Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu các quá trình địa chất xảy ra trong Holocen và các thành tạo trầm tích Holocen vùng cửa sông Hậu.. Cấu trúc của luận văn Ngoài mở đ
Trang 1-
VŨ VĂN HÀ
ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÙNG CỬA SÔNG HẬU (ĐỒNG BẰNG NAM BỘ) TRONG HOLOCEN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA CHẤT
Hà Nội – 2007
Trang 2-
VŨ VĂN HÀ
ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÙNG CỬA SÔNG HẬU (ĐỒNG BẰNG NAM BỘ) TRONG HOLOCEN
Chuyên ngành : Địa chất học
Mã số : 60.44.55
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA CHẤT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TSKH Nguyễn Địch Dỹ
Hà Nội – 2007
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Văn Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa……….i
Lời cam đoan………ii
Mục lục………iii
Danh mục các bảng biểu……… iv
Danh mục các hình vẽ…… ………v
Danh mục các chữ viết tắt………vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu 5
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1975 5
1.1.2 Giai đoạn sau 1975 7
1.2 Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu 11
1.2.1 Cơ sở tài liệu 11
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 12
CHƯƠNG 2 - KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC 17
2.1 Địa tầng Đệ tứ khu vực đồng bằng Nam Bộ 17
2.2 Đặc điểm cấu trúc kiến tạo 36
2.3 Đặc điểm địa mạo 38
CHƯƠNG 3 - ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đặc điểm trầm tích Holocen vùng nghiên cứu 43
3.1.1 Đặc điểm thành phần độ hạt 43
3.1.2 Đặc điểm cổ sinh 53
3.1.3 Đặc điểm thành phần khoáng vật: 55
3.1.4 Đặc điểm thành phần hóa học 56
Trang 53.2 Đặc điểm môi trường trầm tích 58
CHƯƠNG 4 - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÙNG CỬA SÔNG HẬU TRONG HOLOCEN 67
4.1 Vài nét về dao động mực nước biển trong kỷ Đệ tứ 67
4.2 Dao động hiện đại mực nước đại dương: 69
4.3 Lịch sử phát triển vùng cửa sông Hậu trong Holocen 72
4.3.1 Giai đoạn Pleistoxen muộn 72
4.3.2 Giai đoạn Holoxen sớm giữa 73
4.3.3 Giai đoạn Holocen muộn 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 86
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu địa hóa đặc trưng cho môi trường trầm tích 15
Bảng 2.1 Các kiểu nguồn gốc trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ 17
Bảng 3.1 Hàm lượng phần trăm cấp hạt lỗ khoan 99-I 49
Bảng 3.2 Kết quả tính toán các thông số độ hạt: lỗ khoan 99-I 50
Bảng 3.3 Hàm lượng phần trăm cấp hạt lỗ khoan 99 – II 51
Bảng 3.4 Kết quả tính toán các thông số độ hạt : lỗ khoan 99-II 52
Bảng 4.1 Các kiểu tích đọng của trầm tích Holocen đồng bằng sông Cửu Long 75
Bảng 4.2 Địa tầng trầm tích Holocen và cuối Pleistocen đồng bằng sông Cửu Long 75
Bảng 4.3 Đối sánh các giai đoạn phát triển trầm tích Holocen vùng nghiên cứu với các chu kỳ băng hà và gian băng trên thế giới 79
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình i.1.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí lỗ khoan 4
Hình 2.1 Các đứt gãy và chấn tâm vùng đồng bằng Nam Bộ 37
Hình 2.2 Sơ đồ phân bố lỗ khoan vùng nghiên cứu và khu vực đồng bằng Nam Bộ 39
Hình 2.3 Sơ đồ địa chất vùng nghiên cứu 40
Hình 2.4 Mặt cắt địa chất dọc sông Hậu theo tuyến A-A 41
Hình 2.5 Mặt cắt địa chất ngang sông Hậu theo tuyến B-B 42
Trang 7Hình 3.1 Địa tầng tổng hợp lỗ khoan 99-I 65Hình 3.2 Địa tầng tổng hợp lỗ khoan 99-II 66Hình 4.1 Sơ đồ cổ địa lý vùng nghiên cứu và khu vực đồng bằng Nam Bộ giai
đoạn Pleistocen muộn 76Hình 4.2 Sơ đồ cổ địa lý vùng nghiên cứu và khu vực đồng bằng Nam Bộ giai
đoạn Holocen sớm giữa 77
Lỗ khoan Vết lộ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng cửa sông là nơi tiếp giáp giữa sông và biển, thường xảy ra quá trình tranh chấp giữa hoạt động sông - biển do đó quá trình địa chất thường xảy
ra rất phức tạp Vùng cửa sông Hậu là “cửa ngõ” chính cho các tàu biển ra, vào khu vực miền Tây Nam Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Vùng cửa sông Hậu có quá trình xói lở - bồi tụ xảy ra mạnh mẽ dẫn đến bồi lấp luồng lạch ảnh hưởng đến giao thông thuỷ, hàng năm phải tiêu tốn hàng chục tỷ đồng cho việc nạo vét lòng sông để đảm bảo cho tàu thuyền đi lại Quá trình biến đổi cửa sông là một trong những dạng tai biến địa chất có thể gây thiệt hại lớn về người và của, tác động lớn tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Do vậy học viên cho rằng việc lựa chọn thực hiện đề tài “Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển vùng cửa sông Hậu (đồng bằng Nam Bộ) trong Holocen” có tính cấp bách
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm sáng tỏ môi trường trầm tích, thiết lập lại lịch sử phát triển vùng cửa sông Hậu trong giai đoạn Holocen và đánh giá xu thế phát triển của chúng trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các quá trình địa chất xảy ra trong Holocen và các thành tạo trầm tích Holocen vùng cửa sông Hậu
Không gian nghiên cứu thuộc vùng cửa sông Hậu nằm trên địa phận các huyện Long Phú, Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng), huyện Tiểu Cần, Trà Cú và Duyên Hải (tỉnh Trà Vinh) (Hình i.1.1)
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 9- Thu thập các tài liệu lỗ khoan, tài liệu địa chất, địa mạo, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, thuỷ văn, hải văn, thuỷ thạch động lực tại vùng nghiên cứu và kế cận
- Tiến hành khảo sát bổ sung các số liệu địa chất, địa mạo tại khu vực cửa sông Hậu
- Phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ lịch sử phát triển
và môi trường trầm tích Holocen vùng cửa sông Hậu, thiết lập điều kiện
cổ địa lý, xây dựng các sơ đồ cổ địa lý trong Holocen vùng cửa sông Hậu
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
+ Ý nghĩa thực tiễn
Làm sáng tỏ đặc điểm trầm tích Holocen điều kiện địa chất vùng cửa sông Hậu, nhằm định hướng cho việc bảo vệ và phát triển bền vững môi trường địa chất, phòng tránh thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 107 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, bố cục của luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1 :Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Khái quát về điểm địa chất khu vực
Chương 3: Đặc điểm trầm tích và môi trường trầm tích Holocen vùng
