1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH của SINH VIÊN CUỐI KHÓA KHỐI NGÀNH NGOÀI sư PHẠM TRƯỜNG đại học QUẢNG BÌNH

67 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông tin chung: - Tên đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm Trường Đại học Quảng Bình - Sinh vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

TRƯƠNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Thuộc nhóm ngành khoa học:

Họ và tên, ngành học, khóa học sinh viên/nhóm sinh viên thực hiện đề tài:

1 Võ Thị Khánh Hạ , ngành kế toán tổng hợp , khóa 59

2 Hồ Thị Trang Nhung, ngành kế toán tổng hợp , khóa 59

3 Dương Thị Hoài , ngành kế toán tổng hợp , khóa 59

Chức danh khoa học, học vị, họ và tên của giảng viên hướng dẫn :

Th.s Lê Khắc Hoài Thanh

Quảng Bình, năm 2019

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Quy trình nghiên cứu 8

5.2 Thu thập số liệu 9

5.3 Phân tích và xử lý số liệu 11

6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 13

PHẦN 2 NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1 KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 14

1.1 Khởi nghiệp 14

1.2 Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp 15

1.3 Sinh viên khởi nghiệp và đặc điểm khởi nghiệp của sinh viên 17

1.4 Ý định khởi nghiệp 18

1.4.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) 19

1.4.2 Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior) 20

1.4.3 Ý định và ý định khởi nghiệp 20

1.4.4 Mối quan hệ giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp 22

1.5 Các mô hình nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp 23

1.5.1 Mô hình nghiên cứu của Shaper&Sokol (1982) 23

1.5.2 Mô hình nghiên cứu của Robinson & ctg (1991) 24

1.5.3 Mô hình nghiên cứu của Krueger & Brazeal(1994) 25

1.5.4 Mô hình nghiên cứu của Liñán (2004) 26

1.5.5 Mô hình nghiên cứucủa Lithje Franke 26

1.5.6 Các nghiên cứu trước tại VN 27

1.6 Mô hình lý thuyết và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên 28

Trang 4

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA

SINH VIÊN NĂM CUỐI KHỐI NGÀNH NGOÀI SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI

HỌC QUẢNG BÌNH 32

2.1 Giới thiệu về trường Đại học Quảng Bình 32

2.2 Khái quát tình hình khởi nghiệp của sinh viên 32

2.2.1 Sinh viên Việt Nam 32

2.2.2 Sinh viên Đại học Quảng Bình 35

2.3 Kết quả nghiên cứu 37

2.3.1 Mô tả mẫu 37

2.3.2 Kết quả kiểm định thang đo 38

2.3.3 Phân tích nhân tố khám phá 39

2.3.4 Phân tích hồi quy 40

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN CUỐI KHÓA KHỐI NGÀNH NGOÀI SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH 43

3.1 Giải pháp cho sinh viên 43

3.1.1 Nâng cao năng lực khởi nghiệp bao gồm tố chất doanh nhân, kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp 43

3.1.2 Nâng cao khả năng huy động vốn cho dự án khởi nghiệp 45

3.2 Kiến nghị đối với trường đại học Quảng Bình 46

3.2.1 Khơi dậy và khám phá tố chất doanh nhân của sinh viên 46

3.2.2 Truyền cảm hứng và nuôi dưỡng thái độ ý chí khởi nghiệp của sinh viên 46

3.2.3 Xây dựng và thực hiện các chương trình định hướng khởi nghiệp cho sinh viên 46

3.2.4 Tăng cường tính thực tiễn trong chương trình đào tạo 47

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 51

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

3 Bảng 3 Độ tin cậy của thang đo - Cronbach’s Alpha 12

4 Bảng 1.1 Các nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục và ý định

khởi nghiệp

22

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỔ, HÌNH

2 Hình 1.1 Mô hình thuyết hành động hộp lý TRA 19

3 Hình 1.2 Mô hình thuyết hành vi dự định TPB 20

4 Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu của Shaper&Sokol (1982) 23

5 Hình 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của

Robinson 1991

25

5 Hình 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của

Krueger & Brazcal (1994)

25

6 Hình 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của

Liữán, 2004

26

7 Hình 1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của

Lithje & Franke (2004)

27

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN

Năm học: 2018 - 2019

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh

của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm Trường Đại học Quảng Bình

- Sinh viên thực hiện: Võ Thị Khánh Hạ

- Lớp: Đại học Kế toán Khoa: Kinh tế - Du lịch Năm thứ: 2

- Người hướng dẫn: Th.s Lê Khắc Hoài Thanh

2 Mục tiêu đề tài:

Đề tài có 3 mục tiêu chính về hoàn thiện cơ sở lý luận, Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình Và xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình

Mục tiêu của đề tài phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao nhằm giúp sinh viên khởi nghiệp thành công

3 Kết quả nghiên cứu:

Là nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài liên quan đến vấn đề khởi nghiệp của sinh viên

Các phòng, ban, các khoa liên quan có thể ứng dụng các giải pháp nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên

4 Tính mới và sáng tạo:

tài đã lượng hóa được các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong đó, kiến thức là yếu tố có tác động cùng chiều và mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và yếu tố gia đình và bạn bè là yếu tố có ảnh hưởng ít nhất đến ý định này Đề tài đã đề xuất các giải pháp và khuyến nghị đối vưới Đại học Quảng Bình giúp sinh viên khởi nghiệp thành công

Trang 8

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Kết quả của đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao và các giải pháp của đề tài có tính khả thi, góp phần giúp sinh viên khởi nghiệp thành công

Các quyết định khởi nghiệp thành công sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp

chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Trang 9

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Võ Thị Khánh Hạ

Sinh ngày: 17/06/1999

Nơi sinh: Thị Trấn , Đô Lương – Nghệ An

Ngành học: Kế toán tổng hợp Lớp: ĐH Kế toán Khóa: 59

Khoa: Kinh tế - Du lịch

Địa chỉ liên hệ: 12 Phùng Khắc Khoan – TP Đồng Hới – Quảng Bình

Điện thoại: 0388500085 Email: hanang6104@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):

* Năm thứ 1:

Ngành học : Kế toán tổng hợp Khoa: Kinh tế - Du lịch

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi

* Năm thứ 2

Ngành học: Kế toán tổng hợp Khoa: Kinh tế - Du lịch

Kết quả xếp loại học tập: Xuất sắc

Ảnh 4x6

Trang 10

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhiều năm qua, lĩnh vực khởi nghiệp đang rất được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của một cá nhân Lee & cs (2006) cho rằng tinh thần khởi nghiệp được chú trọng ở nhiều quốc gia và được xem là cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm Sobel & King (2008) nhận định khởi nghiệp là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những

ưu tiên hàng đầu của các nhà chính sách.Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập với quốc tế, Đảng và Nhà nước ta không ngừng kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân tham gia vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và đổi mới đất nước trên mọi lĩnh vực với mục tiêu: “dân giàu – nước mạnh” Đây là nhiệm vụ to lớn của toàn dân tộc và nó càng trở nên quan trọng đối với giới trẻ, đặc biệt là những sinh viên, những người được kỳ vọng nhiều nhất Để có thể gánh vác trọng trách này, đó phải là những sinh viên tài năng, bản lĩnh, có khao khát làm chủ, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội Khởi nghiệp kinh doanh chính là một trong những hướng đi làm giàu mà các sinh viên sau khi ra trường chọn lựa để hiện thực hóa ước mơ làm chủ của mình

Theo một số chuyên gia trong lĩnh vực khởi nghiệp nhiều bạn rất muốn khởi nghiệp nhưng không biết bắt đầu từ đâu Có những em đã có ý tưởng kinh doanh nhưng không biết làm cách nào biến nó thành tiền Vài em khác lo lắng về vốn, không biết huy động bằng cách nào Nhiều bạn trẻ lại quan tâm đến kỹ năng lãnh đạo doanh nghiệp Một số bạn khác rất mong muốn được gặp trực tiếp những chuyên gia, những người thành đạt, có kinh nghiệm để học hỏi Rõ ràng nhiều bạn trẻ hiện nay có khát vọng, có động lực làm giàu song họ lại gặp khó khăn trong việc tìm ra cách để biến những động lực, khát vọng ấy trở thành hiện thực Họ không biết nên khởi nghiệp từ đâu và như thế nào Họ thiếu nhận thức về các yếu tố cần thiết để khởi nghiệp: “Trong khi non kinh nghiệm lại eo hẹp tài chính, kiến thức cơ bản chưa đủ, thiếu mối quan hệ, các bạn trẻ vẫn ảo tưởng cho rằng thành công sẽ mỉm cười” Thực tế rất đáng buồn nhưng lại có thật, và khá phổ biến

Trang 11

Trong khi đó ở các nước có nền giáo dục tiên tiến và có nền kinh tế phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, vấn đề này lại rất được quan tâm Hầu hết các trường đại học đều

có môn học “Khởi nghiệp kinh doanh” (Entrepreneurship) trong chương trình giảng dạy của mình Nhờ vậy, sinh viên của họ được trang bị một lượng kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp cần thiết Họ thực sự biết mình nên bắt đầu từ đâu, như thế nào, những yếu tố nào cần thiết để khởi nghiệp tốt Chính những điều đó đã vun đắp cho họ

có một ý định khởi nghiệp mạnh mẽ và rõ ràng ngay khi họ còn ngồi trên ghế Nhà trường Vì vậy, họ có khả năng lớn để khởi nghiệp thành công sau khi ra trường Thậm chí, nhiều sinh viên không đợi đến khi nhận bằng tốt nghiệp mới khởi nghiệp kinh doanh: Bill Gates (Đại học Harvard), Michael Dell (Đại học Texas), Larry Page (Đại học Stanford) là những điển hình cho những ông chủ nổi tiếng khởi nghiệp từ ghế giảng đường

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên như: nghiên cứu động cơ để cá nhân lập một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đã được rất nhiều nước và nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện (ví dụ Krueger, 1993; Liñán & ctg, 2005; Davision, 1995);nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên bằng việc so sánh mức độ ý định khởi nghiệp giữa hai nhóm sinh viên nói tiếng Đức (thuộc Đức và Áo) và tiếng Anh (học viện MIT Hoa Kỳ) của Lithje Franke Nhưng tại Việt Nam, đặc biệt là các trường đại học có đào tạo ngành kinh tế thì việc xem xét nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ý định khởi nghiệp của sinh viên còn thiếu và tương đối ít

Trong vài năm gần đây, ở Việt Nam mặc dù trên phương tiện thông tin truyền thông đã phát triển tốt và một số trường đại học cũng đã xuất hiện nhiều chương trình

về khởi nghiệp nhưng ảnh hưởng của nó đến với sinh viên cũng như xã hội chưa cao vì chỉ giải quyết được phần ngọn là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tương lai thể hiện

ý tưởng kinh doanh mà chưa xem xét đến động cơ hình thành ý định khởi nghiệp Một

cá nhân bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình thường khởi nguồn từ ý định khởi nghiệp và tinh thần doanh nhân là động lực phát triển kinh tế (Ali & ctg, 2010; Olufunso, 2010)

Hiện nay, vấn đề khởi nghiệp kinh doanh đang được xã hội quốc tế rất quan tâm, khởi nghiệp kinh doanh được xem là một cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều việc làm Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế chung, hiện nay, các

Trang 12

dự án khởi nghiệp, các chương trình khuyến khích khởi nghiệp được phát triển rộng rãi Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tỷ lệ khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên hiện nay còn thấp, phần lớn sinh viên vẫn có xu hướng vào làm việc tại các doanh nghiệp, các công ty hoặc tổ chức (Nguyễn Quang Dong, 2013).Sinh viên ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Sinh viên có ý định khởi nghiệp mạnh

mẽ thì thường có xu hướng tự mình kinh doanh (lập công ty riêng) trong tương lai gần Bên cạnh đó Astebro (2012) cung cấp bằng chứng ở Mỹ cho thấy khởi nghiệp không chỉ là chương trình dành riêng cho sinh viên ngành kinh doanh mà nó còn là chương trình hết sức quan trọng đối với sinh viên thuộc khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật và cả trong lĩnh vực nghệ thuật Vì vậy có một câu hỏi được đặt ra: điều gì làm nên những ý định khởi nghiệp đầy mạnh mẽ, táo bạo, đầy nhiệt huyết, đam mê trong mỗi sinh viên?

Đó thực sự là một vấn đề không đơn giản đối với nền giáo dục Việt Nam hiện tại Trường Đại học Quảng Bình là trường đào tạo đa ngành, hàng năm có gần 1000 sinh viên hệ đại học chính quy và đại học liên thông vừa làm vừa học tốt nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên có thể tìm thấy việc làm ngay thường không cao, hoặc sinh viên tốt nghiệp thường phải làm việc trái với chuyên ngành được đào tạo Do đó, việc tạo ra những sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng như sau khi tốt nghiệp có ý nghĩa quan trọng mà công tác đào tạo của nhà trường đóng góp cho xã hội Việc này không chỉ đem lại lợi ích cho bản thân sinh viên mà giúp xã hội giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh

đã được thực hiện nhiều ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Ở Việt Nam, cũng đã có một số nghiên cứu về tiềm năng khởi nghiệp của thanh niên và sinh viên, tuy nhiên, hiện chưa có một nghiên cứu nào

về các nhân tố tác động tới ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa tại trường Đại học Quảng Bình Do đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bìnhlà cần thiết Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp kinh doanh

của sinh viên, giúp trường đại học Quảng Bình có thể khơi dậy và khuyến khích tinh thần, cũng như sự tự tin khởi sự kinh doanh của sinh viên theo học tại trường

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trang 13

Khởi nghiệp kinh doanh là việc một cá nhân (một mình hoặc cùng người khác), tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới (Nguyễn Thu Thủy, 2015) hoặc là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại (Bird, 1988) Như vậy, khởi nghiệp kinh doanh không phải là quyết định tại một thời điểm nhất định mà là kết quả của một quá trình, một cá nhân phải có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh trước khi đi đến quyết định khởi nghiệp

Khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó phát triển các

ý tưởng, nhằm tạo dựng một doanh nghiệp mới (Shapero, 1982) Tuy nhiên không phải

ai cũng nắm bắt được các cơ hội để KNKD Một cá nhân có tiềm năng KNKD phải có mong muốn và nhận thấy tính khả thi của việc KNKD (Shapero, 1982), hoặc có thái

độ tích cực và được sự ủng hộ của những người xung quanh, cũng như có khả năng kiểm soát hoạt động KNKD (Ajzen, 1991), hoặc có mong muốn và sự tự tin về khả năng của bản thân để KNKD (Krueger & Brazeal, 1994)

Theo Zahariah Mohd Zain và các cộng sự (2010), các yếu tố: tham gia các khóa học kinh doanh, ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của các thành viên trong gia đình, đặc điểm cá nhân đều ảnh hưởng đến KNDN của sinh viên kinh tế ở Malaysia Đối với sinh viên kinh tế tại Pakistan, ý định KNDN chịu tác động bởi các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng giáo dục và công việc của gia đình; các yếu tố hành vi như sự thu hút chuyên nghiệp (Professional Attraction), năng lực kinh doanh, đánh giá xã hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh, giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến KNDN Trong đó, sự thu hút chuyên nghiệp có tác động mạnh mẽ nhất đến KNDN (Abdullah Azhar, 2010)

Ngoài ra, nghiên cứu của Wenjun Wang (2011) đã chỉ ra rằng, sự ham muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinh doanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến

ý định KSDN của sinh viên ở Trung Quốc và Mỹ Song song đó, nền tảng kinh doanh của gia đình, đạo đức kinh doanh cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định KSDN của đối tượng này Theo Perera K H (2011), với nghiên cứu “Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên các trường ĐH Sri Lanka” đã chỉ ra rằng, các yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý, yếu tố kinh tế và các yếu tố chính trị, pháp lý là những yếu tố nổi bật dẫn đến con đường trở thành doanh nhân Ngoài ra, nghiên cứu còn cho

Trang 14

thấy sinh viên ít chú ý đến việc khởi nghiệp trong khi quan tâm nhiều tới những việc làm khác do không muốn phải chịu nhiều rủi ro và các vấn đề về tài chính

Nghiên cứu của Francisco Liñán (2011) cũng đã kết luận, 5 nhân tố ảnh hưởng chính đến ý định KSDN của sinh viên là sự sẵn sàng kinh doanh (sự nhìn nhận tích cực); thái độ cá nhân; hoạch định, liên minh và hình thành nhân viên (Planification, alliances and formation for employees); sự tăng trưởng - chìa khóa cho sự thành công (Growth as a key feature for success); sự ưu tiên cho các công việc có ích (Preference for remunerative jobs) là những nhân tố tác động đến ý định KSDN của sinh viên đại học ở Tây Ban Nha Maribel Guerrero (2006) đã chỉ ra rằng, hầu hết sinh viên đại học mong muốn phát triển ý định KSDN thông qua một công ty mới mặc dù nhận thức về tính khả thi là không tích cực Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sự tín nhiệm và ý định KSDN của sinh viên Kết quả nghiên cứu của Fatoki (2010) về những động lực và trở ngại đối với ý định KSDN của sinh viên ở Nam Phi cho thấy, 5 động cơ dẫn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là: việc làm, quyền tự chủ, sáng tạo, kinh tế và nguồn vốn; những trở ngại cho mục đích kinh doanh của sinh viên tốt nghiệp là: nguồn vốn, kỹ năng, sự hỗ trợ

Tác giả Lê Quân (2007), với “Nghiên cứu quá trình quyết định khởi nghiệp của doanh nhân trẻ Việt Nam”, đã tiến hành trên mẫu điều tra gồm 159 doanh nhân thành lập doanh nghiệp ở độ tuổi dưới 30 trong giai đoạn 2000 – 2006 Thanh niên sẽ đi đến quyết định khởi nghiệp khi hội đủ 3 yếu tố là phẩm chất cá nhân, khả năng tiếp cận các nguồn lực và cơ hội kinh doanh Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vai trò của gia định, bạn bè, nhà trường rất quan trọng với quá trình hình thành và phát triển tư duy kinh doanh trẻ

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2015) “Các nhân tố tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học”, đã khẳng định sự tác động của các nhân tố môi trường tới tiềm năng khởi sự kinh doanh, đồng thời tác giả cho rằng các trải nghiệm cá nhân trong đó có các trải nghiệm được tiếp cận trong quá trình học đại học

có tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên; các hoạt động định hướng khởi sự kinh doanh trong và ngoài chương trình đào tạo của trường đại học đều tác động tích cực tới hai khía cạnh là tự tin và mong muốn khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam Nghiên cứu chỉ xem xét ảnh hưởng của một số yếu tố môi

Trang 15

trường cảm xúc kết hợp với các yếu tố thuộc trải nghiệm cá nhân tới tiềm năng khởi sự kinh doanh

Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: Trường hợp sinh viên khoa Kinh

tế và Quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ”, được khảo sát trên 233 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai thuộc khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh tại Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu xác định được thứ tự ảnh hưởng theo mức độ quan trọng giảm dần của các nhân tố đến ý định KNKD của sinh viên bao gồm: (1) Thái độ và tự hiệu quả, (2) giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, (3) nguồn vốn, (4) quy chuẩn chủ quan, (5) nhận thức kiểm soát hành vi

Theo Nguyễn Quốc Nghi và các cộng sự (), trong nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học và cao đẳng ở thành phố Cần Thơ” đã cho thấy có 4 nhân

tố tác động đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD, bao gồm: thái độ và sự đam

mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục Trong đó, yếu tố thái độ và

sự đam mê có tác động mạnh nhất đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD Theo Hoàng Thị Thương, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường ĐH Lao động xã hội đó là: Chuẩn mực xã hội, cảm nhận sự khát khao, cảm nhận tính khả thi, cảm nhận môi trường giáo dục đại học, điều kiện thị trường và tài chính, tính cách cá nhân đều có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trong đó, tác giả cho rằng yếu tố cảm nhận sự khát khao là nguyên nhân quan trọng nhất trong việc tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Theo Nguyễn Thị Yến (2011), sự sẵn sàng kinh doanh, tính cách cá nhân và sự đam mê kinh doanh là những yếu tố cá nhân tác động đến ý định KSDN của sinh viên trường Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, yếu tố về nguồn vốn cũng góp phần ảnh hưởng, tuy nhiên thực tế cho thấy, việc sinh viên sau khi ra trường gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, chưa dám mạnh dạn vay vốn để khởi nghiệp nên yếu tố về nguồn vốn ảnh hưởng sâu sắc đến ý định KSDN trong sinh viên Trường hợp đối với nữ học viên MBA tại TP Hồ Chí Minh trong nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Thảo (2013) cho thấy, đặc điểm cá nhân chính là yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định KSDN của đối tượng này Ngoài ra, nguồn vốn cho khởi nghiệp, động cơ

Trang 16

đẩy, hỗ trợ từ gia đình, động cơ kéo và rào cản gia đình cũng ảnh hưởng đến ý định KSDN

3 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các đến ý định khởi nghiệp kinh doanh

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình

- Một số đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Sinh viên cuối khóa năm học 2018 – 2019, khối ngành ngoài sư phạm trường đại học Quảng Bình

Hiện nay, trường Đại học Quảng Bình đang có 10 khoa trực thuộc, trong đó, các khoa Khoa học tự nhiên, Sư phạm Tiểu học – Mầm non, Giáo dục thể chất – Quốc phòng, Âm nhạc – Mỹ thuật chỉ đào tạo ngành sư phạm, vì vậy, sinh viên các khoa này không thuộc đối tượng nghiên cứu

Các sinh viên khối ngành ngoài sư phạm thuộc các khoa Kinh tế - Du lịch, Ngoại ngữ, Lý luận chính trị, Kỹ thuật – CNTT, Nông Lâm Ngư, Khoa học xã hội chính là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài Số lượng sinh viên cụ thể như sau:

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Quy trình nghiên cứu

Trang 17

5.1 Quy trình nghiên c

Hình 1 Quy trình nghiên cứu

(Nguồn: Dựa theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)

Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước:

Bước 1: Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp về khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp của sinh viên hiện nay

Cơ sở lý luận

Lý thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh

- Kiểm tra hệ số Alpha

- Loại các biến có trọng số EFA nhỏ

- Kiểm tra yếu tố trích được

- Kiểm tra phương sai trích được

- Kiểm định mô hình

- Kiểm định giả thuyết

Trang 18

Bước 2: Phỏng vấn sâu sinh viên năm cuối khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình

Bước 3: Thiết kế bảng hỏi dựa trên tài liệu thứ cấp và tham vấn ý kiến chuyên gia

và doanh nhân trẻ

Bước 4: Khảo sát thử và kiểm tra, hoàn thiện bảng hỏi

Bước 5: Thực hiện khảo sát mẫu điều tra

Bước 6: Phân tích số liệu khảo sát bằng phần mềm thống kê SPSS 22

Bước 7: Phân tích tổng thể (cả định lượng và định tính) các số liệu đã thu thập được, xác định vấn đề và nguyên nhân

Bước 8: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị

5.2 Thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập các số liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau như: các bài báo, các đề tài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước đây và các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xác định tổng quan khởi nghiệp của sinh viên và những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình khởi nghiệp của sinh viên hiện nay, các vấn đề đang được đặt ra nhằm thúc đẩy khởi nghiệp của sinh viên

Từ đó nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết và công cụ đo lường sử dụng cho việc nghiên cứu thực tiễn Mô hình lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng và phương pháp phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến khởi nghiệp và kết quả khởi nghiệp của sinh viên được chọn lựa làm căn cứ cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng sinh viên khởi nghiệp thành công

Số liệu sơ cấp: được thu thập theo 2 nguồn:

Điều tra khảo sát:

Đối tượng khảo sát: Sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình

Phương pháp điều tra: Phiếu điều tra được phát trực tiếp tới các đối tượng khảo sát

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể mẫu

Bảng hỏi: bảng hỏi được xây dựng trên thang đo likert 5 điểm Nội dung bảng hỏi bao gồm 2 phần: Phần thông tin chung về người được khảo sát và phần câu hỏi liên quan đến ý định khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của

Trang 19

sinh viên Người được khảo sát được yêu cầu trả lời bằng cách lựa chọn mức độ phù hợp nhất trong các thang điểm từ 1 đến 5 Quá trình xây dựng bảng hỏi được tiến hành qua 2 bước:

- Bước 1: nghiên cứu tổng kết lý thuyết về kết quả và các nhân tố ảnh hưởng đến

ý định khởi nghiệp để dự thảo bảng hỏi

- Bước 2: phỏng vấn sâu các chuyên gia để hoàn thiện bảng hỏi

Thang đo và các biến quan sát được thiết kế như sau:

Bảng 2 Thang đo và các biến quan sát

Kinh nghiệm và trải nghiệm của bản thân (KN)

KN1 Kinh nghiệm đi làm thêm

KN2 Tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động thực tế tại doanh nghiệp

KN3 Là thành viên của các câu lạc bộ về kinh doanh và khởi nghiệp

KN4 Kinh nghiệm tham gia các cuộc thi về khởi nghiệp

Kiến thức khởi nghiệp (KT)

KT3 Nắm vững phương pháp phân tích và đánh giá tài chính một dự án đầu tư

KT4 Có kiến thức tốt về quản lý chi phí, doanh thu và lợi nhuận

Trang 20

NV1 Tôi có nguồn vốn từ việc tiết kiệm và làm thêm

NV2 Tôi có thể vay mượn từ gia đình và bạn bè

NV3 Tôi có thể tiếp cận từ nguồn vốn khác

Ý định khởi nghiệp (YD)

YD Chắc chắn khởi nghiệp

Trong nghiên cứu này, khảo sát định lượng được thực hiện thông qua bảng hỏi Bảng câu hỏi được nhóm thiết kế, sau đó được gửi trực tiếp đến các đáp viên Đối tượng khảo sát là các sinh viên năm cuối khối ngành ngoài sư phạm tại trường ĐH Quảng Bình Dựa theo nghiên cứu của Hair & ctg (1998) cho tham khảo về kích thước mẫu dự kiến Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát Nghiên cứu này sử dụng 20 quan sát, theo nguyên tắc thì số phiếu điều tra tối thiểu là

100 phiếu Khảo sát định lượng được thực hiện từ tháng 01/2019 – 3/2019 Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra trên một mẫu gôm 130 đối tượng khảo sát Kết quả sau khi loại bỏ những phiếu khảo sát không hợp lệ thì số lượng mẫu thu về là 110 phiếu

5.3 Phân tích và xử lý số liệu

Các dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích và xử lý thông qua 2 phương pháp phân tích là định tính và định lượng Phân tích định lượng sử dụng công cụ phân tích thống kê dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 22 Phân tích định tính được sử dụng kết hợp để phân tích thông tin thu được từ phỏng vấn sâu, cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… để rút ra các nhận xét và kết luận cho vấn đề nghiên cứu

Phân tích số liệu được thực hiện qua các bước:

Bước 1: Tiến hành làm sạch dữ liệu thu được

Bước 2: Mã hóa và nhập số liệu vào phần mềm SPSS

Bước 3: Phân tích thống kê mô tả để tìm ra đặc điểm của mẫu

Trang 21

Bước 4: Kiểm định Cronbach’s alpha nhằm xác định độ tin cậy của thangđo, loại

Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng phương pháp nhất quán nội tại (Internal Consistentcy) thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correclation)

 Hệ số Cronbach’s Alpha

Bảng 3 Độ tin cậy của thang đo - Cronbach’s Alpha

0,8 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 1 Thang đo lường tốt

0,7 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 0,8 Thang đo có thể sử dụng được

0,6 ≤ Cronbach’s Alpha

Có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu

(Nguồn: Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 2, trang 24, NXB Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

 Hệ số tương quan biến tổng (Item - Total Correclation)

Hệ số tương quan biến tổng là hệ số tương quan của một biến với điểm trung

bình của các biến khác trong cùng một thang đo, do đó hệ số này càng cao thì sự tương quan của biến này với các biến khác trong nhóm càng cao Theo Nunnally & Burnstein (1994), các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 03 được coi là biến rác và sẽ

bị loại khỏi thang đo

Độ giá trị hội tụ (Convergent Validity) và độ phân biệt (Discriminant Validity) của thang đo được đánh giá thông qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA

Trang 22

(Exploratory Factor Anlysis)

 Phân tích nhân tố khám phá EFA để rút gọn các biến quan sát và xác định lại các nhóm trong mô hình nghiên cứu

Sau khi mã hóa và làm sạch dữ liệu sẽ tiếp tục được đưa vào để phân tích nhân tố.Trong quá trình phân tích nhân tố các nhà nghiên cứu thường lưu ý những yêu cầu

và tiêu chuẩn như sau:

 Hệ số tải nhân tố (factor loading) > 0.4, nếu biến nào có hệ số tải nhân tố ≤ 0.4 thì sẽ bị loại, factor loading lớn nhất ở cột nào thì thuộc vào nhân tố đó

 Phương sai trích ≥ 50% và eigenvalue có giá trị lớn hơn 1 thì thang đo được

chấp nhận (Gerbing và Anderson, 1998)

 Hệ số KMO (Kaiser Meyer Olkin) trị số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố do vậy giá trị KMO phải nằm giữa 0.5 và 1 (0.5< KMO<1) thì mới phù hợp với dữ liệu thu thập được

6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung báo cáo được chia làm 3 chương: Chương 1 Khởi nghiệp và khởi nghiệp của sinh viên

Chương 2 Kết quả nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối khối ngành ngoài sư phạm trường đại học Quảng Bình

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên cuối khóa khối ngành ngoài sư phạm trường Đại học Quảng Bình

Trang 23

PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 1.1 Khởi nghiệp

Khởi nghiệp, là một thuật ngữchung bao hàm nhiều vấn đề và được địnhnghĩa bằng rất nhiều cách khác nhau Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt được

giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship (hay startup) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Entreprendre” với ý nghĩa

là sự đảm đương

Định nghĩa khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau Theo Richard (1734), khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện hơn và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó Cole (1949) định nghĩa khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm

xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp Penrose (1959) hay Stevenson và Jarillo (1990) đều cho rằng, hoạt động tự làm chủ doanh nghiệp là một quá trình mà cá nhân khởi nghiệp xác định rõ và biết theo đuổi, nắm lấy những cơ hội trong nền kinh tế Trong khi đó Drucker (1985) khẳng định hoạt động này bao hàm ba yếu tố cơ bản như

sự cải tiến, sự chấp nhận rủi ro và sự chủ động Theo Stevenson (1989), khởi nghiệp là

"quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển

ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp" Rabboir (1995) - trích trong Schnurr

và Newing (1997) đã liệt kê ra 20 định nghĩa cho khởinghiệp từ các nghiên cứu khác

Trang 24

nhau về đề tài này Khởi nghiệp trẻ, theo Schnurr và Newing (1997), được định nghĩa

là "ứng dụng thực tế các phẩm chất của doanh nhân, ví dụ như sáng kiến, đổi mới, sáng tạo và mạo hiểm trong môi trường làm việc (hoặc tự khởi nghiệp việc làm hoặc việc làm trong các công ty nhỏ mới thành lập), sử dụng các kỹ năng thích hợp để thành công trong môi trường làm việc

Đến đầu thế kỷ 21, định nghĩa khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng được làm rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy và quá trình tạo ra và phát triển hoạt động kinh tế bằng cách kết hợp sự chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo và/hoặc sự cải tiến trong một tổ chức mới đang tồn tại” - theo Ủy ban cộng đồng Châu Âu (2003) Oviatt and McDougall (2005) thì cho rằng khởi nghiệp là sự khám phá, thực hiện, đánh giá và khai thác những cơ hội để tạo nên những sản phẩm và dịch vụ trong tương lai Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned, 2002)

Sự khởi nghiệp là một quá trình hoàn thiện và bền bỉ bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó phát triển ý tưởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập doanh nghiệp mới Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM) thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và tự tạo việc làm cho mình Vì vậy, khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro để tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê người khác làm việc cho mình Trong nghiên cứu này

có thể định nghĩa: “khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và năng lực củabản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới”

1.2 Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp

Trong từ điển, người khởi nghiệp là người đứng ra sáng lập một doanh nghiệp mới để cung ứng một sản phẩm hay dịch vụ cho một thị trường Knight (1921) cho rằng người khởi nghiệp là người nỗ lực dự đoán và hành động dựa trên sự thay đổi và không chắc chắn của thị trường Đối với McClelland (1961), người khởi nghiệp là người có nhu cầu cao về sự thành công hay thành tựu, là người năng động và dám nghĩ dám làm Họ cũng là người luôn tìm đến sự thay đổi, thích ứng với nó và khai thác những cơ hội Người khởi nghiệp có hiệu quả là người biết cách chuyển đổi từ nguồn

Trang 25

sẵn có thành một “tài nguyên” có thể khai thác - Drucker (1964) Đối với Shapero (1981), một người khởi nghiệp có năng lực là người đón lấy cơ hội để thành lập doanh nghiệp, công ty riêng của mình ngay khi có cơ hội Bird (1988) giải thích người khởi nghiệp là người tạo dựng một công việc kinh doanh mới MacMillan và Katz (1992) lại định nghĩa người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro

Theo nghiên cứu gần đây của Jhonson (2005) thì người khởi nghiệp luôn cố gắng

để phát hiện cơ hội đổi mới sản phẩm hoặc cải tiến các sản phẩm hiện có để kiếm được lợi nhuận Gần đây nhất Ronald May (2013) đã chỉ ra trong nghiên cứu của ông rằng người khởi nghiệp là người “thương mại hóa” sự sáng tạo của mình

Từ những định nghĩa nói trên có thể thấy rõ phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng người khởi nghiệp bao hàm những đặc trưng sau đây: sáng tạo, có xu hướng tìm đến sự cải tiến, nhạy bén trong việc nắm bắt những cơ hội kinh doanh và biết chấp nhận rủi ro Người khởi nghiệp thay vì làm thuê cho một doanh nghiệp, họ thích tự làm chủ công việc kinh doanh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro và hưởng mọi lợi nhuận thu được Họ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế bởi những kĩ năng và sáng kiến cùng sự sáng tạo của họ Tuy nhiên, một người có sẵn tố chất khởi nghiệp cũng chưa đủ để thành công mà cần phải có một chính sách kinh tế phù hợp và thuận lợi, một chiến lược ổn định và sáng suốt Khởi nghiệp gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội là công việc có ý nghĩa đối với người thích quyền lực, thách thức và là

cơ hội phát huy tính sáng tạo

Những người có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh là những người biết nắm bắt các cơ hội kinh doanh mà họ nhìn nhận được, họ còn là những người thích thách thức, chấp nhận sự rủi ro và mạo hiểm Krueger và Brazeal (1994) cho rằng các doanh nhân tiềm năng là những người sẽ chấp nhận rủi ro và tiến hành các hoạt động khi họ thấy tín hiệu của cơ hội kinh doanh Theo Begley và Tan (2001) những cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp là những người chưa từng khởi nghiệp và họ khao khát và có niềm tin vào khả năng thành công khi khởi nghiệp

Tuy các định nghĩa trên khác nhau nhưng đều thống nhất rằng khởi nghiệp cần có

sự chuẩn bị từ trước chứ không hoàn toàn là bẩm sinh Một cá nhân có tố chất khởi nghiệp chưa chắc đã thành công trong việc khởi nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài

Trang 26

Theo các nhà nghiên cứu, cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp là những cá nhân sở hữu các đặc điểm tính cách riêng (sáng tạo, mạo hiểm, chấp nhận rủi ro) Với những tính cách đặc điểm khác nhau sẽ có tiềm năng khởi nghiệp khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu trên chỉ giải thích một phần tiềm năng khởi nghiệp

Krueger và Brazeal (1994) cho rằng một cá nhân có tiềm nằng khởi nghiệp khi

có sự mong muốn và có cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp Khi cá nhân nhận thấy tiềm năng khởi nghiệp họ sẽ có dự định khởi nghiệp và từ đó biến thành các hoạt động khởi nghiệp trong tương lai Khi cá nhân nhận thấy sự hấp dẫn của khởi nghiệp,

họ đã có cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp Có sự cảm nhận về năng lực của bản thân và nguồn lực bên ngoài, họ sẽ có niềm tin về khả năng thực hiện hành vi khởi nghiệp Lúc đó, họ cảm thấy tự tin và khả năng thành công cao với việc khởi nghiệp Một cá nhân nếu chỉ có mong muốn khởi nghiệp, cá nhân đó sẽ không khởi nghiệp được vì họ không có sự tự tin và khả năng khởi nghiệp Ngược lại, cá nhân có

đủ tự tin về năng lực thực hiện các hoạt động khởi nghiệp sẽ không bao giờ thực hiện vì họ không có ý định hoặc không thích Do đó, người có tiềm năng khởi nghiệp phải vừa có mong muốn và sự tự tin

1.3 Sinh viên khởi nghiệp và đặc điểm khởi nghiệp của sinh viên

Theo Schnurr và Newing (1997), khởi nghiệp của sinh viên được định nghĩa là ứng dụng thực tế các phẩm chất doanh nhân của sinh viên, chẳng hạn như đổi mới, sáng tạo và mạo hiểm trong môi trường làm việc, sử dụng thích hợp các kiến thức, kỹ năng, tố chất cần thiết để thành công trong môi trường và văn hóa đó Khởi nghiệp của sinh viên là một hoạt động mà thông qua đó sinh viên học được cách làm thế nào để trở thành chủ một doanh nghiệp thành công Hoạt động này có thể mang hình thức doanh nghiệp hình thành dưới sự trợ giúp từ trường đại học thông qua quá trình tạo dựng kế hoạch kinh doanh, làm việc với các doanh nhân địa phương và các nguồn lực khác của cộng đồng để lập kế hoạch và điều hành doanh nghiệp, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào khác để hình thành nên một doanh nghiệp khi chủ doanh nghiệp vẫn còn là sinh viên khi bắt đầu khởi nghiệp

Khởi nghiệp của sinh viên có một số đặc điểm như sau:

Trang 27

Thứ nhất, đối tượng khởi nghiệp có sức trẻ, sức khỏe, có trí sáng tạo vàham

muốn khởi nghiệp Đây là đặc điểm chung giữa khởi nghiệp của sinh viên với khởi nghiệp của giới trẻ

Thứ hai, sinh viên là những người được đào tạo bài bản, có kiến thứcchuyên sâu

về ngành mình chọn và được rèn luyện những kĩ năng cần thiết ở đại học

Thứ ba, sinh viên chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc bởi họlà nhữngngười trẻ

tuổi, chưa được va chạm và trải nghiệm nhiều cuộc sống kinh doanh

Thứ tư, hầu hết các sinh viên tham gia khởi nghiệp là muốn thểhiện mình,thử

sức mà chưa nghĩ kĩ về ngành nghề kinh doanh cũng như định hướng phát triển trong tương lai Giới trẻ (bao gồm cả sinh viên) khởi nghiệp ngày càng nhiều, hình thức kinh doanh và loại mặt hàng cũng ngày một đa dạng và phong phú

Thứ năm, sinh viên thường thiếu sót trong việc nghiên cứu thị trường.Phần lớn,

sinh viên khởi nghiệp thường chọn mặt hàng kinh doanh rồi mới nghiên cứu thị trường Vì vậy có thể mặt hàng họ chọn không phù hợp với thị hiếu của khách hàng dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh

Thứ sáu, sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung đều gặp phải khó khănkhi khởi

nghiệp là nguồn vốn còn hạn chế; tiếp cận với khởi nghiệp như một sự thử sức chứ chưa có định hướng, kế hoạch rõ ràng; phản ứng trước sự thay đổi của thị trường và những khó khăn vướng mắc trong quá trình kinh doanh còn kém

Như vậy, khởi nghiệp giúp sinh viên kết nối và áp dụng kiến thức học được tại trường vào thực tế; sinh viên có cơ hội tham gia vào việc tự thiết kế phương thức học hỏi của mình và được thúc đẩy để suy nghĩ, lên kế hoạch và hành độngnhư các doanh nhân Khởi nghiệp khuyến khích sinh viên làm việc theo nhóm và tham gia vào từng khía cạnh của một doanh nghiệp: lựa chọn và thiết kế sản phẩm, sản xuất, kiểm soát chất lượng, tiếp thị, bán hàng, quản lý tài chính và sổ sách kế toán Ngoài ra, sinh viên cảm thấy tự hào khi họ có cơ hội không chỉ để kiếm thêm thu nhập mà còn đóng góp cho trường và cho cộng đồng, xã hội

1.4 Ý định khởi nghiệp

Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là ý định khởi nghiệp kinh doanh, mô hình trình bày hai mô hình quan trọng trong dự đoán ý định hành vi Đó là mô hình

Trang 28

thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) và mô hình thuyết hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior)

1.4.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action)

Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (của Ajzen và Fishbein, 1975) cho thấy hành

vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Và hai yếu tố chính ảnh hưởng đến

ý định hành vi là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan Trong đó, thái độ của một cá nhân đối với hành vi được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả hành

vị đó Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên hay không nên thực hiện hành vi (Ajzen, 1991)

Hình 1.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA

( Nguồn Davis& cộng sự,1989)

Tóm lại, lý thuyết hành động hợp lý được phát triển để dự đoán và thấu hiểu được những ảnh hưởng của động cơ thúc đẩy lên những hành vi thực sự, và những hành vi thực sự này không phải chịu sự kiểm soát từ ý chí của cá nhân, đây cũng là điểm hạn chế của lý thuyết này Đồng thời lý thuyết cũng xác định như thế nào, ở đâu

để nhắm đến thay đổi hành vi thực sự, và giải thích được hầu hết các hành vi của con người

Lý thuyết hành động hợp lý đã gián tiếp giải thích quá trình hình thành ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Bắt đầu từ niềm tin tốt đẹp với kinh doanh, con người sẽ hướng sự quan tâm của mình đến việc kinh doanh và mong muốn trở thành một doanh nhân, cộng với những tác động từ những người xung quanh như cha mẹ, bạn bè những tác động này sẽ gián tiếp truyền tải niềm tin hay quan điểm của những người xung quanh lên chủ thể tiếp nhận, cộng với niềm tin và sự quan

Chuẩn chủ quan

Ý định hành vi

Trang 29

tâm hình thành từ trước, con người sẽ hình thành lên ý định khởi nghiệp kinh doanh

mà theo những phân tích có được của họ là mang lại cho họ những lợi ích cao nhất

1.4.2.Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior)

Theo Ajzen (1991) thuyết hành vi dự định TPB ra đời xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát TPB bổ sung vào mô hình TRA yếu tố

“nhận thức kiểm soát hành vi” Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế không (Ajzen, 1991) Mối liên hệ được thể hiện như mô hình bên dưới:

Hình 1.2: Mô hình thuyết hành vi dự định TPB

Nguồn: Ajzen (1991)

Suy rộng từ lý thuyết này có thể nhận thấy rằng để hình thành ý định khởi nghiệp kinh doanh, các sinh viên đều đã phải trải qua một quá trình phân tích, đánh giá cẩn thận, kỹ lưỡng các khía cạnh có liên quan đến ý định đó Khác với lý thuyết hành động hợp lý, ý định không chỉ bị ảnh hưởng bởi các đối tượng xung quanh như cha mẹ, bạn bè và những nhận thức của bản thân sinh viên Nhưng ở lý thuyết này

để có một quyết định chọn lựa, việc chiến thắng hai yếu tố tác động trên, sinh viên phải chiến thắng cả những ý chí thúc đẩy bên trong

1.4.3 Ý định và ý định khởi nghiệp

Ý định (intentions) là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành

vi (Krueger, 2003) Trong một nghiên cứu của mình Ajzen & Fishbein đã phân tích

rõ hơn về ý định với các thành phần biểu hiện của nó Ý định liên quan đến bốn

thành phần khác nhau: hành vi (behavior), mục tiêu (target) – vấn đề chủ thể nhắm

Trang 30

đến, tình trạng (situation) mà hành vi đang thực hiện, thời điểm (time) là hành vi

đang diễn ra (Fishbein & Ajzen, 1975) Để đi đến một hành vi bất kỳ thì cá nhân

phải cảm nhận vấn đề đó trước khi thực hiện Việc cảm nhận này có vai trò quan trọng để quyết định làm hay không làm Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai (Krueger, 1993) Ngày nay thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng ý định là một tiền đề của hành vi dự định (ví dụ như việc chuẩn bị lập công ty cho riêng mình) (Krueger & ctg, 2000) và ý định là những dự đoán tốt nhất cho hành vị thực hiện (Lithie & Franke, 2004) Mọi thứ đều bắt đầu từ những ý định cho dù ý định đó có ngớ ngẩn hay một ý định rõ ràng, được chuẩn bị kỹ càng Sự cố gắng nỗ lực, sự quyết tâm, ý chí, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các yếu tố môi trường sẽ tạo nền tảng để vun đắp những ý định Những ý định rõ ràng và mạnh mẽ chính là động lực bên trong để khiến con người ta dám thực hiện những gì mình muốn, dám thử thách với những khó khăn, trở ngại

Khởi nghiệp (Entrepreneural) thường được nhiều người hiểu theo nghĩa rộng là khởi sự doanh nghiệp Nó thường liên quan đến các hoạt động chuẩn bị cho

cá nhân như tìm ý tưởng kinh doanh, tìm hiểu thị trường, điều kiện sẵn có về tài chính, nhân lực Khởi nghiệp là việc cá nhân tự làm chủ, tự mở công ty (Lý Thục Hiền, 2010)

“Ý định khởi nghiệp” là ý tưởng trở thành doanh nhân của một người nào đó

đã được lên kế hoạch từ trước và có mong muốn đạt được ý tưởng đó Người có ý định khởi nghiệp kinh doanh phải chấp nhận bỏ vốn để phát triển sự nghiệp kinh doanh, trở thành người chủ quản lý và phải hướng đến mục đích kiếm lợi nhuận Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp là trạng thái tâm lý cá nhân hướng đến việc hình thành, thiết lập hình thức hoạt động kinh doanh (Bird, 1998) Ý định khởi nghiệp là cam kết khởi sự bằng việc lập doanh nghiệp mới (Krueger, 1993) Ý định khởi nghiệp là sẵn sàng thực hiện các hoạt

động của doanh nhân (Gurbuz & Aykol, 2008) Tóm lại, ý định khởi nghiệp có thể

hiểu là dự định và cam kết khởi sự kinh doanh của cá nhân bằng cách lập công ty riêng trong tương lai

Trang 31

1.4.4 Mối quan hệ giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp

Gần đây, việc giáo dục tinh thần doanh nhân (Entrepreneurship education) trở thành vấn đề quan tâm ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Một loạt các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo dục tinh thần doanh nhân có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, phát triển nghề nghiệp cho sinh viên và góp

phần tạo ra các doanh nhân thành đạt (Garba, 2010; North, 2002; Ahmed & cty,

312 sinh viên Munich của Đức)và 148 sinh viên nói tiếng Anh của học viên MIT Hoa Kì

Có sự khác biệt trong ý định khỏi nghiệp của 2nhóm đối tượng nghiên cứu Nhóm sinh viên thuộc học viên MIT Hoa Kì có ý định khởi nghiệp và tham vong kinh doanh cao hơn so với sinh viênthuộc nhóm đại học nói tiếng Đức

Sự khác biệt là do tinh thần doanh nghiệp

Liñán,(2004)

166 sinh viên thuộc ngành quản trị kinh doanh, kinh tế học và một số ít thuộc ngành khác các trường phía Nam Tây Ban Nha

Kiến thức kinh doanh tác động tích cực đến ý định khỏi nghiệp của các sinh viên

Trang 32

Brice(2004)

315 sinh viên Quản trị kinh doanh ở bậc đại học , cao học nghiên cứu sinh trường đại học Veterinary Medicyne và Large phía Đông nam Hoa kì

Ý định khởi nghiệp tăng dần theo trình độ học vấn

Gaddam(2008) 225 sinh viên cao học quản trị

kinh doanh thuộc một số trường

ở Hyderabar , Ấn Độ

Cảm nhận về môi trường gáo dục đại học ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp

Nguồn: Nguyễn Doãn Chí Luân, 2012

Trong khi ở Việt Nam, khái niệm tinh thần doanh nhân còn khá xa lạ và chưa được nghiên cứu nhiều thì dựa vào Bảng 1.1 đã cung cấp bằng chứng tương đối quan trọng về ảnh hưởng của giáo dục, đặc biệt là giáo dục tinh thần doanh nhân đối với các sinh viên thuộc các trường Đại học Môi trường giáo dục đại học không chỉ cung cấp kiến thức vềkinh tế, kỹ thuật liên quan đến nghề nghiệp cho sinh viên mà còn là động lực thúc đẩy họ khám phá và thành công hơn trong việc khởi nghiệp kinh doanh

1.5 Các mô hình nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp

1.5.1 Mô hình nghiên cứu của Shaper&Sokol (1982)

Mô hình này xem xét việc lập doanh nghiệp mới như là một sự kiện kinh doanh (entrepreneurial event) có thể được giải thích bằng sự tương tác giữa các yếu tố thuộc hoàn cảnh (context factors) đó là sáng kiến, tập trung nguồn lực, sự quản lý, quyền tự chủ một cách tương đối và rủi ro) Quyết định xem xét, lựa chọn việc kinh doanh phụ thuộc vào một số thay đổi bên ngoài (Peterman & Kennedy, 2003) và dựa trên cảm nhận (perceptions) Theo nghiên cứu này, sự lựa chọn cá nhân để bắt đầu khởi nghiệp phụ thuộc vào 3 yếu tố: (a) Cảm nhận sự khát khao, (b) Xu hướng hành động và (c) Cảm nhận tính khả thi

Trang 33

Hình 1.3: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp

(Nguồn: Shapero & Sokol, 1982)

Cảm nhận sự khát khao và cảm nhận tính khả thi được hình thành từ môi trường văn hóa và xã hội nơi chủ thể ý tưởng kinh doanh đang sống Tác giả lập luận rằng, cảm nhận sự khát khao và tính khả thi sẽ giúp cá nhân nghiêm túc xem xét ý định khởi nghiệp cũng như hành vi khởi nghiệp có được thực hiện hay không Cảm nhận sự khátkhao ảnh hưởng đến sự kiện kinh doanh” thông qua sự hấp dẫn của công việc hay hành động sắp diễn ra và làm cho cá nhân cảm thấy thích thú Cảm nhận tính khả thi bị ảnh hưởng bởi các vấn đề như kỹ năng của cá nhân, rủi ro có thể xảy ra với kế hoạch kinh doanh, nguồn nhân lực hay tài chính Những yếu tố này có thể lôi kéo thúc đẩy cá nhân đi đến ý định khởi nghiệp Mô hình này được kiểm định bởi các nhà nghiên cứu nhu Krueger (1993), Miar & Noboa (2003)

1.5.2 Mô hình nghiên cứu của Robinson & ctg (1991)

Mô hình xu hướng thái độ kinh doanh

Mô hình nhấn mạnh đến thái độ của doanh nhân và cho rằng xu hướng của thái

độ sẽ giải thích ý định khởi nghiệp tốt hơn các cách khác Cách tiếp cận ý định khởi nghiệp bằng các khái niệm, lý thuyết về thái độ và hành vi kinh doanh thì tốt hơn nghiên cứu theo hướng nhân khẩu học, nhân cách, môi trường vì có nhiều hành vi cụ thể hơn là đặc tính cụ thể (Graddam, 2008) Theo mô hình này, ý định khởi nghiệp được giải thích bởi sự thành đạt, sự tự trọng, khả năng kiểm soát cá nhân, đổi mới thể hiện qua ba cách phản ứng (tình cảm, nhận thức, ý muốn) (Guerrero & ctg, 2008) Robinson lập luận rằng việc sử dụng thái độ để dự đoán hành vi kinh doanh thì tốt hơn là sử dụng tính cách vì ông cho rằng thái độ thay đổi thì hành vi sẽ thay đổi, còn tính cách thì khó thay đổi hay chậm thay đổi nên hành vi cũng khó thay đổi theo

Do đó tác giả đề nghị cần chú trọng đến việc xem xét mối tương quan giữa thái độ yếu

tố dự báo) và ý định kinh doanh (biến phụ thuộc) Mô hình này có điểm tương đồng với mô hình của Ajzen vì cùng đề cập đến thái độ, và ở đây còn chỉ ra rằng thái độ có được là do quá trình giáo dục tinh thần doanh nhân

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Dong, Lê Anh Đức (2013). Đánh giá tình trạng việc làm của sinh viên chính quy tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế quốc dân – Kết quả từ một cuộc khảo sát. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 189, tháng 03/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Dong, Lê Anh Đức (2013). Đánh giá tình trạng việc làm của sinh viên chính quy tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế quốc dân – Kết quả từ một cuộc khảo sát. "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Quang Dong, Lê Anh Đức
Năm: 2013
2. Lý Thục Hiền (2010), “Mối quan hệ giữa kỹ năng chính trị với xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên chính quy ngành quản trị kinh doanh”, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thục Hiền (2010), "“Mối quan hệ giữa kỹ năng chính trị với xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên chính quy ngành quản trị kinh doanh”
Tác giả: Lý Thục Hiền
Năm: 2010
3. Lê Quân (2007). Nghiên cứu quá trình quyết định khởi nghiệp của doanh nhân trẻ Việt Nam- TP.HCM. Tạp chí Phát triển kinh tế, Số 7/ 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quân (2007). Nghiên cứu quá trình quyết định khởi nghiệp của doanh nhân trẻ Việt Nam- TP.HCM. "Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Lê Quân
Năm: 2007
4. Hoàng Thị Phương Thảo (2013), “Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học”,Trường đại học mở,TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Thị Phương Thảo (2013), "“Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học”
Tác giả: Hoàng Thị Phương Thảo
Năm: 2013
5. Nguyễn Đình Thọ (2012), “Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh” NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Thọ (2012)", “Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh”
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
Năm: 2012
6. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), “Phân Tích Dữ Liệu Nghiên Cứuvới SPSS”, tập 1 và 2, NXB Hồng Đức, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008)", “Phân Tích Dữ Liệu Nghiên Cứuvới SP"SS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
7. Nguyễn Thu Thủy (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học. Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thu Thủy (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học. "Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2015
8. Phan Anh Tú, Giang Thị Cẩm Tiên (2015), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: Trường hợp sinh viên khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 38(2015)Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Anh Tú, Giang Thị Cẩm Tiên (2015), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: Trường hợp sinh viên khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ”, "Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Phan Anh Tú, Giang Thị Cẩm Tiên
Năm: 2015
10. Ajzen (1991). The Theory of Planned Behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, Vol.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ajzen (1991). The Theory of Planned Behavior. "Organizational Behavior and Human Decision Processes
Tác giả: Ajzen
Năm: 1991
11. Åstebro, T., Bazzazian, N., &amp; Braguinsky, S. (2012). Startups by recent university graduates and their faculty: Implications for university entrepreneurship policy. Research Policy, 41(4), 663–677.doi:10.1016/j.respol.2012.01.004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Åstebro, T., Bazzazian, N., & Braguinsky, S. (2012"). Startups by recent university graduates and their faculty: Implications for university entrepreneurship policy
Tác giả: Åstebro, T., Bazzazian, N., &amp; Braguinsky, S
Năm: 2012
12. Begley &amp; Tan (2001) “The Socio-Cultural Environment for Entrepreneurship: A Comparison Between East Asian and Anglo-Saxon Countries” - Journal of International Business Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Begley & Tan (2001) “The Socio-Cultural Environment for Entrepreneurship: A Comparison Between East Asian and Anglo-Saxon Countries
13. Bird, B. (1988). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. A cademy of Management Review, 13(3), pp.442-453 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bird, B. (1988). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. "A cademy of Management Review
Tác giả: Bird, B
Năm: 1988
14. Davidsson P (1995), Determinants of the entrepencurial intentions, Paper presented at the RENT IX Workshop, Piacenza, Italy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Davidsson P (1995), Determinants of the entrepencurial intentions, "Paper presented at the RENT IX Workshop
Tác giả: Davidsson P
Năm: 1995
15. Hair JF &amp;ctg (1998), Multivariate DataAnalysis, 5th ed, Upper Saddle River NJ: Prentice – Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hair JF &ctg (1998), "Multivariate DataAnalysi
Tác giả: Hair JF &amp;ctg
Năm: 1998
16. Fishbein M &amp; Ajzen I (1975), Belief Attitude Intention and Behavior: An Intraduction to Theory and Research, New York, NY: Addison – Wesley Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fishbein M & Ajzen I (19"75), Belief Attitude Intention and Behavior: An Intraduction to Theory and Research
Tác giả: Fishbein M &amp; Ajzen I
Năm: 1975
19. Liủỏn F, Rodrrisguez-cohard JC &amp; Rueda-Cantuche JM (2005). Factor affectin entrepreneurial intention levels, 45th congress of the European Regional Science Association, Amsterdam, 23-27 august Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liủỏn F, Rodrrisguez-cohard JC & Rueda-Cantuche JM (2005). Factor affectin entrepreneurial intention levels, "45th congress of the European Regional Science Association, Amsterdam
Tác giả: Liủỏn F, Rodrrisguez-cohard JC &amp; Rueda-Cantuche JM
Năm: 2005
20. Lüthje C &amp; Franke N (2004), Entrepreneurship Intentions of Business Students: A Benchmarking Study, Internetional Journal of Innovation and TechnologyManagement, Working Paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lüthje C & Franke N (2004), Entrepreneurship Intentions of Business Students: A Benchmarking Study, "Internetional Journal of Innovation and TechnologyManagement
Tác giả: Lüthje C &amp; Franke N
Năm: 2004
21. North E (2002), A decade of entrepreneurship education in South Africa, South Africa Journal of Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: North E (2002), A decade of entrepreneurship education in South Africa
Tác giả: North E
Năm: 2002
22. MacMillan I. C. &amp; Katz J. A. (1992) “Idiosyncratic milieus of entrepreneurial research: The need for comprehensive theories”. In Bird, B. (1988),“Implementing entrepreneurial ideas: the case for intention”, Academy of Management Reviwen Sách, tạp chí
Tiêu đề: MacMillan I. C. & Katz J. A. (1992) “Idiosyncratic milieus of entrepreneurial research: The need for comprehensive theories”. In Bird, B. (1988), “Implementing entrepreneurial ideas: the case for intention
Tác giả: MacMillan I. C. &amp; Katz J. A. (1992) “Idiosyncratic milieus of entrepreneurial research: The need for comprehensive theories”. In Bird, B
Năm: 1988
23. Robinson, Peter B., (1987) “Prediction of Entrepreneurship based on an Attitude Consistency Model”. In Stevenson, H. H., Roberts, M. J., Grousbeck, H. I., (1985). “New Business Ventures and the Entrepreneur Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robinson, Peter B., (1987) “Prediction of Entrepreneurship based on an Attitude Consistency Model
Tác giả: Robinson, Peter B., (1987) “Prediction of Entrepreneurship based on an Attitude Consistency Model”. In Stevenson, H. H., Roberts, M. J., Grousbeck, H. I
Năm: 1985

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm