1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bai thi tinh huu nghi VNLao LaoVN

16 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 24,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn lại suốt chặng đường phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Lào, từ thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc, đến xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế, đi lên chủ nghĩa xã hội, lại càn[r]

Trang 1

BÀI DỰ THI:

TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM

Họ và tên: Khương Thị Thúy Hằng

Đơn vị công tác: Trường THCS Minh Tân

Câu1 Những nhân tô hình thành, quyêt định môi quan hệ hữu nghị đặc biêt Viêt Nam-Lào, Lào-Viêt Nam

- Các điều kiện tự nhiên, địa-chiến lược, địa-quân sự: Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển Lào giáp với Việt Nam ở phía Đông với đường biên giới dài 2069 km, Địa thể đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m Diện tích còn lại là bình nguyên và cao nguyên Sông Mê Kông chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi

đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông giáp với Việt Nam

- Các nhân tố dân cư, xã hội, văn hóa và lịch sử Trong Thế chiến thứ hai, người Nhật chiếm Đông Dương Khi Nhật đầu hàng, những người quốc gia Lào tuyên bố độc lập, nhưng tới đầu năm 1946, quân Pháp tái chiếm nước này và chỉ trao cho họ một số quyền tự trị hạn chế Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Đảng cộng sản Đông Dương đã lập ra tổ chức kháng chiến Pathet Lào nhằm giành độc lập cho Lào Lào hoàn toàn độc lập sau khi Pháp bị những người cộng sản Việt Nam đánh bại và sau Hội nghị Genève năm 1954.Từ năm 1955 đến năm 1975, Vương quốc Lào lệ thuộc mạnh mẽ vào Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống cộng sản tại Đông Dương, tình hình đod đã lôi kéo Lào vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, là yếu tố dẫn đến nội chiến Lào và xảy ra một vài cuộc đảo chính Thi hành Nghị quyết đại hội II của Đảng cộng sản Đông Dương (2/1951), ngày 22/3/1955, Đại hội thành lập Đảng nhân dân Lào khai mạc tại một khu rừng thuộc tỉnh Hưa Phen ( Sầm Nưa) Đảng nhân dân Lào lấy kim chỉ nam cho hành động, xác định kẻ thù của cách mạng Lào là Đế quốc Mỹ, phái thực dân phá hoại hiệp định đình chiến và bè lũ tay sai của chúng.đảng

đề ra nhiện vụ chiến lược trong giai đoạn mới là: “ đoàn kết lãnh đạo toàn dân, phấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện một nước Lào hoà bình độc lập,dân chủ , thống nhất và thịnh vượng”Từ năm 1968, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã hỗ trợ các đơn vị tham chiến cùng quân Pathét chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ Sức mạnh tổng hợp của cách mạng Lào trong khối liên minh đoàn kết chiến đấu với các nước Đông Dương đã dồn đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào vào thế bị động, khốn quẩn chưa từng thấy Mỹ thấy không thắng được Pathét Lào bằng sức mạnh quân sự do đó phải chấp nhận phương sách “hoà hoãn” với các lực lượng cách mạng Lào Một thời gian ngắn sau Hiệp định hoà bình Paris dẫn tới sự rút quân của Mỹ khỏi Việt Nam, một cuộc ngừng bắn diễn ra giữa Pathet Lào và chính phủ dẫn tới việc thành lập một chính phủ liên minh mới Tuy nhiên, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà không thực sự rút quân khỏi Lào và Pathet Lào vẫn là một đội quân phụ thuộc vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975,

Trang 2

Pathet Lào với sự hỗ trợ của Việt Nam đã có thể chiếm toàn bộ quyền lực mà chỉ gặp phải một sự chống đối ít ỏi Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nhà vua buộc phải thoái vị và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào được thành lập

- Sự phối hợp tự nguyện của nhân dân hai nước trong truyền thống chống giặc ngoại xâm

- Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam được phát triển từ quan hệ truyền thống do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, chủ tịch Xuphannuvông và các thế hệ lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp Cùng với thời gian, mối quan hệ này đã trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt

Câu 2 Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.

- Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào

– Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền

chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự

do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp Một trong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay

Thứ nhất: Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh,

đòan kết gắn bó đánh giặc ngoại xâm

Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đầu năm 1963 vua Lào

Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam Trong buổi

chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được” (1)

Thứ hai: Hợp tác và giúp đỡ nhau, vượt qua khó khăn cùng xây dựng chủ

Trang 3

nghĩa xã hội, hội nhập và phát triển.

Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới Đây là thời

kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thành Đảng cầm quyền ở mỗi nước; cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Tuy nhiên, vào thời điểm này hai nước đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, đặc biệt là hậu quả thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Trong khi đó, các thế lực thù địch trong nước và bên ngoài câu kết, tìm cách chia rẽ Lào với Việt Nam, Việt Nam với Lào gây khó khăn, trở ngại không nhỏ cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào

Câu 3 Vai trò của Chủ tịch Hô Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam

- Thật vậy, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình cách mạng mỗi nước Hồ Chí Minh trở thành người đặt nền móng, đồng thời đã cống hiến không mệt mỏi xây dựng, vun đắp mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của cách mạng Lào hơn nửa thế kỷ qua, là sự khẳng định trên thực tế tính đúng đắn và sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế nói chung và tình đoàn kết hữu nghị thuỷ trung trong quan hệ Việt - Lào nói riêng

Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, với lòng yêu nước nồng nàn và sự nhạy cảm chính trị thông tuệ, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã từng bước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp cận tư tưởng giải phóng của Cách mạng Tháng Mười Nga

vĩ đại Từ thực tế tình hình trong nước cùng với những kinh nghiệm trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng và nghiên cứu lý luận sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Người đưa ra đường lối cứu nước mới mang tính nhân văn cao cả và có ý nghĩa thời đại sâu sắc: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" Trong hoàn cảnh Việt Nam và các nước Đông Dương còn chìm trong đêm tối của chủ nghĩa thực dân và phong kiến, với việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc chẳng những là người có công đầu trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam, mà cũng là người đầu tiên góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Lào, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam và Lào hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn

Trang 4

nhau, mở ra một trang mới trong quan hệ giữa nhân dân hai nước cùng hướng tới mục tiêu chung là giải phóng dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội

Những hoạt động cách mạng không mệt mỏi của Hồ Chí Minh, đặc biệt kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đã tạo ra những chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt trong tiến trình cách mạng của cả Việt Nam và Lào Tại Lào, từ đầu những năm

30, nhiều chi bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập ở Viêngchăn, Pakxế, Thàkhẹt, Savannakhệt, Boneng, Phônchiu Các tổ chức quần chúng như công hội, thanh niên, phụ nữ, hội tương tế ra đời ở các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp Sự lớn mạnh của phong trào cách mạng đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất trong toàn quốc, do đó vào tháng 9/1934, Xứ uỷ Ai Lao của ĐCS Đông Dương được thành lập, đảm nhận sứ mệnh trực tiếp đưa phong trào cách mạng ở Lào tiếp tục tiến lên Dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng thuộc Xứ uỷ Ai Lao, những cuộc đấu tranh lớn của quần chúng xuất hiện, tiêu biểu là hai cuộc đình công lớn của công nhân đầu năm 1936 ở Boneng và Phônchiu chống chế độ hà khắc của giới chủ, đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc Những năm 1937-1938, phong trào đấu tranh lan rộng đến công nhân đồn điền ở Xiêngkhoảng; nông dân ở Thàkhẹt biểu tình chống thuế, tiểu thương ở chợ Viêng Chăn bãi thị,

Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc vấn đề giúp đỡ xây dựng, phát triển lực lượng, phát huy tinh thần độc lập tự chủ của cách mạng Lào, coi đây là một nội dung quan trọng nhất của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào Đúng như đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã viết: "Bác Hồ luôn luôn giáo dục chúng tôi phải nắm vững: Sự nghiệp cách mạng Lào là của nhân dân Lào", phải "nêu cao tinh thần độc lập tự chủ,

tự lực, tự cường" vì có như vậy "cách mạng mới phát triển nhanh chóng, đoàn kết quốc tế mới vững chắc"2 Hồ Chí Minh chủ trương thi hành đúng chính sách dân tộc

tự quyết trong quan hệ Việt - Lào nhằm nêu cao hơn nữa ý thức dân tộc, tạo ra sức mạnh của từng dân tộc để đoàn kết quốc tế có hiệu quả hơn Người nhiều lần nhấn mạnh, để phát huy tinh thần độc lập tự chủ của cách mạng Lào, cần phải tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, phối hợp với những người cách mạng và nhân dân các bộ tộc Lào, từng bước xây dựng và phát triển những nhân tố chủ quan của cách mạng Lào Năm

1941 khi về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam và Đông Dương, Hồ Chí Minh chủ trương thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất riêng, ở Việt Nam sẽ thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), còn ở Lào có thể lấy tên là Ai Lao độc lập đồng minh"3 Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến việc giúp đỡ xây dựng, củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền các cấp, lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng và đặ biệt là chính đảng của giai cấp công nhân Lào Trên cương vị là người sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương thời kỳ trước đây và người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam sau này, Chủ tịch

Hồ Chí Minh được sự tín nhiệm của những người cách mạng và nhân dân các bộ tộc Lào, đã tham gia chỉ đạo quá trình cách mạng giải phóng dân tộc ở Lào Liên tục

Trang 5

trong nhiều thập niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết về cách mạng Lào Đây cũng là một trong những trường hợp hiếm có trong lịch sử Phong trào cộng sản quốc tế, thể hiện tầm vóc lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với cách mạng Đông Dương nói riêng, cách mạng thế giới nói chung; đồng thời là một biểu hiện sống động về mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt - Lào

Việc duy trì, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị Việt - Lào là lợi ích, là đòi hỏi có

ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng hai nước Sự phát triển của quan hệ Việt - Lào trong những năm gần đây càng chứng tỏ trên thực tế tính đúng đắn của nhãn quan chiến lược đối ngoại của ĐCS Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa quan hệ hai nước lên tầm cao toàn diện và hữu nghị đặc biệt

Câu 4 Những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ đặc biệt Viêt Nam-Lào, Lào-Viêt Nam

- Ở Lào, tháng 11 – 1986, Đại hội IV đổi mới của Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp

và thẳng thắn chỉ rõ những khuyết điểm của Đảng trong công tác lãnh đạo Tại Việt Nam, Đại hội VI đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành họp vào tháng

12-1986 cũng tự phê bình nghiêm khắc những sai lầm nghiêm trọng

Kể từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986, mặc dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam vẫn tiếp tục được củng cố, tăng cường và đạt những thành tựu to lớn

Về lĩnh vực chính trị và đối ngoại: Từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai bộ Chính trị đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước

Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 – 7 - 1989 Đây là chuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc

tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa

Quan hệ giữa hai Nhà nước cũng được đẩy mạnh trong thời gian này Hai nước tăng cường trao đổi thông tin và tham khảo ý kiến của nhau về các vấn đề hợp tác khu vực

và quốc tế có liên quan đến quyền lợi của mỗi nước

Hoạt động ngoại giao nhân dân cũng đạt được nhiều thành tích đáng kể Hàng năm, các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có

Trang 6

những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả

Hai bên nhất trí phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt

và liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm cao mới

Ngày 15-2-1992, tại Viêng Chăn, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật thời kỳ 1992 – 1995 và năm 1992

Hơn 30 năm qua, nhất là kể từ sau ngày ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Lào (18-7-1977), bằng quyết tâm chính trị của hai Đảng và quyết tâm điều hành, quản lý của hai Nhà nước, cùng với nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, các địa phương các doanh nghiệp và nhân dân hai nước, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Với những thành quả to lớn đạt được trong giai đoạn 1986 – 2007, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước đang trở thành yếu tố quyết định trong việc củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, tạo tiền đề cho việc tăng cường và mở rộng hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên tầm cao mới

Câu 5 Những kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

- Năm 2012 là năm có ý nghĩa đặc biệt đối với mối quan hệ Việt Nam - Lào, là năm được lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước chọn làm “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam -Lào, Lào - Việt Nam” nhằm thiết thực kỷ niệm hai sự kiện trọng đại là 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (5/9/1962 5/9/2012) và 35 năm Ngày

ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977 18/7/2012)

Mối quan hệ đã được các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và quân dân hai nước dày công vun đắp để không ngừng phát triển và được đúc kết thành mối quan hệ mẫu mực, thủy chung, trong sáng, hiếm có trong quan hệ quốc tế và là tài sản chung vô giá của hai dân tộc Việt - Lào

Cách đây 50 năm, vào ngày 5/9/1962, sau khi Hiệp định Genève về Lào được kí kết, Việt Nam và Lào đã nhất trí thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong sự nghiệp củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự gắn bó khăng khít, sự phối hợp, giúp đỡ vô tư, chí tình, chí nghĩa giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Lào, đã trở thành sức mạnh vô song và là nhân tố quan trọng góp phần đưa cách mạng

Trang 7

hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiến tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975

Trong 35 năm qua, kể từ khi thực hiện Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam -Lào, quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước đã

có nhiều khởi sắc, đi vào chiều sâu với nhiều kết quả khả quan Nhiều văn kiện quan trọng về hợp tác giữa hai nước đã được ký kết Quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các ban, bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức nhân dân và các địa phương của hai nước được nâng lên tầm cao mới, ngày càng đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực, to lớn cho cả hai nước

Việc trao đổi đoàn cấp cao giữa Việt Nam - Lào được tiến hành thường xuyên và có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện để hai bên có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời trao đổi về những vấn đề lí luận và thực tiễn mới đặt ra, về công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền cơ sở…

Đặc biệt, quan hệ đầu tư trực tiếp của Việt Nam và Lào đã có những bước tiến vượt bậc Hiện Việt Nam đang đứng thứ hai trong số các nước đầu tư vào Lào, với hơn 400

dự án được cấp phép và tổng vốn đăng kí gần 5 tỉ USD Các dự án của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực mà Lào có tiềm năng, thế mạnh như: nông, lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, giao thông vận tải, dịch vụ, viễn thông…

Bên cạnh đó, hợp tác giữa Việt Nam và Lào trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh luôn được tăng cường chặt chẽ và hiệu quả, góp phần bảo đảm vững chắc và ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi nước, làm thất bại âm mưu và hành động của các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, chia rẽ quan hệ giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việc xây dựng đường biên giới hai nước thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển được đặc biệt quan tâm Hiện nay, dự án tôn tạo, tăng dày mốc quốc giới đang được triển khai tốt Thực hiện chủ trương tăng cường liên kết kinh tế vùng miền, một số cửa khẩu quốc gia đã được nâng cấp thành cửa khẩu quốc

tế, nhằm tạo thuận lợi cho việc giao thương như Cửa khẩu Lao Bảo - Đen Xa Vẳn (đường 9), Cửa khẩu Cầu Treo - Nậm Phao (đường 8), Cửa khẩu Chalo (đường 12), Cửa khẩu Nậm Cắn (đường 7A), Cửa khẩu Phukưa (Attapư) - Bờ Y

Nhìn lại suốt chặng đường phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Lào, từ thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc, đến xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế, đi lên chủ nghĩa

xã hội, lại càng thấy rõ, từng bước đi lên, từng thắng lợi của cách mạng mỗi nước đều gắn liền với sự phát triển tốt đẹp của mỗi quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, một truyền thống quý báu, một quy luật phát triển, một sức mạnh vô địch, một tài sản chung vô giá của cả hai dân tộc

Trang 8

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn, thách thức, nhưng với quyết tâm và nỗ lực cao nhất của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, chắc chắn rằng, mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào sẽ mãi mãi được gìn giữ, vun đắp đúng như ý nguyện của Chủ tịch Lào Kaysone Phomvihane: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông” và mối quan hệ đó sẽ không ngừng đơm hoa kết trái vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới./

Câu 6 Những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thủy chung, son sắt của hai dân tộc Việt Nam -Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước trong những năm qua

- DS Lê Minh Điểm được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2006), là đại biểu ưu tú, xuất sắc tiêu biểu của ngành y tế giai đoạn 2006-2010, đã

có công đưa Công ty CP Dược phẩm OPC, một đơn vị “ở bên bờ vực của sự phá sản” trong những năm của thập kỷ 80 trở thành một trong những công ty sản xuất thuốc Đông dược hàng đầu Việt Nam, được Nhà nước tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng thời

kỳ đổi mới năm 2000

- Dược sĩ Lê Minh Điểm sinh ngày 1/4/1947 trong một gia đình có truyền thống tham gia cách mạng tại An Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình Lê Minh Điểm trải qua tuổi học sinh phải lao động lam lũ nhưng chăm học, tham gia các hoạt động tập thể Năm

1965, anh được đi du học tại Trung Quốc (TQ), nhưng sau gần 1 năm học tiếng Hoa, anh và các bạn phải quay về nước vì nước bạn có “cách mạng văn hóa”, rồi là sinh viên Trường ĐH Dược khoa trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được kết nạp vào

