Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học từ góc nhìn thi pháp” với mong muốn giúp giáo viên và học sinh Tiểu học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Họ, tên sinh viên chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Như Quỳnh
Ngành học: Giáo dục Tiểu học Khóa học: 52
Khoa: Sư phạm Tiểu học - Mầm non
Quảng Bình, năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội và Nhân văn
Họ và tên sinh viên thực hiện đề tài: Nguyễn Thị Như Quỳnh
Ngành học: Giáo dục Tiểu học Khóa học: 52
Giảng viên hướng dẫn: TS Mai Thị Liên Giang
Quảng Bình, năm 2014
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ bao đời nay, văn hoá dân gian luôn là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống, là niềm tự hào của mỗi dân tộc Trong các loại hình văn hoá dân gian ấy, ca dao tồn tại như một vẻ đẹp trí tuệ, vẻ đẹp của viên ngọc quý sáng lấp lánh Qua bao lớp bụi thời gian, viên ngọc ấy vẫn luôn được khẳng định là “kho báu trí tuệ của nhân dân” Dẫu thời gian
có trôi bao lâu, xã hội có thay đổi thế nào thì những kinh nghiệm, những tri thức ấy vẫn luôn thu hút sự tìm tòi, khám phá của biết bao thế hệ
Ca dao là phần phong phú, quan trọng của văn học dân tộc Nó được nhiều người khẳng định là phần có giá trị nhất về mặt tình cảm và nghệ thuật biểu hiện Ca dao là sản phẩm tinh thần và là nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống tình cảm, cuộc sống lao động, đấu tranh của người Việt Nó là công cụ tư duy và là công cụ diễn đạt sắc bén, lưu giữ một kho tàng tri thức, những nếp sống đẹp, những kinh nghiệm quí giá mà cha ông ta để lại, giúp bồi đắp các giá trị đạo đức, nhân cách cho con người Đồng thời ca dao
là kho tàng biểu đạt ngôn ngữ tinh tuý của dân tộc Ngoài việc phản ánh khá chân thực, đầy đủ những kinh nghiệm về cuộc sống, xã hội, lịch sử ca dao còn biểu hiện tâm trạng của các nhân vật trữ tình Đằng sau những bài ca dao thuần hậu, thiết tha, đằm thắm là ước nguyện tốt đẹp trong cuộc sống Đây là một phần quan trọng của tư liệu khoa học dân gian và triết lý dân gian Gắn với lao động, với tự nhiên và những thăng trầm của lịch
sử xã hội, nhân dân đã bộc lộ kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức qua ca dao.Việc nhận biết, cảm thụ sâu sắc ý nghĩa, cấu tạo, nội dung các câu ca dao là rất cần thiết, giúp giáo viên cảm nhận được nét đặc sắc của ca dao; đồng thời góp phần giúp giáo viên dạy tốt môn tiếng Việt Mặt khác, ca dao còn rèn luyện cho học sinh khả năng tiếp nhận, vận dụng, sáng tạo, trau dồi vốn kiến thức và nâng cao khả năng diễn đạt của học sinh
Trong chương trình Tiểu học, ca dao cũng đã được đưa vào giảng dạy khá nhiều Tuy nhiên, do yêu cầu thực tế, người dạy và người học chỉ xem ca dao là một phần ngữ liệu của tiếng Việt nên giáo viên chưa có điều kiện phát triển năng lực cảm thụ của học sinh; chưa phát huy hết yếu tố giáo dục đạo đức, nhân cách của các bài ca dao trong giờ học Ở Tiểu học, ca dao chủ yếu được tìm hiểu từ góc độ nội dung, nghiên cứu ca dao từ góc độ thi pháp học vẫn chưa được chú ý Hiện nay, áp dụng thi pháp học để tìm hiểu các thể loại văn học đang thu hút được nhiều sự quan tâm của sinh viên ở các trường
Trang 4Đại học Việc vận dụng thi pháp học nghiên cứu thể loại ca dao góp phần đưa lại cái nhìn khoa học và khắc phục khoảng trống trong nghiên cứu văn học ở Tiểu học Xuất phát từ
những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Ca dao trong chương trình tiếng
Việt Tiểu học từ góc nhìn thi pháp” với mong muốn giúp giáo viên và học sinh Tiểu học
hiểu rõ hơn về bản chất, cấu tạo và ý nghĩa của các bài ca dao được đưa vào giảng dạy trong chương trình tiếng Việt
2 Lịch sử vấn đề
Văn học dân gian là “mảnh đất nghệ thuật vô tận” của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn Đã có nhiều nhà nghiên cứu và những công trình nghiên cứu về văn học dân gian Việt Nam với nhiều quy mô lớn Từ góc độ thi pháp, chúng tôi nhận thấy một số tác giả đã có những thành công nhất định
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong tác phẩm “Dẫn luận thi pháp học”, NXBGD,
H.1998 đã chỉ ra rằng: thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội, mà thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ, thể loại Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức Quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cũng gần với
quan điểm của GS.TS Trần Đình Sử Trong “Phương pháp luận nghiên cứu văn học”, NXB
Khoa học và Xã hội, H.2004 ông cho rằng phương pháp chủ yếu của thi pháp học là phương pháp hình thức Chúng ta có thể hiểu phương pháp hình thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó
Hai quan điểm trên của các nhà nghiên cứu đã khẳng định: các tác phẩm văn học được nghiên cứu bằng con đường thi pháp học tức là thông qua việc làm rõ các phương thức nghệ thuật để tìm ra được nội dung của tác phẩm
Đi sâu vào việc nghiên cứu thi pháp thể loại văn học dân gian, công trình“Những
đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian” của GS Đỗ Bình Trị, NXBGD, 1999
đề cập tới mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp thể loại: “Thể loại được gọi là
đơn vị cơ sở của văn học dân gian và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu văn học dân gian Và mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy Có nắm được thi pháp thể loại thì mới có khả năng phân tích, “giải mã” các tác phẩm thuộc thể loại Tác giả cũng chỉ ra rằng: trong nhà
Trang 5trường “việc nghiên cứu thi pháp thể loại giúp người giáo viên không những có khả năng
tự mình hiểu đúng, hiểu sâu hơn các tác phẩm văn học dân gian trong chương trình mà
có khả năng hoàn thiện hệ thống thao tác phân tích tác phẩm nhằm luyện tập cho học sinh cách đọc - hiểu tác phẩm ngay chính trong quá trình các em được hướng dẫn, tìm hiểu tác phẩm” [33, tr 6] Như vậy, ở đây một lần nữa tác giả lại nhấn mạnh tới vai trò của thi pháp thể loại, coi nó là chìa khoá giúp cho người giáo viên mở cánh cửa văn học dân gian trong nhà trường Cũng xuất phát từ đó, khi đề cập đến những đặc điểm thi pháp của ca dao, tác giả cho rằng: “sự tổng hoà của những đặc điểm thi pháp những nhân vật trữ tình, những hoàn cảnh điển hình trong ca dao, kết cấu ca dao, hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ, thể thơ và sự vận dụng các thể thơ trong ca dao đã tạo nên một phong cách chung bền vững của ca dao truyền thống”
Cũng giống như GS Đỗ Bình Trị, nhà folklor học Nguyễn Xuân Kính cũng nghiên cứu thi pháp thể loại văn học dân gian, nhưng ông không nghiên cứu thi pháp thể loại chung chung mà tiến hành nghiên cứu thi pháp trên một thể loại cụ thể Nguyễn Xuân Kính tiếp thu quan niệm thi pháp học từ các học giả Nga Ông hiểu nghiên cứu thi pháp
là nhằm chỉ ra cái hay, cái bản chất nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra lí do tồn tại của hình
thức; trong cuốn “Thi pháp ca dao”, NXB Giáo dục KHXH - Hà Nội, 1992 tác giả đã khái
quát đặc điểm thi pháp ca dao như sau: “Xét về mặt thi pháp, bên cạnh những điểm giống thơ của các tác giả thuộc văn học viết, những nét giống vè (một thể loại của văn học dân gian), ca dao có những đặc điểm riêng biệt: Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Đa số các lời ca dao trữ tình là những văn bản biểu hiện Cách sử dụng tên riêng chỉ địa điểm trong ca dao về cơ bản khác với cách dùng loại từ này trong thơ bác học Về thể thơ, 95% ca dao cổ truyền được sáng tác theo thể thơ lục bát Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng Không ít trường hợp trong đó thời gian miêu tả có tính chất công thức, ước
lệ Không gian nghệ thuật trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình
dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hoá, mang tâm trạng, tình cảm chung của nhiều người Tuy cùng xây dựng các biểu tượng trên cơ sở là hiện thực khách quan, nhưng nhiều ý nghĩa của các biểu tượng trong ca dao khác hẳn với thơ bác học Các đặc điểm thi pháp vừa nêu tạo thành một thể loại riêng trong lịch sử văn học Việt Nam: Thể ca dao” [11, tr 233] Với cách hiểu nghiên cứu thi pháp là nhằm chỉ ra cái hay, cái bản chất nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra lí do tồn tại của hình thức, với tác phẩm này ông đã nghiên cứu các yếu tố thi pháp ca dao từ ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, biểu tượng, hình ảnh, thời gian và không gian nghệ thuật Đây là một trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu về thi pháp văn học dân gian Việt Nam
Trang 6Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” đã nghiên cứu
những đặc điểm của nghệ thuật ca dao, ông đã phân tích: nhân vật trữ tình trong ca dao, kết cấu trong ca dao, hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ trong ca dao Ông dựa trên cơ
sở nắm vững những thủ pháp, thao tác của thi pháp học đại cương để tập trung khảo sát các bài ca dao chủ yếu ở các phương diện nghệ thuật nhằm xây dựng một hệ thống
những thuộc tính có tác động thẩm mĩ của nó Hay trong công trình “Bình giảng ca dao”
của mình, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu một lần nữa khẳng định việc đi tìm nội dung thông qua các yếu tố nghệ thuật: “Muốn hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu sắc và thấu đáo một bài ca dao phải bám sát vào từ ngữ của nó, thông qua từ ngữ để tìm ra ý, tứ, sự, tình ở trong đó” [36, tr.34] Như vậy, Hoàng Tiến Tựu đã chú ý đến vấn đề khai thác yếu
tố từ ngữ trong ca dao
Ngoài các công trình được đề cập trên còn có một số các công trình liên quan tới vấn đề thi pháp ca dao đã được đăng tải trên các trang web Những công trình nghiên cứu này đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của nội dung, kết cấu và ý nghĩa của các bài ca dao Ví dụ: Đặc điểm thi pháp ca dao dân ca; Thơ lục bát ca dao Việt Nam; Ca dao – ngôn ngữ thơ dân gian; Luận văn đặc trưng không gian, thời gian trong ca dao, Tìm hiểu các nhân tố giao tiếp trong ca dao tình yêu Tuy nhiên, hầu hết các đề tài này nghiên cứu thi pháp ca dao từ cái nhìn khái quát, chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu thi pháp ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học
Ở nước ta, tính đến tháng 01 năm 2013 đề tài “Ca dao trong chương trình tiếng
Việt Tiểu học từ góc nhìn thi pháp” vẫn chưa có ai nghiên cứu Chúng tôi xem những
công trình nghiên cứu trên là những cơ sở khoa học quý báu của đề tài
Trang 7phần giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ hơn về ca dao từ góc nhìn thi pháp Từ đó, có cách dạy, học và cảm thụ một cách sâu sắc các câu ca dao; góp phần làm giàu vốn từ, vốn sống cho các em qua các bài ca dao, bồi đắp tình yêu tiếng Việt cho các thế hệ trẻ của đất nước
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học từ góc nhìn thi pháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết là chủ yếu Đây là những phương pháp nhằm phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu Sử dụng phương pháp này trong đề tài chúng tôi nhằm làm rõ các khái niệm: thi pháp, thi pháp học, ca dao, những đặc trưng của thi pháp ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học Từ nhiều quan điểm khác nhau chúng tôi đưa ra một cách hiểu chung nhất về khái niệm có liên quan đến đề tài Cụ thể, gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Bằng phương pháp chúng tôi nghiên cứu thu thập số liệu và thống kê phân tích để phân loại đối tượng khảo sát Phương pháp này được sử dụng trong việc khảo sát văn bản, giúp thống kê phân loại, tìm hiểu tần số xuất hiện một cách tỉ mỉ, cụ thể, đầy đủ những thi pháp đặc trưng của ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học Vận dụng phương pháp này chúng tôi có thể dựa theo các tiêu chí phân loại ca dao theo độ dài để khảo sát các bài ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học, phân chia các bài ca dao theo từng nhóm, thống kê số lần xuất hiện của các loại ca dao
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Vận dụng phương pháp này, chúng tôi so sánh, đối chiếu, đánh giá những sự vật, hiện tượng để thấy được sự tương đồng, khác biệt trong mối tương quan tổng thể, rút ra những nhận định cần thiết Phương pháp đối chiếu so sánh được chúng tôi sử dụng khi đối chiếu so sánh các đặc trưng
cơ bản của thi pháp ca dao; đối chiếu so sánh các thể loại gần gũi với ca dao; đối chiếu so sánh ca dao đặc điểm nghệ thuật của ca dao truyền thống và ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học để thấy được những đặc điểm riêng của ca dao ở Tiểu học
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp phân này, chúng tôi phân chia cái tổng thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những yếu tố
Trang 8cấu thành đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện thuộc tính và bản chất của các yếu tố
đó Từ đó chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy Phương pháp này được sử dụng trong
đề tài giúp chúng tôi phân tích các yếu tố nghệ thuật đặc trưng của ca dao để khái quát thành bình diện nghiên cứu theo hướng thi pháp học
- Phương pháp hệ thống: Nghiên cứu ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học về các phương diện nhân vật, kết cấu, thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ và đặt nó trong
hệ thống ca dao truyền thống; thống kê các bài ca dao theo bình diện nghiên cứu để làm sáng tỏ đặc trưng được biểu hiện
Tất cả các phương pháp này đều được soi chiếu từ góc nhìn thi pháp học
6 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về thi pháp ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học
6.2 Phạm vi nghiên cứu
- Chỉ giới hạn nghiên cứu các bài ca dao được đưa vào giảng dạy trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học hiện nay
7 Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận:
Việc thực hiện đề tài “Ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học từ góc nhìn thi
pháp” góp phần vận dụng lý thuyết thi pháp học vào nghiên cứu một thể loại văn học
dân gian trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học: thể loại ca dao
Về mặt thực tiễn:
Ca dao là một thể loại khá tiêu biểu và có vị trí quan trọng trong nền văn học dân gian của dân tộc cũng như trong đời sống xã hội Nó là một kho tri thức độc đáo cả về nội dung lẫn nghệ thuật Ca dao ra đời, tồn tại qua nhiều thế hệ, gắn bó, gần gũi, thân thiết như là máu thịt, hơi thở, nếp nghĩ của nhân dân ta Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với qui mô lớn nhỏ khác nhau về các vấn đề liên quan tới ca dao, đặc biệt dựa theo quan điểm thi pháp thể loại ca dao Tuy nhiên, hầu hết các công trình đó chỉ nghiên cứu thi pháp ca dao từ cái nhìn khái quát chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu thi
Trang 9pháp ca dao trong chương trình tiếng Việt ở nhà trường Trong đề tài này, chúng tôi hệ thống hoá các bài ca dao được sử dụng trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học, dựa trên những quan điểm, nhận định về thi pháp ca dao để tiến hành tìm hiểu, làm sáng tỏ một số bình diện đặc trưng của ca dao từ góc nhìn thi pháp Từ đó, giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ hơn về bản chất, hình ảnh, kết cấu, ngôn ngữ được sử dụng trong ca dao; góp phần dạy - học tốt môn tiếng Việt; giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, phát triển nhân cách cho học sinh; giáo dục học sinh lòng yêu văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Nhân vật trữ tình, hoàn cảnh điển hình, kết cấu, thể thơ lục bát của ca dao
trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học
Chương 3: Hình ảnh văn học và ngôn ngữ ca dao được sử dụng trong chương trình tiếng
Việt ở Tiểu học
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Từ lâu, văn học dân gian đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nền văn học của dân tộc; nghĩa là sáng tác dân gian luôn là cơ sở nền tảng vững chắc và cốt lõi của văn học thành văn, văn học viết… Việc nghiên cứu văn học dân gian của chúng ta trong nhiều thập kỷ qua vẫn không ngừng được tiến hành và phát triển Một trong những đối tượng thể loại văn học dân gian nhận được nhiều sự quan quan tâm của nhiều thế hệ các nhà khoa học và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đó
là ca dao Dựa theo đặc trưng thể loại, văn học nói chung và ca dao nói riêng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ quan điểm khác nhau Trong đó hiện nay nghiên cứu văn học dưới góc độ thi pháp học đang được quan tâm, đặc biệt là xu hướng vận dụng thi
Trang 10pháp học để tiến hành giảng dạy các thể loại trong nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trong dạy và học Để có cách hiểu nhìn nhận đúng đắn hơn về vấn đề nghiên cứu, trước tiên cần phải hiểu các khái niệm và vấn đề liên quan đến thi pháp, thi pháp ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học
1.1 Cách hiểu về thi pháp và thi pháp học
Thi pháp và thi pháp học là những thuật ngữ không còn mới mẻ với những người học tập, nghiên cứu hoặc quan tâm đến văn học Ngày nay, nó vẫn được xem như là lối phê bình cơ bản trong nghiên cứu, phê bình văn học ở nước ta Nhưng những quan niệm, khái niệm,… của nó vẫn đang còn là vấn đề tranh luận Nó giành cho người nghiên cứu cả một khoảng không mênh mông để tìm tòi thêm Với trình độ của mình, chúng tôi không thể tự đưa ra được khái niệm của nó Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu giới thuyết từ các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước mà chúng tôi sẽ đưa ra cách hiểu về thi pháp và thi pháp học
1.1.1 Thi pháp
Nói đến thi pháp là nói đến đối tượng nghiên cứu của thi pháp học, nói đến tất cả những gì tạo nên đặc trưng về phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm văn học Ở nước ta vẫn còn nhiều cách hiểu về thi pháp Có người quan niệm thi pháp là sự tổng hợp các thành tố của hình thức nghệ thuật trong tác phẩm ngôn từ Có người hiểu rộng hơn, thi pháp không chỉ bao gồm những thành tố kể trên mà còn bao gồm cả những vấn đề loại hình, thể tài, những nguyên tắc và phương pháp phản ánh hiện thực và các phạm trù: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới và con người Thi pháp là cái có thật, gồm nhiều thành tố: ngôn ngữ, nhịp và vần, kết cấu, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, giọng điệu, biểu tượng nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả về cuộc đời và con người Tùy từng thể loại mà mỗi yếu tố trên đậm hay nhạt trong mỗi tác phẩm Ví dụ: truyện mạnh về cốt truyện, văn xuôi mạnh về cấu trúc Hiện nay chúng ta hiểu thi pháp là tổ hợp những đặc tính thẩm
mỹ - nghệ thuật và phong cách của một hiện tượng văn học, là cấu trúc bên trong của
nó, là hệ thống đặc trưng của những thành tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng Nhìn từ góc độ nguyên lý mỹ học, thi pháp được hiểu như là những nguyên tắc biện pháp chung làm cho văn bản, phát ngôn, trở thành tác phẩm văn học nghệ thuật Theo cách tiếp cận từ phân tích phê bình, thi pháp là những nguyên tắc biện pháp nghệ thuật cụ thể tạo thành các đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm, tác giả, thể loại trào lưu
Trang 11Nhìn chung, có nhiều cách hiểu khác nhau về thi pháp Hiện nay có hai cách hiểu khá phổ biến:
Một là: Coi thi pháp là nguyên tắc, biện pháp chung tạo ra các tác phẩm nghệ
thuật Thông thường gọi là “phương pháp làm thơ, làm văn” Lý thuyết mang tính chất
cổ điển, được lưu truyền nhằm bồi dưỡng nhà văn
Hai là: Hiểu thi pháp là nguyên tắc, biện pháp sáng tạo cụ thể, tạo thành đặc sắc
nghệ thuật của một tác giả, tác phẩm, trào lưu, thể loại
Như vậy, có thể thấy thi pháp là tất cả những gì làm nên tính độc đáo, riêng biệt về phương diện phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm, tác giả, thể loại
1.1.2 Thi pháp học
Thi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong ngành nghiên cứu văn học thế kỷ XX, tuy có cội nguồn xa xôi nhưng đã được cải tạo triệt để, mang nội dung mới, rất đa dạng về quan niệm, phương pháp, đồng thời tự nó cũng biến đổi nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử Theo GS Trần Đình Sử: Thi pháp học là bộ môn của ngành nghiên cứu văn học hướng tới nghiên cứu thi pháp Nếu thi pháp là nguyên tắc nằm bên trong tác phẩm văn học thì thi pháp học là khoa học dùng để phát hiện ra, khám phá ra các nguyên tắc thi pháp ấy
Là một môn khoa học, thi pháp học có đối tượng và phương pháp của nó Tuy cùng nghiên cứu tác phẩm và sáng tác thể loại văn học như lịch sử văn học, phê bình văn học, nhưng thi pháp học chỉ chú ý trước hết tới nguyên tắc thi pháp mà thôi Ví dụ khi
phân tích tác phẩm, đối với bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, người ta nghiên
cứu chủ đề tâm lý, phân tâm học, trạng thái ẩn ức của thi sĩ Nhưng thi pháp học tìm hiểu tới nguyên tắc nghệ thuật, từ đó để hiểu các nội dung khác
Theo chỉnh thể thế giới nghệ thuật, thi pháp học nghiên cứu các phạm trù thi pháp, phản ánh các yếu tố, các thuộc tính của thế giới nghệ thuật nói chung và của thế giới nghệ thuật cụ thể nói riêng Các phạm trù đó là thế giới nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thế giới nghệ thuật, biến cố nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật, hình tượng tác giả, cốt truyện, kết cấu, nhịp điệu, giọng văn, lời văn Theo các loại chỉnh thể ta có thi pháp tác phẩm (Ví dụ: Thi pháp Truyện Kiều, Thi pháp Chí Phèo, ), thi pháp tác giả (Ví dụ: Thi pháp Nguyễn Du, Thi pháp Hàn mặc Tử, Thi pháp Nguyễn Tuân, ), thi pháp thể loại (Ví dụ như: Thi pháp tiểu thuyết, Thi pháp thơ, Thi pháp truyện, ), thi pháp trào lưu (Ví dụ: Thi pháp chủ nghĩa hiện thực, Thi pháp
Trang 12chủ nghĩa lãng mạn ), thi pháp giai đoạn văn học (Ví dụ: Thi pháp văn học trung đại, Thi pháp văn học hiện đại, ) Căn cứ theo quá trình lịch sử cho thấy thi pháp lịch sử, nghiên cứu quá trình tiến hoá của các hình thức nghệ thuật, các biện pháp, các thể loại Ví dụ quá trình hình thành, biến đổi một thể thơ: thơ lục bát, thơ song thất lục bát, thơ tự do hoặc của tiểu thuyết.v.v Tương tự như vậy, nếu xem xét về mặt lý thuyết, thi pháp học đảm nhiệm việc nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật, xem nó gồm những yếu tố nào, cách phân xuất văn bản nghệ thuật ra sao, định rõ nội hàm của các phạm trù lý thuyết thi pháp để dùng nó làm công cụ nghiên cứu các thi pháp cụ thể Với đặc trưng bộ môn của mình, thi pháp học tiến hành nghiên cứu nhiều thể loại trong các thời kỳ văn học khác nhau như thi pháp văn học trung đại, thi pháp văn học hiện đại, thi pháp văn học dân gian
1.1.3 Thi pháp văn học dân gian
Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu xem ý kiến của ông Chu Xuân Diên như một định nghĩa Theo Chu Xuân Diên: “Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ thuật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo
đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người” [2, tr.39]
Từ ý kiến trên ông còn nêu những bình diện nghiên cứu cụ thể của việc nghiên cứu thi pháp Văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ như phép so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ, các mô típ và cấu tạo cốt truyện, cách
mô tả diện mạo bên ngoài và tâm lý bên trong của nhân vật, đến việc khảo sát những đặc điểm thi pháp chung của từng thể loại; và những đặc điểm dân tộc của thi pháp Văn học dân gian nói chung,
Đối tượng khảo sát của hướng nghiên cứu thi pháp văn học dân gian là khá đa dạng, thuộc nhiều bình diện khác nhau Người nghiên cứu thi pháp văn học dân gian không chỉ nghiên cứu trên văn bản chữ viết của tác phẩm Văn học dân gian đã được sưu tầm, ghi chép và cố định mà còn cả trong quá trình diễn xướng, lưu truyền bằng ngôn bản lời nói Đó mới là hướng nghiên cứu bám sát đặc trưng riêng của văn học dân gian
và là hướng nghiên cứu có hiệu quả cao Từ định nghĩa và hướng nghiên cứu thi pháp Văn học dân gian nêu trên, ông còn xác lập hệ thống thi pháp của bộ phận văn học này Nói chung chúng ta có thể nghiên cứu Văn học dân gian dưới nhiều cấp độ khác nhau với những lưu ý đặc trưng của Văn học dân gian, đó là: Cấp độ thành tố của từng thể loại như ngôn ngữ, thể thơ, nhân vật, kết cấu, thời gian, không gian nghệ thuật, ; Cấp
độ tác phẩm; Cấp độ gồm những nhóm tác phẩm gồm những bài ca đám cưới, truyện
Trang 13cười kết chuỗi, những truyện về một loại nhân vật nào đó, ; Cấp độ loại hình như thi pháp thơ ca dân gian, thi pháp truyện kể dân gian, Cấp độ thể loại như thi pháp ca dao, tục ngữ, thi pháp truyện cổ tích, ; Và thi pháp ca dao là đối tượng mà đề tài khảo sát
1.2 Cách hiểu về ca dao, phân biệt ca dao và các thể loại gần gũi
Bên cạnh tục ngữ, ca dao là một thể loại đang nhận được nhiều quan tâm Cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề phải tranh cãi, như: khái niệm, các thể loại văn học gần gũi dễ gây nhầm lẫn, Dưới đây, chúng tôi xin khái quát cách hiểu về các vấn đề đó như sau:
1.2.1 Ca dao
Trong kho tàng văn học dân tộc nói chung và văn học dân gian nói riêng, ca dao là thể loại độc đáo Ca dao Việt Nam đã làm giàu thêm, phong phú hơn cho nền văn học Việt Nam và nền văn học thế giới cả về số lượng lẫn chất lượng Ca dao Việt Nam thể hiện cách nhìn, quan niệm, tình cảm của con người Việt Nam về cuộc sống, về con người, về cách đối nhân xử thế của con người trong xã hội
Có thể nói, ca dao là một tấm gương tốt để chúng ta soi mình vào đó, để tắm mình trong những nét đẹp giản đơn, mộc mạc, thuần khiết mà không lạc hậu, quê mùa Ca dao là nơi để người Việt Nam thể hiện tâm tư, tình cảm của mình Ca dao Việt Nam từ xưa đã được nhân dân ta sáng tạo, lưu truyền và phát triển cho đến ngày hôm nay Nó thể hiện cái hay, cái đẹp truyền thống của nhân dân ta trong lao động, sinh hoạt, trong các hoạt động văn hoá xã hội, giao tiếp Đồng thời ca dao là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam Ca dao và dân ca là có quan hệ với nhau rất mật thiết Rất nhiều người nhầm lẫn giữa ca dao và dân ca, có người cho rằng ca dao và dân ca là một Bàn luận về điều này có rất nhiều ý kiến khác nhau Rất nhiều nhà nghiên cứu văn học nói chung và văn học Việt Nam nói riêng đã đưa ra một số khái niệm về ca dao Xin điểm qua quan điểm về khái niệm của ca dao như sau:
Có ý kiến cho rằng: ca dao (ca: bài hát thành chương khúc; dao là bài hát ngắn,
không thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ý nghĩ, tình cảm, nếp sống của đại chúng bình dân Ca dao còn được gọi là phong dao (“phong” là phong tục) Người xưa cho rằng, qua ca dao có thể nhận biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng
Trang 14Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã giải thích khái niệm
ca dao: “Ca dao là những bài hát ngắn, không có chương khúc ” [4, tr.20]
Cũng bàn về khái niệm ca dao, trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập 2) của tập thể
tác giả, Bùi Văn Nguyên (chủ biên) đã nêu: “Ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc (thường là thể lục bát) để miêu tả,
tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [16, tr.38]
Theo Vũ Ngọc Phan, khi phân biệt giữa ca dao và dân ca cũng đã giải thích: “Ca dao
là một loại thơ dân gian, có thể ngâm được như loại thơ khác” [18, tr.42]
Mã Giang Lân cho rằng: “Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian” [13,
tr.9]
Theo Đỗ Bình Trị - Trần Đình Sử trong cuốn “Văn học - Giáo trình đào tạo giáo viên
Tiểu học hệ Cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2” (tập 2) đã cho rằng: Ca dao theo nghĩa
rộng là một khái niệm bao hàm ba yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau, là:
- Lối hát (tức là hình thức sinh hoạt ca hát hay phương thức diễn xướng): có hát trong lễ hội và hát trong ngày thường (hát trong sinh hoạt, hát (hò) trong lao động, );
có hát trơn và hát kèm theo khí nhạc, kèm theo múa, kèm theo trò chơi; có hát cuộc (hát lề lối) và hát vặt; có hát theo “bọn” (tập thể) và hát một người;
- Điệu hát (tức là làn điệu nhạc của những câu hát): bao gồm cả một hệ thống phong phú, từ những điệu hát mộc mạc như hát - nói, kể, (gần như cách “đọc toàn âm
tự nhiên”) đến những điệu hát đã đạt đến trình độ kết tinh cao (đã thành giai điệu) như
lý, hò, hát,
- Lời hát (tức là lời ca đã tước bốn tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi, ) lời của ca dao chính là thơ, là thứ thơ đích thực; cùng với thể loại khác như vè (bao gồm cả đồng dao) và truyện thơ dân gian, nó được xếp vào nền thơ ca dân tộc dưới cái tên chung là thơ ca dân gian [32, tr.257- 258]
Ở trên, tác giả đã nêu quan niệm ca dao theo nghĩa rộng Vậy phải chăng còn có thể hiểu theo nghĩa hẹp nữa, ở đó có sự phân biệt hai thuật ngữ ca dao và dân ca, ít nhiều cần và có thể đặt ra ?
