1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình kinh tế môi trường

95 26 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Kinh Tế Môi Trường
Tác giả Th.S Võ Thị Nho
Trường học Trường Đại Học Quảng Bình
Chuyên ngành Kinh Tế Môi Trường
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2016
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN (5)
    • 1.1 Quan hệ tương tác giữa kinh tế và môi trường (5)
    • 1.2 Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường (7)
    • 1.3 Môi trường và phát triển (10)
      • 1.3.1 Bản chất hệ thống của môi trường (10)
      • 1.3.2 Các loại chất ô nhiễm (11)
  • CHƯƠNG II: KINH TẾ HỌC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG (0)
    • 2.1 Mô hình thị trường và hiệu quả kinh tế (16)
      • 2.1.1. Cung, cầu và cân bằng thị trường (16)
      • 2.1.2 Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất (19)
      • 2.1.3 Lợi ích ròng xã hội (23)
      • 2.1.4 Hiệu quả Pareto và thất bại của thị trường (24)
    • 2.2 Ngoại ứng (26)
      • 2.2.1 Khái niệm và phân loại (26)
      • 2.2.2. Ngoại ứng và thất bại thị trường (27)
  • CHƯƠNG III: KINH TẾ Ô NHIỄM (32)
    • 3.2 Ô nhiễm tối ưu (32)
      • 3.2.1 Ô nhiễm tối ưu tại mức cân bằng xã hội (33)
      • 3.2.2 Ô nhiễm tối ưu tại mức cực tiểu hoá chi phí ô nhiễm (0)
    • 3.3 Giải pháp kinh tế thị trường cho ô nhiễm tối ưu (39)
      • 3.3.1 Quyền tài sản (quyền sở hữu) (39)
      • 3.3.2 Mô hình thỏa thuận ô nhiễm (39)
  • CHƯƠNG IV: CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ (42)
    • 4.1 Thuế ô nhiễm tối ưu (thuế Pigou) (42)
      • 4.1.1 Thuế ô nhiễm và mục tiêu tối đa hoá phúc lợi xã hội (42)
      • 4.1.2 Thuế ô nhiễm và mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của người sản xuất (44)
      • 4.1.3 Một số vấn đề liên quan đến áp dụng thuế ô nhiễm tối ưu (45)
    • 4.2 Phí xả thải (46)
    • 4.3 Sự lựa chọn giữa chuẩn mức thải và phí thải trong quản lý môi trường (48)
      • 4.3.1 Trường hợp thông tin hoàn hảo (48)
      • 4.3.2 Trường hợp thông tin không hoàn hảo (51)
    • 4.4 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng (52)
    • 4.5 Trợ cấp (55)
    • 4.6 Hệ thống đặt cọc - hoàn trả và việc tái sử dụng CTR (55)
  • CHƯƠNG V: KINH TẾ TÀI NGUYÊN CÓ THỂ TÁI TẠO (60)
    • 5.1 Đặc điểm tài nguyên có thể tái tạo (60)
    • 5.2 Mô hình kinh tế tài nguyên đất (61)
      • 5.2.1 Khái niệm về tô (61)
      • 5.2.2. Một số quan điểm về tô và hiệu quả sử dụng đất (0)
      • 5.2.3. Thị trường đất (64)
    • 5.3 Mô hình kinh tế tài nguyên nước (66)
    • 5.4 Mô hình kinh tế tài nguyên rừng (67)
    • 5.5. Mô hình kinh tế tài nguyên hải sản (70)
      • 5.5.1 Tốc độ tăng trưởng và khả năng khai thác (70)
      • 5.5.2 Tỷ lệ khai thác, chi phí và thu nhập (71)
      • 5.5.3 Chi phí và thu nhập (73)
      • 5.5.4 Các công cụ quản lý tài nguyên thuỷ sản (74)
      • 5.5.5. Mô hình khai thác cá (78)
  • CHƯƠNG VI: KINH TẾ TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO (81)
    • 6.1. Đặc điểm tài nguyên không thể tái tạo (81)
    • 6.2. Mô hình cơ bản của lý thuyết khai thác tài nguyên không thể tái tạo (82)
      • 6.2.1. Khai thác tài nguyên không thể tái tạo trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo (0)
      • 6.2.2. Khai thác tài nguyên không thể tái tạo bởi các nhà độc quyền (OPEC) . 83 6.3. Một số mô hình khai thác tài nguyên không tái tạo (0)
      • 6.3.1. Sự phân bổ tài nguyên không thể tái tạo qua thời gian (0)
      • 6.3.2. Mô hình chi phí khan hiếm và tô khan hiếm (88)
      • 6.3.3. Mô hình sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên qua các giai đoạn thời gian (89)
    • 6.4. Sử dụng tài nguyên không thể tái tạo hiệu quả (90)
      • 6.4.1. Can thiệp về giá (giá trần - ceiling price) (90)
      • 6.4.2 Kế hoạch hoá và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên (91)
      • 6.4.3 Mô hình phân bổ hiệu quả nguồn tài nguyên có thể tái sinh (92)
      • 6.4.4 Chi phí biên của người sử dụng (MUC) (93)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN

Quan hệ tương tác giữa kinh tế và môi trường

Phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao mức sống của nhân loại và từng quốc gia Sự tiến bộ vượt bậc trong khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất nhiều sản phẩm chất lượng cao Cường độ và quy mô hoạt động kinh tế ngày càng được nâng cao và mở rộng, tạo thành hệ thống đa dạng trong xã hội Tuy nhiên, hệ thống kinh tế không thể hoạt động độc lập mà cần có mối quan hệ chặt chẽ với các hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống môi trường Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai hệ thống này đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực kinh tế và môi trường.

Hệ thống môi trường bao gồm các thành phần chính, cung cấp tài nguyên cho con người, chứa đựng phế thải và là không gian sống Tuy nhiên, các khả năng của hệ thống này là hữu hạn Trong khi đó, hệ thống kinh tế liên tục diễn ra các quá trình khai thác tài nguyên (R-Resource), chế biến nguyên liệu (P-Production) và phân phối để tiêu dùng (C-Consumer).

Như vậy hoạt động của hệ thống kinh tế tuân theo chu trình sau:

Tài nguyên (R) bao gồm tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức, được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc giá trị sử dụng mới cho con người.

Phân loại tài nguyên thiên nhiên theo khả năng tái sinh và không có khả năng tái sinh

Tài nguyên có khả năng tái sinh là những nguồn tài nguyên có thể tự duy trì và bổ sung liên tục khi được quản lý hợp lý Tuy nhiên, nếu bị khai thác không hợp lý, những tài nguyên này có thể bị cạn kiệt và không thể tái sinh, dẫn đến sự giảm sút và tuyệt chủng của các giống loài thực vật và động vật.

Tài nguyên không có khả năng tái sinh là những nguồn tài nguyên có giới hạn trên trái đất, chỉ có thể khai thác một lần ở dạng nguyên khai Những tài nguyên này được chia thành ba nhóm chính.

+ Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tạo tiền đề cho tái sinh, ví dụ như đất, nước tự nhiên

+ Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tái tạo Ví dụ như kim loại,

+ Tài nguyên cạn kiệt Ví dụ như than đá, dầu khí

Hình 1.1 : Phân loại tài nguyên thiên nhiên

(2) Quá trình sản xuất (P)

Quá trình sản xuất (P) là quá trình chế biến tài nguyên thiên nhiên thành các sản phẩm phù hợp với mục tiêu của con người

Các sản phẩm sẽ được phân phối để tiêu dùng (C)

Hình 1.2: Hệ kinh tế và môi trường

Hệ thống kinh tế cơ bản bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu thụ, tất cả đều diễn ra trong môi trường tự nhiên Thế giới tự nhiên cung cấp nguyên liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động này Thiếu nguyên liệu và năng lượng, sản xuất và tiêu thụ sẽ không thể diễn ra Do đó, mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế và môi trường tự nhiên là vô cùng quan trọng.

Khai thác và sử dụng nguyên liệu cùng năng lượng từ thiên nhiên là cách mà con người tác động lên thế giới tự nhiên Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất và tiêu thụ cũng tạo ra chất thải, và những chất thải này cuối cùng sẽ trở lại với môi trường xung quanh.

Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường

Hình 1.3: Cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa kinh tế và môi trường thông qua biến đổi dòng vật chất, với các yếu tố bên trong hình bầu dục đại diện cho các bộ phận của hệ thống kinh tế Tất cả những yếu tố này được bao bọc bởi môi trường tự nhiên Kinh tế học được phân chia thành hai phân đoạn lớn: "người sản xuất" và "người tiêu thụ" "Người sản xuất" bao gồm các hãng, công ty chuyển hóa đầu vào thành đầu ra hữu ích, cũng như các tổ chức không lợi nhuận và công ty dịch vụ như vận tải Như vậy, "người sản xuất" là tất cả các thực thể kinh tế trong hệ thống, bao gồm cả "người tiêu thụ".

Khu vực sản xuất chủ yếu sử dụng các đầu vào từ môi trường tự nhiên, bao gồm nhiên liệu, khoáng sản, gỗ, nước, dầu mỏ và các loại khí như khí tự nhiên và oxy Tất cả hàng hóa và dịch vụ đều được hình thành từ những vật tư này thông qua việc sử dụng năng lượng Do đó, hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra chính là sự hiện diện của một phần nguồn vật chất và năng lượng, hướng đến người tiêu dùng.

"Người tiêu thụ" có thể sử dụng nguồn vật chất và năng lượng trực tiếp từ tự nhiên mà không cần qua khâu trung gian như người sản xuất Ví dụ, việc sử dụng nước giếng hay củi để nấu nướng là những hình thức tiêu thụ này Tuy nhiên, để đơn giản hóa, các chức năng này thường không được tính đến trong lược đồ Do đó, trong trường hợp này, "người sản xuất" và "người tiêu thụ" có thể được coi là một.

Sản xuất và tiêu thụ tạo ra chất thải bao gồm cặn bã vật chất thải vào không khí, nước hoặc trên mặt đất Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần xem xét chất thải từ góc độ vật lý Vật chất và năng lượng được khai thác từ môi trường tự nhiên và chất thải được trả lại cho môi trường Theo định luật thứ nhất của nhiệt động học, hai dòng vật chất này phải bằng nhau trong quá trình sản xuất và tiêu thụ.

M = Rp d + Rc d Để hiểu rõ hơn, bây giờ chúng ta thay thế M theo dòng:

Công thức Rp d + Rc d = M = G + Rp - Rp r - Rc r thể hiện rằng số lượng nguyên vật liệu (M) được tính bằng tổng sản phẩm tái sản xuất (G) cộng với chất thải sản xuất (Rp), sau đó trừ đi tổng lượng nguyên vật liệu được tái tuần hoàn từ cả người sản xuất (Rp r) và người tiêu thụ (Rc r).

Có ba cách chủ yếu để giảm M (và do đó giảm chất thải vào môi trường tự nhiên): a Giảm G:

Giảm chất thải bằng cách giảm sản xuất hàng hóa và dịch vụ là một quan điểm quan trọng trong việc giải quyết sự suy thoái môi trường Một số người cho rằng đây là giải pháp bền vững nhất, giúp giảm đầu ra và kiểm soát tốc độ gia tăng chất thải Tuy nhiên, một số khác lại ủng hộ việc không tăng trưởng dân số để dễ dàng kiểm soát tác động môi trường Dù dân số không tăng có thể giảm bớt áp lực, nhưng vẫn không thể ngăn chặn hoàn toàn tác động tiêu cực đến môi trường do nhu cầu kinh tế gia tăng và tác động lâu dài của ô nhiễm Tăng dân số thường làm trầm trọng thêm vấn đề môi trường, mặc dù một số nước công nghiệp phát triển đã áp dụng công nghệ kiểm soát khí thải hiệu quả trong những thập kỷ qua.

Mặc dù ô nhiễm từ mỗi xe ô tô đã giảm đáng kể, nhưng sự gia tăng số lượng ô tô trên xa lộ đã làm cho tổng lượng khí ô nhiễm do ô tô phát ra ở nhiều khu vực tăng lên.

Để giảm tổng lượng chất thải trong quá trình sản xuất, có hai phương pháp chính: Thứ nhất, nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới nhằm giảm cường độ chất thải trên mỗi đơn vị sản phẩm Điều này đặc biệt quan trọng khi xem xét phát thải khí CO2 và sự nóng lên toàn cầu, vì có nhiều cách để giảm cường độ CO2 trong sản xuất năng lượng Thứ hai, thay đổi thành phần bên trong sản phẩm để giảm tổng lượng chất thải, bằng cách chuyển từ các sản phẩm có tỷ lệ chất thải cao sang các sản phẩm có tỷ lệ chất thải thấp Sự chuyển dịch từ kinh tế sản xuất sang kinh tế dịch vụ trong hơn nửa thế kỷ qua đã cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực dịch vụ ở các nước công nghiệp phát triển.

Thay vì thải bỏ chất thải sản xuất, chúng ta có thể tái tuần hoàn và đưa chúng trở lại quy trình sản xuất, giúp giảm lượng chất thải và duy trì hàng hóa và dịch vụ Tái tuần hoàn mang lại cơ hội lớn để giảm dòng thải trong nền kinh tế hiện đại Tuy nhiên, quá trình này không thể hoàn chỉnh do sự thay đổi cấu trúc vật lý của nguyên vật liệu đầu vào, gây khó khăn cho việc tái sử dụng Ngoài ra, nguồn vật chất đã chuyển hóa thành năng lượng không thể phục hồi, và quy trình tái tuần hoàn cũng có thể tạo ra chất thải mới.

Hy vọng rằng các nghiên cứu trong lĩnh vực này sẽ phát hiện nhiều phương pháp tái tuần hoàn mới và quy trình công nghệ ít hoặc không tạo ra chất thải.

Môi trường và phát triển

1.3.1 Bản chất hệ thống của môi trường

Những đặc trưng cơ bản của hệ thống môi trường là: a Tính cơ cấu (cấu trúc) phức tạp

Hệ thống môi trường bao gồm nhiều thành phần khác nhau, như tự nhiên, kinh tế, dân cư và xã hội, và các phần tử này bị chi phối bởi những quy luật khác nhau, đôi khi còn đối lập nhau.

Hệ môi trường được cấu thành chủ yếu từ hai loại cấu trúc: cấu trúc chức năng và cấu trúc bậc thang Theo chức năng, hệ môi trường có thể được chia thành nhiều phân hệ khác nhau Tương tự, theo thứ bậc hoặc quy mô, các phân hệ cũng có thể được phân loại từ lớn đến nhỏ.

Các phần tử cơ cấu trong hệ môi trường, bất kể chức năng hay thứ bậc, thường xuyên tương tác và phụ thuộc lẫn nhau thông qua việc trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin Điều này đảm bảo sự tồn tại, hoạt động và phát triển của hệ thống Do đó, bất kỳ sự thay đổi nào, dù nhỏ, của một phần tử cũng có thể gây ra phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của toàn bộ hệ thống.

Hệ môi trường luôn thay đổi, không phải là một hệ tĩnh, với sự biến đổi trong cấu trúc và quan hệ tương tác giữa các phần tử Mọi sự thay đổi đều khiến hệ lệch khỏi trạng thái cân bằng trước đó, và hệ có xu hướng thiết lập lại một thế cân bằng mới Điều này thể hiện bản chất của quá trình vận động và phát triển của hệ môi trường, trong đó cân bằng động là một đặc tính cơ bản cần được xem xét trong tư duy và tổ chức thực tiễn của con người.

Môi trường là một hệ thống mở, nơi mà vật chất, năng lượng và thông tin liên tục chuyển động trong không gian và thời gian Sự nhạy cảm của hệ môi trường đối với những thay đổi bên ngoài giải thích cho tính chất vùng, toàn cầu và lâu dài của các vấn đề môi trường Để giải quyết những thách thức này, cần có sự hợp tác toàn cầu và nỗ lực từ cộng đồng, nhằm đảm bảo lợi ích cho thế hệ hiện tại và tương lai.

7 d.Khả năng tự tổ chức và điều chỉnh

Trong hệ môi trường, các phần tử cơ cấu bao gồm vật chất sống như con người và giới sinh vật, cùng với sản phẩm của chúng, có khả năng tự tổ chức và điều chỉnh để thích ứng với thay đổi bên ngoài theo quy luật tiến hóa, hướng tới trạng thái ổn định Đặc tính này quy định mức độ can thiệp của con người và mở ra hướng giải quyết bền vững cho các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay, như phục hồi tài nguyên sinh vật, xây dựng hồ chứa và vành đai cây xanh, cũng như nuôi trồng thủy sản và hải sản.

Tùy thuộc vào mức độ tác động của các yếu tố đến tình trạng kinh tế của chất phát thải, các chất ô nhiễm có thể được phân chia thành hai loại: chất ô nhiễm tích lũy và chất ô nhiễm không tích lũy.

Chất ô nhiễm môi trường có đặc trưng quan trọng là khả năng tích lũy theo thời gian hoặc nhanh chóng tiêu tan sau khi phát ra Ví dụ, tiếng ồn chỉ tồn tại khi nguồn phát hoạt động, nhưng các chất ô nhiễm như chất thải phóng xạ lại tồn tại lâu dài do tốc độ phân rã chậm Chất dẻo cũng là một ví dụ điển hình, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về chất dẻo có khả năng phân hủy, nhưng chúng vẫn phân hủy rất chậm và trở thành chất ô nhiễm lũy tích Nhiều loại hóa chất khác cũng có tính chất này, khiến chúng tồn tại lâu dài trong môi trường.

Chất ô nhiễm lũy tích có thể được phân loại là loại chất ô nhiễm không lũy tích hoàn toàn, như chất thải hữu cơ từ các nhà máy xử lý chất thải đô thị Khi thải ra môi trường, chất thải này sẽ trải qua các quá trình hóa học tự nhiên, giúp phá vỡ cấu trúc và làm cho chúng trở nên ít độc hại hơn Nước có khả năng đồng hoá tự nhiên, cho phép tiếp nhận các chất hữu cơ mà không gây hại nếu không vượt quá khả năng này Nếu chúng ta có thể kiểm soát nguồn thải, nước sẽ có thể trở lại trạng thái bình thường trong một khoảng thời gian nhất định.

Mặc dù tự nhiên có khả năng đồng hóa nhất định, nhưng điều này không có nghĩa là các chất ô nhiễm hoàn toàn không tích lũy Khi lượng chất thải phát ra vượt quá khả năng đồng hóa, chúng ta sẽ chuyển vào quy trình lũy tích Chẳng hạn, khí quyển của Trái Đất có khả năng hấp thụ CO2 từ hoạt động của con người, miễn là không vượt quá giới hạn đó CO2 không phải là chất ô nhiễm tích lũy, nhưng nếu khả năng đồng hóa CO2 của Trái Đất bị vượt quá, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng lũy tích theo thời gian, điều này đang diễn ra hiện nay.

Mối quan hệ giữa các chất phát thải phổ biến và nồng độ ô nhiễm xung quanh có sự khác biệt giữa chất ô nhiễm lũy tích và không lũy tích Đối với chất ô nhiễm không lũy tích, nồng độ ô nhiễm xung quanh tỷ lệ thuận với lượng phát thải, nghĩa là nếu giảm phát thải xuống mức không, nồng độ ô nhiễm cũng sẽ trở về không Ngược lại, chất ô nhiễm lũy tích gây ra những tổn thất môi trường phức tạp hơn, vì chúng tích lũy theo thời gian, dẫn đến thiệt hại không chỉ trong hiện tại mà còn cho tương lai Điều này cho thấy nồng độ ô nhiễm lũy tích có thể không tương quan trực tiếp với lượng phát thải hiện tại, như thể hiện trong sơ đồ 1.4, nơi đồ thị của chất ô nhiễm lũy tích bắt đầu ở mức cao hơn và có độ dốc nhẹ hơn so với chất ô nhiễm không lũy tích.

Việc cắt giảm chất phát thải hiện tại chỉ mang lại hiệu quả hạn chế đối với nồng độ chất phát thải phổ biến Ngay cả khi chúng ta giảm thiểu chất phát thải xuống mức không, chất lượng môi trường vẫn bị ảnh hưởng do hiệu ứng tích lũy của các chất ô nhiễm trước đây Chất ô nhiễm tích lũy theo thời gian gây ra sự phá vỡ mối quan hệ giữa chất phát thải và thiệt hại môi trường Để giải quyết mối quan hệ nhân - quả phức tạp này, cần có những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện nhằm tìm ra các giải pháp bền vững và khả thi cho vấn đề ô nhiễm địa phương, vùng và toàn cầu.

Các chất phát thải có ảnh hưởng khác nhau, từ cục bộ đến toàn cầu Một số chất, như ô nhiễm tiếng ồn và suy thoái cảnh quan, chỉ tác động trong một khu vực nhỏ và ảnh hưởng đến nhóm dân cư cụ thể Ngược lại, những chất phát thải khác như mưa axít có thể lan rộng và gây ô nhiễm trên quy mô lớn, ảnh hưởng đến môi trường toàn cầu.

Mỹ và Châu Âu có ảnh hưởng đến dân cư của các vùng khác trong nước và quốc gia khác Hiệu ứng suy giảm tầng ôzôn do Clo, Fluo và Carbon phát thải từ các nước phát triển gây ra những thay đổi hóa học ở tầng bình lưu, tạo ra ảnh hưởng toàn cầu Các vấn đề môi trường địa phương thường dễ giải quyết hơn so với các vấn đề môi trường vùng và quốc gia, trong khi các vấn đề môi trường toàn cầu lại phức tạp hơn Ví dụ, nếu tôi đun bếp than, điều này ảnh hưởng đến hàng xóm và có thể được giải quyết giữa chúng tôi hoặc nhờ sự can thiệp của các nhà chức trách Tuy nhiên, việc gây ô nhiễm ở quy mô lớn hơn sẽ khó khăn hơn trong việc giải quyết Trong những năm gần đây, nhân loại đang đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề môi trường toàn cầu mà chưa tìm ra biện pháp hiệu quả để khắc phục Nguyên nhân một phần là do chưa hiểu rõ về tác động vật lý của chúng, và phần khác là do các tổ chức quốc tế chuyên trách vẫn đang trong quá trình hình thành và chưa hoạt động hiệu quả Chất ô nhiễm có thể được phân loại thành chất ô nhiễm có điểm nguồn và không có điểm nguồn.

Các nguồn ô nhiễm có mức độ nhận biết khác nhau đối với các điểm phát thải hiện tại Ví dụ, các nhà máy điện phát thải điôxyt lưu huỳnh dễ dàng nhận diện qua ống khói, trong khi các nhà máy xử lý chất thải đô thị thường chỉ có một cửa ống tháo xả cho tất cả các loại nước thải.

KINH TẾ HỌC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG

Mô hình thị trường và hiệu quả kinh tế

2.1.1 Cung, cầu và cân bằng thị trường a Thị trường

Thị trường là môi trường nơi người mua và người bán tương tác, tạo ra khả năng trao đổi hàng hóa và dịch vụ Người mua và người bán có thể giao dịch trực tiếp tại các địa điểm như chợ thực phẩm, hoặc qua các phương tiện viễn thông như thị trường chứng khoán và ngân hàng Mục tiêu chung của các thành viên trong thị trường là tối đa hóa lợi ích; người bán tìm cách tối đa hóa lợi nhuận, trong khi người mua mong muốn tối đa hóa sự thỏa mãn từ hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu dùng.

Sự tương tác giữa người bán và người mua quyết định giá cả của hàng hóa và dịch vụ, đồng thời xác định chủng loại, số lượng và chất lượng sản phẩm cần sản xuất Giá cả đóng vai trò là tín hiệu quan trọng để phối hợp hoạt động của người tiêu dùng, người sản xuất và những người sở hữu nguồn lực khan hiếm, phản ánh nguyên tắc hoạt động của cơ chế thị trường Để hiểu rõ hơn về quá trình này, cần có một mô hình thị trường điển hình tập trung vào cầu - hành vi của người mua, và cung - hành vi của người bán.

Cầu và cung là những mối quan hệ quan trọng trong kinh tế, có thể được thể hiện qua các bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị hoặc phương trình Mối quan hệ cầu phản ánh nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng hóa và dịch vụ.

Cầu là mối quan hệ giữa giá (P) và lượng cầu (Q) của hàng hoá hoặc dịch vụ, thể hiện lượng hàng hoá mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua tại mức giá nhất định trong thời gian xác định Khi giá giảm, lượng cầu tăng và ngược lại Mối quan hệ này được biểu thị bằng đồ thị, với đường cầu thường dốc xuống từ trái sang phải.

Hình 2.1: Đường cầu sản xuất

Tại mức giá P1, lượng cầu là Q1 Tại mức giá P2, lượng cầu là Q2

Chúng ta cũng có thể biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cầu bằng hàm cầu

Khi giá P2 là 6 đô la, lượng cầu Q2 đạt 300 Đường cầu thị trường được hình thành bằng cách cộng gộp các đường cầu cá nhân theo chiều ngang Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến cầu về hàng hóa và dịch vụ bao gồm giá cả, thu nhập, sở thích và số lượng người tiêu dùng.

- Giá của bản thân hàng hoá / dịch vụ

- Thu nhập của người tiêu dùng

- Giá cả của các loại hàng hoá liên quan

- Thị hiếu của người tiêu dùng c Cung

Mối quan hệ giữa giá (P) và lượng cung (Q) của hàng hóa/dịch vụ thể hiện lượng hàng mà người bán sẵn lòng cung cấp tại mức giá nhất định trong một khoảng thời gian Khi giá tăng, lượng cung cũng tăng và ngược lại Mối quan hệ này thường được biểu thị bằng đồ thị, với đường cung có độ dốc đi lên từ trái sang phải.

Hình 2.2: Đường cung thị trường

Tại mức giá P1, lượng cung là Q1 Tại mức giá P2, lượng cung là Q2

Chúng ta cũng có thể biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cung bằng hàm cung

Cung thị trường là tổng hợp mức cung của từng cá nhân Các yếu tố cơ bản xác định cung hàng hóa và dịch vụ bao gồm: giá cả, chi phí sản xuất, công nghệ, và kỳ vọng của người sản xuất.

- Giá của bản thân hàng hoá / dịch vụ

- Giá của các yếu tố đầu vào (sản xuất)

- Các kỳ vọng về các yếu tố trên d Cân bằng thị trường

Khi cầu đối với một hàng hoá hoặc dịch vụ xuất hiện trên thị trường, nhà sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng nhu cầu đó Thị trường đạt trạng thái cân bằng khi cung hàng hoá hoặc dịch vụ đủ để thỏa mãn cầu trong một khoảng thời gian nhất định Tại trạng thái cân bằng, chúng ta có mức giá cân bằng (P) và sản lượng cân bằng (Q*).

Trên đồ thị, mức cân bằng được xác định bằng giao điểm của hai đường cung và cầu

Cân bằng cung cầu trên thị trường được xác định bởi sự tương tác tập thể giữa người mua và người bán, không phải bởi từng cá nhân riêng lẻ Mức giá cân bằng này phản ánh cách định giá khách quan theo nguyên lý "Bàn tay vô hình" của cơ chế thị trường.

Khi giá thấp hơn mức giá cân bằng, sẽ xảy ra dư cầu, dẫn đến áp lực tăng giá Ngược lại, khi giá cao hơn mức giá cân bằng, dư cung xuất hiện, tạo sức ép giảm giá Sự thay đổi giá sẽ điều chỉnh lượng cung và cầu cho đến khi đạt trạng thái cân bằng.

Mô hình cung - cầu cơ bản có thể được dùng để nghiên cứu nhiều vấn đề môi trường và chính sách

2.1.2 Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất a Lợi ích và thặng dư tiêu dùng

Thuật ngữ lợi ích được hiểu như là sự vừa ý, sự hài lòng do việc tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ đem lại

Lợi ích toàn bộ (hay tổng lợi ích - TB) là tổng thể sự hài lòng do toàn bộ sự tiêu dùng hàng hoá/dịch vụ đem lại

Lợi ích cận biên (MB) phản ánh mức độ hài lòng do tiêu dùng một đơn vị sản phẩm đem lại

Khái niệm tổng lợi ích và lợi ích cận biên giúp giải thích động cơ mua sắm hàng hóa và dịch vụ của chúng ta, đồng thời lý giải lý do tại sao chúng ta có thể từ chối mua những sản phẩm đó vào một thời điểm nhất định.

Lợi ích cận biên của hàng hoá hoặc dịch vụ giảm dần khi lượng tiêu thụ tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định Khi tiêu dùng nhiều hơn một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà lợi ích cận biên vẫn còn dương, tổng lợi ích sẽ gia tăng nhưng với tốc độ chậm hơn.

Lợi ích trong kinh tế học là khái niệm trừu tượng phản ánh cảm giác thỏa mãn từ việc tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ Mặc dù không thể đo lường lợi ích và lợi ích cận biên bằng các đơn vị vật lý, nhưng giá cả có thể được sử dụng để đánh giá lợi ích cận biên: khi lợi ích cận biên cao, người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn; ngược lại, khi lợi ích cận biên giảm, khả năng chi trả cũng giảm theo Do đó, đường cầu thể hiện lợi ích cận biên trong tiêu dùng.

Thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa lợi ích mà người tiêu dùng nhận được khi tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ và chi phí thực tế mà họ phải bỏ ra để có được những lợi ích đó.

Trong hình dưới, đường cầu cho hàng hóa được biểu thị là D, với giá thị trường của hàng hóa là P* Tại mức giá này, người tiêu dùng sẽ mua QD đơn vị hàng hóa.

Hình 2.4: Thặng dư tiêu dùng

Tổng lợi ích của việc tiêu dùng là diện tích nằm dưới đường cầu từ gốc toạ độ đến sản lượng cân bằng, tức là diện tích OBEQD

Ngoại ứng

2.2.1 Khái niệm và phân loại

Khi phân tích thị trường, chúng ta đã đề cập đến sự lựa chọn tiêu dùng và sản xuất của người tiêu dùng và doanh nghiệp, miễn là những lựa chọn này không tác động đến bên thứ ba.

Trong thực tế, nhiều hoạt động kinh tế gây ra tác động ngoại ứng, ảnh hưởng đến những người không tham gia vào quá trình này, mà không được phản ánh trong giá cả thị trường Ngoại ứng xảy ra khi quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân tác động đến những người khác mà không thông qua giá cả Các tác động này có thể xuất hiện giữa các nhà sản xuất, giữa người tiêu dùng hoặc giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Vấn đề chính của ngoại ứng là nó tạo ra lợi ích và chi phí không được bồi hoàn, không có luồng tài chính nào tham gia Ngoại ứng có thể là tiêu cực hoặc tích cực.

Ngoại ứng tiêu cực xảy ra khi doanh nghiệp hoặc cá nhân gây thiệt hại cho người khác mà không bồi thường, tức là hoạt động của họ tạo ra chi phí cho bên thứ ba Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất giấy xả nước thải bẩn ra sông mà không chịu trách nhiệm, gây tổn thất cho sinh vật dưới nước, giảm thu nhập của ngư dân và làm ô nhiễm nguồn nước, dẫn đến bệnh tật cho người sử dụng Sự gia tăng lượng chất thải càng làm tăng tổn thất, cho thấy doanh nghiệp đã tạo ra ngoại ứng tiêu cực khi quyết định sản xuất.

Ngoại ứng tích cực xảy ra khi doanh nghiệp hoặc cá nhân tạo ra lợi ích cho người khác mà không nhận được thù lao tương xứng Chẳng hạn, khi một hộ gia đình sửa sang nhà cửa và xây bồn trồng hoa, cả khu phố đều được hưởng lợi từ vẻ đẹp mà không phải chi trả Chủ nhà không xem xét đến lợi ích của hàng xóm khi quyết định cải tạo không gian sống của mình.

Một số ví dụ khác về ngoại ứng được nêu trong bảng sau đây

Bảng 2.1: Ví dụ về ngoại ứng

Ngoại ứng tích cực Ngoại ứng tiêu cực

Ngoại ứng trong sản xuất

- Trồng hoa hồng cho sản xuất nước hoa

- Nuôi ong và trồng nhãn

- Sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu

- Ô nhiễm nước thải từ nhà máy hoá chất

- Ô nhiễm không khí do nhà máy nhiệt điện

Ngoại ứng trong tiêu dùng

- Tiêm vắc xin phòng bệnh

- Sử dụng lại túi nilon

- Tiếng ồn, bụi do xe máy

- Hút thuốc lá trong phòng, nơi đông người

- Sử dụng CFC trong máy điều hoà nhiệt độ và tủ lạnh

Các hoạt động gây suy thoái và ô nhiễm môi trường, cũng như làm giảm chất lượng tài nguyên, tạo ra ngoại ứng tiêu cực Ngược lại, những hành động phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng chúng một cách tiết kiệm, sẽ tạo ra ngoại ứng tích cực.

2.2.2 Ngoại ứng và thất bại thị trường

Chúng ta đo lường lợi ích xã hội bằng tổng số lợi ích cá nhân cận biên của người tiêu dùng và chi phí xã hội bằng tổng chi phí cá nhân cận biên của các nguồn lực mà nhà sản xuất phải chi trả Khi định nghĩa như vậy, chúng ta giả định rằng mỗi giao dịch chỉ ảnh hưởng đến lợi ích hoặc chi phí của những người tham gia trực tiếp Tuy nhiên, khi có ngoại ứng, giả định này không còn chính xác, vì ngoại ứng tạo ra lợi ích hoặc chi phí cho những người khác mà không qua thị trường, do đó không được phản ánh trong giá cả.

Sự hiện diện của ngoại ứng, dù tích cực hay tiêu cực, ảnh hưởng đến lợi ích và chi phí của cá nhân cũng như xã hội trong mọi giao dịch kinh tế Các đường cung của nhà sản xuất chỉ phản ánh chi phí cá nhân, dẫn đến việc giá thị trường không phản ánh đầy đủ chi phí xã hội thực tế của sản xuất và tiêu dùng Tương tự, đường cầu của người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố này.

Thị trường thường chỉ phản ánh lợi ích cá nhân mà không tính đến lợi ích ngoại ứng, dẫn đến giá cả không phản ánh đầy đủ lợi ích xã hội thực tế từ việc tiêu dùng hàng hóa Hệ quả là sự chênh lệch giữa lợi ích và chi phí, gây ra tình trạng không hiệu quả Pareto và phân bổ nguồn lực kém Điều này cho thấy thị trường đã không thành công trong việc cung cấp sản lượng tối ưu về mặt xã hội với mức giá hợp lý.

Chúng ta có thể minh hoạ tính phi hiệu quả đó của thị trường trong cả hai trường hợp sau a Trường hợp ngoại ứng tiêu cực

Giả định rằng các doanh nghiệp trong ngành giấy dọc bờ sông cùng thải nước gây ô nhiễm, chúng ta xem xét trường hợp lợi ích ngoại ứng bằng 0, tức là không có ngoại ứng tích cực Trong bối cảnh này, đường cầu D phản ánh đồng thời lợi ích cá nhân cận biên của người tiêu dùng giấy và lợi ích xã hội cận biên, với mối quan hệ D = MPB = MSB.

Trước hết chúng ta xem xét lại ví dụ của ngành công nghiệp giấy

Ngành công nghiệp giấy phải đối mặt với ngoại ứng tiêu cực do việc xả thải nước thải vào dòng sông mà không phải trả chi phí, dẫn đến chi phí này không được phản ánh trong bảng cân đối tài chính của doanh nghiệp Đường cung S thể hiện chi phí cá nhân cận biên trong sản xuất giấy, bao gồm các yếu tố đầu vào như lao động, vốn và nguyên liệu Tuy nhiên, việc xả thải vượt quá khả năng hấp thụ của môi trường đã gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và chất lượng nước.

Chi phí thiệt hại cho các loài thủy sinh, ngư dân và nông dân được thể hiện qua đường MEC, biểu thị cho chi phí ngoại ứng cận biên Đây chính là giá trị tiền tệ của thiệt hại mà một đơn vị ô nhiễm từ ngành công nghiệp giấy gây ra cho xã hội.

Để đạt được tối ưu Pareto trong phân bổ nguồn lực, cần cân bằng giữa chi phí xã hội cận biên (MSC) và lợi ích xã hội cận biên (MSB) Điều này được thể hiện tại điểm E, nơi mức sản lượng là QS và giá sản phẩm là Ps Chi phí xã hội cận biên được tính bằng tổng chi phí cá nhân cận biên và chi phí ngoại ứng cận biên (MSC = MPC + MEC).

Quyết định sản xuất trong ngành giấy của các doanh nghiệp phụ thuộc vào cơ chế thị trường cạnh tranh, với mức sản lượng tối ưu xác định tại điểm B, nơi MPB và MPC tương ứng với mức giá sản phẩm PM Tuy nhiên, thị trường không đạt được mức sản xuất tối ưu theo quan điểm xã hội và có xu hướng sản xuất vượt mức hiệu quả tối ưu Pareto.

Việc doanh nghiệp sản xuất ở mức QM thay vì QS đã dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội, được thể hiện qua phần mất không hình tam giác EAB Phần tổn thất này có thể được xác định dễ dàng bằng cách so sánh sự chênh lệch giữa mức gia tăng tổng lợi ích xã hội (TSB) và tổng chi phí xã hội (TSC) khi sản xuất vượt qua điểm tối ưu Pareto.

Phân tích cho thấy rằng việc gia tăng sản xuất giấy dẫn đến lượng chất thải xả ra sông cũng tăng theo, gây ra ô nhiễm cao hơn mức tối ưu xã hội Điều này chỉ ra rằng thị trường cạnh tranh có xu hướng làm suy giảm chất lượng môi trường Trong dài hạn, do không phải chịu trách nhiệm về ô nhiễm, các nhà sản xuất không có động lực để giảm sản lượng hoặc tìm kiếm giải pháp giảm thiểu chất thải Lợi nhuận cao từ việc không chi trả cho chi phí ô nhiễm khuyến khích nhiều doanh nghiệp gia nhập ngành, dẫn đến sản lượng và chất thải gia tăng, làm trầm trọng thêm vấn đề môi trường.

Ngoại ứng tích cực tạo ra sự chênh lệch giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

KINH TẾ Ô NHIỄM

CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ

KINH TẾ TÀI NGUYÊN CÓ THỂ TÁI TẠO

KINH TẾ TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Thạc Cán, Nguyễn Duy Hồng, Hoàng Xuân Cơ - Kinh tế Môi trường, Giáo trình Đại học Mở - HN 1995 Khác
[2] Cục môi trường – Phát triển bền vững ở Việt Nam mười năm nhìn lại và con đường phía trước – Báo cáo quốc gia tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững. Hà Nội – 2002 Khác
[3] Dự án Kinh tế chất thải (WASTE – ECON). Kinh tế chất thải trong phát triển bền vững. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội –2001 Khác
[4] Dự án VIE/97/007. Sổ tay hướng dẫn sử dụng các công cụ cho các mục tiêu môi trường trong kế hoạch hoá phát triển. Hà Nội – tháng 5/2001 Khác
[5] Lê Thị Hường, Kinh tế môi trường, Nhà xuất bản Thống Kê, Tp. Hồ Chí Minh, 1999 Khác
[6] GS.TS. Đặng Như Toàn – PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh. Một số vấn đề cơ bản về Kinh tế và Quản lý môi trường. nxb Xây dựng – Hà Nội 1997 Khác
[8] Trần Võ Hùng Sơn, Nhập môn phân tích lợi ích chi phí. Nhà xuất bản đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh. 2001.Tiếng nước ngoài Khác
[9] Ahmed M. Hussen, Principles of Environmental Economics: Economics, ecology and public policy, T.J. Internatinal Ltd., Padstow, Great Britain, 2000 Khác
[10] Barry C Field, The Economics of Environmental Quality, Environmental Economis Mc Graw Hill Publishers, New York 1994 Khác
[11] Environmentall issues in investment planning for sustainable development. Proceedings of a Seminar for Planning Experts from Vietnam;Germany, Tune 2000 Khác
[12] Hans. B. Opschoor, Kenneth Button and Pieter Nijkamp, Environmental Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm