1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm trầm tích và đặc tính chứa dầu khí của thành tạo miocen lô 102 106 bể sông hồng

86 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 7,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: - Nhóm các phương pháp địa chất: bao gồm chủ yếu là phân tích thạch học vật lý và các phương pháp trầm tích, địa tầng, kiến tạo, phân tích bể trầm tích và các c

Trang 1

1

-BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ- ĐỊA CHẤT

-***** - DƯƠNG ĐỨC NGHĨA

ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CHỨA DẦU KHÍ CỦA THÀNH TẠO MIOCEN

LÔ 102-106 BỂ SÔNG HỒNG

Chuyên ngành: Thạch học, khoáng vật học và địa hóa học

Mã số: 60.44.57

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA CHẤT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TSKH Phan Trung Điền

TS Đỗ Văn Nhuận

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

2

-LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu và số liệu trong luận văn là trung thực

Các kết quả, luận điểm của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2008

Tác giả luận văn

Dương Đức Nghĩa

Trang 3

3

-MỤC LỤC Nội dung Lời cam đoan

1.3 Kết quả tìm kiếm thăm dò

Chương 2: Cấu trúc địa chất, sự phát triển của bể Sông Hồng

và khu vực nghiên cứu

Trang 4

2.3.4 Thời gian di cư và tạo bẫy

Chương 3: Đặc điểm trầm tích và đặc tính chứa của thành tạo

Trang 5

5

-DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các thông số vỉa chứa tại phát hiện dầu tại giếng khoan A

Bảng 1.2: Các thông số vỉa chứa tại phát hiện khí tại giếng khoan B

Bảng 1.3: Các thông số vỉa chứa cấu tạo phát hịên khí giếng khoan C

Bảng 1.4: Các thông số vỉa chứa cấu tạo E lô 103-107

Bảng 3.1: Kết quả phân tích mẫu của trầm tích Miocen khu vực

nghiên cứu

Bảng 3.2: Trữ lượng dầu tiềm năng khu vực lô nghiên cứu

Bảng 3.3: Trữ lượng khí tiềm năng khu vực lô nghiên cứu

Trang 6

6

-DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Vị trí bể Sông Hồng và các khu vực lân cận

Hình 1.2: Bản đồ vị trí lô nghiên cứu

Hình 1.3: Sơ đồ mạng lưới tuyến địa chấn 2D khu vực bể Sông Hồng

đến năm 2007

Hình 2.1: Cột địa tầng tổng hợp bể Sông Hồng

Hình 2.2: Bản đồ móng và các đới cấu trúc chính bể Sông Hồng

Hình 2.3: Mô hình trầm tích lô nghiên cứu thời kỳ Oligocen

Hình 2.4:Cột địa tầng MVHN và phần tây bắc bể Sông Hồng (PIDC, 2004)

Hình 2.5: Hình thái cấu trúc bể Sông Hồng

Hình 2.6: Mặt cắt ngang đi qua các giếng khoan thuộc khu vực lô nghiên cứu biểu hiện mặt móng carbonat có khả năng chứa dầu

Hình 2.7: Mặt cắt qua đới Trung-tâm từ thềm Thanh-Nghệ (TN) qua trũng trung tâm tới địa hào nghịch đảo (lô 107) gíap đảo Bạch Long Vĩ Hình 2.8: Bản đồ cấu trúc vị trí bể Sông Hồng

Hình 2.9: Mặt cắt từ đới trung tâm qua đứt gãy SôngLô tới đới Đông bắc Hình 2.10 : Bản đồ cấu trúc nóc móng lô 102-106

Hình 2.11: Mặt cắt trong lô 112 qua các cấu tạo Hoàng Oanh, Bạch Trĩ

và Hải Yến được phân cách bởi các bán địa hào, địa hào trong

đó có lấp đầy các trầm tích Oligocen

Hình 2.12: Bản đồ trưởng thành tại nóc Oligocen, đáy Miocen hạ của

khu vực MVHN và phía tây lô nghiên cứu

Hình 2.13: Địa hình vùi lấp carbonat tại phía đông lô nghiên cứu

Hình 2.14: Lớp sét dày tại khu vực trũng trung tâm bể Sông Hồng có vai trò

tầng chắn tốt

Hình 3.1: Liên kết giếng khoan trong khu vực lô nghiên cứu

Hinh3.2: Mô hình môi trường trầm tích khu vực lô 102-106

Trang 7

Hình 3.6 : Phân loại cát kết với hàm lượng nền (matrix) <15%

Hình 3.7: Mẫu sườn tại độ sâu 1052.5m

Hình 3.8: Mẫu sườn tại độ sâu 1184.5m

Hình 3.9: Mẫu sườn tại độ sâu 1186.8m

Hình 3.10: Mẫu sườn tại độ sâu 1235.5m

Hình 3.11: Mẫu sườn tại độ sâu 1578m

Hình 3.12: Mẫu sườn tại độ sâu 1662.5m

Hình 3.13: Mẫu sườn tại độ sâu 1729m

Hình 3.14: Biểu đồ quan hệ rỗng thấm của giếng khoan C khu vực lô 102 Hình 3.15: Mô hình di dịch dầu khí khu vực lô nghiên cứu

Hình 3.16: Các cấu tạo trong khu vực lô nghiên cứu

Trang 8

8

-MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Họat động tìm kiếm thăm dò dầu khí tại miền Bắc Việt Nam được bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 60 nhưng chủ yếu chỉ diễn ra trên đất liền khu vực miền võng Hà Nội Việc phát hiện ra mỏ khí Tiền Hải C vào năm 1975 đã mở ra tiềm năng dầu khí của bể trầm tích Sông Hồng Từ những năm 1989 – 1995, với chính sách mở cửa của nước ta đã có hàng lọat công ty dầu khí nước ngòai vào đầu tư như BP, Total, Shell, Anzoil, Idemitsu…đã tiến hành các họat động tìm kiếm thăm dò trên biển Tuy nhiên sau một thời gian tìm kiếm thăm dò với kết quả không được như mong đợi nên các công ty

đã lần lượt rút lui và tiềm năng dầu khí ở khu vực ngòai khơi của bồn trầm tích Sông Hồng vẫn cần phải nghiên cứu nhiều hơn

Hiện nay trữ lượng khí của mỏ Tiền Hải C đang dần suy kiệt dẫn đến hàng lọat các nhà máy xí nghiệp mà đang sử dụng nguồn năng lượng khí của tỉnh Thái Bình có nguy cơ bị tê liệt Việc tìm kiếm thăm dò các nguồn khí trên khu vực MVHN đã được tăng cường nhưng vẫn chưa thu được kết quả khả quan nào Để có nguồn cung cấp khí lớn hơn và lâu dài thì cần thiết phải đầu tư thêm cho công tác tìm kiếm thăm dò trên toàn khu vực Vịnh Bắc bộ đặc biệt là khu vực ngoài khơi nơi mà tiềm năng dầu khí vẫn còn là bí ẩn Tại khu vực này đã có 3 giếng khoan phát hiện dầu khí nhưng trữ lượng còn khá nhỏ

Trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí hiện nay tại bể Sông Hồng, khu vực lô 102-106 được đánh giá là có nhiều tiềm năng không chỉ liên quan với móng trước Kainozoi mà còn rất lớn trong trầm tích Miocen Các kết quả thăm dò gần đây tại khu vực này cho thấy tầng chứa vụn Miocen có vai trò rất lớn trong việc đánh giá trữ lượng dầu khí của cả bể Sông Hồng Tuy nhiên, các đặc tính trầm tích học và độ rỗng thấm của chúng trong lô 102-106 nói

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu:

Đưa ra cái nhìn rõ ràng hơn về khả năng chứa dầu khí của tầng Miocen trong khu vực lô 102-106 góp phần vào việc đánh giá tiềm năng chung của bể Sông Hồng và công tác thực hiện chiến lược tìm kiếm thăm dò dầu khí tổng thể bể trầm tích Sông Hồng

3 Nội dung và đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Đánh giá đặc điểm trầm tích Miocen trong khu vực nghiên cứu

- Phân tích mối liên hệ giữa đặc điểm trầm tích và độ rỗng hạt của trầm tích Miocen

- Đánh giá đặc tính chứa dầu khí của tầng Miocen của lô nghiên cứu

và mối liên quan của chúng với tiềm năng chung của khu vực

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm các phương pháp địa chất: bao gồm chủ yếu là phân tích

thạch học vật lý và các phương pháp trầm tích, địa tầng, kiến tạo, phân tích bể trầm tích và các cấu trúc địa chất… để luận giải sự có mặt và những mối liên hệ của các đối tượng địa chất cũng như các quan hệ giữa chúng với các thành tạo chứa dầu khí

Trang 10

10

Nhóm các phương pháp địa vật lý: địa chấn, địa vật lý giếng

khoan … nhằm bổ sung số liệu, hỗ trợ nghiên cứu cấu trúc địa chất

- Tài liệu khoan:

+ Tài liệu về các giếng khoan trong khu vực lô nghiên cứu và các khu vực lân cận

+ Tài liệu địa vật lý giếng khoan, thử vỉa, liên kết… của các giếng trong khu vực

- Các tài liệu khác: gồm các báo cáo về mô hình địa chất và nghiên cứu địa hóa trong khu vực, các tài liệu phân tích mẫu (mẫu lõi, mẫu sườn)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Đưa ra những thông tin rõ ràng về đặc điểm địa

chất khu vực lô nghiên cứu và mối quan hệ của chúng với tiềm năng dầu khí

- Ý nghĩa thực tiễn: Tạo cơ sở cho việc định hướng thăm dò dầu khí

trong khu vực lô nghiên cứu

Trang 11

11

-7 Cấu trúc của luận văn:

Cấu trúc của luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo Nội dung các chương được tóm tắt như sau:

- Chương 1: Trình bày về khung cảnh chung về tình hình tìm kiếm

thăm dò dầu khí bể Sông Hồng

- Chương 2: Trình bày những nét tiêu biểu về hệ thống thành hệ -

cấu trúc, hệ thống dầu khí của bể Sông Hồng và khu vực nghiên cứu

- Chương 3: Trình bày chi tiết các kết quả nghiên cứu về đặc tính

trầm tích và đặc tính rỗng chứa của đối tượng nghiên cứu và đánh giá tiềm năng dầu khí

Toàn bộ luận văn được trình bày trong 86 trang, 7 biểu bảng, 33 hình

vẽ minh họa và 18 tài liệu tham khảo

Luận văn được hoàn thành tại Bộ môn Khoáng thạch, Trường Đại học Mỏ- Địa chất, dưới sự hướng dẫn của TSKH Phan Trung Điền và TS Đỗ Văn Nhuận Trong quá trình thực hiện, tác giả luôn luôn nhận được sự quan tâm hướng dẫn tận tình và sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo trong bộ môn Khoáng thạch, Khoa địa chất, Khoa sau đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Mỏ- Địa chất, của các nhà khoa học, ban lãnh đạo Tổng công ty PVEP và các bạn đồng nghiệp

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này

Trang 12

12

-Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BỂ TRẦM TÍCH SÔNG HỒNG 1.1 Tổng quan bể trầm tích Sông Hồng

Bể trầm tích Sông Hồng là một bể trầm tích Đệ Tam lớn của khu vực Đông Nam Á và bắt đầu được hình thành trong thời gian cuối Eocene đầu Oligocen từ một địa hào dạng kéo dài có hướng Tây Bắc – Đông Nam do căng giãn xuất hiện trong sự va chạm của mảng Ấn Độ vào mảng Âu-Á Bể Sông Hồng hiện tại có dạng hình thoi, điểm khởi đầu là phía Nam thành phố Việt Trì, mở rộng dần theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, đạt chiều rộng lớn nhất khoảng 210 km tại khu vực vĩ tuyến 18ºN sau đó thu hẹp dần cho tới khu vực tỉnh Quảng Ngãi thì biến thành một địa hào tiếp tục kéo dài về phía Nam giữa đới nâng Tri Tôn ở phía Đông và vùng đất liền thuộc các tỉnh phía Nam Trung bộ Bể Sông Hồng có diện tích khoảng 220.000 km2, trong đó phân bể Sông Hồng thuộc chủ quyền của Việt Nam chiếm khoảng 126.000 km2 bao gồm phần đất liền Miền võng Hà Nội (MVHN) và biển nông ven bờ chiếm khoảng 4000 km2, còn lại là diện tích ngoài khơi được chia thành 22 lô từ lô

101 đến lô 121, trong đó có các lô 102-106 nằm ở phần phía bắc của bể (hình 1.1)

Bể Sông Hồng rộng lớn với các cấu trúc địa chất phức tạp biến đổi từ Bắc vào Nam, bao gồm các vùng địa chất khác nhau, đối tượng TKTD cũng

vì thế mà khác nhau Dựa trên đặc điểm địa chất các vùng, bể Sông Hồng được chia ra ba vùng địa chất chính tương ứng như sau:

• Vùng Đông bắc bể Sông Hồng bao gồm Miền võng Hà nội và vùng nước nông ven bờ, bao gồm phần đất liền ra đến lô 101-102-103-106-

107

Trang 13

13

-• Vùng trung tâm bao gồm từ lô 107-108 đến lô 114-115, mực nước biển

ở khu vực này dao động từ 20-90 m

• Vùng phía nam hay còn gọi là vùng thềm Tri Tôn bao gồm từ lô 115 đến lô 121, với mực nước thay đổi từ 30-800 m

Hình 1.1: Vị trí bể Sông Hồng và các khu vực lân cận

Lô 102-106 nằm trong phần phía bắc bể Sông Hồng với tổng diện tích khoảng 14,000km2 (trong đó khoảng 4500km2 lô 102 và 9500km2 lô 106) Độ sâu nước biển tại đây trung bình từ 25 – 30m Lô 102-106 có phía bắc giới hạn gần địa phận đảo Cát Bà - Hải Phòng, phía tây nằm giáp ranh vùng biển

Trang 14

14

-ven bờ thuộc dải Tiền Hải - Hải Hậu, Thái Bình, phía đông gần đảo Bạch

Long Vĩ thuộc vùng ranh giới biển giữa Việt Nam và Trung Quốc (hình 1.2)

Hình 1.2: Bản đồ vị trí lô nghiên cứu

1.2 Lịch sử tìm kiếm thăm dò

Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở bể Sông Hồng được bắt đầu bằng các hoạt động tìm kiếm trên khu vực đồng bằng thuộc MVHN từ năm những năm 60 với kết quả là đã nghiên cứu khảo sát địa chất, địa vật lý và khoan hơn vài chục giếng tìm kiếm thăm dò (TKTD), đã phát hiện sẽ đưa vào khai thác 2 mỏ khí là Tiền Hải C và D14 với trữ lượng nhỏ và phát hiện nhiều biểu

11

1111

Trang 15

15

-hiện dầu & khí khác Hiện nay công tác TKTD vẫn đang tiếp tục bằng các hợp đồng Phân chia Sản phảm (PSC) hoặc Liên doanh (JOC) ở cả trên đất liền và ngoài khơi bể Sông Hồng Lịch sử nghiên cứu, kết quả TKTD & KT bao gồm công tác địa vật lý, khoan, các phát hiện và các kết quả khác

Kể từ năm 1988 đến nay đã có 12 hợp đồng dầu khí được ký kết để TKTD

ở bể Sông Hồng, trong đó 9 hợp đồng đã kết thúc do không có phát hiện thương mại (Total, Idemitsu, Shell, BP…), hiện nay còn 2 nhà thầu đang hoạt động là Petronas (PSC lô 102-106), Vietgasprom (JOC 111, 112 và 113) và TCT PVEP trực tiếp điều hành hoạt động TKTD lô 103-107 và khai thác khí tại khu vực MVHN

1.2.1 Về công tác Địa vật lý

Công tác Địa vật lý được bắt đầu và triển khai tương đối mạnh trong các năm 1983-1988 Trong giai đoạn này đã thu nổ 19.024 km tuyến, trong đó thông qua Vietsovpetro là 11.875 km, số còn lại do Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam tự tổ chức thực hiện Tuy nhiên hầu hết số tài liệu này không còn được lưu giữ do chất lượng kém và công nghệ thu nổ, xử lý lạc hậu Từ năm 1989 đến nay, công tác khảo sát địa vật lý chủ yếu do các Nhà thầu nước ngoài thực hiện theo cam kết của Hợp đồng chia sản phẩm (PSC) hoặc Liên doanh Điều hành chung (JOC) và được tiến hành trong phạm vi các lô hợp đồng Các Nhà thầu dầu khí nước ngoài đã thu nổ 51.054 km địa chấn 2D và 450

km2 địa chấn 3D

Bên cạnh các hoạt động của các Nhà thầu nước ngoài, PetroVietnam cũng đã triển khai nhiều hoạt động TKTD ở bể Sông Hồng như tiến hành khảo sát địa chấn nhiều đợt và tái xử lý các tài liệu địa chấn đã thu nổ trước

đó Từ năm 1995-1996, Công ty Thăm dò-Khai thác (PVEP) đã thu nổ 1.877

km tuyến (năm 1995) và đã phát hiện ra 5 cấu tạo có liên quan tới diapir sét

Trang 16

16

-Hình 1.3: Sơ đồ mạng lưới tuyến địa chấn 2D và các giếng khoan dầu khí

trong khu vực bể Sông Hồng đến năm 2007

Trang 17

17

-và ám tiêu san hô có triển vọng dầu khí ở lô 113, sau đó năm 1996 PVEP lại tiếp tục thu nổ 3.084 km tuyến địa chấn trên vùng các lô 108-110 và Công ty Đầu tư Phát triển Dầu khí (PIDC /PVSC) đã thu nổ 2.923 km 2D trong các năm 1998 và 1999 Gần đây nhất năm 2003, PIDC đã thu nổ 831 km2 địa chấn 3D tại lô 103 Năm 2005 PIDC tiếp tục thu nổ 6600 km tuyến địa chấn 2D trong khu vực Vịnh Bắc bộ Tính đến nay ở ngoài khơi bể Sông Hồng đã thu

nổ tổng cộng khoảng 86.000 km tuyến địa chấn 2D (mật độ nghiên cứu 0,7 km/km2) và 1.281 km2 địa chấn 3D (hình 1.3)

Tại khu vực lô 102-106, từ trước năm 1993 các nhà thầu (Total, Idemitsu) đã tiến hành thu nổ tổng cộng 11,470km tuyến 2D trên toàn bộ khu vực lô 102-106, chất lượng tài liệu được đánh giá từ mức trung bình đến tốt

Từ năm 2003 đến nay, nhà điều hành Petronas đã thực hiện thu nổ thêm 1100km tuyến 3D trên khu vực các cấu tạo tiềm năng của 2 lô này với chất lượng khá tốt

1.2.2 Về công tác khoan

Công tác khoan chủ yếu là do các Nhà thầu dầu khí nước ngoài thực hiện từ năm 1990 đến nay Ở khu vực ngoài khơi bể Sông Hồng đã khoan 28 giếng (một giếng hỏng), trong đó các nhà thầu khoan 26 giếng và Tổng công

ty Dầu khí/PVSC (PIDC) khoan 2 giếng Giếng nông nhất là giếng 1X trên cấu tạo Quả Vải (lô 104 của OMV) đạt 1050 m, giếng sâu nhất là 112-BT-1RX của Shell trên cấu tạo Bạch Trĩ đạt 4.114 m

104-QV-Trong số 28 giếng khoan được thi công ở bể Sông Hồng thì 65% số các giếng đều có biểu hiện khí từ trung bình đến tốt, có 16 giếng được tiến hành thử vỉa trong đó có 10 giếng được coi là có phát hiện nhưng không thương

mại Đáng kể nhất là giếng 103-TH-1X thuộc lô hợp đồng của Total, đã tiến

hành thử 4 vỉa và kết quả là 3 vỉa cho dòng với tổng lưu lượng 5,87 triệu bộ khối khí ngày và 123 thùng condensat/ngày

Trang 18

18

-Ở các khu vực lân cận, tại Trung Quốc đã đầu tư đẩy mạnh TKTD hơn nhiều so với Viêt Nam trên phần lãnh hải của mình, đặc biệt ở các diện tích phía đông các lô 109, 111, 113 với mạng lưới địa chấn chi tiết 3x1 km, 2x2

km, thậm chí 1x1 km và đã khoan hàng trăm giếng khoan thăm dò thẩm lượng, có rất nhiều phát hiện dầu khí Đáng chú ý nhất là phát hiện khí mỏ Dongfang nằm ngay phía đông lô 109 với tầng chứa là cát kết Mio-Pliocen và trữ lượng khoảng 2.5 Tcf (70 tỷ m3), cụm mỏ Ledong nằm ngay cạnh phía đông lô 113 cũng với tầng chứa cát kết Mio-Pliocen, trữ lượng 2.5 Tcf và cách lô 113 không xa là mỏ Yangchen trong cát kết Oligocen với trữ lượng 3.0 Tcf (85 tỷ m3)

1.3 Kết quả tìm kiếm thăm dò

Quá trình khoan thăm dò từ trước tới nay ở bể Sông Hồng đã có một số phát hiện quan trọng Đầu tiên là năm 1975 đã phát hiện mỏ khí Tiền Hải C (THC) với tiềm năng tại chỗ khoảng 1 tỷ m3 Hiện mỏ khí THC đang khai thác ở giai đoạn cuối với sản lượng 20 tr.m3/năm, nhưng mỏ đang suy giảm

và sẽ dừng khai thác trong vài năm tới Từ tháng 7/1993, sau gần 10 năm TKTD tại MVHN, Công ty Anzoil (Úc) đã khoan 10 giếng thăm dò-thẩm lượng và đã phát hiện thấy khí trên cấu tạo Sông Trà Lý-D14 (Thái Thụy, Thái Bình) với trữ lượng nhỏ và một phát hiện dầu rất nhỏ khác trên cấu tạo Sông Thái Bình-B10 (Thái Thụy, Thái Bình) Ngoài các phát hiện trên, tại MVHN và vùng nước nông ven bờ được đánh giá là còn nhiều cấu tạo có triển vọng khác Kết quả các giếng khoan tại khu vực bể Sông Hồng được tóm tắt như sau:

a) Khu vực lô 102&106 đã có một số phát hiện sau:

- Phát hiện dầu: giếng khoan A với độ sâu 1933 m đã bắt gặp mẫu dầu tại độ

sâu 1317.2m thuộc trầm tích Miocen , thử MDT thu được 3125cc dầu có tỷ

Trang 19

U210-B 1333 1365 32 17.83 - 0.203 -

- Phát hiện khí: Giếng khoan B với độ sâu 2862m đã bắt gặp một số vỉa khí

trong Miocen Đã thử 2 vỉa và thu được lưu lượng khoảng 17triệu bộ

khí/ngày Kết quả phân tích log được thể hiện trong bảng 1.2 dưới đây:

Bảng 1.2: Các thông số vỉa chứa tại phát hiện khí giếng khoan B

Khoảng nghiên cứu

(mMD) Chiều dày tầng chứa(m) Độ rỗng (%) Độ bão hòa nước (%) NTG

b) Tại khu vực lô 103&107:

- Phát hiện khí: giếng khoan C khoan tới chiều sâu 3413m đã bắt gặp các vỉa

khí Kết quả thử vỉa cho thấy DST#1 từ 2925-2939m cho dòng khí 1.86

MSCFD, condensat 80BCPD DST#3 (2764-2786m) cho lưu lượng dòng khí

0.26MSCFD, condensat và dầu 14BOPD; DST#4 từ 2293-2297m TMD cho

lưu lượng dòng khí 3.75MSCFD, condensat 29.5BCPD Kết quả phân tích log

như trong bảng 1.3:

Bảng 1.3: Các thông số vỉa chứa cấu tạo phát hịên khí giếng khoan C

Khoảng thử (mMD) Chiều dày tầng chứa (m) Chiều dày vỉa chứa (m) Độ rỗng (%) Độ bão hòa nước (%)

DST#4 2293-2297 4 3.91 16.36 48.17

2764-2766.5 2.5 0.61 16.44 35.64 DST#3

2784-2786 2 1.27 12.94 49.02

DST#2 2822-2830 8 3.2 14.51 51.47

DST#1 2925-2939 14 8.08 14.84 30.23

Trang 20

20

Phát hiện khí: giếng khoan D đạt chiều sâu 3429.5mTVD Đã thử vỉa

DST#1(3041-3064mBRT) cho dòng 192.6m3/ngày; DST#2 (2975 2970.5mBRT) cho dòng157m3/ngày; DST#3 (2738-2729mBRT) cho lưu lượng dòng 124m3/ngày Nhìn chung các vỉa đều mỏng (từ 1,2-4,5m), độ rỗng trung bình từ 10 – 14%

Phát hiện khí: tại giếng khoan E khoan năm 2006 với chiều sâu đạt

3523mRT (3491mSS) Đã thử các 4 vỉa và thu được kết quả tại 2 vỉa: DST#3(1942-1962mRT) cho lưu lượng dòng 8.46MMscfd; DST#4 (1737.4-1747.4mRT) cho lưu lượng dòng 16.8 MMscd Kết quả phân tích log như

trong bảng 1.4 dưới đây:

Bảng 1.4: Các thông số vỉa chứa cấu tạo E

Khoảng nghiên cứu

(mRT) Chiều dày vỉa chứa (m) Độ rỗng(%) Độ bão hòa khí (%)

1942-1971.5 20.8 10-17 40-70 1737.5-1753 10.8 10-20 45-80 c) Phát hiện khí tại khu vực lô 113:

Giếng khoan F được thực hiện năm 2007 với chiều sâu 2515m trên cấu tạo thuộc lô 113 Đã thử 5 vỉa trong đó 2 vỉa thuộc Pliocen cho dòng như sau: DST#2 (1408 – 1422mMDRT) cho dòng 26.052m3/ngày và DST#3 (1370 – 1390mMDRT) cho dòng 387.700m3/ngày

Trang 21

21

-Chương 2 CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT, SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỂ SÔNG HỒNG

VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Địa tầng trầm tích bể Sông Hồng:

Địa tầng trầm tích của bể Sông Hồng được phát triển tương đối phức tạp bao gồm móng trước Đệ Tam, trầm tích Paleogen, trầm tích Neogen và trầm tích Pliocen-Đệ Tứ Trên cột địa tầng tổng hợp bể Sông Hồng (hình 2.1) cho thấy móng, lớp phủ, thành phần thạch học và môi trường trầm tích của chúng biến đổi từ bắc (bên trái cột địa tầng) xuống nam (bên phải cột địa tầng) Bên cạnh đó có thể thấy các bất chỉnh hợp chính đóng vai trò quan trọng, mức độ bào mòn và sự thiếu vắng trầm tích trong thang đó

phiến biotit-amphybol Proterozoic Còn rìa đông bắc đã gặp móng là các thành tạo carbonat, phiến sét-sericit, cát kết biến dư tuổi Paleozoi muộn (PZ3) tướng biển nông, mà cụ thể hơn thường bao gồm đá vôi Carbon-Permi của hệ tầng Bắc Sơn, đá vôi và đá phiến silic Devon trung-thượng hệ tầng Lỗ Sơn, cát kết phiến sét màu đỏ xen cuội kết Devon hạ của hệ tầng Đồ Sơn (Devon-

Trang 22

22

-Devon hạ, đá vôi -Devonian trung-thượng (hệ tầng Cubai), các đá xâm nhập granit-biotit Các hệ tầng này theo xu thế có thể phát triển ra biển tạo nên những địa hình vùi lấp của các bẫy dầu khí quan trọng như đã được phát hiện tại cấu tạo ở các lô thuộc trung tâm bể Sông Hồng

Ở khu vực phía nam Bể Sông Hồng thì các khối nhô cao móng đã phát hiện được trong các khoan lô 112 chủ yếu là các đá trầm tích biến tính Paleozoi muộn (Pz3) gồm cả carbonat và các đá phiến, cát kết dạng quarzite Móng của địa luỹ Tri Tôn đã phát hiện được xâm nhập kiềm Mesozoi; trong khi đó móng thềm Thanh Nghệ có cả granit và carbonat Mesozoi

Hình 2.1: Cột địa tầng tổng hợp bể Sông Hồng

Trang 23

23

-Hình: 2.2: Bản đồ móng và các đới cấu trúc chính bể Sông Hồng

Trang 24

24

-2.1.2 Trầm tích Paleogen

Trầm tích Paleogen phân bố hẹp trong các địa hào và bán địa hào, các tập trầm tích Đệ tam đồng trước tách giãn và sau tách giãn phát triển phức tạp theo không gian và thời gian Tại một vài nơi trong các địa hào nhỏ hẹp trầm tích này bị nghịch đảo kiến tạo (lô 107, 111 và 114) vào cuối thời kỳ Oligocen

Khu vực tây bắc Bể Sông Hồng phát hiện nhiều trầm tích Eocen (hệ

tầng Chang Liu, Trung Quốc) chỉ ở trũng Tây Lôi Châu (Weizhou, Trung

Quốc) Trầm tích Eocen cũng được phát hiện ở giếng khoan G trên đất liền MVHN, bao gồm các tập cát kết hạt thô màu đỏ xen kẽ với cuội kết và cát kết dạng khối Các thành tạo vụn thô màu đỏ đáy Eocen nằm trực tiếp trên lớp sét phong hoá cùng màu phủ trên tập phun trào rhyolit của móng Theo tài liệu địa chấn, chiều dày của thành hệ thay đổi từ 100m-700m Môi trường thành tạo chủ yếu là alluvi Các giếng khoan ngoài biển chưa khoan tới thành hệ này, nhưng có thể dự đoán qua liên kết tài liệu địa chấn, dễ nhận nhất là phần

nằm sát móng trong các địa hào của đới cấu trúc thềm Hạ Long.Các trầm tích Eocen và Oligocen ở MVHN (hệ tầng Phù Tiên và Đình Cao) được thành tạo trong môi trường lục địa đến châu thổ Các thành tạo vụn thô màu đỏ đáy Eocen nằm trực tiếp trên lớp sét phong hoá cùng màu phủ trên tập phun trào rhyolite của móng Các thành tạo Oligocen thường phân bố dưới độ sâu 2000-3000m, được phát hiện trong nhiều giếng khoan sâu ở trung tâm MVHN Trầm tích Oligocen chủ yếu là cát kết, sét phân phiến, đá phiến Chlorit-Illit Trầm tích Eocen trên - Oligocen dưới còn phổ biến ở khu vực phía đông lô nghiên cứu, bao gồm các lớp sét mịn màu đen xen cát kết hạt mịn đến thô Môi trường thành tạo ở khu vực này là đầm hồ, sông ngòi, thành hệ này có

chứa những tập sét đầm hồ dày có khả năng sinh dầu tốt (hình 2.3)

Trang 25

25

-Khu vực phía nam Bể Sông Hồng, trầm tích từ Eocen giữa-Oligocen chủ yếu được thành tạo trong các trũng sâu của khu vực Trầm tích Eocen-Oligocen sớm được thành tạo trong môi trường lục địa, từ hạt thô cho đến mịn Thành phần chủ yếu bột kết xen các lớp sét kết và cát kết hạt nhỏ đến vừa và phát triển xuống phía nam

Hình 2.3: Mô hình trầm tích lô nghiên cứu thời kỳ Oligocen

2.1.3 Trầm tích Miocen:

Đây là trầm tích phân bố rộng rãi ở Bể Sông Hồng với môi trường từ đồng bằng châu thổ, ven bờ ra tới biển nông và biển sâu Chiều dày của trầm tích Neogen thay đổi từ 500m ở các đới ven bờ đến 4000m ở trung tâm Vịnh Bắc Bộ Ngoại trừ phần bị nghịch đảo ở đới tây bắc, hầu hết các tập đều phát triển bình ổn, uốn võng, chịu tác động của việc mở rộng Biển Đông Khu vực

từ phía nam trung tâm bể Sông Hồng đổ xuống phía nam bể, các tập trầm tích

Trang 26

26

-Miocen thượng, Pliocen-Đệ Tứ có cấu trúc thềm lục địa với sườn thềm thoải,

đổ theo hai hướng ngược nhau từ đường bờ Việt Nam và từ đảo Hải Nam vào trung tâm bồn trũng

Các trầm tích Miocen ở khu vực phía bắc bể Sông Hồng được chia

thành 3 hệ tầng (hình 2.4): Phong Châu (Oligocen muộn - Miocen sớm), Phù

Cừ (Miocen giữa) và Tiên Hưng (Miocen muộn) Thành phần thạch học chủ yếu bao gồm cát kết, bột kết, sét kết và than (Miocen trung-muộn) Môi trường trầm tích dao động từ đồng bằng ven biển - biển ven bờ Ở ngoài khơi, trầm tích Miocen ở khu vực lô nghiên cứu được lắng đọng trong các môi trường chủ yếu là ven bờ xen châu thổ ở phía bắc và chuyển dần sang môi trường biển nông từ khu vực trung tâm trải dài xuống phía nam Đây là đối tượng chính của đề tài nghiên cứu nên môi trường trầm tích sẽ được phân tích

cụ thể trong chương sau

Khu vực vịnh Bắc Bộ, ngoại trừ phần tây bắc, trên đới nâng nghịch đảo Miocen, hầu hết các tập trầm tích tuổi này đều phát triển bình ổn và chịu tác động của việc mở rộng Biển Đông Cũng như Miền Võng Hà Nội, trầm tích Miocen tại Vịnh Bắc Bộ cũng được chia thành 3 hệ tầng: Trầm tích Miocen dưới (Phong Châu) gồm cát lớp cát kết hạt mịn thô xen kẽ với các lớp sét kết, môi trường biển ven bờ, châu thổ, biển nông; trầm tích Miocen giữa (Phù Cừ) gồm cát kết, sét kết xen kẽ, đá vôi thềm và một ít khối xây carbonat, môi trường biển nông xen kẽ với châu thổ; trầm tích Miocen trên (Tiên Hưng) gồm cát kết và sét kết xen kẽ, nhiều than ở phía bắc, nhiều đá vôi thềm và khối xây ở khu vực miền trung, môi trường chủ yếu là biển ven bờ, biển nông xen châu thổ Một điểm đáng chú ý là tại trũng trung tâm Bể Sông Hồng, phần trên của lát cắt Miocen trên và hầu hết lát cắt Miocen thượng đều là môi

trường nước nông đến sâu

Trang 27

27

-Hình 2.4: Cột địa tầng MVHN và phần tây bắc bể Sông Hồng (PIDC, 2004)

Trang 28

28

-Khu vực phía nam Bể Sông Hồng, trầm tích Miocen có đặc điểm khác hẳn so với vùng tây-bắc của trũng Miền Võng Hà Nội Các tập trầm tích Miocen biểu hiện đa dạng cả về thể loại tướng đá và diện phân bố Phía bắc

lô 112, các tập này có độ dày lớn dần và rất dày hướng về đới Trung-tâm; thường ít gặp các tập trầm tích carbonat Miocen ngay cả trên đỉnh của các khối nhô cao móng Trong khi đó về phía nam kể từ lô 115 trở vào, ngoài các tập trầm tích vụn cũng gặp phổ biến các khối ám tiêu carbonat ven rìa các địa hào và trên các địa luỹ Trầm tích Miocen dưới (điệp Sông Hương) có thành phần thạch học chủ yếu là trầm tích hạt mịn lắng đọng trong môi trường biển, trên đới nâng Tri Tôn đã bắt gặp đá vôi dolomit ở phần trên của địa tầng, và còn có mặt các đá xâm nhập núi lửa trong và ngay cạnh địa hào Quảng Ngãi Trầm tích mảnh vụn Miocen giữa (điệp Đà Nẵng) đều có mặt ở tại các địa hào nằm hai bên địa lũy Tri Tôn (địa hào Quảng Ngãi và Địa hào Lý Sơn), là các trầm tích hạt mịn thành tạo trong môi trường biển sâu; còn trên địa lũy Tri Tôn được phủ một lớp đá carbonat dày đến vài trăm mét Đá carbonat ở phía dưới hệ tầng là các đá vôi dolomit trong khi phần trên có dạng đá vôi Trên thềm đá vôi này phát triển khá rộng rãi các ám tiêu sinh vật, là đối tượng chứa có chất lượng rất tốt như nhiều giếng khoan ở vùng này đã chỉ ra Trầm tích Miocen trên (hệ tầng Quảng Ngãi) với chủ yếu là sét, sét kết biển

và chứa một số lớp đá vôi mỏng trong môi trường chủ yếu biển sâu Càng về phía tây (thềm Đà Nẵng) trầm tích có hạt thô dần xen kẽ nhiều các thể phun trào núi lửa

2.1.4 Trầm tích Pliocen-Đệ Tứ

Trầm tích Pliocen-Đệ Tứ ở MVHN bao gồm các hệ tầng Vĩnh Bảo-Hải Dương-Kiến Xương, chúng nằm trên mặt bất chỉnh hợp cuối Miocen ổn định

Trang 29

29

-và mở rộng đến các đới rìa của MVHN Sự phân bố của các tập trầm tích Pliocen (hệ tầng Vĩnh Bảo) ổn định, với xu thế dày dần ra phía biển Đây là thời kỳ san bằng, ngập lụt mới sau pha nghịch đảo kiến tạo cuối Miocen Xu thế này được tiếp tục cho tới thời kỳ Đệ Tứ với các hệ tầng Hải Dương và Kiến Xương

Trầm tích Pliocen-Đệ Tứ (hệ tầng Biển Đông) càng ra phía biển càng dày lên nhưng vẫn có dạng bở rời, gắn kết yếu Môi trường trầm tích khu vực trũng trung tâm Bể Sông Hồng chủ yếu là biển nông đến biển sâu, chiều sâu

từ 2000-3000m với thành phần thạch học chủ yếu là cát sạn sỏi gắn kết yếu xen kẽ sét màu xám, thành phần hạt mịn tồn tại trũng trung tâm chủ yếu là sét

Trầm tích Pliocen- Đệ Tứ tại khu vực phía nam Bể Sông Hồng, hệ tầng Biển Đông có môi trường trầm tích chủ yếu từ biển nông đến biển sâu với thành phần thạch học chủ yếu là sét, sét kết xen kẽ những lớp mỏng bột và cát, càng gần bờ thì trầm tích thô dần và có mặt các đá phun trào

2.2 Kiến tạo, cấu trúc bể Sông Hồng và khu vực lô nghiên cứu:

2.2.1 Kiến tạo và lịch sử tiến hoá:

Bể Sông Hồng có nguồn gốc là một địa hào dạng kéo tách có hướng Tây Bắc-Đông Nam, được khống chế ở hai cánh bằng các đứt gãy thuận trượt

bằng ngang (hình 2.5) Sự khởi đầu hoạt động của các đứt gãy này là do va

chạm của mảng ấn Độ vào mảng Âu-Á vào thời kỳ Eocen-Oligocen sớm Hoạt động trượt bằng trái và kéo tách chính là cơ chế kiến tạo chính tạo thành

bể Sông Hồng Sau quá trình nghịch đảo kiến tạo trong Miocen giữa-muộn,

bể trầm tích tiếp tục trải qua quá trính sụt lún nhiệt cho đến ngày nay

Trang 30

30

-Hà nội

Bồn tách dãn

Bồn dạng kéo tách do căng dãn

Hình 2.5: Hình thái cấu trúc bể Sông Hồng

Bể trầm tích Sông Hồng có lịch sử phát triển địa chất phức tạp từ Paleogen đến nay, Bể Sông Hồng với nhiều pha căng giãn-nén ép, nghịch đảo kiến tạo, nâng lên hạ xuống, bào mòn cắt xén, uốn võng do nhiệt, kèm sự thăng giáng mực nước biển Nên vì thế, theo không gian và thời gian, cấu trúc địa chất và môi trường trầm tích không đồng nhất mà biến đổi từ Bắc vào Nam, từ đất liền ra biển, từ móng trước Đệ tam đến trầm tích hiện đại Cũng

vì thế, Bể Sông Hồng bao gồm nhiều đơn vị cấu trúc khác nhau, ẩn chứa tiềm

năng dầu khí khác nhau Hình 2.2 cho thấy có 12 đơn vị cấu trúc, lần lượt từ

phần Tây-Bắc xuống phần trung tâm đến đuôi phía nam của Bể Sông Hồng

Trang 31

31

-Các đới cấu trúc ở đây được phân đới chủ yếu là dựa vào hình thái cấu trúc hiện đại và đặc trưng về cấu kiến tạo của bể Sông Hồng được chia thành các đới kiến tạo chính sau:

a) Đới nghịch đảo Miocen, tây bắc Bể Sông Hồng:

Đới nghịch đảo Miocen trước đây nằm trong một địa hào sâu, chiều sâu móng thường sâu hơn trên 8 km trong phạm vi từ phía nam cấu tạo Tiền Hải

C đến lô 102,103,107 rồi bị nghịch đảo trong thời kỳ từ Miocen trung đến

cuối Miocen thượng, ở vài nơi nghịch đảo kiến tạo còn hoạt động trong cả

đầu thời kỳ Pliocen Đới này nằm kẹp giữa đứt gãy Vĩnh Ninh - Sông Lô và đứt gãy Sông Chảy, kéo dài từ đất liền ra biển Các cấu tạo đặc trưng cho nghịch đảo kiến tạo Miocen là cấu tạo Tiền Hải (đất liền), Hoa Đào, Cây Quất, Hoàng Long, Bạch Long ở các lô 102, 103, 106, 107 Hoạt động nghịch đảo này giảm dần, tạo thành mũi nhô Đông Sơn kéo dài đến lô 108,109 Nguồn gốc của nghịch đảo kiến tạo là do dịch chuyển ngang phải của hệ thống đứt gãy Sông Hồng vào thời kỳ cuối Miocen Lát cắt trầm tích Miocen vì vậy bị nén ép, nâng lên, bị bào mòn cắt xén mạnh, mất trầm tích từ vài trăm đến hàng ngàn mét, thiếu vắng trầm tích trong khoảng thời gian từ một đến vài triệu năm Càng về phía Tây-Nam của MVHN, việc bào mòn cắt xén càng mạnh hơn, do vừa dịch chuyển ngang vừa quay theo chiều kim đồng

hồ

b) Đới Trũng trung tâm Bể Sông Hồng:

Trũng trung tâm là phần trầm tích khá bình ổn về mặt kiến tạo, móng nằm sâu hơn 14 km, nằm ở ngay chính giữa Vịnh Bắc bộ, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trong phạm vi rất rộng từ các lô 108 đến 115 Trong

Trang 32

32

-phạm vi đới trũng trung tâm, thành phần hạt mịn là chủ yếu, có các diapire sét phát triển và trên đó các trầm tích Miocen trên - Pliocen bị nâng đồng trầm tích Vào cuối Miocen đầu Pliocen, do ảnh hưởng của kiến tạo nghịch đảo ở phần tây Bắc vịnh Bắc Bộ như đã nói ở trên, cộng với sự mất cân bằng về nhiệt, nên trầm tích Pliocen bị nâng lên chút ít tạo thành đới nâng Đông Sơn kéo dài từ lô 108 đến lô 111 Do hướng đổ vật liệu từ tây bắc xuống Đông Nam và hướng á tây đông từ đất liền ra biển, nên có nhiều thân cát dạng nón phóng vật và các tập turbidite có tuổi Miocen muộn – Pliocen

c) Thềm Hạ Long:

Thềm Hạ Long hay còn được gọi là Đới đông bắc đứt gãy Sông Lô

nằm ở phía đông bắc đứt gãy Sông Lô phát triển từ đất liền ra biển đến các lô

101 và bắc lô 106 Tại đây có lớp phủ trầm tích Kainozoi mỏng và móng Paleozoi nâng cao dần rồi lộ trên mặt tại rìa ngoài MVHN Một số giếng khoan nông trong đới này đã phát hiện được các đá móng carbonat và đá phiến sét-sericite, cát kết dạng quazite Paleozoi muộn Móng của phần rìa nổi dần lên cao và lộ ra nhiều nơi như Đồ Sơn, Kiến An với các thành tạo

carbonat và lục nguyên Paleozoi muộn Giới hạn rìa đông-bắc của móng

Paleozoi là đứt gãy đường 18 (Phả Lại - Đông Triều) đó cũng là ranh giới của cấu trúc nền sau-Caledonit và trũng Mesozoi Dọc theo hệ thống đứt gãy Sông

Lô, cạnh rìa thềm Hạ Long là một địa hào nhỏ hẹp, trong đó có các các khối móng nhô cao như Yên Tử-Chí Linh, tồn tại các khối đá vôi tuổi Carbon-Permi được chôn vùi dưới trầm tích Oligocen-Miocen, có nứt nẻ, có khả năng

chứa dầu khí (Hình 2.6)

Trang 33

33

-Hình 2.6: Mặt cắt ngang đi qua các giếng khoan thuộc khu vực lô nghiên cứu

biểu hiện mặt móng carbonat có khả năng chứa dầu

d) Đới nghịch đảo Bạch Long Vĩ:

Đới này là một địa hào nhỏ hẹp từ giữa lô 107 theo hướng đông bắc-tây nam đến góc đông nam của lô 106 và ven theo rìa phía tây bắc của đảo Bạch Long Vĩ, chịu ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo nghịch đảo vào thời kỳ

Oligocen muộn-Miocen sớm (hình 2.7) Chế độ kiến tạo này chỉ xảy ra ở vùng

giao nhau của hai hệ thống đứt gãy khác hướng tây bắc-đông nam với tây nam đông bắc Các cấu tạo chỉ được phát triển trong trầm tích Oligocen-Miocen

hạ, nằm trong các địa hào hẹp với nguồn sinh nhỏ, không được coi là đối tượng chính để tiếp tục tìm kiếm thăm dò Địa hào này là phần đuôi của Trũng Tây Lôi Châu (Weizou Wan, Trung quốc) ở đó đã phát hiện dầu trong trầm tích vụn Eocen

Từ Cenozoi đến Miocen muộn, khu vực lô nghiên cứu chịu ảnh hưởng của 2 quá trình kiến tạo chính: khu vực phía đông lô chịu ảnh hưởng của các pha kiến tạo bể Beibuwan vào thời ký Eocen sớm, khu vực phía tây và trung tâm lô chịu ảnh hưởng của các pha kiến tạo bể Sông Hồng vào thời kỹ Eocen sớm và tạo ra một loạt các cấu tạo như Hậu Giang, Hồng Hà, Thái Bình…

Trang 34

Địa hào nghịch đảo BLV

Hình 2.7 - Mặt cắt qua đới Trung-tâm từ thềm Thanh-Nghệ (TN) qua trũng

trung tâm tới địa hào nghịch đảo (lô 107) gíap đảo Bạch Long Vĩ

Trang 35

35

-3 2

1

Hình 2.8: Bản đồ vị trí và phân vùng cấu trúc bể Sông Hồng

1 Vùng Đông Bắc; 2 Vùng Trung tâm; 3 Vùng phía Nam

Bể Sông Hồng bao gồm các đới cấu trúc vùng rìa và vùng trung tâm, đới cấu trúc vùng rìa đông bắc được xác định là những khu vực nằm ở ph ần đông bắc hệ thống đứt gãy Sông Lô (đới rìa phía Đông) và những khu vực

nằm ở phần tây nam đứt gãy Sông Hồng là đới rìa Tây Nam Tại các vùng rìa,

tồn tại các khối móng nâng trước Đệ Tam, các địa hào và bán địa hào hẹp được hình thành trong quá trình mở bể và được lấp đầy bằng các trầm tích từ

Trang 36

36

-Paleogen (giai đoạn synrift) đến Neogene và Đệ Tứ (giai đoạn postrift) như

các địa hào Kiến An, Thuỷ Nguyên, Bạch Long Vĩ, Yacheng ở phía Đông và Anh Vũ, Huế-Đà Nẵng, Quảng Ngãi ở phía Nam-Tây Nam Tại các vùng rìa, trầm tích Paleogen được lắng đọng trong các điều kiện lục địa, sông ngòi và đầm hồ có độ dày tới 4km còn trầm tích Neogene được lắng đọng trong điều kiện sông ngòi và xen kẽ có những pha biển và chúng có chiều dày lên tới xấp

xỉ 3km

Tổng quan về bể trầm tích Sông Hồng có thể phân thành 3 đới thành hệ

- cấu trúc chính như sau (hình 2.2):

2.2.2.1 Phần Đông bắc bể Sông Hồng

Phần Đông bắc bể Sông Hồng bao gồm các đới cấu trúc: trũng Đông Quan, thềm Quảng Ninh, đới phân dị Bạch Long Vĩ với hướng đông bắc ưu thế và chịu ảnh hưởng của cổ địa hình mặt móng, cấu trúc khu vực này có đặc

điểm như sau (hình 2.8):

- Móng Trước-Kainozoi (Pre-C2) tạo thành các khối nhô, sụt xen nhau Các khối nhô cao trong móng chủ yếu là các thành tạo trầm tích biến tính (meta-deposite) carbonat, phiến sericite-sét, cát kết dạng quartzite Paleozoi muộn (Pz3) Trong số này chỉ các thành tạo carbonat nứt nẻ và hang hốc có khả khả năng trở thành tầng chứa dầu khí Các thành tạo Mesozoi chưa được phát hiện kể cả các khoan trong đất liền, song chúng có thể phân bố trong các diện nhỏ lõm sâu của mặt móng

- Lớp phủ trầm tích Kainozoi C2 phân chia rõ rệt thành 3 phức tập trầm tích khác nhau và độ dày thường dưới 1km

Trang 37

37

-+ Phức tập dưới cùng chủ yếu là các thành tạo lục nguyên Oligocen (E3) đồng tách giãn, phân bố trong các bán địa hào nhỏ thường có các đứt gãy đồng tách giãn chia cắt Phức tập đồng tách giãn phân bố trong các địa hào trung tâm và các bán địa hào kéo theo ven rìa có độ dày thay đổi từ 3-4 km đến 6-19km, nhiều giếng khoan trong đất liền đã phát hiện được các tập trầm tích này và được gọi là hệ tầng Đình Cao.Một số nơi do nghịch đảo kiến tạo cuối Miocen, các thành tạo đồng tách giãn này được nâng cao lộ lên trên mặt như vùng Đồng Ho và phần dưới (chìm dưới mực nước biển) của đảo Bạch Long Vĩ

+ Phức tập giữa chủ yếu là các tập trầm tích Miocen (N1) sau tách giãn, phủ trải rộng trên tất cả các bán địa hào từ các khối móng nhô cao ven rìa đến đứt gãy Sông Lô Các khoan TKTD trong các lô 102 và 103 hầu như đều phát hiện được gần hết phức tập này Đây là các tập trầm tích lục nguyên có tiềm năng sinh khí và tiềm năng chứa cao đã được phát hiện cả trong đất liền bao phủ trên diện rộng với chiều dày lớn trong đới trung tâm Tính chất phân nhịp của các trầm tích này khá rõ đặc biệt trong Miocen giữa-muộn Các trầm tích Miocen sớm hay hệ tầng Phong Châu tuy tính phân nhịp yếu hơn các tập trên, song đã có nhiều tập sét, sét-bột xen kẽ trong các lớp cát kết dày Các trầm tích Miocen giữa hay hệ tầng Phù Cừ thể hiện 3 chu kỳ biển tiến mạnh nhất trong bể Sông Hồng Kết thúc mỗi pha biển tiến là thời kỳ ngập lụt chính trong bể thuận lợi cho các tích tụ trầm tích sét có tiềm năng sinh cao Trầm tích Miocen muộn hay hệ tầng Tiên Hưng tuy có diện phân

bố rộng, song thường không ổn định do bị bào mòn phần phụ hệ tầng trên tại các cấu tạo do nghịch đảo Pha nghịch đảo kiến tạo cuối Miocen

đã ảnh hưởng lớn đến các tập trầm tích của phức tập này tạo nên dải

cấu tạo vòm kề áp đứt gãy (hình 2.9)

Trang 38

38

-+ Phức tập trên là các thành tạo thềm Biển Đông trải rộng kiểu đồng bằng biển mở với các trầm tích bở rời mỏng và ổn định gần như nằm ngang chỉ có vai trò của lớp phủ tăng độ dày về phía trung tâm bể Sông Hồng

Lô nghiên cứu nằm phần lớn trong đới cấu trúc thuộc phần Đông Bắc

và một phần ở phía nam thuộc đới trung tâm bể Sông Hồng Theo địa hình mặt móng trước Kainozoi, khu vực lô nghiên cứu được chia thành 4 nhóm cấu

trúc chính sau (hình 2.10):

- Khu vực thềm Quảng Ninh: nằm ở phía bắc lô, đó là phần tây nam của địa hào Kiến An và phần đông nam của địa hào Cẩm Phả Địa hình mặt móng chìm sâu dần từ phía bắc xuống phía nam khu vực lô, chiều sâu nhất của mặt móng tại đây là 1300m

đứt gãy Vĩnh Ninh

Đới Đông-bắc Đới Trung-tâm

Đứt gãy Sông

Hình 2.9 Tuyến 89-1-62, mặt cắt từ đới Trung-tâm (TN) qua đứt gãy Sông Lô tới đới

Đông-bắc (ĐB) các trầm tích Miocen đới đông bắc mỏng, ít bị biến dạng;

nhưng đới tây nam dày và bị uốn nếp

Trang 39

39

-Hình 2.10 : Bản đồ cấu trúc nóc móng lô 102-106

I: Thềm Quảng Ninh; III: Sông Chảy; X: Sông Hồng; XI: Beibuwan

- Đới rìa tây nam ( hay đới Sông Chảy): nằm ở rìa tây nam của đứt gãy Sông Chảy, đây là bề mặt móng nằm trượt dốc theo hướng đông bắc với chiều sâu từ 2300m – 3900m

- Đới Sông Hồng: nằm gần trung tâm lô nghiên cứu, gồm các bán cấu trúc sau: địa hào Kiến An, địa hào Thủy Nguyên, trũng Đông Quan và trũng trung tâm với chiều sâu trung bình từ 4000-7000m

- Đới Beibuwan: nằm ở đông bắc của lô 106 và kéo dài theo hướng đông bắc – tây nam Phần phía bắc và tây bắc của cấu trúc nằm cạnh thềm Quảng Ninh, phần phía nam và tây nam thì nằm cạnh địa hào Thủy Nguyên Khu vực này có các cấu trúc chính

Trang 40

40

-sau: địa hào Cẩm Phả, móng nhô cao Bạch Long Vĩ, trũng phía

nam Bạch Long Vĩ, địa hào bắc Bạch Long Vĩ (hình 2.11)

Hình 2.11: Lát cắt qua cấu tạo PA trong đới nghịch đảo Oligoxen Bach Long Vĩ

Phủ lên bề mặt móng nhô cao ven rìa và hầu hết các địa hào là tầng trầm tích Kainozoi tương đối ổn định Vật liệu chủ yếu là lục nguyên và được vận chuyển từ phía tây bắc đổ về, do đó trầm tích ở khu vực này dày dần về phía nam, đặc biệt là ở tầng Miocen Các kết quả khoan trong các lô thuộc khu vực này thường chưa hoặc chỉ mới phát hiện được phần trên cùng của trầm tích Oligocen nhưng đã phát hiên ra hầu hết hệ tầng Miocen

2.2.2.2 Phần trung tâm bể Sông Hồng

Trung tâm bể Sông Hồng là đới kẹp giữa đứt gãy Sông Lô và Sông Chảy, trong đó phần quan trọng là trung tâm vịnh Bắc Bộ với các trũng địa hào Oligocen và các đới nghịch đảo Miocen với hướng chủ đạo tây bắc – đông

nam (hình 2.2 và 2.8) Cấu trúc phần trung tâm bể Sông Hồng có đặc điểm

như sau:

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm