1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng áp dụng cho công ty cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ pci

127 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn thị thanh huyền “Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng.. Nhận thức được tầm quan trọng của TSCĐ trong hạch toán T

Trang 1

Nguyễn thị thanh huyền

“Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng áp dụng cho công ty cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ pci”

luận văn thạc sỹ kinh tế

Hà Nội - 2010

Trang 2

Nguyễn thị thanh huyền

“Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng áp dụng cho công ty cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ pci”

luận văn thạc sỹ kinh tế

người hướng dẫn khoa học

ts: Trần đức thung

Hà Nội - 2010

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Các đánh giá, kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

Tác giả Luận văn xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành và biết ơn sâu sắc

tới TS Trần Đức Thung - Thầy giáo trực tiếp hướng dẫn Luận văn cho tác

giả, chỉ bảo nhiệt tình và định hướng khoa học cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu, khảo sát thực tế và thực hiện Luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các cô (chú), anh chị em trong Công ty

Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình điều tra, khảo sát thực tế, thu thập số liệu phục vụ cho việc phân tích, tổng hợp số liệu và viết Luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Mỏ địa chất, các nhà khoa học, bàn bè, người thân đã động viên, khích lệ và chia sẻ với tác giả trong suốt quá trình học tập, công tác và thực hiện Luận văn

Trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày 16 tháng 06 năm 2010

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BIỂU, BẢNG 5

LỜI NÓI ĐẦU 6U 1.Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

3.1.Đối tượng nghiên cứuf 7

3.2.Phạm vi nghiên cứu 7

4 Nội dung nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 8

5.1 Phương pháp chung 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 8

5.3 Chọn điểm điều tra, thu thập số liệu 9

5.4 Phương pháp thu thập số liệu 9

5.5 Phương pháp xử lý thông tin 9

5.6 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 9

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

Chương 1 11

NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG CÁC DOANG NGHIỆP XÂY DỰNG 11

1.1 Cơ sở lý luận chung về tổ chức quản lý các doanh nghiệp xây dựng 11

1.1.1 Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng 11

1.1.2 Nội dung quản lý doanh nghiệp xây dựng 15

1.1.3 Phương pháp quản lý xây dựng 16

1.1.4 Kế hoạch của các doanh nghiệp xây dựng 19

Trang 6

1.2 Công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng

22

1.2.1 Khái niệm tài sản cố định (TSCĐ) 22

1.2.2 Đặc điểm TSCĐ 24

1.2.3 Phân loại TSCĐ 24

1.2.4 Khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp 30

1.2.5 Đánh giá trình độ quản lý, sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp 36

1.3 Kế toán tài sản cố định 49

1.3.1 Kế toán tài sản cố định hữu hình 49

1.3.2 Kế toán sửa chữa TSCĐ 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 53

Chương 2 54

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHỆ PCI 54

2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 54

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 54

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 56

2.1.3 Cơ cấu lao động của Công ty 62

2.1.4 Kết quả SXKD của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 66

2.2 Đặc điểm và phân loại tài sản cố định của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 69

2.2.1 Đặc điểm TSCĐ tại Công ty 69

2.2.2 Phân loại TSCĐ tại Công ty 70

2.3 Tình hình sử dụng tài sản cố định của công ty qua một số năm 72

2.3.1 Cơ cấu biến động của TSCĐ tại Công ty 72

Trang 7

2.3.2 Tình hình tăng giảm nguyên giá, hao mòn, giá trị còn lại của

TSCĐ 73

2.3.3 Tình hình khấu hao TSCĐ tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 76

2.3.4 Tình hình quản lý sử dụng TSCĐ tại Công ty 78

2.3.5 Công tác kế toán TSCĐ 79

2.3.6 Hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty 83

2.4 Đánh giá công tác quản lý tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 89

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 94

Chương 3 96

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ CÔNG NGHỆ PCI 96

3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 96

3.1.1 Đặc điểm thị trường xây lắp trong thời gian tới và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 96

3.1.2 Định hướng phát triển và các mục tiêu chủ yếu của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng & Công nghệ PCI 99

3.2 Nội dung, đánh giá của các giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định cho Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI 101

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 112

KẾT LUẬN 113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DNXD : Doanh nghiệp xây dựng

GTGT : Giá trị gia tăng

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU, BẢNG

Biểu 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty PCI 57

Biểu 2.2 Biểu đồ cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo 66

Biểu 2.3 Sơ đồ tỷ trọng TSCĐ qua các năm 84 Bảng 2.1 Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo 65

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty

Bảng 2.3 Tình hình phân loại TSCĐ qua một số năm của Công ty

Bảng 2.4 Tình hình tăng giảm TSCĐ hữu hình qua một số năm 74

Bảng 2.5 Tình hình tăng giảm TSCĐ vô hình qua một số năm 75

Bảng 2.6 Tình hình khấu hao TSCĐ từ năm 2007 đến năm 2009 77

Bảng 2.7 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ 89

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu chủ yếu trong kế hoạch 5 năm (2008-2012)

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp là nơi con người lao động sáng tạo, kết hợp trí tuệ - tiền vốn - khoa học - công nghệ để tạo ra của cải vật chất Doanh nghiệp có vai trò chính tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội Đất nước có nhiều doanh nghiệp giỏi, hiệu quả thì đất nước đó mới phồn vinh được

Tài sản cố định (TSCĐ) là cơ sở vật chất không thể thiếu trong nền kinh

tế Quốc dân cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của bất

kể doanh nghiệp nào Đối với doanh nghiệp, TSCĐ là cơ sở đánh giá trình độ công nghệ và năng lực sản xuất, cạnh tranh của doanh nghiệp Việc sử dụng

và quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giá thành, đến khả năng cạnh tranh, đứng vững trên thị trường

và phát triển của doanh nghiệp Trước môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt và những tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày nay thì việc hạch toán và quản

lý TSCĐ trong doanh nghiệp đòi hỏi phải ngày càng được tổ chức khoa học

và hợp lý hơn

Trong nền kinh tế Quốc dân, sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng (DNXD) đóng vai trò hết sức quan trọng Các DNXD là những đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nhằm kiến tạo cơ sở vật chất cho nền kinh tế Sản phẩm của các DNXD là yếu tố tiền đề phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Do hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật chất đặc biệt nên TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và là bộ phận không thể thiếu được đối với quá trình hoạt động và phát triển của các DNXD Mặt khác, đặc điểm cơ bản trong hoạt động của DNXD là sản phẩm

cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất phải di chuyển theo địa điểm sản xuất nên tài sản nói chung và TSCĐ nói riêng dễ bị mất mát, hư

