
- Nghiêm chỉnh chấp hành điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty cũng như các chính sách chế độ của Pháp luật Nhà nước Thực hiện đầy đủ các hợp đồng kinh tế xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật để tăng năng lực, mở rộng mạng lưới kinh doanh, nghiên cứu áp dụng tiến bộ công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả bảo vệ môi trường
- Đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên đáp ứng thực hiện nhu cầu sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp và Công ty, thực hiện đầy đủ chính sách chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội và bảo hộ lao động với công nhân viên chức
- Sử dụng năng lực máy móc thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật và lực lượng lao động một cách hợp lý để tổ chức tốt hoạt động sản xuất, dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61
2.1.3.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
a Đặc điểm chung
Trang 20Cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp được hình thành theo kiểu trực tuyến chức năng, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ của ban lãnh đạo Xí nghiệp với các bộ phận phòng ban chức năng đảm bảo thuận lợi, đưa lại hiệu quả cao trong công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp
Sơ đồ : Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Xí nghiệp COSEVCO 61
Ghi chú: : Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
: Quan hệ hỗ trợ
b Chức năng của các bộ phận
- Giám đốc Xí nghiệp: là người đại diện của Xí nghiệp trước Đảng và Nhà nước, trước Công ty Giám đốc có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo thực hiện thắng lợi các kế hoạch của Công ty giao Giám đốc Xí nghiệp có quyền sử dụng và bồi dưỡng cán bộ, có quyền quyết định việc điều hành hoạt động của Xí nghiệp theo đúng chính sách pháp
luật của Nhà nước, đúng với điều lệ, quy định của Công ty
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Các đội, tổ sản xuất,xây lắp trực tiếpPHÒNG
Trang 21- Phó giám đốc Xí nghiệp: là người hỗ trợ tham mưu cho Giám đốc Xí nghiệp về công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp, chịu trách
nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền
+ Quản lý khuôn dấu, tiếp nhận, chuyển giao, lưu trữ công văn tài liệu
- Phòng kế hoạch - kỹ thuật:
+ Thực hiện công tác đấu thầu, nhận thầu…
+ Kiểm tra hồ sơ dự thầu, tham mưu cho Giám đốc Xí nghiệp quyết định giá đấu thầu
+ Quản lý kỹ thuật thi công xây lắp, kiểm tra các biện pháp kỹ thuật thi công đối với từng công trình
+ Tham mưu cho Giám đốc Xí nghiệp về hệ thống quản lý chất lượng nguyên vật liệu đưa vào thi công công trình, quản lý chất lượng công trình
- Phòng Kế toán:
+ Tham mưu cho Giám đốc Xí nghiệp về lĩnh vực tài chính, kế toán
+ Thực hiện hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại Xí nghiệp, định kỳ lập báo cáo gửi lên Phòng Kế toán - tài chính của Công ty
+ Tham mưu cho Giám đốc Xí nghiệp trong công tác quản lý, bảo toán, sử dụng
và điều tiết nguồn vốn
- Các đội, tổ sản xuất xây lắp trực tiếp: thực hiện thi công các công trình, hạng mục công trình do Xí nghiệp đấu thầu hoặc do Công ty giao cho Xí nghiệp
2.1.3.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
Trang 22Xí nghiệp có thể tự đấu thầu hoặc nhận công trình do Công ty đấu thầu Đối với các công trình do Xí nghiệp tự đấu thầu thì sau khi đã trúng thầu, Xí nghiệp ký kết hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư (bên A) Đối với các công trình do Công ty đấu thầu, thì sau khi Công ty đã ký kết hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư, Công ty sẽ giao xuống cho
Xí nghiệp thi công
Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, Xí nghiệp tổ chức quá trình thi công để tạo ra sản phẩm (công trình hoặc hạng mục công trình) Bao gồm:
+ San nền giải quyết mặt bằng thi công
+ Tổ chức lao động, bố trí máy móc thiết bị thi công, tổ chức cung ứng vật liệu.+ Xây, trát, trang trí, hoàn thiện công trình
Khi công trình hoàn thành, Xí nghiệp thanh quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư, thực hiện các nghĩa vụ đối với Công ty
2.1.4 Các yếu tố nguồn lực của Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61
2.1.4.1 Tình hình lao động của Xí nghiệp
Hiện nay, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, Xí nghiệp đã không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, số lượng lao động trong Xí nghiệp cũng tăng lên qua các năm để đáp ứng được nhu cầu thay đổi
Trang 23I Phân theo giới tính
II Phân theo trình độ lao động
Xét về cơ cấu lao động phân theo giới chúng ta thấy, lao động nam luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với lao động nữ và tỷ trọng lao động nữ so với nam cũng có xu hướng giảm dần qua các năm nhưng số lượng không đáng quan tâm Đối với doanh nghiệp xây dựng thì đây là một điều đương nhiên vì do đặc thù kinh doanh của nó
Xét về trình độ lao động, qua 3 năm trình độ lao động của Xí nghiệp ngày càng tăng Khoa học càng ngày càng phát triển cũng kéo theo sự đòi hỏi về tay nghề cũng như trình độ của người lao động để có thể sử dụng máy móc thành thạo, đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của nhà đầu tư, cải tạo lao động theo chiếu sâu So với năm 2007 thì trình độ của người lao động năm 2008 ở tất cả các bậc đều được nâng cao, đặc biệt là công nhân
kỹ thuật lành nghề, tăng 20 người tức 16,67%, chỉ có lao động phổ thông giảm 3 người 2,19% Đây cũng là một điều đáng mừng cho Xí nghiệp vì trình độ tay nghề càng cao, chất lượng lao động được cải thiện thì năng suất lao động cũng như hiệu quả sử dụng lao động sẽ tăng lên Đến năm 2009 thì khác, nhận thấy cơ cấu lao động về trình độ đã
ổn nên Xí nghiệp cũng không có nhiều thay đổi lớn Số lượng lao động ở các trình độ có
Trang 24sự tăng giảm không đáng kể so với năm 2008, tăng giảm trong khoảng từ 2-7% Vì vậy,
để có thể nâng cao năng suất lao động, Xí nghiệp cần tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo lại trình độ lao động của mình
Qua 3 năm, số lượng lao động của Xí nghiệp cũng có sự chuyển biến về mặt chất cũng như mặt lượng Tuy nhiên, Xí nghiệp cần quan tâm hơn nữa đến công tác tuyển dụng và cơ cầu lao động hợp lý hơn nữa vì lao động là đối tượng trực tiếp tạo ra sản phẩm, quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp để đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của thị trường cũng như nhà đầu tư
2.1.4.2 Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Xí nghiệp
Nguồn vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng của Xí nghiệp Vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và mọi vấn đề trong SXKD của Doanh nghiệp Đảm bảo được nguồn vốn ổn định đáp ứng được đòi hỏi của công tác SXKD là mục tiêu mà các doanh nghiệp luôn luôn hướng tới
Bảng 2: Tình hình nguồn vốn của Xí nghiệp từ năm 2007-2009
* Xét theo nguồn hình thành
Trang 25Nhìn chung qua 3 năm nguồn vốn cổ phần đều có sự tăng trưởng đặc biệt năm
2008 so với năm 2007 tăng 47,21% và tỷ lệ tăng ở năm 2009 so với năm 2008 là 33,77% nhưng có thể thấy được khả năng tự chủ về tài chính của Xí nghiệp ngày càng vững chắc
Về vốn vay có sự tăng lên vào các năm nguyên do là năm này Xí nghiệp trúng thầu thêm nhiều công trình nên cần thêm nguồn vốn đầu tư nên số lượng vốn vay tăng lên cũng là điều dĩ nhiên
* Xét theo đặc điểm nguồn vốn:
Qua bảng số liệu ta thấy được cả VCĐ và VLĐ đều tăng lên mặc dù số lượng tăng từng năm có sự biến động khác nhau VLĐ chiếm tỷ lệ lớn hơn VCĐ Cụ thể năm 2007 tỷ trọng VCĐ là 30%, VLĐ là 70% trong tổng số vốn Sang năm 2008 tỷ
lệ này là VCĐ : 32% ; VLĐ : 68% và năm 2009 là VCĐ : 33% ; VLĐ: 67% Như vậy
có sự biến động ở cả VCĐ và VLĐ do Xí nghiệp đã trúng thầu thêm nhiều công trình xây lắp, đồng thời để nâng cao năng suất lao động Xí nghiệp đã đầu tư mua sắm mới một loạt thiết bị công nghệ hiện đại áp dụng vào sản xuất làm cho tỷ trọng VCĐ tăng lên Đây cũng là dấu hiệu thể hiện sự đổi mới trong đầu tư tư duy sản xuất và thể hiện bước phát triển đi lên của Xí nghiệp
Qua đây ta thấy được tình hình tài chính của Xí nghiệp ngày càng có chiều hướng phát triển tốt, khả năng tự chủ về tài chính ngày càng được đảm bảo, một dấu hiệu tốt trong bước phát triển đi lên của Xí nghiệp
2.1.5 Kết quả hoạt động SXKD của Xí nghiệp trong 3 năm 2007-2009
Kết quả hoạt động SXKD là một trong những chỉ tiêu đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp Qua kết quả đó ta thấy được doanh nghiệp đang ăn nên làm ra hay đang gặp khó khăn Sau một quá trình kinh doanh doanh nghiệp cần đánh giá lại những kết quả mà mình thu được để có những phương án kinh doanh thích hợp để đạt kết quả cao cho chu kỳ kinh doanh tới Sau mỗi năm kinh doanh Xí nghiệp xây dựng COSVCO
61 luôn tổng hợp đánh giá lại kết quả đã đạt được để từ đó khắc phục những tồn tại đồng thời phát huy những ưu điểm của Xí nghiệp
Đánh giá kết quả hoạt động SXKD của Xí nghiệp ta đánh giá qua các chỉ tiêu về kết quả gồm: tổng doanh thu, tổng chi phí, tổng lợi nhuận
Trang 26Bảng 3: Kết quả kinh doanh của Xí nghiệp qua 3 năm 2007-2009
số 31.814 triệu đồng Doanh thu tăng cũng có nghĩa quy mô hoạt động của Xí nghiệp ngày càng lớn mạnh đây chính là thành tích đáng ghi nhận của Xí nghiệp trong hoạt động SXKD
* Về chi phí:
Ta thấy tổng chi phí qua 3 năm đều tăng Cụ thể năm 2007 tổng chi phí là 15.621 triệu đồng thì sang 2008 đã tăng 43,9% với tổng chi phí tổng chi phí là 22.478 triệu đồng Năm 2009 tổng chi phí tiếp tục tăng thêm 39,96% và ở mức 31.460 triệu đồng Nguyên nhân chi phí của Xí nghiệp qua các năm đều tăng do Xí nghiệp mở rộng SXKD thầu thêm nhiều hợp đồng có giá trị làm chi phí tăng, một phần nữa là do tình trạng lạm phát quá cao ở nước ta làm cho giá nguyên vật liệu liên tục tăng lên trong thời gian gần đây nên phát sinh thêm nhiều chi phí Điều này có tác động tiêu cực đến kết quả hoạt động SXKD của Xí nghiệp
Trang 27thuế là -1.031 triệu đồng do tốc độ tăng của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu nên lợi nhuận trước thuế tăng âm Đây là có thể coi là tồn tại chủ quan của Xí nghiệp Nhưng đến năm 2008 dù chi phí cũng tăng nhanh do Xí nghiệp mở rộng quy
mô đấu thầu dự án nhưng doanh thu cũng tăng nhanh nên lợi nhuận đã tăng theo Cụ thể, năm 2008 lợi nhuận đạt 74 triệu đồng và năm 2009 là 354 triệu đồng, tăng thêm
280 triệu đồng so với năm 2008 Đây có thể coi là thành tích đáng mừng của Xí nghiệu trong việc nâng cao hiệu quả SXKD
Tóm lại, qua 3 năm thực hiện hoạt động SXKD Xí nghiệp Xây dựng COSEVCO
61 đã gặt hái được nhiều kết quả đáng ghi nhận, Xí nghiệp đã nỗ lực không ngừng mở rộng SXKD doanh thu đạt được ngày càng lớn tạo ra được uy tín cũng như khẳng định được mình trong sự phát triển Nhưng bên cạnh đó Xí nghiệp cần có các biện pháp để tối thiểu hóa chi phí, các biện pháp đối phó với tình hình thị trường giá cả nguyên vật liệu biến động hiện nay để đảm bảo ổn định SXKD, chú ý hơn nữa đến các nguyên nhân làm giảm lợi nhuận để có biện pháp tốt hơn nhằm đem lại lợi nhuận cao trong thời gian tới
2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động SXKD của Xí nghiệp xây dựng COSEVCO
61 trong 3 năm 2007-2009
2.2.1 Phân tích môi trường kinh doanh của Xí nghiệp
Môi trường kinh doanh là tổng thể các tác nhân các điều kiện các định chế có liên quan và tác động qua lại đến hoạt động của doanh nghiệp, nó có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động tồn tại và phát triển của Xí nghiệp Môi trường kinh doanh biến động hằng ngày không tuân theo một quy luật tiêu chuẩn nào nên có thể đem lại những cơ hội lớn đồng thời nhiều khi gây ra khó khăn cho doanh nghiệp Phân tích môi trường kinh doanh giúp cho doanh nghiệp thấy được mình đang đứng trước những
cơ hội hay thách thức gì để từ đó có các chiến lược kinh doanh phù hợp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp gồm môi trường vi mô và môi trường vĩ mô nhưng tôi chỉ đi sâu xem xét những yếu tố tác động sâu sắc đến nhất của môi trường vi mô (môi trường cạnh tranh) vì đối với Doanh nghiệp xây dựng
Trang 28như Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61 thì chịu sự ảnh hưởng lớn về môi trường vi
mô là chủ yếu, môi trường vĩ mô cũng có ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp nhưng Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61 là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp công trình xây dựng nên thường chịu sự tác động trực tiếp của môi trường vi mô Cụ thể là các nhân tố như khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp… là ba nhân tố chính ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh doanh trong việc tìm kiếm thị trường, bạn hàng cũng như nhà cung ứng
2.2.1.1 Khách hàng
Khách hàng là một trong những nhân tố quan trọng và trở thành một trong những áp lực lớn của doanh nghiệp xây dựng Khách hàng của doanh nghiệp xây dựng là chủ đầu tư, việc lựa chọn doanh nghiệp xây dựng của chủ đầu tư thông qua đấu thầu Thắng thầu là mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp xây dựng, để thắng thầu doanh nghiệp phải có chiến lược, kế hoạch đấu thầu đúng đắn
Khách hàng của Xí nghiệp có thể phân thành khách hàng trong tỉnh và khách hàng ngoài tỉnh
- Khách hàng trong tỉnh của công ty các sở ban ngành như: Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Điện lực, Sở Xây dựng, Ngân hàng, Viện kiểm sát,…
- Khách hàng ngoài tỉnh bao gồm các ban quản lý dự án như: Ban quản lý đầu tư xây dựng Tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Thuận…và một số ban quản lý khác nằm rải rác ở một vài tỉnh lân cận
2.2.1.2 Đối thủ cạnh tranh
Trong ngành xây dựng, các đối thủ cạnh tranh là những nhà thầu xây dựng Vì các chủ đầu tư mong muốn chọn được những doanh nghiệp xây dựng thoả mãn tốt nhất các yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật, giá cả, điều kiện thanh toán và thời gian xây dựng nên các doanh nghiệp xây dựng luôn đối mặt và cạnh tranh nhau về công nghệ, kỹ thuật thi công xây dựng, về giá cả và điều kiện thanh toán cũng như đảm bảo về thời gian xây dựng.
Trang 29Nhận biết đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Xí nghiệp vì
nó quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành Nắm bắt được đối thủ Xí nghiệp sẽ biết được thế mạnh cũng như những hạn chế của mình để giành được cơ hội trên thị trường Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều công ty xây dựng hoạt động cạnh tranh với Xí nghiệp, đặc biệt là hai công ty cạnh tranh mạnh mẽ nhất đó là: Công ty TNHH xây dựng Tiến Phát, Công ty xây dựng Tổng hợp Quảng Bình … So với các đối thủ cạnh tranh thì là Xí nghiệp xây dựng COSEVCO 61 là Xí nghiệp xây dựng thuộc công ty nhà nước nên có nhiều lợi thế trong việc được chỉ định thầu cũng như công tác tham gia đấu thầu, đội ngũ nhân viên có trình độ tay nghề giỏi, nhiệt tình với công việc
đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm với nhiều trong công tác quản lý, sản xuất và thi công xây dựng các công trình có quy mô lớn, phức tạp nên công tác thi công chất lượng công trình đảm bảo uy tín, đồng thời Xí nghiệp luôn phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm nên luôn chiếm được vị thế trên thị trường dù đối thủ có điểm mạnh hơn Xí nghiệp là đội ngũ cán bộ với nhiều kỹ sư xây dựng trẻ, năng động, có trình độ học vấn khá cao
Đó chính là người đảm bảo NVL cho hoạt động của xí nghiệp luôn được đầy đủ và kịp thời cho sản xuất, thi công Đối với một doanh nghiệp xây dựng thì điều quan trọng nhất
là quản lý vật tư Sự biến động của vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị, chất lượng vật liệu đều ảnh hưởng tới chi phí xây dựng công trình mà doanh nghiệp xây dựng luôn phải tính đến Những trục trặc trong việc cung ứng vật tư và máy móc thiết bị sẽ dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho doanh nghiệp xây dựng Chính vì thế áp lực của nhà cung ứng khá cao
Trang 30- Nhà cung cấp tài chính của Xí nghiệp chính là ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và một vài cơ quan đơn vị khác Nhìn chung tỷ lệ vốn vay của Xí nghiệp khá lớn nhưng Xí nghiệp là doanh nghiệp nhà nước nên luôn luôn có được lãi suất tương đối thấp từ các nhà cung cấp nên vẫn đảm bảo sự phát triển cho Xí nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp được phản ánh qua một số chỉ tiêu nhất định sau:
2.2.2 Hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp qua 3 năm 2007-2009
2.2.2.1 Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân tài – vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao trong sản xuất kinh doanh Kinh doanh với chi phí thấp nhất và chính là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh trước hết là một đại lượng so sánh, so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào, giữa chi phí kinh doanh và kết quả thu được Mục đích cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của DN chính là thu được lợi nhuận Đây chính là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế Lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp tình hình tài chính của doanh nghiệp, thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận ngày càng cao là điều kiện đảm bảo tài chính vững chắc cho công ty, đồng thời nó còn là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng tái sản xuất Hiệu quả SXKD theo lợi nhuận chính là xem xét các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu, theo chi phí, theo nguồn vốn
a Đánh giá hiệu quả kinh doanh theo tỷ suất lợi nhuận doanh thu
Bảng 4: Hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp qua 3 năm 2007-2009
Trang 31Xí nghiệp kinh doanh ngày càng hiệu quả.
b Đánh giá hiệu quả kinh doanh theo tỷ suất lợi nhuận chi phí
Bảng 5: Hiệu quả chi phí của Xí nghiệp qua 3 năm 2007-2009
Qua bảng phân tích trên chúng ta thấy được, năm 2007 tổng lợi nhuận trước thuế
đã bị lỗ rất lớn (lỗ 1031 triệu đồng), vì vậy có thể đánh giá rằng năm 2007 Xí nghiệp đã
sử dụng chi phí không hiệu quả, không tạo ra được kết quả như mong đợi Đến năm
2008, tổng chi phí tăng lên đáng kể, tăng 6.857 triệu đồng tức tăng 43,9 % so với năm
2007 là do sự tăng lên của tất cả các chi phí của các hoạt động của Xí nghiệp Cụ thể, chi phí hoạt động kinh doanh năm 2008 đã tăng lên 6.503 triệu đồng, tức tăng 44,5 %, chi phí hoạt động tài chính ( tức chi phí lãi vay) cũng tăng lên gần một nửa tức 410 triệu
Trang 32đồng là do Xí nghiệp phải vay vốn Ngân hàng để huy động vốn đáp ứng một cách kịp thời chi phí cho các hoạt động của mình Tuy vậy, lợi nhuận của Xí nghiệp không vì thế
mà giảm xuống, ngược lại nó đã tăng lên một cách đáng nể Do đó, tỷ suất lợi nhuận chi phí năm 2008 đã đạt con số 0,329 tức là có lãi Cụ thể là cứ một triệu đồng chi phí bỏ ra thì thu về được 3.290 đồng lợi nhuận Mặc dù tỷ số này chưa cao nhưng cũng cho thấy được sự nổ lực, phấn đấu lớn của Xí nghiệp trong năm 2008
Năm 2009 so với năm 2008, dù Xí nghiệp đã có những biện pháp cải tiến nhằm giảm tối đa chi phí nhưng do nhiều yếu tố như giá cả thị trường biến động, quy mô công trình cũng lớn hơn…nên tổng chi phí cũng tăng lên nhiều so với năm 2007 Tổng chi phí tăng 8.982 triệu đồng chủ yếu là chi phí hoạt động kinh doanh tăng thêm 8.351 triệu đồng và chi phí hoạt động tài chính cũng tăng 614 triệu đồng Nguyên nhân dẫn đến chi phí tăng cao so với năm 2008 sở dĩ là do năm 2009 Xí nghiệp nhận được nhiều công trình lớn như Công trình trụ sở Viện Kiểm sát, trụ sở tỉnh đoàn Quảng Bình, Công trình Nhà máy Xi măng Áng Sơn… nên đòi hỏi một nguồn vốn lớn, Xí nghiệp huy động vốn trong nội bộ không đủ phải buộc vay vốn thêm từ Ngân hàng và phải trả tiền lãi vay lớn Chi phí tăng do quy mô SXKD mở rộng kéo theo doanh thu, lợi nhuận của Xí nghiệp tăng lên nên tỷ suất lợi nhuận chi phí tăng 0,796 hay tăng gần 241,94 % Do đó, có thể thấy chi phí tăng nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến doanh thu lợi nhuận của Xí nghiệp mà ngược lại nó cho thấy hiệu quả kinh doanh có những dấu hiệu tiến triển rất khả quan
Tóm lại, qua 3 năm 2007-2009, nhờ sự quản lý có năng lực và công tác quản lý chi phí sản xuất khá tốt nên tỷ suất lợi nhuận chi phí tăng lên Mặc dù chi phí tăng nhưng lợi nhuận tăng lên một cách nhanh chóng, tỷ suất lợi nhuận chi phí vì thế cũng có chiều hướng tăng theo Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp nhìn chung cũng tạm ổn mặc dù chưa cao so với bình quân chung của ngành
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn
Vốn là một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu được của mọi ngành sản xuất vật chất, nó có vai trò quan trọng quyết định đến việc ra đời, hoạt động, phát triển
và phá sản của doanh nghiệp Khi đã huy động được đủ nguồn vốn để SXKD thì vấn cơ
Trang 33bản là sử dụng nguồn vốn đó như thế nào để đạt được hiệu quả tối đa Phát triển và bảo toàn vốn là một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình quản lý doanh nghiệp Đảm bảo được nguồn vốn ổn định đáp ứng được đòi hỏi của công tác SXKD là mục tiêu
mà các doanh nghiệp luôn luôn hướng tới Sử dụng hiệu quả VCĐ sẽ tiết kiệm được vốn đầu tư, giảm giá thành sản phẩm nâng cao sự cạnh tranh của công ty trên thương trường
Vì vậy, phân tích hiệu quả sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp sẽ đánh giá được chất lượng quản lý sản xuất và sử dụng hiệu quả vốn đưa vào SXKD nói chung, vạch ra các khả năng tiềm tàng để tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh Sử dụng hiệu quả VCĐ sẽ tiết kiệm được vốn đầu tư, giảm giá thành sản phẩm nâng cao sự cạnh tranh của công ty trên thương trường
Nhìn vào bảng phân tích trên cho thấy hiệu quả sử dụng vốn qua 3 năm có những thay đổi đáng kể và có chiều hướng tăng lên qua các năm Năm 2008 so với
2007, hiệu quả sử dụng vốn đã tăng lên 0,1 tương ứng tăng 13,39% Nguyên nhân chính là do Xí nghiệp đã mở rộng quy mô sản xuất xây dựng công trình nên Xí
Trang 34nghiệp đã mạnh dạn huy động thêm từ nguồn vốn đi vay và nhờ chính sách quản lý phân bổ hợp lý cơ cấu vốn nên doanh thu của Xí nghiệp đã tăng lên rất nhiều Cụ thể
là doanh thu năm 2008 đã tăng thêm 7.962 triệu đồng, tương ứng tăng 54,57% so với năm 2007 Đến năm 2009 cũng như thế, hiệu quả sử dụng vốn lại tăng lên, tăng 0,09
Dù không tăng nhiều so với năm 2008 nhưng cũng cho thấy được sự nổ lực phấn đấu hết mình của Xí nghiệp Nhìn chung qua 3 năm Xí nghiệp đã có nhiều đầu tư mới về máy móc thiết bị, góp phần tăng năng lực sản xuất, tạo tiền đề tăng doanh thu, đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao So với mặt bằng chung thì hiệu quả sử dụng vốn của Xí nghiệp chưa cao Tuy nhiên, do đặc trưng của lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp, khi thi công các công trình, Xí nghiệp phải ứng vốn vào quá trình xây dựng và mua vật liệu, máy móc Vì vậy, khi chưa bàn giao hết công trình
mà Xí nghiệp nhận trong năm vừa qua thì doanh thu đạt được là không cao, trong khi vốn đầu tư ban đầu lại khá cao Chính vì vậy, nếu kết luận Xí nghiệp sử dụng vốn chưa hiệu quả là chưa chính xác, cần xem xét số lượng các công trình trong năm vừa qua còn tồn đọng hay không Từ đó để có được các giải pháp để nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của Xí nghiệp trong thời gian tới
Để thấy rõ hơn tình hình quyết toán, số lượng công trình tồn đọng của Xí nghiệp chúng ta xem 2 bảng tổng hợp công trình đã bàn giao và chưa bàn giao sau:
Bảng tổng hợp công trình chính đã bàn giao tính đến thời điểm 31/12/2009
Trang 357 KDNV CT kho đồng nhất đá vôi Áng Sơn
(Nguồn: Phòng kế toán)
Bảng tổng hợp công trình đang thực hiện từ năm 2009 nhưng chưa bàn giao
(Nguồn: Phòng kế toán)
Nhìn vào 2 bảng tổng hợp các công trình đầu tư đã bàn giao và chưa bàn giao trên của Xí nghiệp tại thời điểm 31/12/2009 chúng ta cũng thấy được Xí nghiệp có 3 công trình dở dang lớn chưa bàn giao, quyết toán được Do đó điều tất nhiên là doanh thu năm 2009 sẽ bị ảnh hưởng, hiệu quả sử dụng vốn sẽ chưa cao Do đó, Ban lãnh đạo Công ty và Xí nghiệp cần có những chính sách, biện pháp hỗ trợ giúp Xí nghiệp thi công công trình một cách nhanh nhất có thể để quay nhanh vòng vốn đầu tư, quyết toán được doanh thu vào cuối năm để có thể biết được chính xác tình hình SXKD trong năm vừa qua để có được những biện pháp điều chỉnh kịp thời
Bảng 7: Mức doanh lợi theo vốn kinh doanh của Xí nghiệp giai đoạn 2007-2009