- DS Lê Minh Điểm tốt nghiệp ĐH Dược năm 1971, đã xung phong đi công tác tại chiến trường miền Nam (đi B) Ngày 23/11/1971, ông lên đường, hành quân bộ sau gần 6 tháng trời đằng đẵng, rất chăm chút sức khỏe nhưng vẫn mắc bệnh sốt rét Tới khu căn cứ Tây Ninh, nhận nhiệm vụ Trưởng khoa Dược C7-BS67, Bệnh viện Y học

cổ truyền, chuyên chữa bệnh cho cán bộ trung, cao cấp của miền Dưới sự chỉ đạo của thầy thuốc lương y Lê Minh Xuân, ông và đồng nghiệp đã chế được nhiều bài thuốc bằng dược liệu trong rừng, mà mỗi viên thuốc làm ra thấm đẫm cả máu và mồ hôi các nhân viên Khoa Dược

- Sau ngày 30/4/1975, ông về tiếp quản và làm việc tại Xí nghiệp (XN) thuốc dân tộc của TP Hồ Chí Minh Đầu năm 1979, Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyết định bổ nhiệm DS

Lê Minh Điểm làm Phó Giám đốc XNDPTW 26 với 7 cơ sở sản xuất trong thành phố, lúc đó ông chưa đầy 32 tuổi, một PGĐ trẻ của một XN Trung ương ngành y tế lúc bấy giờ Thời kỳ đó, ông đã có công giúp XN mở rộng thêm 6.000m2 đất và xây

Trang 9

dựng một ngôi nhà 5 tầng làm phân xưởng sản xuất cao Sao vàng xuất khẩu, sản phẩm chủ lực nuôi sống XN suốt thời gian bao cấp

Câu 7 Những kinh nghiệm quý báu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào

- Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, là nhân tố bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của mỗi nước.

- Để gìn giữ, củng cố và phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào

- Việt Nam chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây cần phải được phát huy:

Một là: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào được tạo dựng trên cơ sở xác định đúng đắn những quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng do hai nước xác lập

Quan hệ đó dựa trên cơ sở cả hai dận tộc Việt Nam và Lào đều khẳng định con

đường cách mạng vô sản là con đường giải phóng và phát triển của Đông Dương.

Quan hệ đó đã được kiểm nghiệm trong lịch sử, trải qua nhiều thử thách, hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam – Lào đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hai là: Cả hai dân tộc Việt Nam và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Giúp bạn là mình tự giúp mình”

Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “Giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn,

mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn

Vì vậy, cần có một nhận thức thống nhất trong cán bộ và nhân dân hai nước

về tính chất đặc biệt này Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn

Ba là: Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào phải luôn coi trọng thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân chủ của hai bên

Trên cơ sở nhận thức quá trình toàn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ VIII Đảng nhân

Trang 10

dân cách mạng Lào ( tháng 3/2006) nêu rõ: “ Kiên định quan điểm chủ động và thái

độ tích cực trong hội nhập quốc tế và khu vực bằng việc phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc và tiềm năng của đất nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm đảm bảo lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên”

Bốn là: Để việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần thường xuyên thông báo cho nhau về tình hình mỗi Ðảng, mỗi nước

Thường xuyên trao đổi về các phương hướng, biện pháp không ngừng phát

triển quan hệ hai Ðảng, hai nước, cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm

Thường xuyên trao đổi một số biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả

các thỏa thuận cấp cao hai Đảng, hai nước

Câu 8 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.

- Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết, bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh giành độc lập tự do

và tiến bộ xã hội Mối quan hệ đó được lãnh đạo hai Đảng hai Nhà nước khẳng định

là mối quan hệ đặc biệt Điều này cắt nghĩa cho việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử và trên những chặng đường phát triển mới là vô cùng quan trọng

- Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống, còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường phát triển mới Các điều kiện tự nhiên, địa - chiến lược, địa - quân sự là một trong những yếu tố chi phối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Các yếu tố đó đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng

và bảo vệ đất nước Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn - Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Trong phạm vi bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phía đông Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo Như vậy dãy Trường Sơn được ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt nam và Lào Địa hình tự nhiên đã quy định hệ thống giao thông ở Việt Nam và Lào cùng chạy dài theo

Ngày đăng: 30/05/2021, 18:30

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w