Trang 11

hỏng Chính vì vậy, một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải quản lý tốt TSCĐ trong DNXD, muốn vậy công tác hạch toán TSCĐ trong DNXD phải được tổ chức một cách chặt chẽ khoa học, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán của Nhà nước, phù hợp với khả năng, điều kiện của DNXD và đáp ứng được yêu cầu của quản lý

Trong những năm qua, vấn đề nâng cao hiệu quả của việc sử dụng TSCĐ đặc biệt được quan tâm Đối với một doanh nghiệp, điều quan trọng không chỉ là mở rộng quy mô TSCĐ mà còn phải khai thác có hiệu quả nguồn TSCĐ hiện có Do vậy một doanh nghiệp phải tạo ra một chế độ quản

lý thích đáng và toàn diện đối với TSCĐ, đảm bảo sử dụng hợp lý công suất TSCĐ kết hợp với việc thường xuyên đổi mới TSCĐ Nhận thức được tầm quan trọng của TSCĐ trong hạch toán TSCĐ và tăng cường quản lý TSCĐ

trong DNXD nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng

Áp dụng cho Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI”

Làm đề tài luận văn thạc sỹ Đây là đề tài có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận

và thực tiễn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu về công tác quản lý TSCĐ của các doanh nghiệp xây dựng

- Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ cho Công

ty Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ PCI

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Tài sản cố định của các doanh nghiệp xây dựng

3.2.Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý TSCĐ tại Công

ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng & Công nghệ PCI

Trang 12

- Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 5 năm 2010

- Số liệu lịch sử: Giai đoạn từ 2007 - 2009 Tập trung vào năm 2009

4 Nội dung nghiên cứu

Luận văn đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý TSCĐ

tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

5.1 Phương pháp chung

Để tiến hành nghiên cứu những nội dung của đề tài, quan điểm thống nhất và xuyên suốt quá trình nghiên cứu là quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

* Phương pháp phân tích đánh giá

Gồm có phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh, trong đó:

- Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội bằng việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế - xã hội thông qua số liệu thu thập được

- Phương pháp so sánh được áp dụng để so sánh hiệu quả, của việc sử dụng TSCĐ qua các năm khác nhau

* Phương pháp Excel

Được sử dụng để tổng hợp số liệu, phân tích và định lượng hiện trạng nội dung nghiên cứu

* Phương pháp chuyên gia

Thông qua ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý, nhà lãnh đạo tại các hội

nghị, hội thảo

Trang 13

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các thông tin được công bố chính thức, gồm số liệu thống kê, các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết qua các năm của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

5.3 Chọn điểm điều tra, thu thập số liệu

- Chọn điểm điều tra, nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng quyết định đến tính chính xác, khách quan và thực tiễn của kết quả nghiên cứu đề tài

- Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã chọn điểm điều tra và thu thập thông tin và số liệu tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

- Ngoài ra tác giả cũng chọn một số doanh nghiệp xây dựng để thu thập thông tin, từ đó có những so sánh đối chiếu…

5.4 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu, tài liệu đã công bố: Thông tin từ các báo cáo của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

- Thu thập thông tin, số liệu từ các cơ quan chuyên môn qua các hội thảo, hội nghị khoa học có liên quan

5.5 Phương pháp xử lý thông tin

- Trên cơ sở phiếu điều tra về các thông tin có liên quan, tiến hành tổng hợp và phân tích để tìm ra các nguyên nhân và đề ra giải pháp

5.6 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích

- Để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý TSCĐ trong các doanh nghiệp xây dựng áp dụng cho Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI, tác giả sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:

Trang 14

- Các chỉ tiêu về hệ số trang bị TSCĐ, hệ số hao mòn TSCĐ, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ như (Hệ số sử dụng số lượng TSCĐ, hiệu quả sử dụng TSCĐ, mức sinh lời TSCĐ,…)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Khái quát hoá các vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý TSCĐ của các doanh nghiệp xây dựng nói chung và của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây

dựng và Công nghệ PCI nói riêng

- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý TSCĐ của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI Từ đó đưa ra những đánh giá nhận xét, nêu lên những mặt được và chưa được, những tồn tại cần giải quyết

- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý TSCĐ của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Nghiên cứu tổng quan về quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng

Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý tài sản cố định tại Công ty

Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại

Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Công nghệ PCI

––––––––––––––––––––––––––––––––––

Trang 15

Chương 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

TRONG CÁC DOANG NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Cơ sở lý luận chung về tổ chức quản lý các doanh nghiệp xây dựng

1.1.1 Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng

a Đặc điểm của sản phẩm xây dựng

- Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, trong khi sản phẩm của ngành công nghiệp và các ngành khác được sản xuất hàng loạt trong các điều kiện

ổn định, trong nhà xưởng, về chủng loại, kích thước, mẫu mã, kỹ thuật và công nghệ được tiêu chuẩn hoá Sản phẩm xây dựng thông thường được sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc, được sản xuất ở những địa điểm, điều kiện khác nhau, chi phí cũng thường khác nhau đối với cùng loại hình sản phẩm Khả năng trùng lặp về mọi phương diện: kỹ thuật, công nghệ, chi phí, môi trường…rất ít, ngay cả trong xu hướng công nghiệp hoá ngành xây dựng thì ảnh hưởng của tính đơn chiếc cũng chưa được loại trừ

- Sản phẩm của ngành xây dựng được sản xuất ra tại nơi tiêu thụ nó Các công trình xây dựng đều được sản xuất tại một địa điểm mà nơi đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng của sản phẩm Địa điểm tiêu thụ sản phẩm sẽ do người chủ sở hữu quyết định Vì vậy, nếu xác định được nơi tiêu thụ sản phẩm thì đồng thời cũng đã xác định được nơi sản xuất sản phẩm

- Sản phẩm của ngành xây dựng chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội của nơi tiêu thụ Sản phẩm xây dựng bao giờ cũng gắn liền với một địa điểm, địa phương nhất định Vì vậy, phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của địa phương đó Những điều kiện đó bao gồm: địa

lý, khí hậu, thời tiết, môi trường, phong tục tập quán của địa phương…Đặc

Trang 16

điểm đó chi phối tới việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan như: Khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công…

- Thời gian sử dụng dài, kỹ thuật và mỹ thuật cao Khác với những sản phẩm thông thường, yêu cầu về độ bền vững (chất lượng sản phẩm), thời gian

sử dụng của sản phẩm xây dựng thường rất lớn, ở nhiều nước phát triển, thời gian sử dụng một số loại sản phẩm xây dựng có thể tới hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa Do đặc thù của sản phẩm xây dựng là khi tạo ra sản phẩm không chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trước mắt mà chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu ngày càng gia tăng trong tương lai, cho nên trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm phải dự đoán được những vấn đề có liên quan đến khai thác sản phẩm sau này Chính vì vậy nên nhu cầu xây dựng thường có xu hướng xây dựng vĩnh cửu khi điều kiện cho phép Mặt khác, một sản phẩm xây dựng khi hoàn thành đưa vào sử dụng còn có tác dụng điểm thêm vẻ đẹp của đất nước và cũng là một trong những cơ sở để đáng giá trình độ phát triển kinh tế - khoa học - kỹ thuật của Quốc gia đó dưới con mắt bạn bè khắp năm châu Do đó yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật của các công trình xây dựng đòi hỏi rất lớn

Do thời gian sử dụng sản phẩm dài nên nhiệm vụ sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn, cải tạo và mở rộng là nhu cầu tất yếu và đòi hỏi phải dành một khoản chi phí lớn

- Chi phí sản xuất sản phẩm lớn và khác biệt theo từng công trình Giá trị của sản phẩm xây dựng thường lớn hơn rất nhiều so với sản phẩm hàng hoá thông thường Chi phí đầu tư cho công trình thường rải ra trong một thời

kỳ dài Trong phương thức đấu thầu, người nhận thầu nhiều khi phải có một lượng vốn đủ lớn để đưa ra hoạt động trong thời kỳ đợi vốn của chủ đầu tư

Trang 17

- Tính chất đơn chiếc và chịu ảnh hưởng của nơi xây dựng làm cho chi phí sản xuất từng sản phẩm xây dựng rất khác nhau Ngay cùng một sản phẩm có kết cấu, kiến trúc giống nhau thì cũng có sự khác nhau về chi phí sản xuất, đó là các hao phí về lao động sống và quá khứ Vì thế việc xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng phải được tiến hành riêng biệt đối với từng sản phẩm Khả năng xây dựng các định mức chi phí cho sản phẩm xây dựng cũng gặp nhiều khó khăn

b Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất xây dựng

Do sản phẩm xây dựng có những đặc điểm riêng biệt, nên sản xuất xây dựng cũng có những đặc điểm riêng của nó Những đặc điểm ấy có thể khái quát như sau:

- Sản xuất xây dựng chỉ được tiến hành khi có đơn đặt hàng (hợp đồng xây dựng) của người mua sản phẩm, nó không thể sản xuất khi chưa có người đặt hàng Sau khi sản phẩm hoàn thành thì không cần phải tìm thị trường để bán sản phẩm Sản xuất xây dựng chỉ tiến hành khi được chủ đầu tư chấp nhận và ký hợp đồng giao nhận thầu Điều đó có ý nghĩa là: Chỉ khi nào có hợp đồng trong tay thì chủ đầu tư mới tiến hành xây dựng Trong quá trình thi công công trình được thực hiện với sự tham gia giám định kỹ thuật của người mua

- Quá trình sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn do sản phẩm gắn liền với nơi tiêu thụ, nên địa điểm sản xuất không ổn định thậm chí trải dài theo tuyến dẫn đến việc phải di chuyển lực lượng lao động và các phương diện vật chất từ công trình này đến công trình khác và nhiều khi trong cùng một công trình sự di chuyển diễn ra liên tục.Các phương án tổ chức thi công xây dựng công trình ở các địa điểm khác nhau luôn phải thay đổi theo điều kiện cụ thể của nơi xây dựng và theo giai đoạn xây dựng Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất, việc bố trí công trình tạm phục vụ thi

Trang 18

công, việc phối hợp các phương tiện xe máy, thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Đặc điểm này đòi hỏi phải luôn chú ý tăng cường tính cơ động trong doanh nghiệp về mặt trang bị TSCĐ, lựa chọn loại hình thức tổ chức quản lý và chỉ đạo thực hiện kế hoạch tác nghiệp, lựa chọn địa điểm kho trung chuyển vật tư hợp lý khi thi công nhiều công trình

- Thời gian xây dựng công trình kéo dài: Đặc điểm này dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất trong các khối lượng thi công dở dang của các doanh nghiệp xây dựng Công tác tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp phải chặt chẽ, hợp lý, phải luôn tìm cách lựa chọn trình tự thi công hợp lý cho từng công trình nhằm tạo ra khả năng sử dụng và điều phối hợp lý năng lực sản xuất Thanh toán từng khối lượng công tác xây lắp thực hiện và bàn giao đưa vào sử dụng

- Sản xuất tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng điều kiện thiên nhiên đến các hoạt động của công nhân và quá trình thực hiện công tác xây lắp Đặc điểm này làm cho các doanh nghiệp xây dựng không thể lường hết được các khó khăn sinh ra bởi thời tiết khí hậu, môi trường tự nhiên Từ đó đưa đến hiệu quả lao động giảm xuống, một số giai đoạn của quá trình sản xuất bị gián đoạn, ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình và giá thành công tác xây lắp Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải tìm biện pháp thi công hợp lý, phối hợp các công việc thi công trong nhà và ngoài trời nhằm khắc phục những ảnh hưởng của thời tiết khí hậu, kịp thời điều chỉnh tiến độ thi công bằng các phương pháp kỹ thuật hiện đại, cải thiện điều kiện làm việc ngoài trời cho người lao động, hạn chế tới mức thấp nhất những lãng phí về lao động, nguyên vật liệu do thời tiết gây ra

- Kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém Vấn đề trang bị

kỹ thuật của xây dựng nhiều khi đòi hỏi những máy móc kỹ thuật phức tạp, hiện đại đắt tiền Trong trường hợp như vậy, doanh nghiệp có thể lựa chọn

Trang 19

một trong hai phương án sau: một là doanh nghiệp bỏ ra một số vốn lớn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị thi công, hai là đi thuê của đơn vị khác về

để sử dụng Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự tính toán cụ thể và so sánh lựa chọn phương án để đảm bảo máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kịp thời đầy đủ Mặt khác phải đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.1.2 Nội dung quản lý doanh nghiệp xây dựng

Trong hoạt động xây dựng, quản lý có hai nhiệm vụ chính yếu nhất Một

là kết hợp có hiệu quả giữa người lao động với tư liệu sản xuất, Hai là tạo điều kiện cho việc mở rộng quả trình tái sản xuất

Thực hiện các nhiệm vụ này quản lý phải được thiết lập như là một hệ thống gồm nhiều bộ phận hợp thành có quan hệ mật thiết với nhau

Nội dung quản lý do hai nhiệm vụ trên đây và cách tổ chức hệ thống quyết định

Nội dung quản lý còn được đặc trưng bởi chính mục đích của quản lý Theo tinh thần ấy, nội dung quản lý xây dựng phải được xem xét theo những góc độ khác nhau:

a Xét theo các hoạt động của quá trình đầu tư và xây dựng, nội dung quản lý xây dựng bao gồm:

- Quản lý hoạt động tư vấn khảo sát thiết kế;

- Quản lý hoạt động đầu tư vốn và vốn đầu tư;

- Quản lý thi công xây lắp…

Trong các loại hoạt động trên đây chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều tồn tại thống nhất với nhau và tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, cùng hướng vào các mặt quản lý sản xuất, quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế,…

b Xét theo trạng thái của hệ thống

Hệ thống quản lý xây dựng có thể được xem xét ở hai trạng thái tĩnh và trạng thái động

Trang 20

Ở trạng thái tĩnh, hệ thống quản lý xây dựng được xem xét như một cơ

cấu phức tạp và bao gồm các bộ phận sau đây: Chức năng quản lý, cơ quan quản lý, kỹ thuật quản lý, phương pháp quản lý

Ở trạng thái động, hệ thống quản lý xây dựng được xem xét như một

quá trình gồm các giai đoạn sau: Xác định mục đích quản lý, ra quyết định và thực hiện kế hoạch đề ra, tổ chức các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận

có liên quan và công nghệ quản lý

Nội dung cụ thể của các bộ phận, các giai đoạn trên đây của hoạt động quản lý sẽ được xem xét cụ thể ở các mục tiếp theo

c Xét theo các mối quan hệ trong hoạt động xây dựng

Do tính chất đa dạng, phức tạp của hoạt động xây dựng, cho nên nội dung của quản lý xây dựng cũng phức tạp và bao hàm nhiều cấp độ khác nhau ở những phạm vi khác nhau

- Trên phương diện quan hệ giữa quản lý vĩ mô và quản lý vi mô, nội dung của quản lý xây dựng gồm: quản lý ngành và quản lý doanh nghiệp

- Trên phương diện các mặt sản xuất kinh doanh, nội dung quản lý bao gồm: quản lý kế hoạch, quản lý lao động, quản lý tiến độ,…

- Trên từng mặt, từng lĩnh vực của hoạt động xây dựng cũng xuất hiện nhu cầu quản lý, do đó quản lý cũng được quy định những nội dung tương ứng Có quản lý thiết kế, quản lý dự án, lại có quản lý tiêu chuẩn, quản lý giá cả…

Trong từng hệ thống, tuỳ từng điều kiện cụ thể người ta có thể xác định những nội dung cụ thể của quản lý [ 12,Tr.32-33]

1.1.3 Phương pháp quản lý xây dựng

Trong toàn bộ hệ thống quản lý, phương pháp đóng vai trò rất quan trọng và là nội dung cơ bản của quá trình quản lý

Trang 21

Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tiến hành hoạt động quản lý dựa trên cơ sở sử dụng các phương tiện kỹ thuật, biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế và các biện pháp khác Đây chính là những phương pháp tác động có định hướng đối với các đối tượng và các tập thể sản xuất nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Trong thực tế có rất nhiều phương pháp quản lý khác nhau, tuỳ theo chỗ đứng, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu, người ta có thể phân loại phương pháp quản lý theo nhiều cách khác nhau

a Đứng ở góc độ cơ chế quản lý có thể phân các phương pháp quản lý thành các nhóm chính sau đây:

- Nhóm các phương pháp lãnh đạo theo kế hoạch tập trung hay là các phương pháp hành chính của quản lý

Trang 22

Mỗi phương pháp có vai trò riêng Tác động của quản lý chỉ có hiệu lực khi biết lựa chọn đúng và áp dụng linh hoạt nhất các phương pháp khác nhau Trong nhiều phương pháp quản lý đã kể ra ở trên, trong thực tế quản lý cần đặc biệt lưu ý tới phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính là phương pháp tác động của cơ quan quản lý

lên đối tượng quản lý thông qua những quyết định trực tiếp, dứt khoát mang tính pháp lệnh cao Tính bắt buộc của phương pháp hành chính đòi hỏi mọi quyết định của phương pháp hành chính phải có luận cứ khoa học Việc sử dụng các phương pháp này không phải là ý muốn chủ quan của người này hay người khác Các phương pháp này chỉ phát huy tác dụng khi đã xác định được đầy đủ và chính xác quyền hạn, trách nhiệm của mỗi thành viên mỗi cấp trong hệ thống quản lý Nếu ngược lại sẽ dẫn đến quan liêu, duy ý chí Cần lưu ý là cơ chế cụ thể để thực hiện các phương pháp này trong thực tiễn

là hệ thống kế hoạch kinh tế quốc dân

Phương pháp kinh tế là chủ thể quản lý tác động giám tiếp vào đối

tượng quản lý nhằm tạo ra một cơ chế hướng dẫn đối tượng quản lý hoạt động mà không cần có sự tham gia trực tiếp của phương pháp hành chính và

cơ quan hành chính

Phương pháp kinh tế của quản lý còn được hiểu là tổng thể các biện pháp đảm bảo sử dụng hợp lý các quy luật kinh tế trong hoạt động kinh tế Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động giám tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế nhằm tạo ra một cơ chế hướng dẫn con người hành động theo quy luật kinh tế Phương pháp kinh tế lấy lợi ích kinh tế làm đòn bẩy kinh tế, làm công cụ

Xu hướng chung là ngày càng mở rộng việc áp dụng phương pháp kinh

tế trong quản lý Các phương pháp kinh tế hoạt động tích cực, mạnh mẽ bao nhiêu thì chủ nghĩa bình quân càng giảm và trách nhiệm về kinh tế càng được

Trang 23

xác định rõ bấy nhiêu Việc áp dụng kết hợp hai phương pháp hành chính và kinh tế là hoàn toàn cần thiết

1.1.4 Kế hoạch của các doanh nghiệp xây dựng

Do các doanh nghiệp xây dựng có những đặc điểm riêng nên trong hoạt động của mình không những phải lập chiến lược kinh doanh, các kế hoạch dài hạn, kế hoạch ngắn hạn và đặc biệt phải xây dựng kế hoạch năm

Kế hoạch năm của doanh nghiệp xây dựng còn có tên gọi là kế hoạch toàn diện hay còn gọi là kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính - xã hội Kế hoạch toàn diện này của các doanh nghiệp xây dựng gồm các kế hoạch sau:

- Kế hoạch đầu tư;

- Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm;

- Kế hoạch vật tư kỹ thuật;

- Kế hoạch lao động tiền lương;

- Kế hoạch đầu tư doanh nghiệp;

- Kế hoạch nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật;

- Kế hoạch tiết kiệm và hạ giá thành sản phẩm;

- Kế hoạch tài chính tín dụng;

- Kế hoạch lợi nhuận;

- Kế hoạch đời sống văn hoá xã hội;

- Kế hoạch quản lý;

- Kế hoạch sửa chữa lớn của TSCĐ

Mỗi kế hoạch có vai trò vị trí và nội dung khác nhau nhưng đều có quan

hệ mật thiết với nhau Trong đó kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm là xuất phát điểm, là cơ sở để lập các kế hoạch khác như kế hoạch đầu tư [ 12,Tr.91]

* Kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm chỉ là một kế hoạch bộ phận

trong kế hoạch toàn diện của doanh nghiệp xây dựng Kế hoạch sản xuất biểu

Trang 24

hiện nhiệm vụ và chương trình sản xuất xây dựng và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng Nó là một kế hoạch chủ yếu tronh hệ thống kế hoạch toàn diện của doanh nghiệp xây dựng Muốn tồn tại và phát triển, hoàn thành nghĩa vụ với chủ đầu tư theo hợp đồng thì các doanh nghiệp xây dựng phải có kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm cụ thể Đồng thời muốn sử dụng một cách có hiệu quả sức lao động, vật tư, máy móc thiết bị thi công, tiền vốn của doanh nghiệp cũng như muốn thực hiện phương châm “Tiến độ nhanh, chất lượng tốt, giá thành hạ” thì phải lập kế hoạch Nói cách khác chỉ có hoàn thành được kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm thì mới đưa được công trình vào sử dụng, tăng năng lực và tăng được tài sản cố định cho chủ đầu tư, cho ngành xây dựng cho nền kinh tế quốc dân, mang lại giá trị và giá trị sử dụng cho nền kinh tế quốc dân

Kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm được coi là tối ưu khi mà các nguồn lực hạn chế đã có, để có thể làm ra khối lượng xây dựng là lớn nhất đạt được doanh thu tiêu thụ sản phẩm nhiều nhất Kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm tối ưu phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành

Kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng trước hết phải xác định được danh mục công trình, hạng mục công trình thi công trong năm Trên cở sở đó tính toán các chỉ tiêu giá trị sản lượng xây lắp, khối lượng công tác xây lắp tính bằng hiện vật…, đồng thời xác định các nhu cầu đảm bảo như lao động, vật tư, xe máy thiết bị thi công và tiến độ thực hiện các công trình và hạng mục công trình

* Kế hoạch đầu tư

Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản là một trong những kế hoạch quan trọng của nền kinh tế quốc dân Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản quyết định quy mô, số lượng các cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế quốc dân, quyết định

Trang 25

đến nhịp độ tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân Đồng thời kế hoạch này là cơ sở thiết lập quan hệ hợp lý giữa các ngành Kế hoạch đầu tư xây dựng sẽ góp phần cho đất nước có những công trình to đẹp hơn, đảm bảo đáp ứng nhu cầu vận chuyển của nền kinh tế nước nhà khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá Xây dựng các công trình cơ bản bao giờ cũng phải đi trước một bước trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc dân Chính vì thế kế hoạch đầu tư xây dựng có tầm quan trọng đặc biệt Để đảm bảo được trọng trách này thì nhiệm vụ đặt ra cho công tác kế hoạch là:

- Bảo đảm tăng tài sản cố định và năng lực sản xuất cho nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành xây dựng nói riêng

- Góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế và nhịp độ phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như ngành xây dựng

- Phản ánh và thực hiện chiến lược đầu tư, dự án đầu tư của nhà nước, của ngành trong từng thời kỳ kế hoạch

- Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của các chủ đầu tư phải phản ánh được các nguồn vốn đầu tư

Ngoài ra ta cũng phải đặc biệt chú ý tới kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ

* Kế hoạch sửa chữa lớn bao gồm các chỉ tiêu

- Tên thiết bị, công trình cần sửa chữa lớn trong kỳ bao gồm những thiết

bị hư hỏng chờ sửa chữa và những thiết bị chưa hư hỏng chờ sửa chữa và những thiết bị chưa hư hỏng nhưng đến kỳ sửa chữa

- Nội dung sửa chữa: Bao gồm sửa chữa lớn máy móc thiết bị: tháo dỡ các bộ phận máy móc để sửa chữa điều chỉnh lại thiết bị bảo đảm độ chính xác…Kết hợp với hiện đại hoá để tăng cường tính năng của máy móc thiết bị Sửa chữa lớn công trình kiến trúc Kế hoạch sửa chữa được xác định dựa vào chu kỳ sửa chữa máy móc thiết bị và công trình kiến trúc

Thời gian sửa chữa

Trang 26

Chi phí sửa chữa: Bao gồm tiền lương, chi phí vật liệu chi phí khác

Để xác định chi phí sửa chữa lớn: Đối với sửa chữa máy móc thiết bị thì căn cứ vào độ phức tạp R và định mức chi phí để tiến hành sửa chữa 1 đơn vị phức tạp R Còn đối với sửa chữa các thiết bị cỡ lớn và công trình kiến trúc thì có thể xác định chi phí sửa chữa vào khối lượng công việc sửa chữa và định mức cho một đơn vị khối lượng sửa chữa

1.2 Công tác quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp xây dựng

1.2.1 Khái niệm tài sản cố định (TSCĐ)

TSCĐ là những tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh Đó là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Tiêu chuẩn giá trị của chúng được quy định phù hợp với tình hình thực tế và các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước [ 11,Tr.113]

TSCĐ gồm hai loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình Mỗi loại TSCĐ trên có tính hữu ích khác nhau, yêu cầu quản lý cũng khác nhau nên phải tổ chức ghi chép trên những tài khoản khác nhau

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam để nhận biết TSCĐ hữu hình phải có

bốn tiêu chuẩn sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó

- Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách tin cậy

- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên

- Có giá trị từ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) trở lên

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt

Trang 27

động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng TSCĐ đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ thì được coi là một TSCĐ độc lập Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ vô hình:

Mọi khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn trên, mà không hình thành TSCĐ hữu hình thì được coi là TSCĐ

vô hình Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả bốn tiêu chuẩn trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình được tao ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thoả mãn các điều kiện sau:

- Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán

- Doanh nghiệp dự định hoàn thành TSCĐ vô hình để sử dụng hoặc để bán

- Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán TSCĐ vô hình đó

- Tài sản cố định vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai

- Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản cố định vô hình đó

- Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ vô hình

Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, lợi thế thương mại không phải là TSCĐ

Trang 28

vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3 (ba) năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động

Từ những đặc điểm trên đòi hỏi quản lý TSCĐ phải nghiêm túc thường xuyên liên tục theo dõi sự biến động của tài sản về số lượng, chất lượng, hao mòn, nguyên giá và giá trị còn lại của tài sản

+ Về mặt hiện vật:

Phải quản lý TSCĐ theo từng địa điểm sử dụng, theo từng loại từng nhóm TSCĐ Phải quản lý trong suốt thời gian sử dụng tức là phải quản lý từ việc đầu tư, mua sắm, xây dựng đã hoàn thành, quá trình sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp… Cho đến khi không sử dụng hoặc không sử dụng được (thanh

lý hoặc nhượng bán)

+ Về mặt giá tri:

Phải theo dõi nguyên giá và giá trị còn lại của TSCĐ, phải tính được phần giá trị TSCĐ đã chuyển dịch vào chi phí sản xuất kinh doanh Từ đó tính và phân bổ số khấu hao hợp lý, kiểm tra chặt chẽ tình hình hao mòn, việc thu hồi vốn từ ban đầu để tái đầu tư TSCĐ

1.2.3 Phân loại TSCĐ

TSCĐ trong doanh nghiệp có công dụng khác nhau trong hoạt động kinh doanh, để quản lý tốt cần phải phân loại TSCĐ Phân loại TSCĐ là việc sắp xếp các TSCĐ trong doanh nghiệp thành các loại, các nhóm TSCĐ có cùng

Trang 29

tính chất, đặc điểm theo những tiêu thức nhất định Trong doanh nghiệp thường phân loại TSCĐ theo một số tiêu thức sau: [ 11,Tr.117]

a Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện

Theo cách phân loại này căn cứ vào hình thái biểu hiện của TSCĐ chia

ra TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình

* TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ Loại này có thể phân chia theo nhóm căn cứ vào đặc trưng

- Thiết bị, dụng cụ quản lý: Gồm các thiết bị sử dụng trong quản lý kinh doanh, quản lý hành chính, dụng cụ đo lường, thí nghiệm

- Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: Trong các doanh nghiệp nông nghiệp

- TSCĐ hữu hình khác bao gồm các TSCĐ chưa được sắp xếp các nhóm TSCĐ trên

* TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng cho sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ; bao gồm một số loại sau:

Trang 30

- Quyền sử dụng đất: là toàn bộ chi phí thực tế đã chi ra có liên quan tới

sử dụng đất Tiền chi ra để có quyền sử dụng đất, chi phí đền bù, san lấp, giải phóng mặt bằng…

- Nhãn hiệu hàng hoá: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được quyền

sử một loại nhãn hiệu, thương hiệu hàng hoá nào đó

- Bản quyền, bằng sáng chế: Giá trị bằng phát minh, sáng chế là các chi phí doanh nghiệp phải trả cho các công trình nghiên cứu, sản xuất thử được Nhà nước cấp bằng

- Phần mềm máy vi tính do doanh nhiệp bỏ tiền ra mua hoặc tự xây dựng, thiết kế

- Giấy phép và giấy phép nhượng quyền: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra

để có được các loại giấy phép, giấy phép nhượng quyền để doanh nghiệp có thể thực hiện các nghiệp vụ nhất định

- Quyền phát hành: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được quyền phát hành các loại sách Báo, tạp chí, ấn phẩm văn hoá, nghệ thuật khác

* Tác dụng của cách phân loại TSCĐ này: Giúp cho doanh nghiệp có biện pháp quản lý phù hợp, tổ chức hạch toán chi tiết hợp lý và lựa chọn phương pháp, cách thức khấu hao thích hợp đặc điểm kỹ thuật của từng nhóm TSCĐ

b Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu

Căn cứ quyền sở hữu TSCĐ của doanh nghiệp chia thành hai loại TSCĐ

tự có và TSCĐ thuê ngoài

* TSCĐ tự có là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp, cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vồn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng Đây là những TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp

Trang 31

* TSCĐ thuê ngoài là những TSCĐ đi thuê để sử dụng trong thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản

Thuê tài sản là sự thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc chuyển quyền sự dụng tài sản cho bên cho thuê trong khoảng thời gian nhất định để được nhận tiền cho thuê một lần hoặc nhiều lần Tuỳ theo hợp đồng thuê mà TSCĐ chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động

Thuê tài chính là tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên cho thuê Quyền

sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn cho thuê

Theo thông lệ quốc tế thì TSCĐ thuê được coi là TSCĐ thuê tài chính nếu thoả mãn một trong các điều kiện sau đây:

- Quyền sở hữu TSCĐ được chuyển sang cho bên đi thuê khi hết hạn hợp đồng

- Hợp đồng cho phép bên đi thuê được lựa chọn mua TSCĐ thuê với giá thấp hơn giá thực tế của TSCĐ tại thời điểm mua

- Thời hạn thuê ít nhất bằng 3/4 thời gian hữu dụng của TSCĐ thuê

- Giá trị hiện tại của khoản chi theo hợp đồng ít nhất bằng 90% giá trị của TSCĐ thuê

Theo chuẩn mực kế toán số 06 thì việc phân loại thuê tài sản là thuê tài chính hay thuê hoạt động phải căn cứ vào bản chất các điều khoản ghi trong hợp đồng Ví dụ, các trường hợp thường dẫn đến hợp đồng thuê tài chính là:

- Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết hạn thuê (tức mua lại tài sản)

- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê

Trang 32

- Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu

- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê

Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê mới có khả năng sử dụng không cần có sự thay đổi sửa chữa lớn nào

Và cũng theo chuẩn mực thì hợp đồng thuê tài sản được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu hợp đồng thoả mãn ít nhất một trong ba trường hợp sau:

- Nếu bên thuê huỷ hợp đồng và đền bù tổn thất phát sinh liên quan đến việc huỷ hợp đồng cho bên cho thuê

- Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của tài sản cố định thuê gắn với bên thuê

- Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết hạn hợp đồng thuê với tiền thuê thấp hơn giá trị thuê thị trường

TSCĐ thuê hoạt động: Là TSCĐ không thoả mãn bất cứ điều kiện nào của hợp đồng thuê tài chính Bên thuê chỉ được quản lý và sử dụng tài sản trong thời gian quy định trong hợp đồng và phải trả khi hết hạn thuê

* Tác dụng của cách phân loại này: Giúp cho nhà quản lý cũng như những đối tượng có quan tâm đến doanh nghiệp nhìn vào biết được tài sản nào là của doanh nghiệp, tài sản nào là không phải của doanh nghiệp

c Phân loại theo tình hình sử dụng

Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ của từng thời kỳ TSCĐ được chia thành các loại:

- TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: Là TSCĐ được sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp

Trang 33

- TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Là TSCĐ dùng cho những hoạt động sản xuất kinh doanh phụ và phụ trợ và những TSCĐ không

có tính chất sản xuất

- TSCĐ chưa dùng hoặc cần dùng: Là những tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay hoạt động khác của doanh nghiệp xong hiện tại chưa cần dùng đang được dự trữ để sau nay sử dụng

- TSCĐ phúc lợi: Là những TSCĐ của doanh nghiệp dùng cho nhu cầu phúc lợi công cộng như: nhà văn hoá, nhà trẻ, câu lạc bộ,…

- TSCĐ chờ thanh lý: Là những TSCĐ đã hư hỏng hoặc quá lạc hậu Các cách phân loại TSCĐ này giúp cho doanh nghiệp có biện pháp quản

lý phù hợp, tổ chức hạch toán chi tiết hợp lý và lựa chọn phương pháp, cách thức khấu hao thích hợp đặc điểm kỹ thuật của từng nhóm TSCĐ

* Tác dụng của cách phân loại này: Giúp cho nhà quản lý cũng như những đối tượng có quan tâm đến doanh nghiệp nhìn vào biết được tài sản nào là sử dụng cho sản xuất kinh doanh, tài sản nào chưa dùng hoặc chưa cần dùng, cũng như tài sản nào chờ thanh lý

Mỗi cách phân loại ngoài việc có tác dụng khác nhau trong quá trình quản lý tài sản, nó còn giúp kế toán thuận lợi trong việc xác định thời gian khấu hao cho mỗi tài sản khác nhau Tuy nhiên để xác định được thời gian sử dụng của TSCĐ một cách chính xác các doanh nghiệp đều phải căn cứ theo Quyết định số: 32/2008/QĐ- BTC ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính

Nội dung cụ thể của Quyết định (kèm theo phụ lục 01)

Trang 34

1.2.4 Khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp

a Khái niệm, bản chất khấu hao TSCĐ

Khái niệm khấu hao TSCĐ: Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ một cách có

hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó vào giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được sáng tạo ra

Bản chất khấu hao TSCĐ: Là một biện pháp chủ quan của con người nhằm thu hồi số vốn đã đầu tư vào TSCĐ Vì TSCĐ được đầu tư mua sắm để

sử dụng nên được hiểu như một lượng giá trị hữu dụng được phân phối cho SXKD trong suốt thời gian sử dụng hữu ích Do đó, việc trích khấu hao là việc phân phối giá trị TSCĐ đồng thời là biện pháp thu hồi vốn đầu tư vào TSCĐ

b Các phương pháp khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp

Có rất nhiều phương pháp khác nhau để tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp Mỗi phương pháp tính khấu hao có những ưu nhược điểm riêng Việc lựa chọn đúng phương pháp khấu hao TSCĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý vốn cố định trong các doanh nghiệp Mặc dù việc lựa chọn phương pháp khấu hao nào là sự lựa chọn của doanh nghiệp nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán đồng thời doanh nghiệp phải công khai phương pháp khấu hao đang vận dụng trên báo cáo tài chính Thông thường có các phương pháp khấu hao cơ bản sau:

* Phương pháp khấu hao đường thẳng (Phương pháp khấu hao bình quân, phương pháp khấu hao tuyến tính cố định):

- Đây là phương pháp khấu hao đơn giản nhất, được sử dụng khá phổ biến để tính khấu hao các loại TSCĐ có hình thái vật chất và không có hình thái vật chất Theo phương pháp khấu hao này mức khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ

Trang 35

- Theo phương pháp này mức khấu hao bình quân (MKHBQ) được tính như sau:

Giá trị phải khấu hao Mức khấu hao bình quân năm =

Số năm sử dụng Nếu đơn vị thực hiện trích khấu hao cho từng tháng thì:

Mức khấu hao bình quân năm Mức khấu hao bình quân tháng =

12 tháng Sau khi tính được mức trích khấu hao của từng TSCĐ, doanh nghiệp phải xác định mức khấu hao của từng bộ phận sử dụng TSCĐ và tập hợp chung cho toàn doanh nghiệp

Để cộng việc tính toán mức khấu hao TSCĐ phải trích được đơn giản, khi doanh nghiệp tính khấu hao TSCĐ theo phương pháp tuyến tính thì mức khấu hao TSCĐ cần trích của tháng bất kỳ theo công thức sau:

+

Khấu hao TSCĐ tăng trong tháng

-

Khấu hao TSCĐ giảm trong tháng

Đối với tháng đầu (hoặc tháng cuối) khi TSCĐ được đưa vào sử dụng (hoặc ngừng sử dụng) không phải từ đầu tháng (cuối tháng) thì mức khấu hao tăng (giảm) trong tháng được xác định theo công thức:

Mức khấu hao bình quân tháng Mức khấu hao tăng

Số ngày còn lại của tháng

- Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản

cố định bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian sử

Trang 36

dụng xác định lại hoặc thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của tài sản cố định

- Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản

cố định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó

* Nhận xét về phương pháp khấu hao đường thẳng

- Ưu điểm:

Cách tính khấu hao này đơn giản, dễ làm, chính xác đối với từng loại TSCĐ Mức khấu hao được phân bổ vào giá thành hoặc chi phí lưu thông một cách đều đặn, làm cho giá thành và chi phí lưu thông được ổn định.Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng tỷ lệ khấu hao bình quân tổng hợp cho tất cả các loại TSCĐ của doanh nghiệp thì khối lượng công tác tính toán sẽ giảm được đáng kể, thuận lợi cho việc lập kế hoạch khấu hao tài sản của doanh nghiệp

- Nhược điểm:

Khả năng thu hồi vốn chậm, không phản ánh đúng lượng hao mòn thực

tế của doanh nghiệp và không tránh khỏi hiện tượng hao mòn vô hình do không lường được hết sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ

Để khắc phục nhược điểm của phương pháp khấu hao trên, có thể tuỳ theo đặc điểm của từng loại TSCĐ trong từng doanh nghiệp mà chúng ta có thể sử dụng phương pháp khấu hao nhanh

Các phương pháp khấu hao nhanh gồm phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, phương pháp khấu hao giảm dần kết hợp với phương pháp khấu hao bình quân và phương pháp khấu hao tổng số

* Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh (phương pháp khấu hao nhanh):

Trang 37

- Là phương pháp mà số dư khấu hao phải trích hàng năm của TSCĐ giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ đó

- TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:

+ TSCĐ đầu tư mới (chưa qua sử dụng)

+ TSCĐ trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu qua kinh

tể cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi

- Tỷ lệ khấu hao nhanh ổn định trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ

- Xác định mức trích khấu hao năm của tài sản cố định trong các năm đầu theo công thức dưới đây:

Mức trích khấu hao hàng

năm của tài sản cố định =

Giá trị còn lại của tài sản cố định x

Tỷ lệ khấu hao nhanh Trong đó:

Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:

Trang 38

Tỷ lệ khấu hao tài sản cố

định theo phương pháp

đường thẳng (%)

=

1 ––––––––––––––––––

Thời gian sử dụng của tài sản cố định

x 100

Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quy

định tại bảng dưới đây:

Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần)

Đến 4 năm ( t ≤ 4 năm) 1,5

Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0

Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5 Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số

dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa

giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó

mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số

năm sử dụng còn lại của tài sản cố định

- Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm

chia cho 12 tháng

* Nhận xét phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:

- Ưu điểm: Khả năng thu hồi vốn nhanh và phòng ngừa được hiện tượng

mất giá do hao mòn vô hình

- Nhược điểm: Số tiền khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng không đủ bù

đắp giá trị ban đầu của máy móc Người ta thường giải quyết tồn tại này bằng

cách: khi chuyển sang giai đoạn nửa cuối thời gian phục vụ của tài sản cố

định, ta có thể sử dụng phương pháp khấu hao tuyến tính cố định Mức trích

khấu hao bình quân trong những năm cuối của thời gian sử dụng TSCĐ sẽ

bằng tổng giá trị còn laị của TSCĐ chia cho tổng số năm sử dụng còn lại

Bằng cách này sẽ thu hồi đủ vốn ban đầu

Trang 39

* Phương pháp khấu hao theo sản lượng

- Điều kiện áp dụng:

+ Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm

+ Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ

+ Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% công suất thiết kế

- TSCĐ trong các doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau:

+ Căn cứ vào hồ sơ kinh tế kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế

+ Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ

+ Xác định mức khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức dưới đây:

MKH tháng = SLSP sản xuất trong tháng x MKH cho 1 đơn vị SP

Trong đó: Mức khấu hao (MKH) cho 1 đơn vị sản phẩm (SP) được tính:

Giá trị phải khấu hao MKH cho 1 đơn vị SP =

Sản lượng thiết kế

- Mức khấu hao năm: Bằng tổng mức khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau:

MKH năm = SLSP sản xuất trong năm x MKH cho 1 đơn vị SP

Trường hợp công suất thiết kế hoặc giá trị phải khấu hao thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức khấu hao của TSCĐ

Trang 40

Nhận xét Phương pháp khấu hao theo sản lượng

- Ưu điểm: Khấu hao theo phương pháp này mức khấu hao gắn liền với

mức độ khai thác sử dụng TSCĐ Do đó, nó phản ánh tương đối chính xác mức độ hao mòn TSCĐ do khai thác sử dụng Bên cạnh đó, việc khấu hao không lệ thuộc vào thời gian sử dụng TSCĐ nên đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động tận dụng khai thác triệt để công suất, công dụng của TSCĐ nhằm nhanh chóng thu hồi vốn để đổi mới TSCĐ

- Nhược điểm: Phạm vi áp dụng phương pháp này bị giới hạn bởi vì

không phải TSCĐ nào cũng có thông số biểu hiện đời sống kinh tế hữu ích của nó Thêm vào đó, việc xác định các thông số trong nhiều trường hợp gặp khó khăn do sự không ổn định của môi trường khai thác, sử dụng TSCĐ Chẳng hạn, cùng một máy móc thiết bị nếu sử dụng trong môi trường nhiệt

độ không cao, độ ẩm thấp và chấp hành tốt các quy định sử dụng và bảo quản thì đời sống kinh tế hữu ích sẽ cao hơn so với sử dụng ở môi trường có nhiệt

độ và độ ẩm cao và bảo quản không tốt, hay một phương tiện vận tải nếu sử dụng trên đường loại 1 và bảo đảm tải trọng theo quy định thì đời sống kinh

tế sẽ dài hơn so với phương tiện vận tải trên đường loại 2,3… và quá tải trọng

+ Trong trường hợp mức độ khai thác, sử dụng TSCĐ thấp thì mức khấu hao sẽ không phản ánh mức độ hao mòn do tiến bộ khoa học kỹ thuật và do điều kiện tự nhiên gây ra dẫn đến kéo dài thời gian khấu hao Do đó, để tránh xảy ra trường hợp này, người ta chỉ áp dụng phương pháp khấu hao theo sản phẩm khi công suất khai thác TSCĐ phải đạt ở mức độ tối thiểu nhất định

1.2.5 Đánh giá trình độ quản lý, sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp 1.2.5.1 Đánh giá TSCĐ

Đánh giá TSCĐ là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên tắc nhất định Đánh giá TSCĐ là điều kiện cần thiết để hạch toán TSCĐ,

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm