1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG dân số HỌC VÀ LAO ĐỘNGDành cho sinh viên đại học địa lí học

76 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dân Số Học Và Lao Động
Tác giả ThS. Lê Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Quảng Bình
Chuyên ngành Địa lí học
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN SỐ HỌC (5)
    • 1.1. Khái niệm và đối tượng nghiên cứu (5)
    • 1.2. Biến động dân số (5)
      • 1.2.1. Các chỉ số đo sự biến động dân số (6)
      • 1.2.2. Sự biến động dân số thế giới qua các thời kỳ, nguyên nhân và hậu quả (16)
    • 1.3. Cơ cấu dân số (24)
      • 1.3.1. Khái niệm (24)
      • 1.3.2. Phân loại (24)
    • 1.4. Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế - xã hội (31)
      • 1.4.1. Mối quan hệ giữa gia tăng dân số và phát triển (31)
      • 1.4.2. Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế - xã hội (0)
      • 1.4.3. Mối quan hệ giữa dân số và giáo dục (35)
      • 1.4.4. Mối quan hệ giữa dân số và y tế (0)
  • CHƯƠNG 2. PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ CÁC LOẠI HÌNH QUẦN CƯ (39)
    • 2.1. Phân bố dân cư (39)
      • 2.1.1. Khái niệm (39)
      • 2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư (41)
      • 2.1.3. Tình hình phân bố dân cư trên thế giới (44)
    • 2.2. Các loại hình quần cư (51)
      • 2.2.1. Khái niệm (51)
      • 2.2.2. Quần cư nông thôn (51)
      • 2.2.3. Quần cư đô thị (53)
  • CHƯƠNG 3. LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH (59)
    • 3.1. Một số vấn đề về lao động (59)
      • 3.1.1. Cung lao động (59)
      • 3.1.2. Cầu lao động (60)
      • 3.1.3. Vai trò của lao động trong ngành du lịch (60)
      • 3.1.4. Phân loại lao động (61)
      • 3.1.5. Ý nghĩa, tác dụng của công tác tổ chức lao động, quản lý lao động (62)
      • 3.1.6. Các khái niệm và ý nghĩa của tiền lương, các khoản trích theo lương (63)
    • 3.2. Lao động trong lĩnh vực du lịch (66)
      • 3.2.1. Đặc điểm của lao động trong lĩnh vực du lịch (66)
      • 3.2.2. Đặc điểm cơ cấu lao động (67)
      • 3.2.3. Đặc điểm về tổ chức và quản lý lao động (67)
      • 3.2.4. Đặc điểm của lao động trong khách sạn (68)
      • 3.2.5. Bố trí nhân sự du lịch tại khách sạn, nhà hàng (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (76)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN SỐ HỌC

Khái niệm và đối tượng nghiên cứu

Khoa học ra đời từ thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, với sản xuất vật chất là hoạt động cốt lõi quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Hoạt động sản xuất này tập trung vào hai khía cạnh chính: sản xuất tư liệu (đồ vật) và sản xuất con người Mặc dù hai loại hình sản xuất này khác nhau về nhiều mặt, nhưng chúng lại có mối liên hệ chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau.

Nếu không có dòng sản xuất này thì cũng không có dòng sản xuất kia

Dòng sản xuất đồ vật được hình thành bởi con người và phục vụ cho nhu cầu của con người Quy mô và cơ cấu sản xuất, tiêu dùng phụ thuộc vào số dân và nhu cầu của họ, trong đó nhu cầu này thay đổi theo độ tuổi và giới tính Do đó, quy mô và cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêu dùng.

Lịch sử cho thấy rằng tái sản xuất dân số, bao gồm sự biến đổi quy mô và cấu trúc tuổi giới tính, phụ thuộc vào trình độ phát triển sản xuất của khu vực sản xuất vật chất Cụ thể, nền sản xuất dựa trên công cụ thủ công yêu cầu số lượng lao động lớn hơn, dẫn đến việc gia tăng sinh con Ngược lại, sản xuất dựa trên điện khí hóa và tự động hóa lại có xu hướng giảm số lượng lao động cần thiết, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh.

Tái sản xuất con người không chỉ phụ thuộc vào khu vực sản xuất mà còn liên quan đến tất cả các yếu tố của quá trình phát triển, bao gồm hệ thống y tế, giáo dục, bình đẳng giới và bền vững môi trường Các hoạt động như kết hôn, hạn chế sinh đẻ và lựa chọn giới tính của con cái đều cần tri thức và là đặc trưng của loài người Do đó, khi bình đẳng giới, giáo dục và khoa học phát triển, tri thức và ý thức của con người cũng sẽ tăng lên, ảnh hưởng tích cực đến các quá trình dân số Các đặc trưng dân số như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân và số con, cùng với các yếu tố phát triển như văn hóa, nghề nghiệp và thu nhập, đều có mối liên hệ chặt chẽ trong một cá nhân.

Biến động dân số

Dân số ở mỗi lãnh thổ luôn biến động theo thời gian do sự sinh ra của trẻ em và cái chết của người già cùng các nguyên nhân khác Biến động này, được gọi là biến động dân số tự nhiên, chỉ xảy ra trên quy mô toàn cầu Trong khi đó, ở các khu vực nhỏ hơn như châu lục, quốc gia hay vùng miền, dân số còn bị ảnh hưởng bởi di cư do các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và sức khỏe, dẫn đến biến động dân số cơ học.

Biến động xã hội là một loại biến động dân cư quan trọng, phản ánh sự thay đổi về trình độ giáo dục, cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân của con người theo thời gian Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân, từ việc học tập, làm việc cho đến việc thay đổi nơi ở và kết hôn.

Sự đổi mới dân số của một lãnh thổ là kết quả của ba loại biến động: biến động tự nhiên (sinh, tử), biến động cơ học (di cư) và biến động xã hội, được gọi là tái sản xuất dân số Để đo lường biến động này, người ta sử dụng các chỉ số như tỉ suất sinh, tỉ suất tử, tỉ suất gia tăng cơ học và tỉ suất gia tăng tự nhiên, mỗi loại có ý nghĩa và cách tính riêng.

1.2.1 Các chỉ số đo sự biến động dân số

1.2.1.1 Các chỉ tiêu đo tỷ lệ sinh

Tỉ suất sinh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm tình trạng sức khỏe, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, và chính sách dân số của từng quốc gia.

Tỉ suất sinh thô (CBR – Crude Birth Rate) là một trong những chỉ số quan trọng để đo lường mức sinh trong lĩnh vực địa lý kinh tế xã hội Chỉ số này phản ánh số trẻ em sinh ra trên 1.000 người trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Việc theo dõi tỉ suất sinh thô giúp các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về xu hướng dân số và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh trong cộng đồng.

Tỉ suất thô là tỉ số giữa số trẻ em sinh ra trong năm so với 1000 người dân trong cùng thời gian đó

Công thức tính tỉ suất sinh thô : CBR = 1000

+ B là số trẻ em sinh ra trong năm

+ P1/7 là số dân trung bình năm của một nước hoặc một địa phương nào đó

Để đơn giản hóa việc tính toán, người ta thường sử dụng số dân bình quân trong năm, được xác định vào thời điểm giữa năm, thường là ngày 1/7 Tỉ suất sinh chung (GFR - General Fertility Rate) là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá mức sinh của một quốc gia.

Tỉ suất sinh chung là chỉ số đo lường số trẻ em được sinh ra trong một năm, so với 1.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong cùng năm đó.

Công thức tính tỉ suất sinh chung : GFR ) 49 15 ( −

+ B là số trẻ em sinh ra trong năm còn sống

+ W(15 – 49) là số phụ nữ trung bình ở độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi)

Số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ tính đến thời điểm trung bình năm (01/07) là số phụ nữ trung bình được dùng để tính trong công thức

Tỉ suất sinh chung phụ thuộc vào cơ cấu tuổi của phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 49 Mức sinh ở tuổi 15 gần như không đáng kể, trong khi đó, mức sinh cao nhất được ghi nhận ở độ tuổi từ 20 đến 30, sau đó giảm dần cho đến tuổi 49 Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) phản ánh sự thay đổi này trong mức sinh.

Tỉ suất này được tính bằng tỉ số giữa số trẻ em sinh ra trong năm và số phụ nữ theo từng nhóm tuổi tương ứng

Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi là chỉ số đo mức sinh chính xác hơn các tỉ suất sinh kể trên (CBR và GFR)

Để phân loại độ tuổi có khả năng sinh đẻ của phụ nữ, ta có thể chia thành 7 nhóm tuổi, mỗi nhóm cách nhau 5 năm, bao gồm: 15 – 19, 20 – 24, 25 – 29, 30 – 34, 35 – 39, 40 – 44 và 45 – 49.

Công thức tính tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi :

+ Wx là số phụ nữ thuộc nhóm tuổi x

+ Bx là số trẻ em sinh trong năm còn sống của những bà mẹ thuộc nhóm tuổi x d Tổng tỉ suất sinh (TFR – Total Fertility Rate):

Tổng tỉ suất sinh là tổng hợp các tỉ suất sinh theo từng nhóm tuổi trong độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ, phản ánh số con trung bình mà một người phụ nữ có khả năng sinh ra trong suốt cuộc đời.

Công thức tính tổng tỉ suất sinh :

Trong đó : n là số năm của từng nhóm tuổi (n = 5 năm)

Nếu khoảng cách của nhóm tuổi là 5 (15 – 19; 20 – 24; 25 – 29, , 45 – 49)

Tổng tỉ suất sinh phản ánh sự phân hóa mức sinh theo từng lứa tuổi, không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ tử vong hay sự thay đổi độ tuổi Khi tính toán theo khoảng cách giữa các nhóm tuổi là 1 (15, 16, 17 , 49), tỉ suất sinh chủ yếu phụ thuộc vào mức độ kết hôn.

Người ta quy ước các mức tổng tỉ suất sinh như sau :

+ TFR từ 2,15 đến 4,1 : mức sinh trung bình

+ TFR trên 4,1 : mức sinh cao

Bảng 1.1 Tổng tỉ suất sinh ở các nhóm nước trên thế giới

Thời kỳ Tổng tỉ suất sinh (TFR)

Các nước ĐPT Các nước phát triển

Theo số liệu tổng điều tra dân số của Việt Nam năm 2013 thì TFR của cả nước là 2,1; trong đó TFR của thành thị là 1,86 còn ở nông thôn là 2,21

Bảng 1.2 Tổng tỉ suất sinh ở Việt Nam

Nguồn : Tổng cục Thống kê, 2014

1.2.1.2 Các chỉ tiêu đo tỷ lệ tử vong

Để đo lường mức tử vong của dân cư, người ta sử dụng nhiều loại tỉ suất tử khác nhau, trong đó tỉ suất tử thô (CDR – Crude Death Rate) là một trong những chỉ số phổ biến nhất.

Tỉ suất tử thô là tỉ số giữa số người chết trong cả năm so với 1.000 người dân trong cùng năm đó

Công thức tính tỉ suất tử thô : CDR ) 7 / 1

+ D là số người chết trong năm

+ P(1/7) là số dân trung bình năm

Người ta quy nước các mức tỉ suất tử thô như sau :

+ CDR từ 11 đến 14 0 /00 : mức tử trung bình

+ CDR từ 15 đến 25 0 /00 : mức cao

+ CDR trên 25 0 /00 : mức tử rất cao

Nghiên cứu tỉ suất tử thô qua các năm giúp chúng ta nhận diện sự biến đổi của mức tử vong tổng thể Tỉ suất này chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính Hiện nay, xu hướng toàn cầu cho thấy tỉ suất tử vong đang giảm, nhờ vào sự cải thiện chất lượng y tế, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển.

Năm 2014, tỷ lệ tử vong chung (CDR) toàn cầu đạt 7,89/00, với các quốc gia có CDR thấp nhất như Các tiểu vương quốc Ả Rập (1,99), Singapore (3,42), Paraguay (4,64), Oman (3,38), Libya (3,57) và Việt Nam (5,93) Ngược lại, những quốc gia có CDR cao nhất bao gồm Mali (13,22), Hungary (12,72), Hy Lạp (11) và Đức (11,29) Tỷ suất tử đặc trưng theo tuổi (ASDR) cũng là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe cộng đồng.

Tỉ suất này phản ánh chính xác hơn mức tử vong trong dân cư và được sử dụng để đo lường tỷ lệ tử vong theo các nhóm tuổi, thường là theo khoảng 5 năm.

Công thức tính tỉ suất tử đặc trưng theo tuổi :

+ D(x/x + n) là số người chết trong năm của nhóm tuổi x đến x + n

+ P(x/x + n) là số dân trung bình năm của nhóm tuổi x đến x + n

Thông thường tỉ suất tử đặc trưng theo tuổi được tính riêng cho từng giới (nam, nữ)

Cơ cấu dân số

Kết cấu dân số đề cập đến các thành phần cấu thành dân số của một lãnh thổ, bao gồm nhóm nước, từng nước hoặc từng vùng, được phân chia theo những tiêu chuẩn nhất định.

Nghiên cứu kết cấu dân số đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu thực trạng và dự báo các quá trình, động lực dân số của một lãnh thổ.

Nhìn chung, kết cấu dân số của một lãnh thổ bao gồm:

+ Kết cấu sinh học – tháp dân số (cơ cấttr544 ggjbng79u theo độ tuổi, cơ cấu theo giới tính)

+ Kết cấu xã hội (cơ cấu theo lao động, theo nghề nghiệp, theo trình độ văn hoá)

+ Kết cấu dân tộc (cơ cấu theo thành phần dân tộc, cơ cấu theo quốc tịch)

1.3.2 Phân loại a Cơ cấu sinh học của dân số :

Cơ cấu sinh học là yếu tố quan trọng phản ánh thành phần và thể trạng sinh học của cư dân trong một lãnh thổ cụ thể Nó bao gồm hai thành phần chính: cơ cấu dân số theo độ tuổi và cơ cấu dân số theo giới tính.

* Cơ cấu dân số theo độ tuổi :

Cơ cấu dân số theo độ tuổi là sự phân loại nhóm người theo các độ tuổi cụ thể, giúp phân chia dân số thành những nhóm tuổi đã được xác định Việc này phục vụ cho nghiên cứu các quá trình dân số cũng như các quá trình kinh tế - xã hội, góp phần hiểu rõ hơn về sự phát triển và biến đổi của cộng đồng.

Cơ cấu dân số theo độ tuổi là một yếu tố quan trọng trong dân số học, phản ánh tình hình sinh tử, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một khu vực Sự khác biệt về chức năng xã hội và dân số giữa nam và nữ khiến cho cơ cấu dân số theo tuổi thường được nghiên cứu kết hợp với cơ cấu theo giới tính, tạo thành cơ cấu dân số theo độ tuổi – giới tính.

Cách phân chia độ tuổi:

Có hai cách phân chia độ tuổi với việc sử dụng các thang bậc khác nhau

Khoảng cách tuổi giữa các nhóm thường được xác định bằng những khoảng đều nhau, với sự chênh lệch giữa hai độ tuổi liên tiếp có thể là 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm Trong thực tế, khoảng cách 5 năm là lựa chọn phổ biến nhất.

- Độ tuổi có khoảng cách không đều nhau:

Thông thường người ta chia thành ba nhóm tuổi có liên quan đến việc sử dụng lao động

- Dưới độ tuổi lao động : 0 – 14 tuổi (hoặc 0 – 17 tuổi; 0 – 19 tuổi);

- Trong độ tuổi lao động : 15 – 59 tuổi (hoặc 15 – 65 tuổi)

- Ngoài độ tuổi lao động : từ 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên

Mỗi phương pháp phân chia dân số đều có những ưu điểm riêng và phục vụ cho các mục đích khác nhau Phương pháp đầu tiên tập trung vào việc phân tích và dự đoán các xu hướng dân số, trong khi phương pháp thứ hai mang tính khái quát hơn, nhằm đánh giá các đặc điểm chung của cơ cấu dân số.

Cơ cấu dân số theo độ tuổi rất khác nhau giữa các nước (hay nhóm nước):

Các quốc gia có dân số "trẻ" được xác định khi tỷ lệ người dưới 15 tuổi chiếm hơn 35% tổng dân số, trong khi tỷ lệ người trên 60 tuổi dưới 10%.

Ngược lại những nước có dân số “già” khi độ tuổi dưới 15 dưới 30 – 35%, độ tuổi trên

60 vượt quá 10% tổng số dân

Các nước đang phát triển thường có cơ cấu dân số trẻ, với khoảng 40% dân số dưới 15 tuổi Điều này tạo ra một lực lượng trẻ dồi dào, mặc dù tỉ suất sinh có thể giảm xuống.

Số dân sẽ tiếp tục gia tăng trong một thời gian dài trước khi đạt được sự ổn định, ngay cả khi tỷ lệ sinh chỉ đủ để tái sản xuất dân cư giản đơn, với mỗi gia đình có hai con.

Cơ cấu dân số theo độ tuổi trên toàn thế giới năm 2014:

+ 65 tuổi trở lên: 8,32% (265,453,689 nam/331,172,947 nữ)

* Cơ cấu dân số theo giới tính :

Cơ cấu theo giới tính, hay còn gọi là cơ cấu nam nữ, phản ánh mối quan hệ số lượng giữa nam và nữ so với nhau và so với tổng dân số Cơ cấu này có sự biến đổi theo độ tuổi.

Cơ cấu theo giới tính được tính theo ba cách:

- Số lượng nam trên 100 nữ;

- Số lượng nữ trên 100 nam

- Số lượng nam (hoặc nữ) so với tổng số dân (tính bằng %)

Trong nghiên cứu dân số, tỉ số giới tính (SR) là một chỉ tiêu quan trọng, cho biết số lượng nam giới so với 100 nữ giới trong tổng dân số.

P x 100; trong đó : Pm là số nam, Pf là số nữ

Năm 2014, tỉ số giới tính (nam/ 100 nữ) của toàn thế giới là 101,4 và của Việt nam là 97,36

Khác với tỉ số giới tính, tỉ lệ giới tính cho biết số nam hoặc số nữ chiếm bao nhiêu phần trăm (%) trong tổng số dân

Cơ cấu dân số giữa các quốc gia có sự khác biệt rõ rệt Các nước phát triển như châu Âu, Bắc Mỹ, Ôxtrâylia và Niu Dilân thường có tỷ lệ nữ cao hơn, do tuổi thọ trung bình của nam giới thấp hơn nữ giới Ngược lại, các quốc gia có kinh tế chậm phát triển thường có số nam trội hơn Nguyên nhân của hiện tượng này bao gồm nhiều yếu tố, trong đó vấn đề chăm sóc và bảo vệ bà mẹ cùng trẻ em là rất quan trọng Tỷ lệ nữ giới ngày càng giảm do tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em gái vẫn còn cao ở những nước này.

27 những nước thuộc khu vực Nam Á, các quần đảo Mêlanêdi, Pôlinêdi và Micrônêdi Riêng ở các nước Nam Á và Trung Quốc có nam nhiều hơn (nữ) tới 60 triệu

* Tháp dân số (tháp tuổi)

Tháp dân số là công cụ hiệu quả để trực quan hóa cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính, giúp nghiên cứu sâu về đặc điểm dân số của một khu vực cụ thể.

Tháp dân số là biểu đồ thể hiện cấu trúc dân số theo độ tuổi và giới tính, phản ánh các sự kiện dân số tại một thời điểm cụ thể.

Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế - xã hội

1.4.1 Mối quan hệ giữa gia tăng dân số và phát triển

Các quá trình dân số như sinh, tử, kết hôn, ly hôn và di cư luôn diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, và những bối cảnh này có sự biến đổi mạnh mẽ theo thời gian cũng như giữa các khu vực khác nhau trên thế giới.

Theo thời gian và không gian, trình độ phát triển có sự khác biệt rõ rệt Trong những năm 50 và cuối thế kỷ XX, phát triển chủ yếu được hiểu là sự tăng trưởng kinh tế, với GDP bình quân đầu người là thước đo chính cho mức độ phát triển.

Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng sản lượng hoặc thu nhập bình quân đầu người, được đo bằng Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) hàng năm Ngân hàng Thế giới phân loại các quốc gia thành ba nhóm dựa trên GDP/người: nhóm kém phát triển với thu nhập thấp, nhóm đang phát triển với thu nhập trung bình, và nhóm phát triển với thu nhập cao.

Mức gia tăng dân số và thành tựu tăng trưởng kinh tế ở các nước hoặc khu vực có sự tương phản rõ rệt Ở các nước phát triển, GDP bình quân đầu người cao, nhưng tỷ lệ gia tăng dân số lại thấp Ngược lại, những nước đang phát triển thường có GDP/người thấp hơn nhưng tỷ lệ gia tăng dân số lại cao hơn.

Gia tăng dân số, dù nhanh hay chậm, có tác động đáng kể đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Khi dân số tăng, lực lượng lao động cũng tăng theo, nhưng không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận Nguồn tài nguyên có hạn dẫn đến mật độ lao động trên một diện tích đất gia tăng Sự gia tăng dân số nhanh chóng có thể làm giảm chất lượng vốn con người do thiếu hụt trong lĩnh vực y tế và giáo dục, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất lao động.

Tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế Mối liên hệ thể hiện:

Tỉ lệ gia tăng GDP/người được tính bằng cách lấy tỉ lệ gia tăng GDP trừ đi tỉ lệ gia tăng dân số Để nâng cao GDP/người, tổng sản phẩm quốc dân cần tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số, điều này dẫn đến sự gia tăng khoảng cách giàu – nghèo giữa các nước phát triển và đang phát triển Các nước đang phát triển đang rơi vào vòng luẩn quẩn, nơi để giảm mức sinh cần có điều kiện kinh tế - kỹ thuật, nhưng để phát triển kinh tế lại cần hạn chế tốc độ tăng dân số Mặc dù có ý kiến cho rằng dân số tăng nhanh có thể thúc đẩy các phát minh và phát triển khoa học công nghệ, nhưng nếu dân số đông mà nghèo, sức mua thấp thì sẽ không tạo ra một thị trường lớn.

Mặc dù nhiều quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng tình trạng nghèo đói vẫn không giảm và đời sống của những người ở tầng lớp thấp nhất vẫn khó khăn Do đó, cần thiết phải tiếp cận phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của nhóm dân cư này.

Hiện nay, phát triển được hiểu là sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bền vững môi trường Gần đây, Liên Hợp Quốc đã đưa ra các chỉ số mới để đánh giá trình độ phát triển.

Hợp Quốc đã phát triển chỉ số phát triển con người (HDI) để đo lường mức độ phát triển của các quốc gia Chỉ số này được tính dựa trên ba yếu tố chính: thu nhập quốc dân bình quân đầu người, trình độ giáo dục và tuổi thọ trung bình.

Dân số và phát triển có mối quan hệ tương tác chặt chẽ, trong đó sản xuất vật chất là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Các Mác đã chỉ ra rằng quá trình tái sản xuất của cải vật chất bao gồm các khâu từ sản xuất, phân phối, trao đổi đến tiêu dùng Sản xuất dân số là một phần quan trọng của tái sản xuất xã hội, bao gồm tất cả các giai đoạn từ sản xuất đến tiêu dùng Sự tương tác giữa tái sản xuất dân số và tái sản xuất xã hội là rất rõ ràng và có ảnh hưởng lẫn nhau.

Sản xuất vật chất Phân phối, trao đổi Tiêu dùng của cải

Tiêu dùng sức lao động Phân phối, trao đổi Cho cá nhân

Hình 1.1 Tác động của phát triển đến dân số

Quá trình lao động kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất, từ sản xuất đến tiêu dùng qua phân phối và trao đổi Tiêu dùng không chỉ phục vụ sản xuất mà còn cho cá nhân, trong đó tiêu dùng cá nhân góp phần sản xuất ra con người Quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng, trong khi trình độ phát triển sản xuất cũng tác động ngược lại đến dân số Xã hội phát triển giúp giảm mức sinh, mức tử và nâng cao tuổi thọ bình quân, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tình trạng dân số giữa các trình độ phát triển Điều này nhấn mạnh tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế - xã hội đến quy trình dân số và ngược lại.

Dân số đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nhân loại, và sự gia tăng dân số đã tạo ra sự phân công lao động chuyên môn hóa, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy phát triển Tuy nhiên, với dân số hiện nay vượt quá 7 tỷ người, quy mô và tốc độ tăng dân số đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, đe dọa đến quá trình phát triển bền vững.

Như vậy, có thể thấy rằng giữa dân số và phát triển có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Hình 1.2 Tác động của dân số đến phát triển

Quá trình dân số bao gồm sinh, tử và di cư, ảnh hưởng đến tình trạng dân số ở một lãnh thổ và thời điểm nhất định, với các yếu tố như quy mô, cơ cấu và phân bố dân số Những yếu tố này tác động đến sự phát triển thông qua tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, tỷ lệ tiêu dùng và tích lũy, cũng như việc sử dụng các nguồn vốn.

Mức độ đảm bảo việc làm, chất lượng môi trường, tình trạng y tế, giáo dục và địa vị phụ nữ đều có ảnh hưởng lẫn nhau, và những yếu tố này sẽ tác động đến quá trình phát triển dân số.

1.4.2 Mối quan hệ giữa dân số và giáo dục

Các quá trình dân số, bao gồm mức sinh, mức tử, di dân, hôn nhân và tình trạng giáo dục, luôn diễn ra trong bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia hoặc toàn cầu Vì vậy, dân số và giáo dục đều chịu ảnh hưởng từ các yếu tố này.

PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ CÁC LOẠI HÌNH QUẦN CƯ

LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w