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường, học viên đã cố gắng nỗ lực phấn đấu bên cạnh đó còn có sự giúp đỡ của các thày cô, lãnh đạo nhà trường cũng như lãnh đạo Viện Địa chất và các đồng nghiệp nơi học viên đang công tác, đến nay bản luận văn đã được hoàn thành Nhân dịp này Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày hướng dẫn luận văn , các thày cô giáo, lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo Viện Địa chất và các đồng nghiệp
Trang 11Hình i.1.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí lỗ khoan
Trang 12Chương 1 - LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu
Vùng cửa sông Hậu là một phần diện tích trong khu vực đồng bằng Nam
Bộ, lịch sử phát triển khu vực nghiên cứu cũng gắn liền với vùng đồng bằng Nam Bộ Do vậy học viên đưa ra những nét chính về lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực đồng bằng Nam Bộ nói chung cũng như vùng nghiên cứu nói riêng
Lịch sử nghiên cứu địa chất Đệ Tứ vùng nghiên cứu cũng như đồng bằng Nam Bộ được chia thành 2 giai đoạn chính:
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
Giai đoạn này công tác địa chất ở ĐBNB nói riêng và ở Đông Dương chủ yếu do người Pháp tiến hành Trong số các công trình đi sâu về địa chất Đệ
tứ phải kể đến công trình của Saurin,E (1937), ông đã đưa ra khái niệm về
“phù sa cổ” và “phù sa trẻ” để phân chia các thành tạo bở rời Kainozoi ở phần nam Đông Dương và ý nghĩa khoa học của nó được thừa nhận ở chỗ đã xác định được giữa phù sa cổ và phù sa trẻ là ranh giới giữa Pleistoxen và Holoxen Theo Saurin,E phù sa cổ có tuổi khác nhau và tạo nên hai mức địa hình: 50-70m và 10-25m Trong phù sa cổ có nhiều laterit và thường gặp tectit ở mức địa hình 50-70m Ông còn cho rằng phù sa trẻ phần lớn thành tạo sau phun trào bazan
Năm 1964 Saurin,E nêu một số nhận định về sự dao động mực nước biển trong Pleistoxen khi nghiên cứu các lỗ khoan vùng Sài Gòn trong bài “ Móng của Sài Gòn và thành hệ sông Cửu Long” Các nhận xét ngắn gọn về chế
độ kiến tạo của ông chứa đựng một nội dung khá quan trọng: châu thổ Sông
Trang 13Cửu Long được cấu thành trên một bồn Merozoi bị sụt lún vào Đệ Tam, trong
kỷ Đệ tứ bồn trũng này chịu tác động của những dao động mực nước biển
Năm 1972 trong công trình nghiên cứu về địa chất Đệ tứ Cambodia, Carbonnel, J.P đã đề cập các bậc thềm của sông Mê Kông cao 100m ( bị bazan phủ), 40m, 20m Thềm cao 100m được so sánh với bề mặt laterit bị bazan phủ ở Túc Trưng- Đồng Nai và bậc thềm 40m ở Nha Bích- Sông Bé Ông giải thích sự chênh cao của bậc thềm này là do vận động tân kiến tạo Tầng cuội kết cấu tạo thềm 100m được xác định tuổi cổ hơn 650 000 năm trên
cơ sở đối sánh bazan ở Cambodia với bazan chứa ziarcon ở vùng Xuân Lộc- Đồng Nai Về kiến tạo Carbonnel,J.P ghi nhận đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông (hướng tây bắc - đông nam) là ranh giới phân chia delta Mê Kông và delta Đồng Nai
Trong giai đoạn này còn có một số công trình của các nhà địa chất Việt Nam như các nghiên cứu về trầm tích ở lưu vực sông Đồng Nai của Trần Kim Thạch (1970), về kiến tạo của Trần Kim Thạch, Đinh Thị Kim Phụng (1972) Liên quan đến việc đo vẽ bản đồ địa chất ĐBNB có công trình “Bản đồ địa chất 1:25 000 các tờ Phú Cường, Biên Hoà, Thủ Đức, Sài Gòn và Nhà Bè …” của Fontaine,H và Hoàng Thị Thân (1971), trong công trình này các tác giả có
đề cập đến hai thành tạo phù sa cổ và trẻ tương tự như cách phân chia của Saurin,E Phù sa cổ chia làm nhiều lớp, phần trên bao gồm các lớp từ trên xuống như sau:
- Lớp đất phủ
- Vỏ cứng laterit Biên Hoà
- Lớp lót dưới laterit và ranh giới laterit không rõ ràng
- Những lớp khác nữa sâu hơn không quan sát được
Trang 14Nhìn chung đây là bản đồ thể hiện các quan hệ địa tầng một cách sơ lược Cũng có thể nhận xét đây là một bản đồ địa chất về nội dung cũng như phương pháp trình bày mang tính kế thừa khá rõ các nghiên cứu của Saurin,E
1.1.2 Giai đoạn sau 1975
Trong giai đoạn này, có nhiều công trình đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản ở các tỷ lệ khác nhau Tiêu biểu là bản đồ địa chất-khoáng sản, tỷ lệ 1/500.000 Miền Nam do Nguyễn Xuân Bao, Trần Đức Lương chủ biên (1981); bản đồ địa chất -khoáng sản nhóm tờ ĐBNB tỷ lệ 1/200.000
do Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên (1990-1991), loạt bản đồ địa chất - khoáng sản
tỷ lệ 1/200.000 (hiệu đính) trong đó có diện tích vùng ĐBNB do Nguyễn Xuân Bao chủ biên (1994)
Các bản đồ địa chất-khoáng sản tỷ lệ lớn (1/50.000) gồm: Bản đồ địa chất - khoáng sản thành phố Hồ Chí Minh do Hà Quang Hải và Ma Công Cọ chủ biên (1988), nhóm tờ đông thành phố Hồ Chí Minh do Ma Công Cọ chủ biên (1994), nhóm tờ Hà Tiên-Phú Quốc do Trương Công Đượng chủ biên (1998) Đặc biệt, phần TNB (từ sông Tiền về phía tây và các đảo) có đề tài nghiên cứu “Địa tầng Phanerozoi Tây Nam Bộ” do Trịnh Dánh chủ biên (1998), trong đó có khối lượng đáng kể nghiên cứu các trầm tích Kainozoi Các
đề tài nghiên cứu về trầm tích Đệ tứ trên phạm vi cả nước đã đề cập đến một số vấn đề địa tầng các trầm tích Đệ tứ trên diện tích ĐBNB Tiêu biểu là các công trình “Cổ địa lý các đồng bằng ven biển Việt Nam trong kỷ Đệ tứ” đề tài cấp
Bộ Nguyễn Địch Dỹ và Nguyễn Trọng Yêm làm chủ nhiệm, 1986 “Bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam”, tỷ lệ 1/500.000 (Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết đồng chủ biên, 1994), “Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan” (đề tài KT 01-07, Nguyễn Địch Dỹ chủ nhiệm, 1996), “Bản đồ vỏ phong hóa
và trầm tích Đệ tứ Việt Nam”, tỷ lệ 1/1.000.000 (Ngô Quang Toàn chủ biên, 2000)…
Trong các công trình kể trên, về địa tầng Đệ tứ các tác giả hầu như đã sử dụng nguyên tắc tuổi và nguồn gốc để phân chia các phân vị Các nhà địa chất bản đồ đã thành lập các hệ tầng có tuổi với các nguồn gốc khác nhau hoặc cùng
Trang 15tuổi cho một kiểu nguồn gốc Thực chất hai cách phân chia này chỉ khác nhau
về tên gọi còn bản chất về cơ bản giống nhau Tuy nhiên đối với vùng nghiên cứu có diện tích lớn và đặc biệt trong trầm tích Holoxen cách phân chia thứ nhất chi tiết hơn và hợp lý hơn vì trong cùng một hệ tầng có thể có các nguồn gốc khác nhau Trong một số các nghiên cứu chuyên đề, địa tầng N-Q được phân chia theo tuổi với các thành tạo có nguồn gốc khác nhau Việc phân chia chi tiết các phân vị địa tầng bước đầu làm cơ sở để liên kết các mặt cắt dọc theo các tuyến khoan sâu Hàng loạt các hệ tầng được thành lập như Hệ tầng
Bà Miêu, Cần Thơ, Bình Minh, Cà Mau, Đất Quốc, Long Toàn, Thủ Đức, Củ Chi, Hậu Giang, Cần Giờ Gần đây nhất, trong Đề án “Phân chia địa tầng N-
Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng bằng Nam Bộ” Nguyễn Huy Dũng và các đồng nghiệp (2004) đã xây dựng một thang địa tầng Đệ tứ sử dụng phân vị
“bậc khu vực” trên cơ sở tập hợp các phân vị hệ tầng cùng tuổi của các tác giả trước đây ở cả ĐNB và TNB Để phân chia và liên hệ địa tầng N-Q trong khu vực các tác giả đã sửdụng các tiêu chí thạch địa tầng và địa vật lý địa tầng là chính Địa tầng Đệ tứ được các tác giả chia thành 5 bậc sau:
- Bậc Cà Mau tuổi Pleistoxen sớm
- Bậc Long Toàn tuổi Pleistoxen giữa- muộn
- Bậc Mộc Hoá tuổi Pleistoxen muộn
- Bậc Hậu Giang tuổi Holoxen sớm - giữa
- Bậc Cần Giờ tuổi Holoxen giữa - muộn
Đồng thời việc nghiên cứu cấu trúc của ĐBNB đã được chú ý đúng mức, trong các đề án đo vẽ, lập bản đồ địa chất-khoáng sản, có bản đồ kiến tạo, sơ
đồ khối, sơ đồ cổ địa lý được thành lập ở các tỷ lệ khác nhau Nhiều mỏ, điểm khoáng sản có liên quan đến trầm tích N-Q như than bùn, sét gạch ngói đã được phát hiện và tìm kiếm thăm dò, một số mỏ đã được khai thác Nhìn chung, trong giai đoạn này, công tác nghiên cứu, phân chia, liên kết địa tầng và nghiên cứu cấu trúc trầm tích N-Q đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Bước đầu đã xác lập được trật tự địa tầng trầm tích N-Q và có sự nhìn
Trang 16nhận sơ bộ cấu trúc của ĐBNB Đến nay, vùng ĐBNB đã được đo vẽ lập bản
đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản trên toàn diện tích (53.400 km2) ở tỷ lệ 1/500.000 và 1/200.000 (1980-1991) Trong đó, có 12.047km2 diện tích đã được đo vẽ ở tỷ lệ 1/50.000 (thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tờ đông thành phố
Hồ Chí Minh, nhóm tờ Hà Tiên-Phú Quốc, nhóm tờ Lộc Ninh và Đồng Xoài) Các diện tích đã thành lập bản đồ địa chất đô thị (gồm 17 đô thị) với tổng diện tích là 1.628 km2 Phần còn lại chưa đo vẽ ở tỷ lệ lớn (từ 1/50.000 đến 1/25.000) tập trung chủ yếu ở phần trung tâm của đồng bằng, thuộc phạm vi các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, với tổng diện tích ≈ 40.000
km2
Về ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ ở ĐBNB, từ trước đến nay các nhà địa chất đã thành lập nhiều phân vị địa tầng có tuổi Pleistoxen sớm Tại vùng ĐNB, Nguyễn Ngọc Hoa (1990) đã thành lập hệ tầng Đất Cuốc tuổi Pleistoxen sớm phần muộn (aQ11đc) Trầm tích của hệ tầng được nghiên cứu chi tiết tại
mỏ kaolin Đất Cuốc (Tân Uyên - Bình Dương) với thành phần chủ yếu là hạt thô (cuội, sỏi, cát lẫn kaolin) tạo thềm cao 50-80m Phần đáy của hệ tầng nằm phủ không chỉnh hợp trên tập sét bột kết bị phong hoá của hệ tầng Bà Miêu, tuổi Plioxen muộn (N22 bm) Hà Quang Hải và nnk (1994) khi nghiên cứu
trầm tích ở vùng Suối Đá -Trảng Bom (Đồng Nai) đã xác lập hệ tầng Trảng Bom tuổi Pleistoxen sớm, phần muộn (aQ13tb) với thành phần gồm cuội, sỏi, cát lẫn bột nguồn gốc sông, tạo bề mặt thềm cao 55- 66m Để định tuổi cho hệ tầng trên, tác giả đã căn cứ vào quan hệ phía trên của trầm tích bị đá bazan Xuân Lộc (có tuổi tuyệt đối 0,6-0,7 triệu năm) nằm phủ lên và ở phía dưới, trầm tích nằm ngay trên bề mặt phong hoá của đá sét bột kết của hệ tầng Bà Miêu (N22bm) hoặc đá bột kết của hệ tầng DrâyLinh (J1-2 dl) (qua xem xét các
lỗ khoan qua đá bazan ở Xuân Lộc và lân cận)
Tại lỗ khoan 216 tại thị trấn Ngọc Hiển- Cà Mau ở độ sâu từ 160 đến 162m đến 238m chứa phong phú hoá thạch Nannoplanton Carbonat (theo xác
Trang 17định của Đặng Đức Nga), trong đó có loài Discoaster brouweri đặc trưng cho tuổi Plioxen muộn (N22) ở nhiều nơi trên thế giới cũng như ở Châu Á, nó tạo thành các đới cuối cùng của giống Discoaster và cả loài D brouweri tiệt chủng
ở ranh giới giữa Plioxen và Pleistoxen Chính vì vậy độ sâu 162m ở LK.216 được sử dụng làm ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ cho vùng ĐBNB
Như vậy, ranh giới Neogen - Đệ tứ ở Việt Nam được vạch vào phần đáy của hệ tầng Đất Cuốc, Mỹ Tho, Cà Mau ở ĐBNB đều có tuổi Pleistoxen sớm
nằm phủ trực tiếp trên đất đá có tuổi Plioxen hoặc cổ hơn
Ranh giới Pleistoxen và Holoxen ở Việt Nam lâu nay cũng đã được nhiều tác giả đề cập tới trong các cuộc hội thảo được tổ chức giữa các nhà địa chất Đệ tứ với các nhà khảo cổ học và các nhà sinh học với nhau Các nhà địa chất Đệ tứ Việt Nam gần như thống nhất với nhau vạch ranh giới dưới của Holoxen theo đáy của hệ tầng Bình Chánh (Q21-2bc) hay hệ tầng Hậu Giang (Q21-2
hg) ở ĐBNB với mốc 10.000 năm,theo thang địa tầng quốc tế (2006) ghi nhận vào 11.500 năm BP
Về cổ sinh, trước 1975 chủ yếu có một vài công bố về thành phần động vật thân mềm (Mollusca) trong trầm tích Holoxen của Saurin,E.(1968), Fontaine,H (1971)…Thời kỳ này các nhóm cổ sinh khác hầu như chưa được quan tâm đến Giai đoạn sau 1975 một số nhóm cổ sinh Đệ tứ được chú ý đến như Foraminifera, tảo Diatomeae, BTPH, động vật thân mềm Hầu hết các kết qủa nghiên cứu mới chỉ dừng ở việc phục vụ cho đo vẽ bản đồ địa chất hoặc có một vài bài báo công bố kết quả phân tích của một hay một vài nhóm cổ sinh trong một số LK như LK8 Cần Thơ (Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Ngọc, Đào Thị Miên, Đỗ Long, Nguyễn Thị Á…-
1980 -1985) Trong đề tài “Cổ Địa lý các đồng bằng ven biển Việt Nam trong kỷ
Đệ Tứ - 1986), và trong đề tài KT01-07 -1996) các nhóm cổ sinh trong kỷ Đệ tứ
Trang 18đã ít nhiều được tổng hợp đánh giá dưới các góc độ như: Thành phần giống loài, đặc điểm sinh thái, phân vùng cổ sinh Tuy nhiên kết quả mới chỉ là những nét chấm phá ban đầu về thế giới sinh vật trong kỷ Đệ tứ của ĐBNB nói riêng cũng như trên phạm vi các đồng bằng ven biển ở Việt Nam
1.2 Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở tài liệu
Luận văn được xây dựng bằng những nguồn tài liệu sau:
Tài liệu của học viên:
+ Tài liệu khảo sát thực địa vùng nghiên cứu:
Từ năm 2002 đến nay học viên đã có nhiều đợt khảo sát địa chất ở ĐBNB thuộc các đề tài cơ bản
- Năm 2002: Khảo sát địa chất và lấy mẫu theo dự án “Phân chia và liên
hệ địa tầng N - Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất ĐBNB”
- Năm 2004: Khảo sát địa chất theo đề tài “Liên hệ và đối sánh địa tầng Kainozoi ĐBNB”
+ Tài liệu do học viên tiến hành phân tích trong phòng thí nghiệm
- Trực tiếp phân tích 32 mẫu độ hạt của lỗ khoan 99-I và lỗ khoan 99-II thuộc vùng cửa sông Hậu, đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tài liệu do học viên thu thập
Tài liệu về đo vẽ địa chất khu vực:
- Báo cáo đo vẽ bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:500 000 ĐBNB (1979-1981)
Trang 19- Báo cáo đo vẽ bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:200 000 các tờ: Tờ
An Biên-Sóc trăng và tờ Trà Vinh-Côn Đảo do Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên (1991)
- Báo cáo thuyết minh bản đồ địa chất Đệ Tứ các đồng bằng Việt Nam tỷ
lệ 1: 500 000 do Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết chủ biên (1994)
- Thuyết minh bản đồ trầm tích Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1:100 000 do Ngô Quang Toàn chủ biên (2000)
Các chuyên đề nghiên cứu:
- Về trầm tích: Nguyễn Địch Dỹ (1996), Trần Nghi (2006), Nguyễn Biểu (2001), Nguyễn Huy Dũng (2004)
- Về cổ sinh: Đinh Văn Thuận (2004, 2005), Nguyễn Văn Lập và Tạ Kim Oanh (2000)
- Về cổ địa lý: Nguyễn Địch Dỹ (2003, 2004, 2006), Đinh Văn Thuận (2005), Lê Đức An (1996, 2002)
- Về tai biến vùng cửa sông: Phạm Huy Tiến (2005), Trịnh Việt An (2005, 2006)
Các nguồn tài liệu trên được học viên chọn lọc và phân tích tổng hợp theo mục tiêu của luận văn
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Bao gồm các công tác khảo sát thực địa, mô tả các điểm khảo sát, các lỗ khoan cùng với việc thu thập các mẫu phục vụ cho công tác nghiên cứu trong phòng Nhìn chung trong công tác nghiên cứu địa chất Đệ tứ thì công tác nghiên cứu mẫu lỗ khoan chiếm vị trí vô cùng quan trọng, bởi lẽ phần lớn diện tích nghiên cứu bị phủ và công tác nghiên cứu chủ yếu dựa trên mẫu lỗ khoan máy và khoan tay Trong công tác mô tả lỗ khoan, ngoài các đặc điểm về thạch học như thành phần, mầu sắc, độ hạt, một số đặc điểm quan trọng khác cần
Trang 20phải chú trọng đến như tính phân lớp, thành phần hữu cơ, các di tích động thực vật, ranh giới giữa các lớp, sự chuyển tướng Các đặc tính này là những
cơ sở ban đầu giúp cho việc luận giải tướng-trầm tích được thuận lợi và có hiệu quả
Số liệu phân tích độ hạt do các chuyên đề và phương án về bản
đồ các tỷ lệ khác nhau đã dùng rây 10 10 với cấp hạt lớn hơn 0,1mm
và dùng pipet (bộ hút robinsơn) đối với cấphạt nhỏ hơn 0,1mm Toàn
bộ kết quả phân tích được xử lý đồng bộ theo phương pháp Trask Các tham số Md (kích thước trung bình mm) So (hệ số chọn lọc) Sk (hệ số đối xứng) C (kích thước lớn nhất tại 1%) đựơc tính theo đồ thị đường cong tích lấy với 3 giá trị Q 25, Q 50 và Q 75
Đường cong phân bố độ hạt của trầm tích vụn Đệ tứ thường tuân theo luật phân bố chuẩn hoặc chuẩn logarit chúng có thể thay đổi từ 1 đỉnh (môi trường thủy động lực đơn giản, đồng nhất) đến 2 hoặc 3 đỉnh (môi trường thủy động lực phức tạp và hay thay đổi)
Nguyên tắc cơ bản là phân trầm tích thành các cấp hạt khác nhau bằng
bộ rây tiêu chuẩn với cấp hạt lớn hơn 0,1mm (Thông thường sử dụng bộ rây tiêu chuẩn 2 hay 1010) và dùng pipet (bộ hút robinsơn) đối với cấphạt nhỏ hơn 0,1mm Toàn bộ kết quả phân tích được xử lý đồng bộ theo phương pháp Trask nhằm xác định các thông số trầm tích như kích thước hạt trung bình (Md), độ chọn lọc (So), hệ số bất đối xứng (Sk) Kết quả phân tích độ hạt được biểu diễn dưới dạng đường cong tích luỹ trên sơ đồ phân bố cấp hạt logarit Trên đường cong tích luỹ này sẽ xác định được giá trị Q1- cấp hạt tương ứng 25%, Md-tương ứng cấp hạt chiếm 50% và Q3 -cấp hạt tương ứng 75% Các thông số được tính theo công thức:
Trang 21quãng đường di chuyển vật liệu, năng lượng sóng và tốc độ dòng chảy, khoảng cách so với nguồn cung cấp Mối quan hệ này mang tính chất tỷ lệ thuận: Md càng lớn thì động lực môi trường càng lớn và vật liệu trầm tích càng gần đá gốc; ngược lại Md càng nhỏ thì động lực môi trường càng yếu và vật liệu trầm tích có thể càng xa nguồn cung cấp
So (hệ số chọn lọc): phản ánh năng lượng thủy động lực (chủ yếu là sóng và dòng chảy), tính động nhất và tính ổn định của môi trường thủy động lực tạo nên các thực thể trầm tích Nếu So = 1-1,58: trầm tích có độ chọn lọc tốt, chứng tỏ môi trường có cường độ thủy động lực mạnh và khá đồng nhất trong suốt quá trình trầm tích Nếu So = 1,59 – 2,12: trầm tích có độ chọn lọc trung bình, chứng tỏ môi trường thủy động lực khá mạnh nhưng tính ổn định kém hơn Nếu So > 2,12: trầm tích có độ chọn lọc kém, chứng tỏ môi trường bị xáo trộn (khi mạnh, khi yên tĩnh)
Mỗi môi trường trầm tích được đặc trưng bởi một giá trị So
- Môi trường bãi triều cát So = 1,0 – 1,3
- Môi trường bãi triều lầy So = 1,5 - 4,5
- Môi trường các đập cát, doi cát So = 1,0 - 1,2
- Môi trường vũng vịnh So = 1,5 - 2,5
- Môi trường cát biển nông So = 1,1 - 2,12
- Môi trường bùn sét biển nông So = 1,5 - 3,0
- Môi trường nón phóng vật ven biển So = 1,8 - 4,5
Sk (hệ số đối xứng): đặc trưng cho tính đối xứng của đường cong phân
bố Nếu Sk > 1 thì trầm tích hạt lớn chiếm ưu thế; Sk < 1 thì hạt nhỏ chiếm ưu thế Theo War, Folk và Inman thì Sk thay đổi từ +1 đến –1
Trang 22Nếu Sk = 0 đường cong phân bố đối xứng; Sk > 0 đường cong lẹch về phía hạt nhỏ; Sk < 0 đường cong lệch về phía hạt lớn.
Các số liệu phân tích hóa và các chỉ tiêu địa hóa môi trường cực
kỳ quan trọng trong việc phân chia môi trường trầm tích Trong đó quan trọng nhất là các thông số kation trao đổi (Kt), độ pH và Eh, tỷ
số Fe+2 S/Corg, Na-/Cl- và mối quan hệ giữa 3 hợp phần sắt Fe+2S (sắt trong pirit), Fe+2 HCl (sắt trong xiderit), Fe+3 (sắt hóa trị 3 dễ tan) Tổ hợp các chỉ tiêu địa hóa môi trường dưới dạng bảng phân loại để phân chia tướng và môi trường trầm tích
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu địa hóa đặc trưng cho môi trường trầm tích
STT Chỉ tiêu Môi trường lắng đọng trầm tích
Lục địa Chuyển tiếp Biển
Trang 23lại điều kiện cổ địa lí, giúp cho việc luận giải quá trình tiến hoá trầm tích theo thời gian và theo không gian
Đối với các thành tạo Đệ tứ thì phương pháp xác định tuổi tuyệt đối bằng C14 đóng vai trò vô cùng quan trọng Bởi lẽ đối với các thành tạo Đệ tứ các tập hợp cổ sinh không phải là những tập hợp chỉ thị giống như các trầm tích cổ, do vậy ý nghĩa định tầng của chúng chỉ mang tính ước lệ Để thiết lập thang địa tầng chuẩn cho các thành tạo Đệ tứ cần thiết phải có các số liệu phân tích tuổi tuyệt đối Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối bằng C14 dựa trên nguyên tắc bán phân rã của Cacbon 14 trong tự nhiên Thông thường áp dụng chu kỳ bán phân rã của C14 là 5785 năm Mẫu vật thu thập cho phân tích C14
là các mảnh vỏ sò ốc hay các di tích thực vật trong trầm tích Phương pháp này
áp dụng có hiệu quả cho khoảng thời gian định tuổi dưới 40.000 năm Trên mức này tính chính xác không cao
và quá trình dịch chuyển châu thổ trong quá khứ
Trang 24Chương 2 - KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC 2.1 Địa tầng Đệ tứ khu vực đồng bằng Nam Bộ
Địa tầng Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ đã được nhiều nhà địa chất tiến hành nghiên cứu như E Saurin (1935), Lê Đức An (1981), Nguyễn Địch Dỹ (1987), Nguyễn Ngọc Hoa (1991), Ngô Quang Toàn (2001), Nguyễn Huy Dũng (2003), Đinh Văn Thuận (2004) Mặc dù vậy vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về cách phân chia, sắp xếp các hệ tầng và các kiểu nguồn gốc của trầm tích Đệ tứ Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về địa tầng Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ của những tác giả trước đây và những kết quả nghiên cứu gần đây nhất
Bảng 2.1 Các kiểu nguồn gốc trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ
Thống Phụ thống Nguồn gốc thành tạo
Holocen Thượng (Q13) a, am, mb, ab
Hạ-trung (Q21-2) a, am, mb, m Pleistocen Thượng (Q13) a, am, bm, m
Trung (Q12) a, am, bm, m
Hạ (Q11) a, am Dưới đây là những nét chính về địa tầng Đệ tứ khu vực nghiên cứu
Trang 25Ở vùng ĐNB kiểu trầm tích này được phân bố theo các thềm sông có độ cao 40-70m, bị phân cắt yếu tạo nên dạng địa hình uốn lượn dạng sóng Thành phần thạch học chủ yếu là cát sạn sỏi cuội có chứa sét bột hoặc đôi khi xen kẹp các thấu kính sét bột kaolin màu xám trắng, xám nhạt Phần bề mặt thường bị laterit tạo nên màu đỏ nâu, trắng vàng loang lổ Đôi khi trên bề mặt này có gặp Tectit (Bến củi, Tân Uyên)
Tại vết lộ suối Đá (xã Trảng Bom huyện Thống Nhất Đồng Nai) độ cao
bề mặt địa hình xấp xỉ 50m, vết lộ sâu 5,2m có thành phần thạch học từ dưới lên như sau:
- Lớp cuội sỏi gắn kết trung bình màu nâu vàng kích thước cuội thường
<1,5cm, bề dày lớp 1,2m, phủ bất chỉnh hợp trên đá gốc Jura
- Lớp cát sạn sỏi gắn kết trung bình, có lẫn bột sét màu xám, xám vàng loang lổ, bề dày 0,8m
- Lớp cát bột có lẫn ít sạn nhỏ, thường phân bố thành dải mỏng không liên tục, bề dày 2,2m
- Cát lẫn sạn, lẫn ít bột sét gắn kết yếu, màu vàng, xám vàng có biểu hiện phân dải nhưng không rõ, đôi chỗ có lẫn ít di tich thực vật, bề dày lớp 1m Lớp này bị bazan Xuân Lộc tuổi Pleistoxen giữa phủ trực tiếp
Hầu hết trong các mặt cắt rất nghèo di tích cổ sinh Thường trong một số mẫu chỉ gặp ít dạng BTPH nhưng ít có giá trị về sinh thái
Ở vùng TNB, trầm tích aluvi tuổi Pleistoxen sớm chỉ gặp trong các mặt cắt khoan và thường phân bố dưới độ sâu 100m như LK15 Ô Môn (120-203m), LK22 Thuỷ Đông, Long An (131- 161m ), LK210 Vĩnh Long ( 147- 211m) Thành phần thạch học chủ yếu là cát sạn lẫn cuội sỏi với thành phần cuội sỏi chủ yếu là thạch anh, màu xám xám vàng Thường trong các mặt cắt càng
Trang 26xuống sâu hàm lượng cuội càng tăng Trong một số mặt cắt có xen các lớp bột, bột sét màu xám vàng nâu vàng, đôi khi bị loang lổ như ở LK22 (135-139m), LK15 Ô Môn (143-144,5m), (174-188m)
Về cổ sinh nhìn chung các mặt cắt đều nghèo cả về số lượng lẫn thành phần giống loài
Cơ sở định tuổi của các thành tạo trầm tích mô tả ở trên dựa vào quan hệ với phun trào bazan Xuân Lộc đã được xác định tuổi Pleistoxen giữa phủ phần trên ở vùng ĐNB, còn ranh giới dưới đều được xác định phủ trên các thành tạo trầm tích Plioxen muộn có chế độ khí hậu chuyển từ cận nhiệt sang nhiệt đới
+ Trầm tích nguồn gốc sông biển
Những thành tạo trầm tích thuộc phân vị địa tầng này chỉ gặp trong các mặt cắt khoan ở cả vùng ĐNB và TNB Độ sâu phân bố thường 20-30m đến khoảng 100m Hầu hết các lỗ khoan ở dải gần ven biển hiện đại đều gặp những thành tạo trầm tích của phân vị địa tầng này Tại mặt cắt khoan 646 (Vũng Tàu) trầm tích tuổi Pleistoxen sớm nguồn gốc sông biển phân bố từ độ sâu 75m đến 99m Phần dưới (91-99m) chủ yếu là cát sạn sỏi có lẫn ít bột sét màu xám, xám vàng phớt xanh Phần trên chủ yếu là sét, sét bột có lẫn ít cát màu xám vàng, xám xanh có chứa ít di tích thực vật, phần trên cũng có biểu hiện loang lổ nâu vàng Tại độ sâu 80,5m và 97,5m gặp ít mảnh vỏ Foraminifera đơn điệu gồm Ammonia annectens, Pseudorotalia schrotalia, … cùng ít mảnh vụn Mollusca và Giáp xác Tảo Diatomeae cũng gặp một số dạng mặn lợ như: Coscinodiscus sp.; Thalassiosira sp.; Actinocyclus sp … BTPH gặp nhóm TVNM với các dạng Avicennia sp.; Rhizophora sp.; Aegiceras sp.; Hibiscus sp.; Nypa sp Tuổi của phân vị địa tầng này dựa trên cơ sở đánh dấu giai đoạn cổ khí hậu cận nhiệt đới ở giai đoạn Plioxen (tập trầm tích nằm dưới) ở nhiều lỗ khoan khác như LK12 Nhà Bè, LK8 Cần Thơ, LK215A Cà Mau… chuyển
Trang 27sang thời kỳ khí hậu nhiệt đới Mặt khác trầm tích của phân vị địa tầng này phản ánh đợt biển tiến đầu tiên của kỷ Đệ Tứ ở ĐBNB
Thống Pleistoxen, phụ thống Pleistoxen trung
Trầm tích thuộc phụ thống Pleistoxen trung gồm các thành tạo có nguồn gốc sau:
+ Trầm tích nguồn gốc aluvi
Tại khu vực ĐNB thành tạo trầm tích này phân bố theo các bậc thềm sông của hệ thống sông Đồng Nai ở độ cao 20-40m tạo nên bề mặt lượn sóng thoải phân bố quanh khu vực Biên Hoà - Thủ Đức, Bến Cát, Tân Uyên Thành phần thạch học chủ yếu là cát bột lẫn sạn sỏi (đôi khi sạn sỏi tạo thành các lớp mỏng dày từ 10 đến 30cm) Trầm tích có độ chọn lọc trung bình (So=2-5 ), trầm tích chủ yếu có màu xám trắng, xám vàng, nâu đỏ, xen ít loang lổ không đều Bề dày trầm tích quan sát được trong các lỗ khoan thay đổi từ 10 -20m đến 40-50m Di tích cổ sinh rất nghèo nàn tại một số mẫu trong LK605 Bến Cát xác định được một tập hợp BTPH phản ánh môi trường lục địa khô nóng với các dạng chính như: Taxodium sp.; Ginkgo sp.; Gleichenia sp.; Leiosporites ; Sequoia sp.; Rubia sp.; Rhus sp.; Malvaceae
Về tuổi, tại vết lộ nghĩa trang Thủ Đức bằng phương pháp nhiệt huỳnh quang, mẫu cát cho tuổi 145 000 ± 3 600 BP ( phân tích tại trường Đại học Woolonge- Úc )
Ở khu vực TNB các thành tạo trầm tích nguồn gốc aluvi tuổi Pleistoxen giữa chỉ gặp trong các mặt cắt khoan sâu như LK15 Ô Môn (55-73m ); LK29 Hồng Ngự (52-76m); LK25b Cao Lãnh (118-132m ); LK210 Vĩnh Long (135-152m ); LK361 Tam Nông (80-86m ) Thành phần thạch học chủ yếu gồm cát, cát bột có chứa cuội sỏi màu xám vàng, độ chọn lọc trung bình, độ mài tròn khá tốt Trong một số mặt cắt đôi khi gặp các lớp sét bột màu xám xanh, xám vàng
Trang 28xen kẹp với bề dày từ 20cm đến 100cm kết quả phân tích cổ sinh cho thấy Foraminifera hoàn toàn không gặp, tảo Diatomeae thường rất nghèo chỉ gặp một
số dạng nước ngọt như: Navicula sp.; Eunotia sp.; Gomphonema sp BTPH cũng nghèo nàn cả về số lượng lẫn thành phần giống loài
Như vậy với kết quả tuổi tuyệt đối, đặc trưng thạch học, kết quả cổ sinh
và quan hệ địa tầng có thể xác định tuổi của các thành tạo aluvi trên vào Pleistoxen giữa
+ Trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông biển
Các thành tạo trầm tích sông biển trong thời kỳ này lộ cả trên mặt và trong các lỗ khoan sâu Tại vết lộ Quảng Biên -Trảng Bom-Đồng Nai ở độ cao khoảng 40m, vết lộ sâu 7,2m mặt cắt có cấu tạo xen kẽ trầm tích có độ hạt thô-mịn nằm ngang Phần thấp nhất là lớp cát lẫn sạn sỏi nhỏ màu xám chọn lọc khá bề dày 0,3-0,5m Chuyển lên trên là tập bột sét có xen kẹp lớp cát (dày 0,4m) màu xám, xám nhạt có chứa nhiều mùn xác thực vật, đôi chỗ còn gặp những thân cây có đường kính tới 20-30cm chưa bị phân huỷ, bề dày của tập tới 5m Trong tập này có chứa tập hợp cổ sinh, với các dạng của Foraminifera: Ammonia japonica; Asterorotalia pulchella; Trochammina sp.; tảo Diatomeae nước
lợ, nước mặn như: Coscinodiscus sp.; Actinocyclus sp.; Grammatophora sp.; Cyclotella sp.; Nitzschia sp BTPH gặp khá phong phú với tập hợp TVNM điển hình như Avicennia sp.; Rhizophora sp.; Excoecaria sp.; Hibiscus sp.; Acrostichum sp
Trong rất nhiều lỗ khoan như LK 631 Long Thành -Đồng Nai (0-19m), LK646 Vũng Tàu (32-75m), LK12 Nhà Bè (97-195m), LK8 Cần Thơ(108-124m), LK215A Cà Mau (77-95m), LK21 Tiểu Cần (70-112m), LK806 Rạch Giá (75-123m)… đã gặp các thành tạo trầm tích với đặc trưng thạch học chủ yếu là các lớp cát, cát bột đôi khi có lẫn sạn sỏi xen kẹp với các lớp bột sét màu
Trang 29xám vàng xám nâu Tại LK21 Tiểu Cần với bề dày 44m đặc điểm thạch học từ dưới lên như sau:
- Lớp cát thạch anh hạt vừa màu xám xi măng dày 8,5m
- Lớp bột sét màu xám xanh, phớt tím nâu có biểu hiện phân lớp mỏng (1-2mm) nằm ngang Bề dày 6m
- Lớp cát thạch anh xám phớt vàng có lẫn ít di tích thực vật Bề dày 16,5m
- Lớp cát có xen kẹp các lớp sét bột mỏng, màu xám tím, dạng khối, bề dày 13m
Các kết quả phân tích cổ sinh đều phản ánh môi trường trầm tích ở vùng cửa sông ven biển Foraminifera có các dạng: Ammonia annectens; Pseudorotalia indopacifica; Asterotalia puchella; Quiqueloculina arkneriana Tảo Diatomeae có các dạng đặc trưng như: Thalassiosira kozlovii; Coscinodiscus marginatus; Cyclotella stylorum; Melosira sulcata…
+ Trầm tích nguồn gốc đầm lầy ven biển
Những thành tạo trầm tích có nguồn gốc đầm lầy ven biển chỉ gặp trong các mặt cắt khoan sâu ở khu vực TNB: LK215A Cà Mau (97-116m), LK TV1 Trà Vinh (96-116m), LK828A Hà Tiên (36-49m)
Đặc trưng thạch học chủ yếu gồm bột sét hoặc bột sét có chứa cát, đôi khi có lẫn ít sạn sỏi Trầm tích thường có màu xám xám đen có lẫn nhiều mùn thực vật hoặc di tích động thực vật Tại LK215A Cà Mau mặt cắt của trầm tích
có nguồn gốc đầm lầy ven biển được mô tả từ dưới lên như sau:
109-116m: Bột sét, cát xen kẹp phân lớp mỏng 1-3cm chứa mùn thực vật
Trang 30106-109m: Cát hạt mịn màu xám tro, xám đen xen lẹp các lớp mỏng bột, bột sét chứa xác thực vật
97-106m: Bột sét pha cát màu xám đen chứa di tích thực vật
Kết quả phân tích các mẫu cổ sinh ở các mặt cắt hầu như không gặp Foraminifera Tảo Diatomeae gặp một số dạng mặn lợ như: Coscinodiscus sp
;Actinocyclus sp.; Nitzschia sp.; Navicula sp.; Thalassiosira sp … BTPH tại LK215A được phản ánh thông qua phức hệ 3(PH3) Các đặc điểm cổ sinh và thạch học cùng với quan hệ địa tầng cho phép xếp các thành tạo trầm tích mô
tả trên có tuổi Pleistoxen giữa
+ Trầm tích nguồn gốc biển:
Thành tạo trầm tích có nguồn gốc biển chủ yếu được xác định ở đồng bằng TNB trong các mặt cắt khoan sâu như: LK8 Cần Thơ (79-108m); LK215A Cà Mau (74-90m); LK3 Long toàn (60-92m); LK804 Rạch Giá (70,5-111m) v.v… Tại mặt cắt 215A đặc trưng trầm tích gồm 2 tập từ dưới lên như sau:
Tập 1 (80-90m) bột sét, bột cát xen kẽ nhau màu xám xãm sẫm lẫn mùn thực vật và vỏ sò ốc nước mặn, đôi chỗ có chứa kết hạch vôi
Tập 2 (74-80m) bột cát, cát mịn có biểu hiện phân lớp mỏng, màu xám, xám vàng, phần trên có biểu hiện phong hoá loang lổ nâu vàng nâu đỏ
Trầm tích biển có chứa khá phong phú các dạng Foraminifera : Pseudorotalia schroeteriana; P indopacifica; P catiliformos; Asteroretalia subtrispinosa; A pulchella; Ammonia annectens; A off Annectens; Elphidium sp.; Bolivina sp.; Globigerinodes … Tảo Diatomeae gặp các dạng mặn lợ là chủ yếu : Coscinodiscus sp.; C subtilis; C lacustris; Thalassiosira sp.; T kozlovi; T
Trang 31decipien ; Diploneis smithii; Cyclotella striata; Cyclotella sylorum; Nitzschia sp.; Navicula sp.; Actinocyclus sp …
Tại LK3 Long Toàn năm 1989 Nguyễn Ngọc đã xác định được 1 tập hợp phong phú Foraminifera gồm gần 100 dạng ở độ sâu khoảng 80-90m, điển hình cho môi trường vũng vịnh biển nông ven bờ
Với các đặc trưng về thạch học và cổ sinh cùng với các điều kiện cổ địa
lý và quan hệ địa tầng có thể xếp các thành tạo trầm tích có nguồn gốc biển nêu trên vào tuổi Pleistoxen giữa
)
Đồng bằng Nam Bộ trầm tích aQ13 lộ trên mặt ở ĐNB tạo thành dải kéo dài từ Hồng Ngự đến Mộc Hoá và ven theo bờ phải sông Vàm Cỏ Đông từ Châu Thành đến Đức Huệ, một phần ở huyện Duyên Hải (thành phố Hồ Chí Minh), và diện tích bị phủ ở đồng bằng miền TNB Diện lộ phân bố trong khu vực giữa sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, rải rác ở khu vực Hoà Thành, Gò Dầu (Tây Ninh), Củ Chi và thành phố Hồ Chí Minh, tạo nên bề mặt thềm cao 5-15m,
bị chia cắt bởi hệ thống suối trẻ Ở diện tích bị phủ, trầm tích aQ13 gặp ở độ sâu
từ 10 đến 99m
Ở vùng lộ, mặt cắt đặc trưng có thể theo dõi tại LK805 (Nhuận Đức, Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh), trầm tích dày 24,5m Từ dưới lên trên gồm 4 tập như sau:
Tập 1 (24,5-23,3m): sạn, cuội cát, thành phần thạch anh silic màu trắng, kích thước sạn 0,3-0,8cm, kích thước cuội 1-2cm, sạn chiếm 90%
Trang 32Tập 2 (23,3-17m): cát, sạn, cuội nhiều màu sắc từ vàng xám đến nâu đỏ, tím nhạt Cuội sạn là thạch anh, silic, kích thước sạn 0,3-0,5cm, kích thước cuội 1-2cm
Tập 3 (17-3m): cát, sạn, cuội chứa bột sét kaolin, sạn cuội là thạch anh mài tròn tốt, kích thước 0,3-1,5 cm
Tập 4 (3-0m): cát hạt vừa màu xám trắng, chứa ít kaolin màu trắng (khoảng 15-20%)
Trầm tích aQ13 tại đây nằm phủ bất chỉnh hợp trên lớp sét loang lổ nguồn gốc hỗn hợp sông - biển có tuổi Q12
Ở vùng phủ, mặt cắt của trầm tích aQ13 gặp tại LK12 Nhà Bè 88m), LKS222 Trường Xuân Đồng Tháp (20,5m-26m) Tại LK 12 Nhà Bè mặt cắt gồm 2 tập từ dưới lên như sau:
(36m-Tập 1 (56m-88m): Cát bột, sét bột màu vàng nhạt xám vàng loang lổ Tập 2 (36m-56m): Cát hạy trung, hạt thô phần trên lẫn ít sỏi sạn màu xám vàng Tập này bị trầm tích Holoxen phủ lên
Kết quả phân tích cổ sinh trong các lỗ khoan và tại một số vết lộ ở khu vực ĐNB nhìn chung đều rất nghèo, Tảo Diatomeae chỉ gặp một vài dạng nước ngọt như Synedra sp., Melosira sp., Hantzchia sp., Gomphonema sp.,… BTPH cũng nghèo nàn về cả thành phần lẫn giống loài
)
Đồng bằng Nam Bộ trầm tích amQ13 chủ yếu là những thành tạo trầm tích chìm sâu dưới các trầm tích trẻ hơn ở trung tâm đồng bằng và vùng ven biển
Tại LK22 (Tuyên Nhơn, Thủy Đông, Long An), trầm tích amQ13 dày 30,5m, từ độ sâu 55,5 đến25m, từ dưới lên độ hạt trầm tích giảm dần, thay đổi
Trang 33từ cát lẫn sạn đến bột sét lẫn cát, phần trên chủ yếu là bột sét đôi chỗ có pha ít cát mịn cấu tạo phân lớp mỏng Ở độ sâu 29 và 27m chứa: Polypodium sp., osmunda sp., Stenochlanae, Cyathea sp., Pinus sp., Rhizophora sp., Palmae, Quercus sp Đặc biệt dạng Rhizophora chiếm tỷ lệ rất cao tới10-15% trong một số mẫu Ngoài ra, ở LK343 và LK344 (từ Hồng Ngự sang Vĩnh Hương) gặp tập hợp tảo Diatomeae mặn, ngọt gồm: Cyclotella, Coscinodiscus, Thalassiosira, Diploneis, Eunotia Về quan hệ, trầm tích amQ13 phủ không chỉnh hợp trên trầm tích mQ12 hoặc chuyển tiếp trên trầm tích sông cùng tuổi (aQ13) Đặc trưng BTPH trong phân vị địa tầng này được phản ánh ở LK845A Bạc Liêu, LK215A Cà Mau…Xét về các đặc điểm cổ địa lý và trật tự địa tầng thì phân vị địa tầng này xếp vào tuổi Pleistoxen muộn là hợp lý
)
Các thành tạo trầm tích có nguồn gốc đầm lầy ven biển Pleistoxen thượng không lộ trên mặt mà chỉ gặp trong một số LK sâu như LK822 (Cần giờ- TP Hồ Chí Minh), LK 214A (Long Hồ - Vĩnh Long)… Đặc trưng thạch học được thể hiện trong LK 822 gồm 3 tập trầm tích như sau:
Tập một từ 29,5m đến 33,5m: Sét bột pha ít cát mịn màu xám, xám đen
có chứa tàn tích thực vật
Tập hai từ 33,5m đến 42,6m: Cát mịn xen kẹp bột sét màu xám đen chứa nhiều tàn tích thực vật
Tập ba từ 42,6m đến 45,6m: Bột sét xen kẹp các lớp mỏng cát mịn, màu xám đen lẫn nhiều di tích thực vật
Đặc điểm các phức hệ BTPH có các dạng thực vật chịu khô hạn chiếm
ưu thế, phấn hoa TVNM khá phổ biến trong các phổ phấn, các mẫu đều giàu BTPH với tỷ lệ phấn tại chỗ cao hơn phấn ngoại lai Một số dạng thường gặp như: Polypodium sp., Cyathea sp., Osmunda sp., Acrostichum sp., Taxus sp.; Abies
Trang 34sp.; Biota sp., Rhizophora sp.; Sonneratia sp.; Dipterocarpus sp.; Castanea sp., Quercus sp., Euphorbia sp.; Hibiscus sp.; Bruguiera sp.; Aegiceras sp., Nypa fruticans, Acanthus sp., Suaeda sp., Phragmites sp., Cyperus sp.…
Hoá thạch Foraminifera nghèo nàn về số lượng và đơn điệu về thành phần, một số dạng gặp được như: Ammonia, Asterorotalia, Quinqueloculina, Pseudorotalia,…
Tảo Diatomeae gặp được khá phong phú với các dạng sống trong môi trường lợ mặn như: Diploneis smithii, Nitzschia marginulata, Caloneiis formosa, Grammatophora marina, Cocconeis placentula, Coscinodiscus sp., Melosira distans, Thalassiosira sp., Actinocyclus curvatulus, Navicula sp
Các thành tạo trầm tích mô tả trên thường bị phủ bởi các trầm tích có tuổi Holoxen và tương đương với các thành tạo trầm tích sông biển có tuổi Pleistoxen muộn Do vậy việc xếp chúng vào Pleistoxen thượng là phù hợp
)
Các trầm tích có nguồn gốc biển (mQ13) hầu như không lộ trên mặt ĐBNB, phần lớn chúng bị phủ bởi các trầm tích có tuổi Q2 ở vùng ven biển
Theo mặt cắt LK211 (thị trấn Long Mỹ, Cần Thơ), trầm tích mQ13 gồm
4 tập từ dưới lên trên như sau:
- Tập 1 (53-43m): sét bột pha ít cát màu xám trắng, vàng loang lổ, ổ vệt oxyt sắt màu nâu vàng
- Tập 2 (43-41m): sét bột màu xám trắng, nhiều ổ vệt vàng nâu
- Tập 3 (41-28,5m): sét, bột cát màu tím nhạt, vàng nhạt loang lổ có phân lớp xiên chéo
Trang 35- Tập 4 (28,5-23m): sét bột màu vàng nhạt, loang lổ, xám trắng, phân lớp xiên chéo, mặt lớp có cát hạt mịn có kết vón oxyt sắt khá cứng, kích thước 1-1,5cm, hình dạng méo mó
Trong phần trên của mặt cắt gặp các dạng hoá thạch Foraminifera: Ammonia, Amphistegina, Rotalia, Eponides, Pseudorotalia Ở độ sâu 31m, gặp
di tích tảo Diatomeae nước mặn Các đặc điểm trầm tích và cổ sinh thể hiện môi trường vũng vịnh gần cửa sông Trầm tích mQ13 nằm phủ không chỉnh hợp với trầm tích Q12 và bị trầm tích Holoxen (Q2) phủ lên
Ở đảo Phú Quốc, trầm tích mQ13 lộ dưới dạng các bậc thềm biển có độ cao 10-15m Thành phần trầm tích gồm: cát, bột sét màu xám, xám vàng, bở rời Bề dày 3-4m tới hàng chục mét Kết quả phân tích C14: một mẫu thân cây hoá than ở độ sâu 2,5m có tuổi tuyệt đối 36.984 ± 15 năm
Với những dẫn liệu nêu trên tuổi của phân vị địa tầng này xếp vào Pleistoxen muộn là hợp lý
Thống Holoxen, Phụ thống Holoxen hạ - trung (Q 2 1-2 )
Các trầm tích Holoxen hạ - trung phân bố ở gần vùng ven rìa các đồng bằng châu thổ tạo nên các bề mặt có độ cao thay đổi từ 2 đến 6m Ở trung tâm đồng bằng châu thổ hay ở vùng duyên hải, trầm tích này bị phủ chỉ gặp trong các lỗ khoan phân bố ở độ sâu từ một vài mét đến hơn 50m (LK209BM - Vĩnh Long) Chúng gồm các nguồn gốc sau:
)
Đồng bằng Nam Bộ trầm tích aQ21-2 phân bố chủ yếu dưới dạng bãi bồi cao của các sông lớn ở miền ĐNB, dọc theo các thung lũng các sông lớn như Đồng Nai (từ Tân Triều đến Đại An), sông Bé, sông Sài Gòn (từ Lái Thiêu đến Dầu Tiếng), sông Vàm Cỏ Đông (từ Gò Dầu Hạ, đến Bến Sỏi, La Ngà và biên
Trang 36giới Campuchia) tạo thành dải hẹp ở độ cao 3-4m Bề dày biến đổi 2-8m, ở LK75 (Yên Hưng, Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) trầm tích aQ21-2 phân bố ở độ sâu từ 15,4 đến 23,0m (dày 7,6m) với trật tự địa tầng từ dưới lên trên như sau:
- Tập 1 (23-17,5m): cát sạn pha bột sét, lẫn ít cuội có kích thước 1,5cm màu vàng sẫm, vàng nhạt
1,0 Tập 2 (17,51,0 15,4m): sét bột pha ít cát hạt mịn màu xám đen, xám sẫm Trầm tích aQ21-2 nằm phủ trên bề mặt bóc mòn của trầm tích aQ13 Kết quả phân tích tuổi C14 trong trầm tích này ở vùng Phước Tân là 4600 ± 130 năm
)
Ở ĐBNB trầm tích amQ21-2 lộ ra trên diện tích nhỏ hẹp ở Châu Đốc, còn diện tích rộng bị phủ bởi các trầm tích Holoxen muộn (Q23), phân bố ở Tuyên Nhơn, Hồng Ngự, Đồng Tháp và Cái Tắc (tây Cần Thơ) Ở vùng bị phủ chúng phân bố ở độ sâu từ 2 đến 21m với bề dày thay đổi từ 6 đến 10m
Trầm tích amQ21-2 đều gặp trong 5 mặt cắt khoan LK215A (17m-30,5m), LK15 (10,5m-18,2m), LKS222 (13m-20m),LK8 (18-42m), LK845A (18-30m) Thành phần trầm tích khá đồng nhất chủ yếu là bột sét (bột chiếm 80%, sét 20%) Thường có xen kẹp các thấu kính cát hạt mịn màu xám xanh phớt nâu, đôi chỗ chứa nhiều vụn thực vật có màu xám tối Trong trầm tích có chứa khá phong phú các nhóm cổ sinh: BTPH hầu hết đều gặp trong các mẫu được phân tích như Rhizophora sp.; Bruguiera sp.; Sonneratia sp.; Avicennia sp.; Suaeda sp.; Acanthus sp.; Excoecaria sp.; Aegiceras sp.; Lumnitzera sp.; Acrostichum sp.; Hibiscus sp.; Nypa fruticans … Polypodium sp.; Cyathea sp.; Pteris sp.; Osmunda sp.; Acrostichum.sp; Cedrus sp.; Suaeda sp Dipterocarpus sp.; Hopea sp.; Myrtus sp.; Malvaceae; Tsuga sp …Trong một số phổ phấn còn gặp một số dạng đặc trưng cho chế độ khí hậu cận nhiệt khô như Engelhardtia sp.; Shorea sp
Trang 37Foraminifera gặp được khá phong phú với các dạng điển hình: Asterorotalia pulchella, A.multispinosa, Pseudorotalia schroeteriana, Spiroloculina penglaiensis, Ammonia japonica, A beccarii, Quinqueloculina seminulina, Q boueana, Q akneriana, Adellosia pulchella, Bigenerina nodosaria, Elphidium advenum, E macellum, Tảo Diatomeae gặp được các dạng chính như: Coscinodiscus sp., Melosira sp M distan, Thalassiosira sp Actinocyclus sp., A curvatulus, Navicula sp
Kết quả phân tích C14 tại một số vị trí như núi Sóc (Long Xuyên) tuổi
5680 ± 120 BP, vết lộ VL1621 tại Bình Sơn (Kiên Giang) tuổi 7150 ± 150BP…
Như vậy với các kết quả được xác định việc xếp các thành tạo trầm tích
mô tả trên vào tuổi Holoxen sớm - giữa có nguồn gốc sông biển là hợp lý
)
Vùng ĐBNB trầm tích đầm lầy ven biển thường phân bố ở độ sâu từ 0,5 đến 4m Thành phần trầm tích là than bùn, tàn tích thực vật, các thân cây phân hủy chưa hoàn toàn lẫn sét bột cát màu xám tối, xám nâu
Trong cả 6 mặt cắt được phân tích đều gặp trầm tích có nguồn gốc biển đầm lầy ở các độ sâu khác nhau LK215A (1- 17m), LK15 (2 -10,5m), LKS222 (4-12m), LK845A (4-18m), LK8 (4-13m), LK12 (6-18m) Trong trầm tích có chứa foraminifera với các dạng: Asterorotalia, Pseudorotalia, Schroeteriana, Ammonia, và tập hợp tảo Diatomeae: Coscinodiscus sp C subtilis, Thalassiosira sp T kozlovii, Actinocyclus sp., Diploneis sp., Melosira sp., M distan, Cyclotella sp., C stylorum … BTPH rất phong phú về cả số lượng và thành phần chi loài, chúng dđược gặp trong các lỗ khoan LK215A, LK15, LK8, LK12, LK845A gồm những dạng như: Taxodium sp.; Larix sp.; Sequoia sp.; Cryptomeria sp; Quercus sp.; Castanea; Rhizophora sp ;Sonneratia sp ;
Trang 38Rubia sp.; Canabis sp.; Excoecaria sp.; Rosa sp.; Tilia sp.; Compositae; Graminae; Nymphaea sp.; Acanthus sp.; Suaeda sp.; Acrostichum sp.; Cyperus
sp
Các thành tạo trầm tích đầm lầy ven biển tuổi Holoxen sớm- giữa ở ĐBNB thường nằm phủ trên bề mặt loang lổ của trầm tích tuổi Pleistoxen muộn hoặc trầm tích Holoxen sớm giữa có nguồn gốc sông biển và chuyển lên trầm tích Holoxen muộn với các nguồn gốc khác nhau
)
Trầm tích mQ21-2 phân bố rộng suốt từ bắc sông Tiền tới bán đảo Cà Mau với độ sâu phân bố từ 0 đến 25m và bề dày thay đổi từ 3m đến 20,5m Mặt cắt của trầm tích này rất đa dạng, nhưng nhìn chung chúng đều đặc trưng cho điều kiện vũng vịnh - biển nông ven bờ
Diện lộ của trầm tích biển dưới dạng giồng, gò đống và thềm biển bậc I phổ biến chủ yếu ở thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu (gần biên giới Campuchia), vùng Tháp Mười, Cai Lậy, Tân Hợi, Trị Tôn, Tịnh Biên thành phần trầm tích dưới là cát mịn lẫn bột sét và trên là bột sét màu xám xanh, xám tro Trong trầm tích có chứa tập hợp Foraminifera: Cibicides, Asterorotalia, Uvigerina
Vùng Tháp Mười, Cai Lậy, Tân Hội tồn tại các giồng, gò có dạng hình cánh cung, bụng hướng về đất liền, độ cao 3-5m Giồng, gò được cấu tạo bởi cát màu xám nâu, xám vàng lẫn nhiều mảnh vỏ sò sinh vật biển Đôi nơi (Cai Lậy) bề mặt giồng bị laterit hoá tạo kết vón cứng chắc Trầm tích ở vùng Tháp Mười có các thông số độ hạt như sau: cát chiếm: 92,5%; bột: 7,5%; Md: 0,17; So: ~1,3; Sk: 0,99; Sf: ~ 0,682; Ro: ~ 0,288 Kết quả phân tích C14 vỏ sò ở giồng Cai Lậy (Gif 1713) cho kết quả 4500 ± 110 năm
Trang 39Các tích tụ sinh vật ở Ba Thê, Núi Sập với diện tích rộng hàng trăm mét, dài 3- 4km, chiều dày thay đổi từ 4,8 đến 10m Mặt cắt tại ấp Trung Bình
- Thoại Sơn - An Giang dày 8m từ trên xuống dưới như sau:
- 0 - 0,4m: sét bột màu xám tối
- 0,4 - 0,8m: lớp vỏ sò lẫn nhiều sét
- 0,8 - 8,0m: vỏ sò thuần nhất
Vỏ sò tại đây có kích thước lớn (dài 10-15cm, rộng 5-7cm), vỏ sò ở đỉnh
ám tiêu được xác định tuổi C14 cho kết quả như sau:
Gif 2153 - ấp Trung Bình - 5570 ± 120 năm
Gif 2154 - tây nam ấp Trung Bình khoảng 1km - 4870 ± 120 năm
Các kết quả trên cho phép khẳng định tuổi của trầm tích này là Holoxen sớm - giữa
Trong các mặt căt khoan thành phần trầm tích chủ yếu là sét bột màu xám xanh, xám lẫn ít cát (sét chiếm: 80-85%; bột: 10-15%; cát: 0-5%) Phần dưới thường có chứa nhiều mùn thực vật và xen các lớp có nhiều vỏ sò kích thước 1-2mm trong trầm tích chứa Foraminifera: Asterorotalia, Pseudorotalia, Quinqueloculina, Spiroculina BTPH đặc trưng là phức hệ PH8 của LK8 (Cần Thơ), tảo Diatomeae chủ yếu gặp các dạng nước mặn: Cyclotella, Coscinodiscus, Thallasiosinema
Trầm tích biển Holoxen hạ - trung thường phủ trên hoặc chuyển ngang với các trầm tích cùng tuổi có nguồn gốc sông biển hoặc đầm lầy ven biển
Thống Holoxen, phụ thống Holoxen thượng (Q 2 3 )
Trầm tích Holoxen thượng đặc trưng là các thành tạo trầm tích trẻ nhất thậm chí nhiều nơi còn đang được thành tạo Chúng gồm các nguồn gốc sau:
Trang 40+ Trầm tích nguồn gốc aluvi (aQ2 3
Mặt cắt trầm tích bãi bồi của sông Tiền và sông Hậu gồm 2 lớp:
- Lớp 1: sét, bột, cát xám nâu, xám vàng dày 0,6-2m Trong đó sét chiếm: 70-80%; bột: 20-30%; cát: 1-2%
- Lớp 2: bột sét pha cát màu xám nâu gụ, trong đó bột: 55-60%; sét: 40- 45%; cát hạt mịn: 3-5%, dày 1-2,5m
Ở vùng Đồng Tháp tại LKT304, chiều dày trầm tích là 6m với thành phần sét: 62%; bột: 37,6%; cát: 0,4-1,2% màu xám nâu, thành phần khoáng vật sét kaolinit, hydromica Trầm tích sông ở ĐBNB thường phủ trên trầm tích Holoxen hạ - trung (Q21-2) và thường chứa tập hợp BTPH: Lycopodium, Sphagnum, Cupressus, Pinus, Cedrus, Melia, Taxodium, Morus Trầm tích
vùng gần cửa biển có một vài dạng phấn hoa TVNM: Acrostichum, Acanthus
Nhìn chung, trầm tích sông aQ23 đều tuân theo quy luật chung là thành phần độ hạt mịn dần theo chiều của dòng chảy và chúng luôn là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng dồi dào
)
Trầm tích amQ23 lộ ra trên một diện rộng, bắt đầu từ Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh) qua Tân An - Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, tới Long Mỹ, Kiên Giang Khối lượng trầm tích này bao gồm toàn bộ khối lượng trầm tích sông - biển (amQ22-3 và amQ23 - Nguyễn Ngọc