Còn theo Nguyễn Xuân Kính: Ca dao, dân ca là những thuật ngữ Hán - Việt, được giới Văn học dân gian và âm nhạc dân gian sử dụng để chỉ đối tượng là những bài ca và hình thức ca hát truyền thống do nhân dân sáng tác, diễn xướng và lưu hành trong nhân
Trang 15dân từ bao đời nay Thuật ngữ ca dao và dân ca có khi được sử dụng song hành để chỉ
sự gắn bó, mật thiết giữa hai đối tượng ca dao và dân ca; Khi được tách riêng, ca dao dùng để chỉ bộ phận lời thơ dân gian{bộ phận lời có hai phần: lời ca mang nội dung chính và phần lời vô nghĩa (tiếng láy, tiếng đưa hơi)} và dân ca dùng để chỉ chỉnh thể một loại hình ca hát diễn xướng có nhạc điệu và lời ca trong các bài hát dân gian Do quá trình sưu tầm, ghi chép thành văn bản của các nhà sưu tầm, nghiên cứu mà lời bài hát được tách ra khỏi làn điệu âm nhạc và loại bỏ luôn cả các yếu tố khác của dân ca Bộ phận lời thơ này lúc đầu được gọi là phong giao hoặc phong sử, về sau được gọi là ca dao
Những định nghĩa về ca dao càng về sau càng đầy đủ, nêu lên được những tính chất vốn có của thể loại Điều đó cho thấy các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã khám phá ra nhiều đặc trưng mang tính khu biệt, từ đó cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về
ca dao Do chưa thống nhất khi nghiên cứu thể loại ca dao, các nhà nghiên cứu đứng trên nhiều góc độ khác nhau nên cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm
ca dao Tuy nhiên, theo cách lí giải của Đỗ Bình Trị - Trần Đình Sử và Nguyễn Xuân Kính,
có thể đưa ra cách hiểu về ca dao: Ca dao là bộ phận chủ yếu và có vai trò quan trọng
nhất của thơ dân gian, là loại thơ truyền thống có phong cách riêng, được hình thành và phát triển trên cơ sở thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca ngắn và đối tượng ngắn Hay nói một cách dễ hiểu hơn: Ca dao là phần lớn phần lời được rút ra từ các bài hát dân gian và các bài thơ dân gian
1.2.2 Phân biệt ca dao với các thể loại gần gũi
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu ca dao Việt Nam, muốn hiểu được khái niệm cũng như những biểu hiện cụ thể của nó, ngoài việc chỉ ra được các dấu hiệu đặc trưng của nó, chúng ta phải đặt nó trong mối tương quan với các sản phẩm ngôn từ khác có liên quan để thấy được những nét tương đồng cũng như khác biệt giữa chúng Những sản phẩm ngôn từ có liên quan rất dễ nhầm lẫn với ca dao là tục ngữ và dân ca Trong thực tiễn nghiên cứu, việc phân định ranh giới giữa các thể loại không phải là điều dễ dàng Để đưa ra các tiêu chí nhận diện ca dao, chúng ta phải xét nó trong mối quan
hệ tương quan với hai thể loại văn học khác, đó là: dân ca và tục ngữ
a Ca dao và dân ca
Trong “Lối đối đáp trong ca dao trữ tình” khi chỉ ra mối quan hệ giữa ca dao và dân
ca Việt Nam, Cao Huy Đỉnh đã giải thích: “Ngày xưa, phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát Rồi từ những bài hát có những câu tách ra thành ca dao Ca dao sinh ra, còn lại,
Trang 16truyền đi và biến đổi chủ yếu thông qua sinh hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn
ca dao trữ tình còn in đậm rất rõ dấu ấn của dân ca ” [3, tr.17]
Theo Vũ Ngọc Phan: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các giai điệu dân ca” Còn “Dân ca là câu hát đã thành khúc điệu Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt
hình thức” [18, tr.43]
Khi phân biệt ca dao và dân ca, PGS.TS Đặng Văn Lung cho rằng: Các cụ ngày xưa
có nói bỏ ca đi thì còn lại dao, có nghĩa là ca dao và dân ca ra đời cùng một lúc Nhưng không phải tất cả câu hát của dân ca là ca dao Đi sâu vào nghiên cứu thì thấy dân ca phát triển rất nhiều, còn ca dao chỉ có một số chức năng nhất định
Khi phân biệt ca dao và dân ca, Chu Xuân Diên dựa vào các tiêu chí chức năng: (a) Nếu xét dân ca Việt Nam với tư cách là những tác phẩm kết hợp chặt chẽ các phương diện nghệ thuật âm thanh, nhịp điệu và ngôn ngữ, được diễn xướng trong một
số sinh hoạt ca hát nhất định thì việc phân loại chủ yếu gắn liền với dân ca
(b) Nếu xét dân ca Việt Nam với tư cách là những tác phẩm ngôn ngữ, đặc biệt là khi được ghi lại bằng văn tự thì việc phân loại căn cứ vào đối tượng phản ánh của tác phẩm Trong trường hợp này nó là ca dao
Ca dao được thể hiện dưới những câu lục bát ngắn, hàm súc, là những lời thơ dân gian Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục bát, một thể thơ rất âm điệu tiếng Việt Khi có nhiều câu ca dao kết hợp thành một đoạn ngắn và kết hợp với những thể thức hát nhất định nữa thì thành ca dao Theo Chim Văn Bé, ca dao và dân ca khác nhau như sau: Dân ca là những bài hát của dân gian, là những chỉnh thể nghệ thuật với sự gắn bó máu thịt giữa ca từ, làn điệu, giai điệu, gắn liền với môi trường diễn xướng
cụ thể Còn Ca dao là văn bản nghệ thuật, không mang làn điệu và giai điệu về âm nhạc
và không gắn bó trực tiếp với môi trường diễn xướng, được lưu truyền phổ biến bằng
hình thức ngâm, đọc Tóm lại, ca dao và dân ca đều có cùng một nghĩa, đó là: “những
câu hát (bài hát) dân gian” Chúng là những thuật ngữ hoàn toàn tương đương Nói rõ hơn, ca dao là văn bản nghệ thuật phát sinh từ ca từ của dân ca khi tiếng đệm, tiếng láy
bị lược bỏ Nhưng không phải bài dân ca nào cũng trở thành ca dao
Như vậy, điểm khác biệt rõ nhất của ca dao và dân ca là ở chỗ: ca dao là một thể loại được sáng tạo trên cơ sở hình thức thơ lục bát, còn dân ca là lời ca ngắn có giai
Trang 17điệu Vì vậy dân ca thường được nghiên cứu trên phương diện văn hoá nghệ thuật, còn
ca dao có thể được nghiên cứu trên nhiều phương diện: văn học, ngôn ngữ học
b Ca dao và tục ngữ
So sánh về đặc tính của ca dao và tục ngữ, nhà nghiên cứu Hoa Bằng đã cho rằng: Đặc tính của tục ngữ là đem những điều kinh nghiệm về thời tiết, về nhân sự, về thế thái, về tục tình, về cách xử lý, về phương tiếp vật mà nêu lên những bài học thuộc phạm vi nhân cách, tuỳ theo trình độ và hoàn cảnh thời đại Đặc tính của ca dao là khoác hình thức văn chương bình dị và thiết thực mà trau dồi cái ý bóng bẩy, tư tưởng thâm trầm, khiến cho người nghe dễ lĩnh hội vì lời văn nhẹ nhàng, giản dị, tiện ghi nhớ
Xét về ngôn ngữ học, Nguyễn Xuân Kính trong “Thi pháp ca dao” cho rằng: “Tục
ngữ là những đơn vị thông báo, là những câu đơn hoặc câu ghép, là một hay nhiều phán
đoán” [11, tr.47], “Ca dao thường được sáng tác theo thể lục bát” [11, tr.49]
Về mặt hình thức ngôn ngữ, Mã Giang Lân đã nêu: “Ở tục ngữ tư tưởng thường được biểu hiện qua hình thức ngôn ngữ ngắn gọn Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác còn được diễn đạt trong sự vận động phong phú và đa dạng của ngôn ngữ học” Ông còn nói rõ hơn:
“Thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ
thuật cao” [13, tr.14]
Xét về cả hai mặt nội dung và hình thức, căn cứ vào thời gian xuất hiện, Vũ Ngọc Phan cho rằng Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian đã phát triển trước ca dao Ông đưa ra lý do của nhận định như sau: “Tục ngữ là những câu ngắn, có câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè Còn ca dao, ngay ở những bài được coi là cổ thì nhạc điệu cũng đã rất phong phú, lời rất vững chắc, biểu hiện những diễn biến, tiến sâu theo nhiều
cung bậc” [18, tr.53]
Bàn về sự khác nhau giữa ca dao và tục ngữ, Mã Giang Lân đã đưa ra nhận xét:
“Nếu như tục ngữ thiên về lý trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lại thiên về
tình cảm (nội dung trữ tình)” [13, tr.7]
Mã Giang Lân khi bàn về đặc điểm chất thơ được thể hiện trong ca dao và tục ngữ,
trong cuốn Tục ngữ - ca dao Việt Nam, ông đã nêu: “ Tục ngữ cũng là một dạng thơ
Tuy nhiên, chất thơ có thể thấy một cách đầy đủ, toàn diện trong ca dao Sỡ dĩ như thế
Trang 18một phần là vì trong ca dao hiện thực được phản ánh một cách cô đúc hơn trong ngôn
ngữ hằng ngày” [13, tr.8]
Trên phương diện môi trường giao tiếp, Nguyễn Xuân Kính còn đưa ra tiêu chí phân biệt: “Trong hoạt động sinh hoạt văn hoá, ca dao là những lời thơ dân gian được dùng để hát, để ngâm Tục ngữ được dùng trong khi nói Trong hoạt động nói năng, mỗi câu tục ngữ là một câu nói đặc biệt được dùng xen vào giữa những câu nói bình thường
khác” [11, tr.50]
Trên đây là một số quan điểm nghiên cứu và kiến giải về ca dao Việt Nam của những nhà nghiên cứu tiêu biểu Do đứng trên những lập trường nhìn nhận khác nhau nên những kiến giải của các nhà nghiên cứu có khi còn chưa nhất quán
Ngoài các sản phẩm ngôn từ dân gian được thể hiện ngắn gọn trên một dòng có nội dung đúc kết kinh nghiệm đời sống, ta có thể dễ dàng nhận diện đó là tục ngữ Thì bên cạnh đó, có những trường hợp tục ngữ và ca dao giao thoa, xâm nhập lẫn nhau thì
ta rất khó khăn trong việc nhận diện, phân biệt hai thể loại Điều này cũng được một số nhà nghiên cứu lưu ý: “Nhưng thực ra giữa hai thể loại tục ngữ và ca dao không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và
cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức ca dao còn nội dung là tục ngữ” [13, tr.9]
Đặc biệt, có những bài ca dao nêu lên những nhận định về con người, xã hội nên chúng mang dáng dấp tục ngữ Mã Giang Lân cũng đã đề cập tới vấn đề này: “Do nội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao, chủ yếu là những câu ca dao nhận định về con
người và việc đời thì ca dao lại được dùng như tục ngữ” [13, tr.9]
Ví dụ:
Gánh cực mà đổ lên non, Còng lưng mà chạy, cực còn theo sau
Nói chung, việc phân định ranh giới giữa ca dao và tục ngữ không phải là một việc dễ dàng Nhưng theo cách hiểu thông thường ta có thể phân biệt ca dao và tục ngữ ở chỗ: “Tục ngữ thiên về lý trí, tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết lý dân gian,
tri thức dân gian Ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian” [11, tr.50]
1.3 Thi pháp ca dao
Trang 19Ở nước ta, thi pháp ca dao được miêu tả sớm và kỹ hơn cả so với các thể loại khác Thi pháp ca dao là gồm các tổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ thuật mà các tác phẩm thuộc cùng một thể loại thống nhất cùng sử dụng Những yếu tố
đó đã trở thành truyền thống, tạo ra phong cách chung của ca dao Đồng thời, có khả năng biến hoá đem lại cho hình thức nghệ thuật ca dao những sức biểu đạt phong phú khiến ca dao trẻ mãi và còn sống mãi
Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố sau:
- Thể thơ và cách sử dụng các thể thơ hết sức điêu luyện, diễn tả một nội dung cảm nghĩ, mọi sắc thái tình cảm bao gồm: thể thơ lục bát và lục bát biến thể, song thất lục bát và song thất lục bát biến thể, thể thơ tổng hợp (Ngoài ra trong ca dao còn có thể thơ khác như văn vần, thể vãn) Trong đó, thể thơ lục bát chiếm một khối lượng lớn và trở thành thể thơ tiêu biểu nhất trong ca dao
- Lối trữ tình trò chuyện và các kiểu câu từ gắn liền với nó như “những bài hát ru”
- Kết cấu của ca dao ngắn gọn, cô động
- Những cách phô diễn tình tứ
- Thủ pháp nghệ thuật bao gồm các thủ pháp xây dựng hình tượng nhân vật, cấu tạo hình ảnh và các chi tiết nghệ thuật biểu đạt thời gian, không gian
- Cách sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, sinh động, gần với lời nói đời thường
và mang đậm tính khẩu ngữ Tư tưởng tình cảm được bộc lộ một cách trực tiếp thông qua lời nói, câu chữ trong ca dao
- Phương thức diễn xướng gắn liền với các hình thức nghệ thuật của dân ca (hát, hát ru, hò đối đáp, )
1.4 Ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học
1.4.1 Chương trình tiếng Việt ở Tiểu học
Nội dung chương trình tiếng Việt ở Tiểu học gồm những bộ phận sau:
- Kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết)
- Tri thức tiếng Việt (Một số hiểu biết cơ bản về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa )
Trang 20- Tri thức về văn học, xã hội và tự nhiên (Một số hiểu biết cơ bản về sáng tác văn học và cách tiếp cận chúng, về con người với đời sống tinh thần và vật chất của họ, về đất nước và dân tộc Việt Nam )
Nội dung này được sắp xếp theo hai giai đoạn phát triển:
Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3): nội dung dạy học có nhiệm vụ hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết, định hướng việc học nghe, học nói trên cơ sở vốn tiếng Việt mà các em đã có Học đọc, học viết có vị trí rất quan trọng ở giai đoạn này Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5): nội dung chương trình nhằm phát triển kỹ năng đọc, viết, nghe, nói ở mức độ cao hơn Trong đó yêu cầu đọc hiểu và viết một đoạn văn bản hoàn chỉnh được đặc biệt coi trọng
Chương trình tiếng Việt ở Tiểu học sau năm 2000 mỗi năm học 35 tuần lễ Nó gồm
8 phân môn Cụ thể:
- Chương trình Học vần (chủ yếu ở lớp 1): được học trong tuần, bao gồm 103 bài ứng với 206 tiết dạy, được phân bố trong hai tập sách: 83 bài thuộc tập 1 và 20 bài thuộc tập 2 Có thể chia nội dung dạy học học vần làm 3 phần: Phần thứ nhất nhất (6 bài đầu) có nội dung làm quen với e, b, các dấu thanh; Phần thứ 2 gồm 25 bài tiếp theo dành cho các chữ cái và âm; Phần thứ 3 gồm 72 bài giới thiệu các vần phức tạp và các tiếng có vần phức tạp dần
Phân môn Học vần nhằm trang bị cho học sinh cả 4 kỹ năng nhge, nói, đọc, viết Phát triển vốn từ cho học sinh, tập cho các em viết đúng mẫu các câu ngắn, bồi dưỡng lòng ham thích thơ văn cho các em Ngoài ra, học vần còn làm giàu vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội cho học sinh; giáo dục nhân cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức cho các em
- Chương trình Tập đọc: Từ năm 2000 - 2003, chương trình tiếng Việt 2000 (còn gọi là chương trình 175 tuần) không kể những tuần ôn tập dành cho 5 lớp Tiểu học gồm
42 bài Tập đọc ở lớp 1 và 365,5 tiết Tập đọc ở lớp 2, 3, 4, 5 Ở lớp 1 Tập đọc được học từ tuần 23 Từ lớp 2 đến lớp 5 Tập đọc được học 31 tuần (không kể những tuần ôn tập) Ở lớp 2 mỗi tuần có 4 tiết (3 bài) và ở lớp 3 mỗi tuần có 3,5 tiết (3 bài), ở lớp 4 và lớp 5 mỗi tuần có 2 tiết
Tập đọc là một phân môn thực hành, có nhiệm vụ hình thành năng lực đọc cho học sinh (đọc đúng, đọc nhanh, đọc diễn cảm) Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm
Trang 21giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh
- Chương trình kể chuyện: Kể chuyện được dạy ở tất cả các lớp ở bậc Tiểu học và được phân bố cụ thể như sau:
+ Ở lớp 1: Trong học phần Học vần chưa có giờ Kể chuyện riêng, nhưng từ phần Luyện tập tổng hợp (bắt đầu từ tuần 23), mỗi tuần có 1 tiết Kể chuyện
+ Ở lớp 2: Mỗi tuần có 1 tiết Kể chuyện
+ Ở lớp 3: Mỗi tuần có 0,5 tiết Kể chuyện học chung trong 1 tiết với bài Tập đọc + Ở lớp 4, 5: Mỗi tuần có một tiết Kể chuyện
Phân môn Kể chuyện nhằm phát triển các kỹ năng tiếng Việt cho học sinh; góp phần phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mỹ; góp phần tích luỹ vốn sống, vốn văn cho học sinh
- Chương trình Tập viết: Được bố trí trong 6 học kỳ ở lớp 1, 2, 3 Ở lớp 1 chương trình Tập viết được gắn liền với chương trình Học vần Ngoài nội dung Tập viết trong tiết Học vần, mỗi tuần còn có thêm 1 bài Tập viết ôn lại các chữ đã học trong tuần Chương trình lớp 2 chủ yếu làm quen với chữ cái hoa và chữ số Chương trình lớp 3 chủ yếu học chữ cái hoa và chữ cái thường đứng sau và kết hợp học về chữ số Các chữ viết hoa trong vở Tập viết lớp 2, lớp 3 được sắp xếp theo trật tự trong bảng chữ cái
Phân môn Tập viết ở Tiểu học cung cấp cho học sinh các kiến thức về chữ viết và
kỹ thuật viết chữ như: các nét chữ, hệ thống chữ cái viết hoa và viết thường, hệ thống chữ số, độ cao, độ rộng của nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút, kỹ thuật viết liền mạch, vị trí dấu phụ, dấu thanh Phân môn Tập viết cũng trang bị cho học sinh hệ thống
kỹ năng viết chữ như: viết nét, liên kết nét thành chữ cái, chữ số, liên kết chữ cái thành chữ ghi âm, ghi vần hoặc ghi tiếng một cách liền mạch Ở mức độ cao nhất, Phân môn Tập viết rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh qua bài viết ứng dụng là các câu thơ, câu văn hoặc tục ngữ, ca dao Yêu cầu kỹ năng dần dần được nâng cao từ viết đúng tới viết đúng, đẹp và mức độ cao nhất là kỹ năng viết đúng, đẹp, nhanh
- Chương trình Tập làm văn:
Trang 22+ Ở lớp 1 chưa có tiết Tập làm văn cũng như chưa có phân môn Tập làm văn riêng nhưng kỹ năng nói được hình thành cho học sinh một cách tích hợp thông qua bước luyện nói của giờ Học vần và phần luyện nói sau bài Tập đọc
+ Ở lớp 2 và lớp 3 mỗi tuần có 1 tiết Tập làm văn, ở lớp 4 và lớp 5 mỗi tuần có 2 tiết (không kể các tuần ôn tập) Ở lớp 2 và lớp 3 các kỹ năng nói, viết chỉ được hình thành thông qua các bài tập thực hành Ngoài các bài tập thực hành, ở lớp 4 và lớp 5 còn có các kiến thức lý thuyết được học thành bài riêng Đó là các kiến thức về thể loại văn chương như kể chuyện, miêu tả, các loại văn bản khác như viết thư, trao đổi ý kiến Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ giúp học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chương trình quy định Phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến việc nhào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân vật, cốt truyện Khả năng tư duy của học sinh cũng được phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn Quá trình sản sinh văn bản cũng giúp cho học sinh có kỹ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn
- Chương trình Luyện từ và câu:
+ Ở lớp 1 chưa có tiết Luyện từ và câu, ở lớp 2 và lớp 3 mỗi tuần có 1 tiết, ở lớp 4
và lớp 5 có 2 tiết mỗi tuần (chưa kể các tuần ôn tập)
+ Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh và trang bị cho các em một số kiến thức về từ, câu Cung cấp cho học sinh một số kiến thức ngữ
âm, chính tả như tiếng, cấu tạo tiếng Chương trình Luyện từ và câu ở lớp 2, 3 chỉ trình bày các kiến thức cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài tập thực hành Ở lớp 4 và lớp 5 các kiến thức lý thuyết được học thành tiết riêng Đó là các nội dung như
từ và cấu tạo từ, các lớp từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa), từ loại, câu, các kiểu câu, thành phần câu, dấu câu, biện pháp liên kết câu Ngoài ra, chương trình còn cung cấp cho học sinh một số kiến thức ngữ âm, chính tả như tiếng, cấu tạo tiếng
1.4.2 Ca dao được sử dụng trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học
Trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học 39 bài ca dao được đưa vào giảng dạy từ lớp 1 đến từ lớp 5 Các câu ca dao được đưa vào giảng dạy cho học sinh trong các phân
môn Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc và được chia làm hai giai đoạn:
Trang 23- Ở lớp 1, 2, 3: Giai đoạn này học sinh được tiếp cận các bài ca dao chủ yếu trong phân môn học vần (ở lớp 1) và qua các bài ca dao chủ yếu trong hai phân môn Tập viết
và Chính tả (ở lớp 2, 3)
+ Phân môn Học vần: Yêu cầu học sinh luyện đọc các câu ứng dụng
Ví dụ: Khi dạy bài 85 ở sách tiếng Việt 1, sau khi dạy vần mới “ăp – âp” cho học sinh giáo viên tổ chức cho học sinh luyện đọc câu ứng dụng theo mẫu có sẵn:
Chuồn chuồn bay thấp Mưa ngập bờ ao Chuồn chuồn bay cao Mưa rào lại tạnh
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 113)
Với bài ca dao trong phần luyện đọc này, học sinh không cần phải hiểu nội dung hay hình thức nghệ thuật của nó mà chỉ yêu cầu học sinh thông qua phần luyện đọc bài
ca dao đó để phát hiện ra các âm mà mình vừa được học Bên cạnh đó, bài ca dao trên vừa ngắn, lại có vần nên học sinh rất dễ đọc, kích thích hứng thú học tập của học sinh, góp phần đem lại hiệu quả trong việc rèn luyện khẩu hình miệng và phát triển ngôn ngữ cho các em
+ Phân môn Tập viết: Yêu cầu học sinh luyện viết lại bài ca dao đã có sẵn theo mẫu
Ví dụ: Ở phần 2, trong phân môn Tập viết của sách giáo khoa tiếng Việt 3, học sinh
có nhiệm vụ là phải luyện viết lại bài ca dao ứng dụng:
Ai về đến huyện Đông Anh Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
(Tiếng Việt 3, tập 1/Trang 90)
Trang 24Thông qua bài ca dao, học sinh rèn luyện một số mẫu chữ viết hoa với các địa danh, tên riêng có trong bài ca dao Qua đó, giúp học sinh có thêm những kiến thức cơ bản về chữ viết và kĩ thuật viết chữ, rèn luyện kĩ năng viết chữ, tạo điều kiện học tốt các môn học Ngoài ra, chính bản thân những chữ cái trong bài ca dao cũng toát lên nét đẹp riêng, các chữ cái với những đường cong, những nét chữ mềm mại, uyển chuyển sẽ tác động tích cực đến tư tưởng thẩm mỹ của học sinh, góp phần bồi dưỡng thị hiếu thẩm
mỹ cho các em
+ Phân môn Chính tả: Gồm các bài tập trong đó có các bài ca dao được đưa ra bị khuyết âm, vần hoặc dấu hỏi, dấu ngã và yêu cầu học sinh điền vào chỗ bị khuyết các
âm, vần hoặc dấu hỏi, ngã cho đúng, phù hợp
Ví dụ: Bài tập 2a trong phân môn Chính tả lớp 3 (tập 1) trang 137: Điền vào chỗ
trống tr hay ch ?
Công …a như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước …ong nguồn …ảy ra Một lòng thờ mẹ kính …a
Cho …òn …ữ hiếu mới là đạo con Với dạng bài tập khuyết âm ch hoặc tr, học sinh phải tìm ra âm thích hợp điền vào mỗi chỗ khuyết để tạo nên từ đúng và câu hoàn chỉnh Với một từ được coi là “đắt”, làm rõ ý cho bài ca dao, đó là từ “hiếu” Ở trong bài ca dao này, học sinh tìm ra những
âm còn thiếu, điền vào chỗ trống để tạo thành từ hoàn chỉnh Qua đó, giúp các em khắc phục lỗi chính tả khi đọc, khi viết và dần phát triển các kĩ năng cần thiết Ngoài ra, các
em có cơ hội trau dồi thêm vốn từ, cách đặt câu đúng và khoa học, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
- Ở lớp 4, 5: Giai đoạn này học sinh tiếp cận ca dao chủ yếu trong phân môn Luyện
từ và câu và phân môn Tập đọc
+ Phân môn Luyện từ và câu: Các bài ca dao được đưa vào chương trình giảng dạy dưới các dạng bài tập như:
Yêu cầu học sinh giải thích nghĩa để rút ra bài ca dao khuyên điều gì, chê điều gì Đưa ra các bài ca dao và yêu cầu học sinh phân loại theo chủ đề
Trang 25Nối bài ca dao với nghĩa phù hợp với nó
Yêu cầu học sinh tìm các bài ca dao nói về một chủ đề nào đó
Ví dụ: Trong phân môn Luyện từ và câu tuần 27: Mở rộng vốn từ truyền thống ở
SGK tiếng Việt 5 (tập 2) trang 90 Bài tập 1: Kho tàng Tục ngữ, ca dao đã ghi lại nhiều truyền thống quý báu của dân tộc ta Em hãy minh họa mỗi truyền thống nêu dưới đây bằng một câu tục ngữ hoặc ca dao:
a) Yêu nước M: Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh
từ đặt câu đúng và hay, hình thành và bồi dưỡng ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh, giúp các em đạt kết quả tốt trong các môn học ở các bậc học và trong các hoàn cảnh giao tiếp
xã hội
+ Phân môn Tập đọc: Đưa ra các câu ca dao theo một chủ đề nào đó và sắp xếp thứ tự trong một bài Tập đọc
Học sinh đọc và bước đầu tìm hiểu về khái niệm câu ca dao, tìm hiểu về nội dung
và những lời khuyên răn của từng câu ca dao
Biết sắp xếp và phân loại câu ca dao
Nêu suy nghĩ của bản thân cần phải làm gì để thực hiện theo những lời khuyên đó
Ví dụ: Trong bài Tập đọc ở lớp 5 “Ca dao về lao động sản xuất”:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi, bưng bát cơm đầy
Trang 26Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần !
*
Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu Công lênh chẳng quản bao lâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu
* Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm, Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời yên biển lặng, mới yên tấm lòng
(Tiếng Việt 5, tập 1/Trang 168)
Bên cạnh việc luyện đọc và các thao tác của tiến trình học một bài tập đọc Học sinh được yêu cầu tìm những từ ngữ, hình ảnh để nói lên nỗi vất vả, lo lắng của người nông dân trong lao động sản xuất Nêu lên nội dung của các bài ca dao, tìm những việc làm để thực hiện tốt lời khuyên răn của bài ca dao Qua các bài ca dao này, học sinh có thể hiểu rõ hơn về nỗi vất vả, cực nhọc của người nông dân, từ đó giáo dục tình yêu lao động, đặc biệt đối với các em học sinh vùng nông thôn; từ lời nhắc nhở mà ca dao muốn truyền đạt giáo viên hướng cho các em những việc làm đơn giản, thường ngày để làm đúng như lời nhắc nhở đó Giúp các em phát triển thành những con người hoàn thiện, đầy đủ các tố chất: Đức - trí - thể - mỹ
Nhìn chung, tần số xuất hiện của ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học là khá phổ biến Hầu như, ở trong tất cả các phân môn của bộ môn tiếng Việt đều có một
Trang 27số lượng các bài ca dao nhất định Với đặc trưng của từng phân môn, các bài ca dao sẽ
có những dạng bài tập và yêu cầu riêng để làm nổi bật nội dung muốn truyền đạt, những lời khuyên răn, giáo dục các em học sinh,… Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh Tiểu học có sự tiếp xúc thường xuyên, có cơ hội tìm hiểu kỹ về ca dao - một nét đẹp riêng của văn học dân tộc Với vai trò của ca dao trong các phân môn tiếng Việt như vậy, chúng ta cần xác định rõ hơn ý nghĩa của ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học
1.4.3 Ý nghĩa của ca dao trong chương trình tiếng Việt đối với học sinh Tiểu học
Trong các loại hình văn hoá dân gian, ca dao là một kho tàng tri thức quý báu của nhân dân ta Đó là những kinh nghiệm, những điều hay, lẽ phải mà ông cha để lại Chương trình sách giáo khoa tiếng Việt ở Tiểu học đã chắt lọc những bài ca dao hay, có ý nghĩa, có hình ảnh, vần điệu dễ nhớ và phù hợp với lứa tuổi để cung cấp cho học sinh Mục đích của việc đưa ca dao vào giảng dạy trong môn tiếng Việt ở Tiểu học giúp học sinh ghi nhớ, nói, viết, hiểu nghĩa (lời khuyên bảo, răn dạy, kinh nghiệm trong cuộc sống) của các bài ca dao trong và ngoài sách giáo khoa (dạy ca dao trong sách giáo khoa, sau
đó liên hệ với những câu khác) Từ đó hình thành cho các em tình yêu ca dao của dân tộc Đồng thời thông qua ca dao được đưa vào chương trình giảng dạy góp phần bồi đắp các giá trị đạo đức, nhân cách cho con người
Trong chúng ta, ai cũng biết rằng cái đẹp của nhân cách, của đạo đức là hình mẫu lý tưởng, mẫu mực mà con người hướng tới, lấy nó làm mục tiêu để phấn đấu, làm tiêu chuẩn để tu dưỡng bản thân Muốn đạt được mục đích này con người đã phải rèn luyện, học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm để chắt lọc, sắp xếp “cái đẹp” thành một hệ thống chặt chẽ Đó là sản phẩm quí giá nhất của con người và được con người gìn giữ, bảo vệ để truyền đạt cho thế hệ mai sau Trong hệ thống “cái đẹp” đó thì ca dao là loại hình văn học dân gian gần gũi, quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam Ca dao được đưa vào chương trình tiếng Việt ở Tiểu học rất đa dạng và phong phú, góp phần giáo dục các em một cách toàn diện về mọi lĩnh vực của cuộc sống như về phẩm chất ý chí, giao tiếp ứng
xử với mọi người, kinh nghiệm thời tiết, lao động sản xuất, Ví dụ: Thông qua kho tàng
ca dao, học sinh được giáo dục về nhiều mặt: phẩm chất, trí tuệ, đạo đức, qua đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Tiểu học:
Giáo dục tình đoàn kết:
Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Trang 28(Tiếng Việt 5, tập 2/Trang 91)
Giáo dục phẩm chất ý chí:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 93)
Giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 93)
Tiếp xúc với mỗi bài ca dao, học sinh như được mở thêm một cánh cửa hiểu biết, tích lũy dần những điều có ích cho bản thân, từ đó dần hoàn thiện mình Ca dao là những bài học vừa ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, vừa mang lại hiệu quả giáo dục cao Ngoài ra ca dao còn cung cấp cho các em những ngôn từ bình dị, trong sáng, cách ứng
xử tế nhị, dí dỏm nhưng sâu sắc để từ đó các em ứng dụng vào trong giao tiếp hằng ngày; hình thành ở các em nhận thức đúng đắn trong cách nhìn nhận về đạo đức, lối sống, về cái đúng, cái đẹp, lòng bao dung, nhân cách sống, cách đối nhân xử thế giữa con người với con người Ví dụ: Trong ca dao, có cách dùng từ rất gần gũi, đời thường nhưng cũng được trau chuốt kĩ càng:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
(Tiếng Việt 5, tập 1/Trang 168)
Chính cách dùng từ, hình ảnh và cách sắp xếp thứ tự chúng trong bài ca dao, giúp rèn luyện việc lựa chọn ngôn từ và hình ảnh đẹp trong học tập và giao tiếp; hiểu hơn về
Trang 29sự vất vả, cực nhọc của người nông dân để tạo ra hạt lúa, từ đó giúp các em yêu quý lao động, trân trọng những sản phẩm nông nghiệp và quý trọng những người nông dân hơn Không những vậy, qua các bài ca dao các em còn được tiếp thu được những lời răn dạy, những chuẩn mực lối sống và nhân cách mang tính truyền thống của con người Việt Nam - đó là những bài học tích luỹ vô giá trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách bản thân Những lời răn dạy ấy rất gần gũi với mọi mặt trong đời sống của con người từ gia đình tới ngoài xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa người với người Những lời răn dạy ấy đã được chắt lọc từ thực tế cuộc sống, được kiểm nghiệm qua thời gian, thể hiện tri thức, một nhãn quan sáng suốt của các thế hệ cha ông vì vậy nó mang tính giáo dục rất sâu đậm, như chân lý sống để mọi người hướng tới, làm theo để xây dựng một tương lai tốt đẹp Mỗi lời răn dạy toát lên một tình cảm yêu thương nồng nàn, chân thành, tha thiết, chí nghĩa chí tình, chất chứa, thấm đậm một tâm hồn Việt Nam vô cùng cao đẹp và nhân hậu Ví dụ: Ca dao đề cập về tình đoàn kết, đùm bọc, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau:
Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
(Tiếng Việt 5, tập 2/Trang 91)
Mỗi người trong xã hội đều có một hoàn cảnh, một cuộc sống riêng nhưng đều có chung quê hương, xứ sở… nên cần phải nương tựa, đoàn kết, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau Có như thế thì mới sinh tồn, mới bảo vệ và phát triển nòi giống Qua bài ca dao, học sinh được giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước thương nòi – đó là một trong những truyền thống đẹp của nhân dân ta Không những thế, trong thời đại đang tiến hành hội nhập quốc tế, bài ca dao còn được mở thêm tầm rộng, đó là giáo dục các em phải biết yêu thương nhân loại, giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ Giáo dục các em lấy đó làm nếp sống, làm bản năng trong mỗi cá nhân
Hơn nữa, ca dao gần gũi, thân thiết như máu thịt, như hơi thở, nếp nghĩ, tinh thần của nhân dân ta Người Việt Nam coi các bài ca dao như những luật tục, những tiêu chuẩn khuôn phép nề nếp, như là thuần phong mỹ tục, ca ngợi cái tốt, cái thiện, phê phán cái xấu, cái ác để hướng tới hành động đúng đắn cho cộng đồng Nó trở thành
Trang 30chân lý vĩnh cửu, được nhân dân yêu mến, thuộc lòng, tâm niệm, phấn đấu vươn tới và cũng có khi còn dùng nó trong đàm luận để khẳng định điều hay lẽ dở Ví dụ: Nói về việc thờ cúng tổ tiên để ghi nhớ công ơn của các thế hệ đi trước, ca dao có câu:
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
(Tiếng Việt 3, tập 2/Trang 70)
Bài ca dao, như nhắc nhở con cháu rồng Việt dù đi đâu, làm gì, ở đâu đi chăng nữa cũng phải nhớ ngày giỗ Tổ của nước Việt ta Bài ca dao này như vang vọng mãi bên cạnh chúng ta, trở thành điều quen thuộc trong nếp sống người Việt Truyền thống tâm linh này được coi là tín ngưỡng của người Việt chúng ta Không chỉ phải đền đáp công ơn của người còn sống, mà phải thể hiện sự đền đáp đó ngay cả với những người không còn Trong dân gian người Việt, tổ tiên, thần thánh luôn ngự trị ở khắp mọi nơi: trong gia đình thì có ông bà, tổ tiên đã mất; ở làng xã thì có thần hoàng, thần sông, thần núi, thần biển,… Việc thờ cúng để ghi nhớ công ơn của những người đã khuất trở thành văn hóa đẹp của người dân Việt Nam, nó đi vào thơ ca như những lời nhắc nhở lối hành xử của người còn sống và người đã mất, thể hiện rõ triết lí âm dương trong văn hóa Việt Qua những bài ca dao này, học sinh sẽ được biết về những người đã có công với dân tộc, biết những ngày lễ gắn với những sự kiện tiêu biểu của dân tộc,… qua đó giúp các em có thái
độ đúng đắn trong văn hóa ứng xử, bồi dưỡng lòng yêu dân tộc, coi đó như là nếp sống,
là phong tục truyền thống đẹp được lưu truyền qua nhiều thế hệ
Trước những yêu cầu đổi mới, việc đưa ca dao vào trong chương trình để dạy cho học sinh là rất cần thiết, cần bảo tồn, giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc Học sinh Tiểu học là những mầm non, chủ nhân tương lai của đất nước Được xem là đối tượng được đặt nền móng giáo dục đầu tiên trong ngôi nhà tri thức của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Đất nước có vững mạnh, phát triển và phồn vinh hay không là phụ thuộc vào các em Lối ứng xử phù hợp với thuần phong mỹ tục, các vấn đề nhân - lễ - nghĩa, lòng thương người, đạo đức nhân nghĩa được xem là những phẩm chất truyền thống cao đẹp của người Việt Nam mà chúng ta cần duy trì và phát triển Thông qua các bài ca dao
và sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh học cách tôn trọng, biết ơn, hiếu thảo với ông
bà, cha mẹ; biết quan tâm, cảm thông, giúp đỡ, chia sẽ, nhường nhịn những người xung quanh, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn; có thái độ kính trọng và biết ơn những người đã có công với đất nước Vì vậy, không phải chỉ giáo dục tri thức cho học sinh mà cần phải giáo dục đạo đức, nhân cách cho các em để các em có điều kiện tu
Trang 31dưỡng, rèn luyện và hoàn thiện bản thân Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trong giai đoạn đất nước đang thực hiện chính sách mở cửa hội nhập với nền văn hoá của các nước Bên cạnh có sự giao thoa văn hoá, tiếp thu được những văn hoá tích cực, tiến bộ thì các văn hoá tiêu cực cũng có cơ hội du nhập và phát triển ở nước ta, làm suy thoái các giá trị đạo đức truyền thống của một số con người Việt Nam Do đó, cần phải đẩy mạnh, tích cực giáo dục cho học sinh một lối sống trong sáng, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội và những thói hư, tật xấu, lối sống thực dụng, xa rời các truyền thống văn hoá của dân tộc Tất cả những bài học giáo dục đó được thâu tóm, gói gọn lại trong những bài ca dao ngắn gọn, nhưng mang lại hiệu quả giáo dục cao Góp phần xây dựng những con người Việt Nam hiện đại, những đại diện khẳng định tầm vóc con người Việt, đưa Việt Nam sánh tầm với các cường quốc năm châu trên Thế giới như mong muốn của Bác
Hồ vĩ đại
Chính vì ca dao có một vị trí quan trọng như vậy cho nên việc dạy ca dao trong nhà trường đòi hỏi người giáo viên phải khai thác hết được cái hay, cái đẹp và nội dung của từng bài ca dao, bút pháp nghệ thuật của tác giả văn học dân gian Có như vậy mới nâng cao được vốn hiểu biết của học sinh về thơ ca dân gian, vận dụng vào việc làm thơ, viết văn sáng tác ca dao mới Khắc phục dạy ca dao như dạy thơ mà bỏ qua đặc trưng của thể loại Tìm hiểu ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học từ các yếu tố cơ bản như: nhân vật trữ tình, hoàn cảnh điển hình, kết cấu, ngôn ngữ góp phần nhìn nhận giá trị của các tác phẩm văn học dân gian trong chương trình tiếng Việt Tiểu học một cách khoa học hơn
Chương 2 NHÂN VẬT TRỮ TÌNH, HOÀN CẢNH ĐIỂN HÌNH, KẾT CẤU VÀ THỂ THƠ LỤC BÁT TRONG
CA DAO Ở CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC
Ca dao là một hình thái ý thức xã hội phản ánh lối nói, lối nghĩ và lối sống của nhân dân qua nhiều thế hệ Nó là một trong những thể loại ra đời sớm, có số lượng lớn và có sức sống lâu bền nhất trong “folklore” của các dân tộc trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân dân lao động từ kinh nghiệm thực tế để hình thành nên ca dao Vì vậy, nó là di sản mang tính giá trị hết sức to
Trang 32lớn, cần được gìn giữ và lưu truyền Mặt khác, ca dao không chỉ là sản phẩm của tư duy hình tượng mà còn là sản phẩm của tư duy trừu tượng Hai mặt này vừa đối lập vừa thống nhất trong bản thân mỗi bài ca dao Vì thế dưới ánh sáng của thi pháp học, để hiểu ca dao một cách toàn diện đúng như nó có Để làm được điều đó khi tiếp cận ca dao cần chú ý đến các yếu tố nghệ thuật như: nhân vật, kết cấu, thể thơ, để hiểu sâu các bài ca dao hơn Qua khảo sát, tìm hiểu ca dao ta sẽ thấy được những kiểu nhân vật trữ tình chủ yếu trong ca dao, mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình và hoàn cảnh điển hình, các dạng kết cấu của ca dao, các thể thơ điển hình trong ca dao và cách vận dụng các thể thơ đó như thế nào, các yếu tố nghệ thuật đó có tác dụng gì trong ca dao, Vì vậy trong chương 2 chúng tôi tìm hiểu đặc trưng thi pháp của ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học qua yếu tố nhân vật trữ tình, hoàn cảnh điển hình, kết cấu, thể thơ
2.1 Nhân vật trữ tình và hoàn cảnh điển hình trong ca dao ở chương trình tiếng Việt Tiểu học
2.1.1 Nhân vật trữ tình trong ca dao ở chương trình tiếng Việt Tiểu học
Có rất nhiều khái niệm về nhân vật trữ tình của các tác giả như: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán, Đỗ Đức Hiểu Nhưng hiện nay, đa số các nhà
nghiên cứu đều thống nhất khái niệm nhân vật trữ tình: “Thông thường nội dung tác
phẩm trữ tình được thể hiện gắn với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm cách nghĩ Qua những trang thơ ta như gặp được tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân
vật trữ tình ” [14, tr.359]
Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, là tiếng nói của tư tưởng, tình cảm, mơ ước và khát vọng của người bình dân Vì lẽ đó, khi những câu ca dao được ra đời và truyền đi trong cộng đồng, nó đã bị phai dần cái tôi trữ tình sáng tác của cá nhân trong quá trình truyền miệng được sửa đổi đôi chút trở thành sáng tác của cả cộng đồng, của cả những con người cùng tình thế, ước mơ, tình cảm như bài ca dao Người sáng tác - người diễn xướng - nhân vật trữ tình được nội dung lời ca dao thể hiện bao giờ cũng là một Ở đấy chủ thể trữ tình (tức là tác giả) luôn đồng nhất với nhân vật trữ tình (tức là nhân vật mà cảm nghĩ của nó được diễn tả trong bài ca) Những nhân vật trữ tình chung quy thuộc về một số kiểu nhất định, tương tự như trong truyện cổ tích hoặc trên sân khấu chèo cổ
Có thể kể ra một số kiểu như sau:
Trang 33- Chàng trai và cô gái trong quan hệ bạn bè, giao duyên
- Người vợ và người chồng, người mẹ và người con trong đời sống gia đình
- Người con gái, con dâu, người vợ trong gia đình gia trưởng
- Người lính và vợ lính trong cảnh ngộ ly biệt và xa cách
- Người lao động nói chung (người làm ruộng, người thợ, người dân chài ) trong lao động, sinh hoạt, và trong quan hệ với xóm làng, quê hương, đất nước
Ngoài ra, còn rất nhiều kiểu nhân vật trữ tình khác nữa Nhưng dù nhiều hơn, dài hơn thì cũng còn là ít ỏi so với số lượng hàng vạn câu (bài) ca dao còn truyền lại Tuy nhiên chính điều ấy cho thấy: qua tập hợp các tên gọi chung cho nhiều cá thể trong cùng một hạng người - một loại người, ở ca dao nhân dân có xu hướng khái quát bức tranh chung về xã hội và thời đại từ góc độ vị thế xã hội Và như vậy, với nội dung diễn tả của
nó, ca dao bộc lộ xu hướng của nhân dân muốn diễn tả theo một cách nhìn nhận nào
đó, những nét bản chất nhất của con người thời đại ấy Nằm trong dòng chảy của hệ thống ca dao truyền thống, nhân vật trữ tình trong ca dao được sử dụng ở chương trình tiếng Việt Tiểu học cũng mang một số đặc điểm chung của ca dao truyền thống Vì đối tượng tiếp nhận là học sinh Tiểu học với các đặc điểm tâm - sinh lí đặc trưng nên các câu
ca dao được đưa vào chương trình giảng dạy cũng được lựa chọn để phù hợp với đặc điểm và mục tiêu giáo dục của các em Các kiểu nhân vật trong ca dao ở chương trình tiếng Việt không còn kiểu chàng trai cô gái trong giao duyên, người vợ và người chồng trong đời sống gia đình hay kiểu người lính và người vợ lính trong cảnh ngộ biệt ly, xa cách như ở nhiều câu ca dao thường biểu đạt nữa Các kiểu nhân vật trữ tình xuất hiện trong ca dao ở chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học chủ yếu là:
- Cha mẹ và người con trong đời sống gia đình:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Tiếng Việt 3, tập 1/Trang 137)
Chiều chiều ngó ngược, ngó xuôi
Trang 34Ngó không thấy mẹ, bùi ngùi nhớ thương
(Tiếng Việt 5, tập 2/Trang 92)
- Các cô gái, người nông dân trong đời sống lao động và sinh hoạt:
Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây Mấy cô má đỏ hây hây
Đội bông như thể đội mây về làng
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 121)
Trâu ơi, ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
(Tiếng Việt 2, tập 1/Trang 136)
Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng
(Tiếng Việt 4, tập 1/Trang 169)
- Con người nói chung với tình yêu quê hương, đất nước, trong các mối quan hệ xã hội
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Trang 35Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
(Tiếng Việt 3, tập 2/Trang 90)
Tò vò mà nuôi con nhện
Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti:
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện đi đằng nào
(Tiếng Việt 2, tập 2/Trang 85)
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
(Tiếng Việt 4, tập 1/Trang 87)
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba
(Tiếng Việt 5, tập 2/Trang 96)
- Nhân vật là các biểu tượng của các vấn đề trong đời sống (thời tiết, kinh nghiệm sản xuất, cách ứng xử ):
Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 113)
Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 129)
Chuồn chuồn bay thấp Mưa ngập bờ ao Chuồn chuồn bay cao
Trang 36Mưa rào lại tạnh
(Tiếng Việt 1, tập 2/Trang 7)
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe
(Tiếng Việt 3, tập 1/Trang 43)
Nực cười châu chấu đá xe Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng
(Tiếng Việt 5, tập 2/Trang 91)
Theo cách liệt kê như trên thì tên gọi các kiểu nhân vật trữ tình luôn đi kèm theo mối quan hệ giữa họ, tức là kèm theo cái không gian, cái hoàn cảnh mà trong đó mối quan hệ giữa họ diễn ra, những cảm xúc - tâm lý nảy sinh bên trong nhân vật trữ tình
Và bằng cách đó, ca dao đồng thời bộc lộ xu hướng của nhân dân muốn khái quát hoá những hoàn cảnh, điều kiện sinh hoạt của mình Tuy nhiên, mỗi bài ca dao chỉ là một
phiến đoạn cảm xúc - tâm lý riêng lẻ Do đó, muốn tìm hiểu sự biểu hiện của “các hứng
thú, các biểu tượng, các ý niệm và các mục đích dân tộc” phải “tìm trong toàn bộ, trong cái tổng thể của thể loại thơ này” (Hêghen) chứ không thể tìm trong từng bài ca dao
riêng biệt
Nhân vật trữ tình của ca dao trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học dù là cha mẹ hay con cái trong đời sống gia đình, người nông dân trong lao động, người phụ nữ với số phận cực khổ, chàng trai trong cảnh đi xa mỗi khi cất tiếng ca hướng về hoàn cảnh, cuộc đời cảm thấy buồn tủi của chính mình thì khi đó sẽ cất lên thành tiếng hát than thân, phản kháng tràn ngập cảm xúc buồn bã, đau thương, oán trách Còn khi cảm xúc của các nhân vật trữ tình hướng về những người thân yêu, hướng về những cảnh vật gần gũi, hướng về làng xóm, quê hương thì khi đó ca dao cất lên sẽ thành tiếng hát yêu thương, tình nghĩa Đây là hai nội dung cảm hứng trữ tình bao quát nhất trong ca dao
mà chủ thể là nhân dân lao động, trong mọi hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống vẫn luôn giữ được thăng bằng giữa hai cực tình cảm, hai chiều hướng quan hệ ví như hai sợi dây neo giữ tâm hồn, đạo lí của mình trước sóng gió cuộc đời Hai sợi dây đó, một là sợi dây neo giữ con người cùng với những vui buồn, mơ ước của mình và một sợi dây nữa là sợi dây trách nhiệm và lòng nhân ái neo giữ cá nhân với cộng đồng Các nhân vật vì vậy rất gần gũi với đời sống học sinh Tiểu học và rất cần thiết với các em: Qua nhân vật trữ
Trang 37tình, học sinh được tiếp cận với những tấm gương làm người, đức hy sinh, lòng nhân ái, tính cần cù chịu khó; Qua cách tạo dựng nhân vật trữ tình trong ca dao ở chương trình tiếng Việt, học sinh Tiểu học được học thêm nhiều thủ pháp, biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật, từ đó có thể vận dụng khi học các phân môn khác như: Tập làm văn, Luyện từ & câu Qua hệ thống nhân vật trong ca dao học sinh được tiếp xúc với các hình ảnh phong phú, các em biết có thái độ yêu, ghét, tức giận giúp phát triển năng lực thẩm mỹ cho các em, qua đó dần định hình, xây dựng bản thân theo một mẫu người lý tưởng Vì vậy, việc cọ xát các nhân vật trong ca dao có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm hồn, tính cách của học sinh
Ca dao chính là bức tranh bao quát về cuộc sống, tâm hồn và khí chất của dân tộc
Đó là những giá trị tinh thần của con người và qua đó cũng khám phá được nhiều giá trị tốt đẹp của ca dao
2.1.2 Hoàn cảnh điển hình trong ca dao ở chương trình tiếng Việt Tiểu học
Sự miêu tả nghệ thuật những hoàn cảnh trong đó nhân vật trữ tình được biểu hiện cũng có tính chất khái quát rộng rãi Trong ca dao truyền thống, những hoàn cảnh ấy thường giàu màu sắc ước lệ
Một trong những “hoàn cảnh điển hình” trong ca dao là khung cảnh diễn ra cuộc
gặp gỡ, trò chuyện, trao gởi tâm tình và địa điểm của hành động, theo chúng tôi được hiểu chung là không gian diễn ra hành động
Không gian nghệ thuật cũng có tính hai mặt: vừa là không gian thực tại khách quan như nó vốn tồn tại, vừa là không gian trong trí tưởng tượng mang tính chất tượng trưng của tác giả
Khi không gian là đối tượng phản ánh trực tiếp thì đó sẽ là không gian được tái hiện đúng như ngoài thực tại Đó là những “huyện Đông Anh”, “Gia Định”, “Đồng Nai”,
là “chùa Tam Thanh”, “sông Tô Lịch” Trong ca dao, những địa danh đó vang lên như những âm thanh của trời đất gợi nhớ đến các miền quê với những đặc điểm điển hình
về phong thổ, cảnh vật, sản vật, những nghề truyền thống nổi tiếng Nói chung, trong ca
dao, những “không gian vật lý” (theo cách nói của Nguyễn Xuân Kính) ấy “là những
không gian bình dị của làng quê tất cả hợp thành những “hoàn cảnh điển hình”, những bối cảnh không gian trữ tình cho sự nảy sinh cảm xúc - tâm lý của những con người lao động chân chất, cần cù và giàu tình cảm cộng đồng
Làng tôi có luỹ tre xanh
Trang 38Có sông Tô Lịch chạy quanh xóm làng Trên bờ, vải, nhãn hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng
(Tiếng Việt 2, tập 1/Trang 110)
Không gian là xóm làng nằm cạnh sông Tô Hai bên bờ dòng sông Tô còn được trang điểm bởi luỹ tre xanh, vườn tược tạo nên một khung cảnh hữu tình mà thân thương
Không gian là khung cảnh gắn với một địa điểm cụ thể:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
(Tiếng Việt 3, tập 1/Trang 97)
Đó là một con đường mềm mại uốn lượn theo thế núi hình sông, thơ mộng hiền hòa với "non xanh nước biếc"
Trong ca dao cũng còn có cả “không gian xã hội” nơi diễn ra mọi sinh hoạt đời
sống, mọi mối quan hệ giữa người với người Trong những câu hát than thân hay trong
những tiếng hát yêu thương, nghĩa tình không gian xã hội ấy trở thành không gian của
tâm trạng:
Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
(Tiếng Việt 1, tập 1/Trang 129)
Không gian là cảnh đêm mịt mù, tối tăm Đó cũng là không gian với tâm trạng của những người dân lao động, với những tháng ngày lam lũ, cực nhọc, bế tắc, không lối thoát Hay không gian tâm trạng của nhân vật trữ tình, phê phán những người khoe khoang mà không biết rằng mình cũng có khuyết điểm:
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây ? Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Trang 39Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn
(Tiếng Việt 2, tập 2/Trang 135)
Không gian tâm trạng ấy nhiều khi mang tính tượng trưng, hoặc không phải là tấm ảnh chụp nguyên xi không gian vật lý đúng như nó ở ngoài thực tại Không gian ấy được chủ quan tác giả dân gian sắp xếp lại sao cho “khớp” với cảm xúc - tâm lý của nhân vật trữ tình:
Đèo cao thì mặc đèo cao Trèo lên đến đỉnh ta cao hơn đèo Đường lên, hoa lá vẫy theo Ngắt hoa cài mũ tai bèo, ta đi
(Tiếng Việt 3, tập 1/Trang 143)
Đó là những không gian mang tính cá thể hoá có thể được nhiều “nhân vật diễn xướng” sử dụng trong những bối cảnh khác, thích hợp với những gì chung nhất về cảm xúc - tâm lý của nhiều người đến mức không gian ước lệ mở ra khoảng không rộng lớn cho sự cộng cảm giữa người sáng tác với người diễn xướng, giữa người diễn xướng với người thưởng thức Đó là một trong những “điều bí mật” tạo nên sức hấp dẫn muôn đời
của ca dao Một “hoàn cảnh điển hình” khác trong ca dao là thời gian của hành động,
tức là lúc diễn ra cuộc gặp gỡ, trò chuyện hay là lúc nhân vật trữ tình có tâm trạng, hát lên khúc “tự tình” Trong ca dao, tác giả với tư cách là một cá nhân - cá thể, là một cái tôi trữ tình riêng biệt, tách biệt với cộng đồng không được biểu lộ ra Chính đó là điều kiện tạo ra sắc điệu trữ tình độc đáo của ca dao so với thơ trữ tình bác học Tính độc đáo ấy cũng thể hiện ở cả cách xử lý thời gian của ca dao Trong những cuộc hát, ca dao được cất lên Tác giả bài ca hoàn toàn vắng mặt, trong thời điểm hiện tại của cuộc hát,
ca dao được cất lên từ miệng của người khác, ca dao được cả người diễn xướng lẫn người thưởng thức như thể đang diễn đạt cảm xúc - tâm lý nảy sinh từ chính trái tim mình ở vào khoảnh khắc đương thời đang tiếp diễn Rốt cuộc, trong ca dao, thời gian của tác giả, thời gian của người diễn xướng và thời gian của người thưởng thức hoà lẫn làm một Thời gian đó luôn luôn là thời gian hiện tại Điều này khác với thời gian trong truyện cổ tích (luôn luôn là thời gian quá khứ phiếm định) và thời gian trong truyền thuyết (luôn luôn là thời gian quá khứ xác định)
Trang 40Ca dao sử dụng hàng loạt cụm từ để chỉ thời gian: “bây giờ”, “hôm nay”, “chiều chiều”, “hôm qua”, “khi xưa” Nói chung thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian vừa có tính chất thực vừa có tính chất ước lệ
Trạng từ chỉ thời gian “chiều chiều” thể hiện tâm trạng nhớ nhung, sự khắc khoải chờ đợi, tìm điểm nhìn hoài vọng bến cũ quê hương:
Chiều chiều ngó ngược, ngó xuôi Ngó không thấy mẹ, bùi ngùi nhớ thương
(Tiếng Việt 5, tập 2/Trang 92)
Khi thời gian thuộc về đối tượng phản ánh thì đó là thời gian thực tại được ca dao tái hiện lại Ví dụ như cách tính thời gian trong những “bài ca nông lịch”:
Tháng chạp là tháng trồng khoai Tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng
(Tiếng Việt 1, tập 2/Trang 21)
Ở đây chu kỳ thời vụ được tính bằng tháng Bài ca cho thấy tính chất dồn dập của công việc nhà nông hết tháng này qua tháng khác trong năm, đồng thời cũng hé lộ tính lặp lại đều đều của thứ “nông lịch” ấy từ tính cách kiên nhẫn, bền bỉ, sự chịu đựng không biết mệt mỏi của người làm ruộng
Khi thời gian chỉ là một yếu tố góp phần tạo nên hoàn cảnh, là một phương tiện nghệ thuật được mượn đến để biểu lộ cảm xúc - tâm lý của nhân vật trữ tình thì thời gian hoàn toàn do chủ quan của nhân vật tưởng tượng, ước lệ, hư cấu mà nên
Cặp đối lập hiện tại - tương lai góp phần khắc sâu thời gian hiện tại trong sự trái ngược với tương lai, một tương lai phiếm định mà đầy bất trắc, thấm đẫm mồ hôi và nhiều khi ngược lại: tốt đẹp, hạnh phúc hơn:
Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu