Tác động biến đổi khí hậu với ngành thủy sản đồng bằng sông cửu long.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐH CÔNG NHGIỆP THỰC PHẨM TPHCM
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
Bài tiểu luận
GVHD: ĐINH NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
TPHCM 11-2010
Trang 2Dương Thị Huyền Hương 3006100075
Nguyễn Thị Hồng Hạnh 3006100045
Nguyễn Thị Phương 3006100240
Đinh Thị Ngọc Cẩm 3006100009
Nguyễn Thị Son 3006100147
Đinh Thị Liên 3006100250
Trang 3Khái quát chung:
Trong cơ cấu nền kinh tế nước ta hiện nay thì ngành thủy sản đã và đang nắm giữ một vị trí quan trọng, ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để pháp triển
Trang 4thành một kinh tế mũi nhọn của đất nước Đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long( ĐBSCL) rất giàu tiềm năng cho pháp triển ngành thủy sản (TS) Nằm ở hạ nguồn hệ thống sông nước lợ, nước ngọt, nước mặn và khai thác biển Khi thị trường thủy sản thế giới và trong nước phát triển sôi động, mạnh mẽ thì ngành TS ở ĐBSCL đã góp phần không nhỏ vào việc khẳng định vị thế của ngành thủy sản của vùng đạt 2,55 tỉ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ( 4,25 tỉ USD) chiếm trên 50% Kết quả này góp phần to lớn vào sự thành công của ngành thủy sản cả nước khi sản phẩm của nước ta đã có mặt trên khoảng 165 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong vùng châu thổ của hệ thống sông Mê Kong, lại có sự giao thoa giữa các môi trường sinh thái ( mặn- lợ- ngọt) tạo nên một vùng sinh thái đặc thù, hiếm có, rất thuận lợi cho sự phát triển sản xuất thủy sản tập trung so với các vùng trong cả nước
Phát huy lợi thế:
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, toàn vùng ĐBSCL có khoảng 750km
bờ biển( chiếm khoảng 23% tổng chiều dài
bờ biển toàn quốc) với 22 cửa sông, cửa lạch
và hơn 800.000 ha bãi triều trong đó 70%-80% là bãi triều cao ( tiềm năng về nuôi thủy sản biển) Ở ĐBSCL ưu thế là nuôi nước lợ ( nuôi tôm) và nuôi nước ngọt ( nuôi cá tra và cá basa)
Ngoài ra vùng còn là 1 môi trường tốt để nuôi trồng các loài nhuyễn thể, các loài thủy sản khác như: cá lóc, cá rô, cá da trơn, lươn,…
Theo tính toán của bộ NN&PTNT, tổng diện tích có khả năng nuôi trồng của vùng là hơn 1,2 triệu ha, chiếm gần 60%
Trang 5diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước Trong đó phần lớn là diện tích vùng triều ( khoảng 750.300 ha) Diện tích có thể nuôi thủy sản nước ngọt cũng rất phong phú với trên 500.000 ha phân bố chủ yếu ở các tỉnh : Tiền Giang, Long
An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ
Những thuận lợi về tự nhiên là tiền đề tạo ra những thế mạnh về đánh bắt và
khai thác củ vùng
Theo cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ĐBSCL có diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000km² , chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc 2 ngư trường trọng điểm
là Đông và Tây Nam Bộ Trữ lượng cá biển ở hai ngư trường này trên 2,5 triệu tấn ( chiếm 62% trữ lượng cả nước) Khả năng lhai thác tối đa trên 1 triệu tấn (cá đáy : 700.000 tấn; cá nổi trên 300.000 tấn) và chiếm đáng kể về loài so với cả nước( cá chiếm 62%, tôm sú và tôm he: 66%, tôm sắt và tôm chì:61%, mực ống: 69%, mực nang: 76%) Tính theo đầu người, sản lượng cá biển có thể khai thác
ở ĐBSCL là 61kg/ năm, trong khi cả nước chỉ nằm ở mức 21kg/ năm Ngoài ra, vùng ven biển của ĐBSCL còn có tiềm năng bảo tồn cao, tạo cơ hội phát triển 1
số ngành nghề thủy sản mới, chuyển đổi nghề nghiệp cho ngư dân của vùng như: nuôi thích nghi, câu cá giải trí kết hợp với du lịch sinh thái,…
Khu vực ĐBSCL có đội tàu khai thác, đánh bắt thủy sản lớn nhất cả nước; số lượng tàu thuyền hoạt động trong vùng dao động từ 22.000-25.000 chiếc khai thác xa bờ luôn là
Trang 6thế mạnh của vùng Sản lượng khai thác có tốc độ tăng nhanh hơn so với các địa phương khác và đóng góp rất lớn trong tổng sản lượng khai thác của cả nước: sản lượng từ 803.919 tấn năm 2000 tăng lên 863.289 tấn năm 2008 ĐBSCL không những đạt hiệu quả cao trong khai thác xa bờ mà còn là vùng cho sản lượng khai thác thủy sản nội địa khá cao, chiếm tỉ lệ từ 50-60% sản lượng khai thác của cả nước Những địa phương có sản lượng khai thác cao như: An Giang(33,46%); Trà Vinh (18,24%), Đồng Tháp(13,52%)…
Ngoài đánh bắt và khai thác thủy sản thì sản lượng thủy sản chế biến và xuất khẩu của vùng cũng chiếm tỉ trọng cao
Hằng năm, vùng đồng bằng sông Cửu Long đóng góp vào tổng sản lượng chế biến của cả nước khoảng 1 triệu tấn ( chiếm gần 70%) Trong đó, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang và Cà Mau chiếm hơn 60% tổng sản lượng chế biến của toàn vùng Ở vùng ĐBSCL, mỗi địa phương đều có những sản phẩm chế biến đăc trưng riêng Như ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có thế mạnh về chế biến
và xuất khẩu tôm, An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ mạnh về chế biến cá tra xuất khẩu; các tỉnh ven biển khác như Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh cũng có những sản phẩm chế biến đăc trưng từ biển như nước mắm, khô,…
Theo Hiệp Hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu của vùng có sự tăng trưởng đáng khích lệ trong giai đoạn 2003-2008, đạt 18,5% năm( từ 1,2 tỉ USD năm 2003 lên 2,83 tỉ USD trong năm 2008)
Diện tích nuôi trồng thủy sản của vùng ngày càng tăng Năm 2000, toàn vùng chỉ có 445.300 ha nuôi trồng với tổng sản lượng 365.141 tấn Đến cuối năm
2009, diện tích đã lên tới 823.000 ha, sản lượng đạt trên 1,9 triệu tấn
Nguồn Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
Tuy ngành thủy sản đã và đang đạt được những thành tựu to lớn nhưng vẫn còn tồn tại những nguyên nhân chủ quan như: khai thác thiếu quy họach định hướng, thiếu sự kiểm soát, việc khai thác chưa kết hợp tốt với tái tạo lại nguồn nguyên liệu và bảo vệ môi trường cộng với nguyên nhân khách quan: do biến đổi khí hậu, Trái Đất đang nóng dần lên đã tác động mạnh mẽ đến ngành thủy sản của
cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng khiến cho ngành thủy sản đang đứng
Trang 7trước nguy cơ phát triển không bền vững và ảnh hưởng những lợi thế vốn có đã được khẳng định của ngành từ nhiều năm nay Tác động xấu của biến đổi khí hậu( BĐKH) đối với ngành thủy sản ở ĐBSCL là rất lớn, đòi hỏi cần có những giải pháp, định hướng đúng đắn để thủy sản tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng và cả nước
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học viện nghiên cứu quản lý biển và hải đảo, tại các tỉnh ven biển và hải đảo khu vực ĐBSCL, BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng có thể làm gia tăng độ cao sóng ven bờ, tác động tới cán cân bùn cát và làm gia tăng sói lở, gây suy thoái mạnh, thậm chí các rừng ngập mặn ven biển sẽ
có thể biến mất sau vài năm
Biến đổi khí hậu và các biểu hiện của nó như nước biển dâng lên, nhiệt độ tăng, bão, lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan,… đã ảnh
hưởng cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến các hệ sinh thái của vùng và ngành thủy sản
Ảnh hưởng của nhiệt độ và biến đổi lượng mưa:
Các yếu tố khí hậu tác động 1 cách tổng hợp lên ngành thủy sản Khi khí hậu nóng lên, các yếu tố cơ bản như sự biến động nhiệt
độ, lượng mưa, nước biển dâng lên sẽ tác động mạnh mẽ nhất đến ngành thủy sản mà cụ thể là vùng nuôi trồng thủy sản sẽ gặp nhiều bất lợi
Tác động của sự tăng nhiệt độ đối với thủy sản, tiêu biểu là cá tra thâm canh nước ngọt và tôm nuôi ở vùng ven biển không rõ rệt nhưng đã làm cho mức tăng trưởng của cá thấp vào thời điểm cực thấp ( tháng 12 và tháng 1) cũng như làm cho tôm chết và tăng trưởng giảm vào lúc nhiệt độ cực nóng vào mùa khô cùng với nhiệt độ, sự biến đổi lượng mưa cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố các quần thể thủy sản vả thành phần loài vì nó cung cấp nước ngọt cho các vùng nuôi trồng, làm giảm nồng độ muối trong nước mặn, tránh không cho thủy sản
Trang 8không bị chết khi nồng độ muối cao Tuy nhiên lượng mưa lớn, không phải bao giờ cũng có lợi Do ảnh hưởng của BĐKH nên hiện tượng mưa, lũ lớn thường xuyên xảy ra hơn cả về cường độ và thời gian Khi mưa lớn chỉ tập trung trong 1 thời gian ngắn và nhiều tháng còn lại trong năm khô hạn sẽ gây bất lợi cho sự sinh trưởng và phân bố của các luồng thủy sản do nắng nóng và khô hạn kéo dài làm giảm mực nước ngọt đến mức báo động, tác động đến nuôi trồng thủy sản nước ngọt; cùng lúc đó vào mùa khô độ mặn nước biển ven bờ cũng tăng lên cao vào khoảng 20-30%( mùa mưa chỉ từ 5-20%), xâm nhập mặn theo các sông nhánh vào nội đồng nhiều đến 40-60km, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và pháp triển của động vật, sinh vật biển
Tác động của mực nước biển dâng:
Gió mùa Đông Bắc cũng góp phần quan trọng làm tăng mực nước biển Gió mùa xuất hiện vào mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, hoạt động mạnh vào thời kỳ thủy triều cao nhất trong năm từ tháng 10 đến tháng 12 kết quả là nước mặn xâm nhập sâu vào trong đất liền
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, khi tốc độ gió là 5m/s thì mực nước biển dâng lên 10cm Khi tốc độ gió đạt đến 10m/s thì mực nước biển dâng lên 20cm, nếu không có gió thì mực nước biển dâng lên chậm và thấp chỉ tăng 4cm
Dưới tác động của BĐKH, gió mùa và bão sẽ xảy ra thường xuyên hơn, gây nên gió to, sóng lớn là mực nước biển dâng cao hơn và thường xuyên hơn, góp phần đẩy mạnh tốc độ xói lở bờ biển, nhiều khu rừng ngập mặn ở dải rừng suốt dọc phía đông mũi Cà Mau đã bị chìm xuống biển làm mất nơi ở của nhiều loài động vật trong rừng và bãi triều, làm mất nơi cư trú, sinh sản của một số loài tôm, cá
Ở phía Nam, một số cửa sông của ĐBSCL như cửa Hàm Luông, cửa Định An cũng xảy ra hiện tượng xói lở bờ biển do gió mùa Đông Bắc và nước biển dâng Nước biển dâng kết hợp với gió mùa, triều cường, bão đã làm cho xói lở bờ
Trang 9biển, sạt lở bờ sông làm cho nước dâng cao vào mùa mưa, rút xuống thấp quá mức vào mùa khô làm giảm đi nguồn thức ăn( động vật phù du, phiêu sinh vật, giun nhiều tơ,…) của động vật thủy sản
Báo cáo bộ NN-PTNT về kịch bản BĐKH tại ĐBSCL cho thấy:
Nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì khoảng 31% diện tích của vùng sẽ bị ảnh hưởng và ngập lụt; khoảng 70% diện tích đất của vùng bị xâm nhập mặn, mất khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa Thời gian úng ngập có thể kéo dài từ 4-5 tháng, 38% diện tích đồng bằng bị nhấn chìm, 90% diện tích đồng bằng có thể bị nhiễm mặn
Mực nước biển càng dâng cao thì lũ lụt do thủy triều, nước dâng bão và lũ thượng nguồn gây ra càng lớn Đây là mối đe dọa lớn nhất đối với các vùng nông nghiệp ven biển, đất thấp, đất trũng Hiện tượng “ nước vật” do mực nước dâng cao ở hạ nguồn cũng làm gia tăng ngập lụt do lũ ở thượng nguồn
Lũ về sớm, rút chậm, thời gian ngập úng cao hơn, và mực nước lũ cao hơn, … ảnh hưởng trực tiếp nặng nề đến dời sống, nơi cư trú của hàng triệu người dân, đaỏ lộn sự phát triển kinh tế xã hội từng vùng
Theo các nhà chuyên môn, có nhiều nguyên nhân gây biến đổi khí hậu và ngành thủy sản được xác nhận là ít đóng góp nhất vào việc thúc đẩy sự biến đổi này Nhưng, ngược lại, thủy sản là một trong những ngành chịu thiệt hại nhiều nhất: suy giảm năng suất, bùng nổ dịch bệnh, mất dần 1 phần hoặc toàn bộ diện tích nuôi trồng thủy sản…
Ngoài ra, theo thạc sĩ Thân Thiện Hiền, trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng: Nhiệt độ tăng làm tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước và có thể dẫn đến nguồn nước bị ô nhiễm, nguy cơ mắc bệnh của các loài thủy sản lại càng cao Bên cạnh đó, ảnh hưởng trực tiếp từ việc giảm mưa trong mùa khô, đồng thời cùng với sự tăng nhiệt độ không khí làm tăng lượng nước bốc hơi tại các khu vực nuôi trồng thủy sản sẽ làm tăng độ mặn trong môi trường nước Điều này đòi hỏi phải cấp thêm nước ngọt vào các vùng nuôi trồng trong mùa khô để ổn định nồng độ mặn và sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trong việc
Trang 10sử dụng nước ngọt ở các lĩnh vực nông nghiệp khác như trồng lúa nước và hoa màu
Biến đổi khí hậu cũng tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn làm mất dần các bãi sinh sản tự nhiên của nhiều loài sinh vật, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên, làm mất dần diện tích thuận lợi cho phát triển nuôi thủy sản Năng suất nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn bị giảm sút từ khoảng 200kg/ha/vụ ( năm 1980) đến nay thì chỉ còn 80kg/ha/vụ Rừng ngập mặn trước đây có thể khai thác được 800kg/ha nhưng nay chỉ còn 1/20 so với lúc trước Đã
có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy hiểm khác nhau và trên 75 loài đã
được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam Nguồn lợi thủy sản có xu hướng giảm dần về
trữ lượng, số lượng và kích thước đánh bắt,…
Hiện tượng nước biển dâng đã tạo điều kiện cho 1 số loài cây ngập mặn xâm lấn đất nội địa, đất sản xuất nông nghiệp từ đó ảnh hưởng đến sản lượng lương thực
và đa dạng sinh học Hệ quả là một số loài động thực vật nước ngọt giảm hoặc biến mất thay vào đó là sự thay thế các loài nước lợ, nước mặn Nước biển dâng cũng ngăn cản sự bồi tụ các bãi triều, ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn tiên phong như mắm, bần chua,…
Ví dụ: Tại Quảng Ninh, trận bão năm 1995 đã phá vỡ đê biển, cả đảo Hà Nam(
huyện Hưng Yên) gồm 7 xã chìm ngập trong nước mặn do nước dâng , sóng lớn, chỉ sau 1 thời gian ngắn đất nông nghiệp bị nhiễm mặn, các loài sú ( Aegiceras cprmiculatum), mắm biển ( Avicennia marima), đước đôi ( Rhizophora apiculata), trang( kandelis scandel) đến chiếm đất Nhân dân Yên Hưng đã phải lao động vất vả , sau nhiều năm mới khắc phục được hậu quả, rửa mặn cho đất nông nghiệp để canh tác
Nguyễn văn Hải và nnk,1995
Ảnh hưởng của bão:
Bão cũng là 1 trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng nước biển dâng và gây tác động đến việc khai thác, đánh bắt thủy sản
Trang 11của các tàu thuyền, ngư dân đánh bắt, có thể gây ra thiệt hại lớn lao về người và của nếu không di trú kịp thời vào bờ hay neo đậu vào nơi an toàn khi bão độ bộ Làm biến động dòng nước khi đó các luồng thủy sản ( cá, mực,…) sẽ di cư đến nơi biển lặng để sống và tìm thức ăn hiệu quả và sản lượng đánh bắt giảm đáng kể trong thời giảm đáng kể trong thời gian bão hoạt động, biển động dữ dội
Với tuần suất bão lớn ( hằng năm có 5 - 10 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào vùng bờ) hầu như năm nào nước ta cũng phải hứng chịu hậu quả nước dâng do bão Nước dâng lớn thường xảy ra tại các cùng biển miền Trung: ở dài ven bờ Nghệ An đã
đo được nước dâng do bão trên 3,2m; dải bờ từ Huế trở vào Nam Trung Bộ, nước dâng đo được dao động trong khoảng 2,5-3 m, dải ven bờ Nam Bộ có những đặc thù riêng về đường bờ, kênh rạch và hệ thống rừng ngập mặn cũng giảm thiểu được phần nào tác hại của nước biển dâng do bão, dao động trong mức 1-2.5m
Do tác động của BĐKH bão, lũ ngày càng xuất hiện với tần suất lớn hơn và mức
độ ngày càng mạnh hơn đã gây ảnh hưởng lớn đến các hệ sinh thái đất ngập nước đặc biệt là các khu rừng ngập mặn trong các đầm phá ven biển và bão bồi phù sa
Những cơn bão lớn xuất hiện hằng năm vào các tỉnh ven biển với tần xuất và cường độ ngày một khốc liệt hơn do tác động của BĐKH làm vỡ đê biển, phá hủy các rừng ngập mặn tự nhiên hay được trồng để bảo vệ đê, phá hủy môi trường sống của nhiều loài tôm cá biển cũng như chim nước Nước biển dâng cao nhất trong những ngày có mưa bão kết hợp với triều cường, có khi lên tới 5-8m gây ra thiệt hại to lớn về tài sản của cộng đồng ngư dân ven biển, làm bờ biển bị xói lở, kể cả những vùng có các dải rừng ngập mặn phòng hộ
Tác động của biến đổi khí hậu lên nghề cá trong và xung quanh các khu vực
rừng ngập mặn ở vùng ĐBSCL
Rừng ngập mặn cùng với 2 hệ sinh thái biển- ven biển nhiệt đới điển hình ( rạn san hô và