1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác

154 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận án Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng một hệ thống phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp công nghiệp mỏ phù hợp v

Trang 1

Đặng Huy Thái

Hoàn thiện phương pháp phân tích kinh tế

hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác

Chuyên ngành: Tổ chức và quản lý sản xuất-

Kinh tế Mỏ - Địa chất

Trang 2

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu trong luËn ¸n lµ trung thùc theo c¸c tµi liÖu tham kh¶o C¸c kÕt qu¶ nghiªn cøu ch−a tõng ®−îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

Ng−êi cam ®oan

§Æng Huy Th¸i

Trang 3

Mục lục

Lời cam đoan 1

Mục lục 2

Danh mục các chữ viết tắt 4

Danh mục các bảng 4

Danh mục các hình vẽ, đồ thị 5

Mở đầu 6

Chương 1 Tổng quan về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp khai thác mỏ nói riêng 11

1.1 ý nghĩa và tầm quan trọng của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 11

1.1.1 ý nghĩa của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 11

1.1.2 Nhiệm vụ của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 15

1.2 Tổng quan về lý thuyết phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 15

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 15

1.2.2 Những cách tiếp cận về nội dung của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp 24

1.2.3 Một số phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cần thiết nghiên cứu sâu thêm 27

1.3 Tổng quan thực tiễn phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp khai thác than hiện nay 39

1.3.1 Những nhận xét tổng quan về phân tích kinh tế trong các doanh nghiệp khai thác than hiện nay 39

1.3.2 Cơ sở dữ liệu dùng cho phân tích kinh tế HĐKD 42

1.3.3 Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp mỏ (ngành than) 44

1.4 Những đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác mỏ liên quan đến phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 47

Chương 2 Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác mỏ 52

2.1 Xây dựng khái niệm và phân loại phương pháp phân tích kinh tế 52

2.1.1 Khái niệm về phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh 52

2.1.2 Phân loại các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 52

2.2 Những đề xuất chung về hoàn thiện phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 55

2.2.1 Phương hướng chung hoàn thiện phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh. 55 2.2.2 Hoàn thiện phương pháp luận của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh57 2.2.3 Các giải pháp về quản lý 67

2.2.4 Những giải pháp thuộc về kỹ thuật phân tích 69

Trang 4

2.3 Nghiên cứu phương pháp phân tích năng lực sản xuất của các doanh nghiệp khai

thác than 73

2.3.1 ý nghĩa của việc phân tích NLSX của các doanh nghiệp. 73

2.3 2 Khái niệm về NLSX của doanh nghiệp khai thác than 74

2.3 3 Phương pháp phân tích NLSX của doanh nghiệp công nghiệp đang được sử dụng hiện nay 75

2.3 4 Một số vấn đề nghiệp vụ trong phương pháp phân tích NLSX 78

2.3 5 Những giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích NLSX của các doanh nghiệp khai thác than. 80

2.3.6 Hoàn thiện phương pháp phân tích NLSX của mỏ than lộ thiên 85

2.3 7 Hoàn thiện phương pháp phân tích NLSX của mỏ than hầm lò 92

2.4 Hoàn thiện phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng 97

2.5 áp dụng các phương pháp phân tích kinh tế vi mô vào phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than 102

2.6 Bổ sung một số nội dung vào phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than 111

2.6.1 Đề xuất nội dung và phương pháp phân tích tình hình sử dụng trữ lượng tài nguyên của các doanh nghiệp khai thác mỏ 111

2.6.2 Phân tích hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường 114

2.6.3 Phân tích an toàn trong sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp khai thác mỏ. 115

Chương 3 Tổ chức công tác phân tích và ứng dụng công nghệ thông tin vào phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than 117

3.1 Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than 117

3.2 Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác than 119

3.2.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của áp dụng công nghệ thông tin trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh 119

3.2.2 Tổ chức áp dụng công nghệ thông tin trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp khai thác than 121

3.2.3 Đề xuất phương pháp xây dựng phần mềm ứng dụng "Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khai thác than" 129

3.3 Xây dựng mô hình mẫu về nội dung và phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than 131

3.3.1 Danh mục các báo cáo phân tích 131

3.3.2 Nội dung cụ thể của một số báo cáo phân tích chủ yếu 132

Kết luận và kiến nghị 149

Danh mục công trình công bố của tác giả 150

Danh mục Tài liệu tham khảo 151

Trang 5

Danh mục các chữ viết tắt

CNVSXCN Công nhân viên sản xuất công nghiệp

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 So sánh phương pháp tổng mức và phương pháp trung bình Bảng 2 2 Một số số liệu TCT Than Việt nam giai đoạn 1995- 2004 Bảng 3.1 Các báo cáo phân tích

Bảng 3 2 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu trong 5 ữ 10 năm

Bảng 3 3 Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu năm phân tích

Bảng 3 4 Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ theo thời gian

Bảng 3 5 Phân tích tình hình sản xuất theo các đơn vị sản xuất

Bảng 3 6 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo mặt hàng

Bảng 3 7 Phân tích tình hình tiêu thụ theo khách hàng

Bảng 3 8 Phân tích giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định

Bảng 3 9 Phân tích giá trị sản xuất theo giá thực tế

Bảng 3 10 Phân tích khối lượng công tác chuẩn bị

Bảng 3 11 Khối lượng công tác chuẩn bị theo thời gian

Bảng 3 12 Cân đối giữa sản xuất và chuẩn bị sản xuất

Bảng 3 13 Phân tích chất lượng sản phẩm than nguyên khai

Bảng 3 14 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Bảng 3 20 Phân tích tổng quỹ lương, tiền lương bình quân và quan hệ

giữa tiền lương bình quân và năng suất lao động Bảng 3 21 Phân tích chung giá thành theo yếu tố chi phí

Bảng 3 22 Tiết kiệm tương đối giá thành theo yếu tố chi phí

Bảng 3 23 Kết cấu giá thành theo yếu tố

Trang 6

Hình 2.9 Biểu đồ tổng hợp NLSX theo các khâuquả sai) (trường hợp cho kết Hình 2.10 Mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu Hình 2.11 Vận dụng phương pháp phân tích ảnh hưởng của các nhân tố trên bảng tính MS Excel Hình 2.12 Mô hình giản đơn phân tích điểm hoà vốn

Hình 2.13 Sản lượng và giá tăng do cầu tăng

Hình 2.14 Sản lượng và giá tăng do cả cầu và cung tăng (cầu tăng nhanh hơn) Hình 2.15 Các loại tổn thất tài nguyên theo quá trình

Hình 2.16 Các nguyên nhân tổn thất tải nguyên

Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp

Hình 3.2 Sơ đồ các bước xây dựng chương trình máy tính phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Trang 7

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tính cấp thiết của đề tài luận án “Hoàn thiện phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác” xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế- xd hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, và chủ quan của các doanh nghiệp mỏ để thích ứng và phát triển trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xd hội chủ nghĩa

Có thể thấy những lý do chủ yếu sau đây đưa đến sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài:

a) Đối với các doanh nghiệp nói chung:

- Sự phát triển về khoa học quản lý đòi hỏi một mặt phải hoàn thiện các phương pháp phân tích kinh tế truyền thống, một mặt phát triển các phương pháp mới đáp ứng những đòi hỏi của giai đoạn phát triển hiện nay

- Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, cho phép lưu trữ, xử lý một khối lượng thông tin lớn và giải quyết các nhiệm vụ phân tích bằng các phương pháp trước đây khó có thể thực hiện với một yêu cầu cao về thời gian, chi phí và chiều sâu phân tích

- Xu thế hội nhập kinh tế thế giới đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quản lý nói chung và phân tích kinh tế nói riêng Công tác phân tích cũng phải hội nhập để có thể đáp ứng nhu cầu đó

- Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đa thành phần, xuất hiện những nội dung mới trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như các hoạt động tài chính như đầu tư tài chính, mua bán chứng khoán … Điều đó đòi hỏi phải bổ sung những nội dung phân tích mới so với những nội dung có tính truyền thống trước đây

- Sự đổi mới liên tục các hình thức và cơ chế quản lý doanh nghiệp trong những năm gần đây và hiện nay ở nước ta cũng đặt ra yêu cầu có những phương pháp phân tích phù hợp

Trang 8

- Tính chất đa dạng hoá sở hữu của các doanh nghiệp dẫn đến sự cần thiết phải thống nhất được các phương pháp phân tích kinh tế có thể được chấp nhận chung cho tất cả các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu đó

b) Đối với các doanh nghiệp công nghiệp mỏ nói riêng

- Những năm gần đây ghi nhận sự đổi mới nhanh chóng về công nghệ sản xuất trong các doanh nghiệp khai thác than Điều đó tất yếu ảnh hưởng đến kết quả

và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Nhiệm vụ của phân tích kinh tế là phải phản ánh được yếu tố công nghệ kỹ thuật trong các nội dung phân tích

- Xu hướng kinh doanh đa ngành đòi hỏi phải hoàn thiện phân tích kinh tế sao cho đáp ứng được nhu cầu lựa chọn chiến lược ngành nghề và sản phẩm của các doanh nghiệp ngành than trong khi thực hiện xu hướng đó

- Việc chuyển đổi mô hình quản lý doanh nghiệp, chẳng hạn như chuyển ngành than sang mô hình quản lý công ty mẹ- công ty con trong Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt nam, đd làm thay đổi nhiều vấn đề liên quan đến tính chất sở hữu, các mối quan hệ quản lý (Ví dụ quan hệ chủ mỏ- nhà thầu thay cho quan hệ cấp trên cấp dưới trong mô hình Tổng Công ty Than trước đây…) Điều đó cũng đòi hỏi phải hoàn thiện những quan điểm và phương pháp phân tích cho phù hợp…

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng một hệ thống phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp công nghiệp mỏ phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và các điều kiện đặc điểm riêng của ngành công nghiệp mỏ hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh xét từ tổng thể, trong đó đối tượng nghiên cứu trọng tâm là các phương pháp phân tích kinh tế

Phạm vi nghiên cứu của luận án là phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác than trong ngành công nghiệp mỏ ở Việt Nam

Trang 9

4 Nhiệm vụ cần giải quyết của luận án

Những nhiệm vụ chủ yếu mà luận án cần giải quyết bao gồm:

- Nghiên cứu tổng quan lý thuyết về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

từ các tài liệu lý thuyết, tài liệu giáo khoa của các tác giả trong và ngoài nước để khẳng định những vấn đề lý luận đd được nghiên cứu ở những mức độ nào và những vấn đề gì cần phải tiếp tục nghiên cứu

- Tìm hiểu thực tế công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp mỏ (ngành than) Việt nam để qua đó một mặt vừa thấy được những bất cập về phương pháp luận phân tích kinh tế, vừa thấy được thực trạng việc ứng dụng phân tích kinh tế trong quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp mỏ ngành than hiện nay

- Xây dựng một hệ thống phân loại các phương pháp phân tích kinh tế có căn

cứ khoa học làm cơ sở cho những người làm công tác phân tích kinh tế có thể có sự lựa chọn cho phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ phân tích

- Hoàn thiện những phương pháp phân tích hiện đang còn có thể hoàn thiện trên các khía cạnh bản chất nội dung, phương pháp ứng dụng, điều kiện và phạm vị ứng dụng, đổi mới cho phù hợp với những quan điểm kinh tế hiện nay

- Xây dựng một quy trình và nội dung phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp mỏ

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chung là dựa trên những luận điểm của duy vật biện chứng và kinh tế chính trị Mac- Lênin Phương pháp nghiên cứu cụ thể là kết hợp các phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, phân tích, mô hình hoá và ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, kết hợp nghiên cứu lý thuyết

và khảo sát thực tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mỏ (ngành than)

6 Điểm mới của luận án

Những điểm mới của luận án gồm:

- Đưa ra một khái niệm có tính khái quát hơn về phương pháp phân tích kinh

Trang 10

tế hoạt động kinh doanh, làm cơ sở cho việc phân loại các phương pháp phân tích theo nhiều tiêu thức

- Xây dựng được một sơ đồ hệ thống phân loại các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, làm cơ sở cho việc nghiên cứu ứng dụng các phương pháp vào những mục đích phù hợp

- Đề xuất những vấn đề cơ bản cho việc tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp công nghiệp mỏ

7 Luận điểm khoa học của luận án

Luận điểm 1: Phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh nói chung và đối với các doanh nghiệp công nghiệp mỏ nói riêng trong nền kinh tế thị trường cần phải được đổi mới trên cơ sở phương pháp luận biện chứng Macxit và phù hợp với những đặc điểm kinh doanh của nền kinh tế thị trường

Luận điểm 2: Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp phải phản ánh những đặc thù về công nghệ Đối các doanh nghiệp mỏ nói chung và doanh nghiệp khai thác than phải phân tích năng lực sản xuất như một

trong các yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh

Luận điểm 3: Mức độ chi tiết và phạm vi (về thời gian và không gian) của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp mỏ nói riêng phụ thuộc và gắn liền với trình độ công nghệ, trình độ quản lý nói chung và phát triển công nghệ thông tin nói riêng

8 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

ý nghĩa khoa học:

ý nghĩa khoa học của luận án là chuẩn hoá và đưa ra một hệ thống phân loại các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, hoàn thiện phương pháp luận phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp công nghiệp mỏ nói riêng

Trang 11

ý nghĩa thực tiễn:

Luận án có thể là một tài liệu tham khảo có giá trị đối với các doanh nghiệp công nghiệp mỏ trong quản trị kinh doanh và phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh Nó cũng có ý nghĩa như một tài liệu tham khảo trong nghiên cứu kinh tế và giảng dạy, học tập chuyên ngành kinh tế- quản trị doanh nghiệp mỏ trong các trường

đào tạo chuyên ngành này

9 Cấu trúc nội dung của luận án

Luận án ngoài phần mở đầu và kết luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp khai thác mỏ nói riêng

Chương 2: Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác mỏ

Chương 3: Tổ chức công tác phân tích và ứng dụng công nghệ thông tin vào phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác than

Trang 12

Chương 1 Tổng quan về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp

khai thác mỏ nói riêng 1.1 ý nghĩa và tầm quan trọng của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 ý nghĩa của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta đd đạt được những thành tựu to lớn, hướng tới thực hiện thành công những mục tiêu mà Đại hội ĐCS Việt Nam lần thứ

IX đd đề ra cho giai đoạn 2000- 2005, đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá

đất nước lên một bước phát triển mới, tiến tới hoà nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới

Những thành công của nền kinh tế nước ta trong những năm qua gắn liền với

sự phát triển tăng trưởng của toàn bộ hệ thống các ngành và các doanh nghiệp, trong

đó có các doanh nghiệp ngành than Trong 10 năm qua, kể từ khi thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (Nay là Tập đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam), sản lượng khai thác than hàng năm đd tăng lên gấp 3 lần, từ 9,3 tr.T than nguyên khai năm

1995 tăng lên 27,3 tr.T năm 2004; tổng doanh thu toàn ngành tăng lên gấp hơn 6 lần, từ 2.448 tỷ đ năm 1995 lên 15.215 tỷ đ vào năm 2004 Các doanh nghiệp trong ngành đd dần dần thích nghi với cơ chế thị trường và ngày càng sản xuất kinh doanh

có hiệu quả hơn, đứng vững và phát triển trong chiến lược phát triển chung của toàn ngành và nền kinh tế

Tuy nhiên, như thực tế đd chỉ ra, nền kinh tế nước ta mặc dù đd có sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao song vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Quá trình chuyển đổi đó gắn liền với những đổi mới trong mọi lĩnh vực quản lý kinh tế ở nước

ta và ở mọi cấp quản lý kinh tế trong xd hội, từ chính phủ đến các doanh nghiệp

Trang 13

Hơn thế nữa, quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, với việc Việt Nam tham gia AFTA và đang tích cực phấn đấu sớm gia nhập WTO, càng đặt ra những cơ hội và thách thức mới đối với nền kinh tế nước ta nói chung, các doanh nghiệp nước ta nói riêng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới phương pháp và trình độ quản lý để tồn tại và phát triển

Hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp ngày nay cần và mong muốn có sự đảm bảo ra các quyết định quản lý một cách đúng đắn nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất Một trong những công cụ quan trọng cần thiết cho các nhà quản trị doanh nghiệp chính là phân tích kinh tế Có thể nói rằng không có một quyết định nào của doanh nghiệp đưa ra mà không trải qua một quá trình phân tích kinh tế Đó cũng là việc thực hiện một trong số các chức năng của quản trị doanh nghiệp – chức năng kiểm soát

Khác với những năm trước đây, các doanh nghiệp ở nước ta ngày nay đd có những nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong hoạt động quản lý doanh nghiệp Điều đó xuất phát từ đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu của phân tích không chỉ có mong muốn là đủ, mà các doanh nghiệp còn cần phải được trang bị những phương pháp phân tích có căn cứ khoa học và phù hợp với những đặc

điểm sản xuất kinh doanh của mình Thực tế công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp nước ta nói chung và các doanh nghiệp công nghiệp

mỏ nói riêng cho thấy từ những vấn đề cơ sở lý luận đến áp dụng trong thực tiễn còn khá nhiều vấn đề cần hoàn thiện trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là nghiên cứu một cách có căn cứ khoa học tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó nhằm

đánh giá thực trạng quá trình sản xuất kinh doanh, rút ra những ưu khuyết điểm, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh vừa là một nội dung quan trọng, đồng thời là công cụ đắc lực trong quản lý kinh tế nói chung và quản lý kinh tế ở các

Trang 14

doanh nghiệp nói riêng Tầm quan trọng của công tác phân tích kinh tế từ lâu đd

được các nhà quản lý thừa nhận Trong tác phẩm “Bàn về kế hoạch kinh tế thống nhất” V.I Lênin viết: “Cần phải làm sao cho các nhà kinh tế nghiên cứu một cách tỷ

mỷ việc thực hiện kế hoạch của chúng ta, các thiếu sót của chúng ta và cách sửa chữa các thiếu sót đó Một nhà kinh tế lành nghề, thay cho các luận điểm trống rỗng

là phải nghiên cứu các sự kiện, các con số, tài liệu, phân tích chúng trên cơ sở kinh nghiệm bản thân, rồi chỉ ra: sai lầm ở đâu, và sửa chữa chúng như thế nào.” (V.I Lênin Toàn tập, NXB Tiến bộ- Moskva 1977, Tập 42, trang 133)

Tuy nhiên, trên thực tế quản lý kinh tế ở các nước XHCN trước đây, cũng như ở nước ta trong suốt thời kỳ dài của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp, công tác phân tích kinh tế đd không được đặt đúng vị trí của nó Bản thân cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp đd hạn chế rất nhiều ý nghĩa của công tác phân tích, khiến cho nó chỉ còn mang tính chất hình thức là chủ yếu Phân tích kinh tế không có ý nghĩa thiết thực đd khiến các nhà quản lý thấy không cần quan tâm đến

nó, và chỉ thực hiện một cách miễn cưỡng theo quy định của cấp trên Những mặt tiêu cực- hậu quả của cơ chế quản lý kinh tế cũ, cũng thể hiện sâu sắc trong quan

điểm và phương pháp phân tích kinh tế Phân tích kinh tế mang nặng mục đích xét trình độ hoàn thành các kế hoạch được giao, từ đó để xếp hạng thành tích, xét thi

đua Những kết luận rút ra nhiều khi mang tính chủ quan, giả tạo, thiếu tính trung thực, tính khách quan và tính khoa học

Với công cuộc đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, chuyển nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng sang chế độ hạch toán kinh doanh thực sự, thì cách nhìn nhận đối với công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cũng đd được đổi mới theo Người ta đd nhận thấy rằng phân tích kinh tế trước hết là cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, phục vụ cho lợi ích của chính họ Chính điều đó làm cho công tác này được tự giác quan tâm hơn, trở nên thiết thực, khách quan hơn

ý nghĩa của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp, suy

cho cùng, là ở chỗ nó giúp cho các doanh nghiệp đánh giá một cách chính xác thực trạng của sản xuất kinh doanh đang ở trình độ nào, chỉ ra những ưu nhược điểm, làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất về

Trang 15

kinh tế và xd hội của quá trình sản xuất kinh doanh

Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh vừa tồn tại như một nội dung độc lập trong quản lý sản xuất kinh doanh, vừa có liên hệ chặt chẽ với các mặt khác của hoạt

động quản lý Mọi quyết định trong quản lý kinh doanh, dù ở cấp nào và về lĩnh vực nào, cũng đều được đưa ra trên cơ sở phân tích bằng cách này hay cách khác và ở những mức độ khác nhau Do vậy, có thể nói rằng để quản lý doanh nghiệp giỏi, các nhà quản lý không thể không nắm vững công cụ phân tích kinh tế

Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh gắn liền chặt chẽ trước hết với công tác hạch toán kinh tế và kế hoạch hoá trong doanh nghiệp

Đối với hạch toán kinh tế, phân tích chính là công cụ giúp cho hạch toán đảm bảo được nguyên tắc cơ bản của nó là sản xuất kinh doanh có hiệu quả- lấy thu bù chi và có ldi Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, với những quan điểm đổi mới

và phương pháp thích hợp, có thể giúp cho hạch toán kinh tế hiện nay khắc phục

được những nhược điểm vốn có ở thời kỳ quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước kia như tính giả tạo, trùng lặp, thiếu khách quan, thiếu trung thực và đặc biệt là thiếu tự giác quan tâm đến hiệu quả kinh tế thực sự của sản xuất kinh doanh

Đối với công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp, tác dụng của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh thể hiện trên các mặt sau:

- Phân tích nhằm đánh giá bản thân kế hoạch theo những yêu cầu của tính khoa học đòi hỏi, như tính cân đối và toàn diện, tính tiên tiến, tính hiện thực

- Phân tích nhằm đánh giá quá trình và kết quả thực hiện kế hoạch, nhờ đó doanh nghiệp có cơ sở để điều tiết quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch đặt ra

- Phân tích cũng là một bước quan trọng trong quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong dài hạn của doanh nghiệp

Trong phạm vi rộng hơn, chẳng hạn như đối với các công ty hoặc ngành, phân tích kinh tế ngoài những ý nghĩa trên còn có tác dụng như một công cụ đánh giá so sánh các đơn vị về hoạt động kinh doanh và hiệu quả; nó còn có ý nghĩa khi

Trang 16

giúp các nhà quản lý ra các quyết định sắp xếp lại cơ cấu tổ chức sản xuất trong ngành và trong các doanh nghiệp

1.1.2 Nhiệm vụ của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Những nhiệm vụ chủ yếu của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp là:

- Nghiên cứu toàn diện các mặt của hoạt động kinh doanh theo các điều kiện sản xuất kinh doanh, tổng hợp lại để có thể đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang ở trình độ nào, tốt hay xấu và tại sao

- Đánh giá mức độ đạt các mục tiêu đd đề ra trong các kế hoạch (Tuỳ theo mục tiêu và kỳ phân tích mà đó là kế hoạch gì)

- Đánh giá trình độ tận dụng các nguồn tiềm năng của sản xuất kinh doanh mhư vốn, lao động, năng lực sản xuất Phát hiện những nguồn lực chưa được tận dụng và khả năng tận dụng chúng thông qua các biện pháp tổ chức - kỹ thuật

- Giúp cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

- Làm cơ sở cho việc thường xuyên điều tiết quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt các mục tiêu đd định và có hiệu quả cao

- Tích luỹ các tài liệu và kinh nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu kinh tế và

kế hoạch hoá ở doanh nghiệp

1.2 Tổng quan về lý thuyết phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Liên quan đến phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh từ góc độ lý thuyết có nhiều nội dung cần phải đề cập từ những cách tiếp cận khác nhau Trong phạm vi giới hạn của luận án chỉ tập trung vào một số nội dung chủ yếu bao gồm:

- Một số khái niệm cơ bản trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

- Một số phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

- Phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong mối liên hệ với

Trang 17

hình thức và mục tiêu phân tích

- Hệ thống thông tin phục vụ phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

- Những phương pháp tiếp cận nội dung của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp

Sau đây là tổng quan lý thuyết theo những vấn đề kể trên

1.2.1.1 Khái niệm phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Trước hết có thể nhận thấy rằng, ngay trong cách sử dụng thuật ngữ hiện nay cũng chưa thống nhất giữa các nhà kinh tế Những thuật ngữ cùng được dùng để chỉ khái niệm này là: “Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh”, “Phân tích kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh”, “Phân tích hoạt động kinh doanh” v.v Theo tác giả, xuất phát từ bản chất của khái niệm, và để phù hợp với những khái niệm được nêu trong Luật doanh nghiệp, chẳng hạn khái niệm về hoạt động kinh doanh mà trong đó đd bao hàm cả hoạt động sản xuất, cần thống nhất sử dụng thuật ngữ là:

“Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh”

Trên lý thuyết không có sự khác biệt lớn về cách hiểu đối với khái niệm về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận Chẳng hạn:

- Cách tiếp cận từ bản chất liên hệ của hoạt động kinh doanh: tác giả Bokii [38, tr.5] định nghĩa” Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh là nghiên cứu các hiện tượng và quá trình trong các mối liên hệ, sự phụ thuộc và sự phát triển của chúng”

- Cách tiếp cận từ mối quan hệ đối lập và thống nhất giữa khái niệm “Phân tích” và “Tổng hợp”, Tác giả Naumenko [39, tr5] cho rằng “Phân tích kinh tế hoạt

động kinh doanh, như một phương pháp nhận thức các bộ phận thành phần riêng biệt của sản xuất, chính là tổng thể những phương pháp và thủ thuật phát hiện các quy luật phân chia sản xuất ra các khâu và quá trình…”

- Cách tiếp cần cụ thể hoá, tức là đưa vào khái niệm cả sự giải thích về nội dung, phương pháp Ví dụ tác giả Phạm Thị Gái [13, tr5] hay Nguyễn Văn Công và Nguyễn Mai Đông [7, tr5] cho rằng “Phân tích kinh doanh là việc phân chia, phân giải các hiện tượng, quá trình và kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành

Trang 18

rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu”

- Cách tiếp cận từ nội dung của công tác phân tích Ví dụ tác giả Nguyễn Tấn Bình [3, tr 9] khi nói đến môn học Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cho rằng

“Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh (Operating activities analysis) là môn học nghiên cứu quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động cụ thể như: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.”

- Cách tiếp cận từ bản chất và mục tiêu của khái niệm Một trong các khái niệm được đưa ra theo cách tiếp cận này là của các tác giả Phạm Văn Dược và Đặng Thị Kim Cương [10, tr 6]: “Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu, để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần

được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp”

Đây là cách tiếp cận, theo tác giả, là phù hợp hơn cả Nó vừa đảm bảo truyền

đạt được thông tin cơ bản, vừa không sa vào sự giải thích các tính chất của bản chất

sự vật

1.2.1.2 Khái niệm và phân loại các phương pháp phân tích kinh tế

a) Khái niệm về phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Theo các hiểu thông thường vẫn được chấp nhận phổ biến rộng rdi hiện nay thì phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh có thể được hiểu là cách thức thực hiện công việc phân tích Tuy nhiên nghiên cứu các tài liệu lý luận về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cho thấy có một số vấn đề cần lưu ý và làm

rõ sau đây:

- Nhiều tác giả không đề cập đến việc đưa ra khái niệm, mà mặc nhiên liệt kê

và giải thích các phương pháp phân tích, mà chủ yếu là đi trực tiếp vào các phương pháp có tính nghiệp vụ trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh; ví dụ trong các tài liệu [8], [12], [13] v.v Điều này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương pháp thích hợp cho việc phân tích

Trang 19

- Chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa phương pháp phân tích và các hình thức

tổ chức phân tích

- Còn tồn tại những phương pháp phân loại khác nhau về các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, hoặc chưa được phân loại Các phân loại hiện có thường chỉ tập trung vào các phương pháp trong nhóm các phương pháp thống kê Do vậy tác giả cho rằng cần thiết phải xây dựng một cách phân loại các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

- Có một số tác giả còn chi tiết hoá cả các phương pháp phân tích kinh tế hoạt

động kinh doanh thành “Phương pháp” và “Thủ thuật” phân tích, ví dụ như trong cuốn “Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mỏ” của tác giả Naumenco K.D [39, tr31]

b) Phân loại các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Trong các tài liệu lý thuyết về phân tích hoạt động kinh doanh có những cách phân loại các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh khác nhau Cách phân loại phổ biến là từ phương pháp luận chung đi đến các phương pháp có tính nghiệp vụ trong phân tích

Phương pháp luận chung của phân tích hoạt động kinh doanh là dựa trên những luận điểm cơ bản của triết học duy vật biện chứng và kinh tế chính trị Mac- Lênin

Trên cơ sở phương pháp luận chung, công tác phân tích kinh tế được thực hiện thông qua các phương pháp cụ thể có tính nghiệp vụ Người ta thường phân loại các phương pháp đó thành các nhóm sau:

Nhóm thứ nhất gồm các phương pháp thống kê Chúng có đặc điểm chung

là dựa trên sự phân tích các số liệu thống kê để đánh giá về mặt số lượng Một số phương pháp thống kê cũng dùng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, song chỉ dừng lại ở việc đánh giá về mặt số lượng, với một mức độ giả định về điều kiện nhất định, chưa đề cập bản chất của các mối liên hệ giữa các nhân tố với chỉ tiêu phân tích

Một số phương pháp thường được dùng thuộc nhóm này là:

Trang 20

tế đạt được với khả năng có thể đạt được

Kết quả của phép so sánh là xác định được mức chênh lệch (bằng số tương

đối hoặc tuyệt đối) giữa các chỉ tiêu đem so sánh

Để thực hiện phép so sánh cần đảm bảo các điều kiện so sánh được giữa các chỉ tiêu, đó là:

- Thống nhất về nội dung kinh tế Điều này rất cần được lưu ý có những sự thay đổi

về quan điểm kinh tế, những quy định về tên gọi và nội dung của các chỉ tiêu v.v Khi đó để so sánh cần tính lại chỉ tiêu theo quan điểm hoặc quy định mới

- Thống nhất về phương pháp tính chỉ tiêu Điều này xuất phát từ chỗ có những chỉ tiêu có thể được tính từ những phương pháp khác nhau và vì vậy cho những kết quả không giống nhau

- Thống nhất về đơn vị tính, thời gian và quy mô so sánh

Phép so sánh có thể là so sánh đơn giản hoặc so sánh có điều chỉnh, tức là có liên hệ đến một chỉ tiêu thứ ba Đây chính là sự quy đổi về cùng một điều kiện để

đảm bảo tính so sánh được của chỉ tiêu

b) Chi tiết hoá

Chi tiết hoá là nghiên cứu hiện tượng theo những thành phần chi tiết của chúng Việc chi tiết hoá có thể thực hiện theo không gian hoặc thời gian, ví dụ:

ư Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu Cách này thường được dùng trong phân tích sâu nhằm đánh giá cơ cấu hoặc ảnh hưởng của các thành phần cơ cấu đến chỉ tiêu chung

ư Chi tiết hoá theo các đơn vị sản xuất, như các phân xưởng, tổ sản xuất,

Trang 21

các khâu của dây chuyền công nghệ với mục đích đánh giá đóng góp của các đơn vị đó trong chỉ tiêu kết quả chung, xác định các đơn vị tiên tiến hoặc yếu kém, tính hợp lý và đồng bộ của cơ cấu tổ chức sản xuất

ư Chi tiết theo thời gian, nhằm theo dõi sự hình thành và biến động của chỉ tiêu phân tích, đánh giá tính nhịp nhàng của quá trình sản xuất kinh

doanh

c) Gộp nhóm

Gộp nhóm là phương pháp chọn từ tổng thể ra một số nhóm hoặc bộ phận trên cơ sở một dấu hiệu chung nào đó theo các khoảng phân chia của dấu hiệu đó Chẳng hạn có thể sử dụng phương pháp này khi phân tích trình độ hoàn thành mức lao động, phân tích mối liên hệ giữa năng suất lao động và trình độ nghề nghiệp của công nhân Các khoảng sẽ cho thấy sự phân bố của chỉ tiêu theo dấu hiệu được nghiên

Các loại biểu đồ và đồ thị thường dùng trong phân tích gồm có:

+ Biểu đồ phân tích sự biến động của chỉ tiêu theo thời gian: cho thấy sự phát triển của chỉ tiêu phân tích trong giai đoạn nhất định, đồng thời cũng có thể giúp cho việc dự đoán chỉ tiêu trong tương lai (dự đoán xu thế)

+ Biểu đồ hình khối: biểu hiện các chỉ tiêu phân tích bằng các hình khối Trên biểu đồ các khối được thể hiện theo một tỷ lệ nhất định để đảm bảo tính so sánh được Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ thấy, dễ nhận biết Tuy nhiên tính

định lượng của biểu đồ không cao

+ Biểu đồ phân tích kết cấu: được sử dụng để thể hiện tỷ lệ các bộ phận cấu thành một tổng thể nào đó, chẳng hạn kết cấu tài sản, kết cấu lao động hoặc kết cấu giá thành sản phẩm Diện tích các phần trên biểu đồ được thể hiện theo một tỷ lệ và phản ánh phần kết cấu nhất định nào đó của chỉ tiêu

Trang 22

f) Phương pháp hệ số kết cấu

Phương pháp này dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu nhân

tố đến chỉ tiêu phân tích trong trường hợp các nhân tố tạo nên chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhau dưới dạng tích số và bậc 1

- Tính toán được thực hiện theo các bước sau:

đối tượng phân tích)

Nếu tính toán đúng thì tổng đại số các ảnh hưởng tính được sẽ bằng đối tượng phân tích

g) Phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch

Phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch được dùng để xác định mức

độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích

Khi áp dụng phép thay thế liên hoàn người ta đặt đối tượng phân tích vào những điều kiện giả định khác nhau Các nhân tố trong biểu thức kinh tế được lần lượt thay thế từ số kỳ gốc sang số thực tế, qua mỗi lần thay thế lại tính lại chỉ tiêu phân tích Hiệu số giữa kết quả ở lần tính lại đó với lần trước (Nếu là lần thay thế thứ nhất thì đó là số gốc của chỉ tiêu) sẽ cho ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế

Nếu tính toán đúng thì tổng ảnh hưởng của các nhân tố tính được sẽ đúng bằng số biến động của chỉ tiêu phân tích

Khi sử dụng phép thay thế liên hoàn cần lưu ý một số điểm sau:

- Các nhân tố được sắp xếp trong biểu thức kinh tế tính chỉ tiêu không phải là tuỳ tiện, mà được quy ước sắp xếp thứ tự trước sau theo mức độ quan trọng (xét về

Trang 23

bản chất) của mỗi nhân tố với chỉ tiêu phân tích, mối quan hệ lẫn nhau giữa các nhân tố, ngoài ra các trị số tuyệt đối đặt trước trị số tương đối, nhân tố số lượng đặt trước nhân tố chất lượng

- Phương pháp này chỉ áp dụng trong trường hợp quan hệ giữa các nhân tố trong biểu thức là dạng tích hoặc thương số, và quan hệ với chỉ tiêu là bậc 1

- Khi thay thế lần sau phải giữ nguyên các thay thế lần trước để đảm bảo tính liên hoàn

Kết quả của phép thay thế liên hoàn cho thấy hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, song có nhược điểm là tính tương đối và tính giả định cao Nếu đảo lại vị trí của các nhân tố trong biểu thức, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tính được sẽ khác đi về giá trị tuyệt đối (mặc dù về hướng tác động

là không đổi) và tổng ảnh hưởng là vẫn như trước Do vậy, kết quả tính toán chỉ có thể được coi như một tài liệu tham khảo

Phương pháp số chênh lệch thực chất là dạng đơn giản hoá của phương pháp thay thế liên hoàn Thay cho cả 3 bước tính liên hoàn người ta chỉ cần lấy ngay số chênh lệch của nhân tố cần xác định ảnh hưởng thay vào biểu thức

Nhóm thứ hai: gồm các phương pháp toán kinh tế ứng dụng trong nghiên cứu và phân tích kinh tế Các phương pháp này ngày càng được áp dụng rộng rdi và cho phép trong nhiều trường hợp giải quyết được những vấn đề phức tạp mà các phương pháp khác không giải quyết được Đặc biệt ngày nay với sự phát triển của ngành tin học và những thiết bị tính toán hiện đại, thì hiệu quả của sử dụng toán học trong phân tích kinh tế càng lớn hơn và thiết thực hơn

Một số ứng dụng trong phân tích kinh tế của các phương pháp này là:

a) Phân tích tương quan: là phương pháp xác định mối liên hệ giữa các nhân

tố và chỉ tiêu phân tích Cơ sở của nó là lý thuyết xác suất thống kê và các số liệu thực tế thu thập được Kết quả của phân tích tương quan sẽ cho một mô hình dưới dạng công thức thực nghiệm, biểu diễn mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với một nhân tố nào đó (tương quan cặp) hoặc là một số nhân tố (tương quan bội)

Đặc điểm của phương pháp phân tích tương quan là chỉ ra được mối liên hệ

Trang 24

giữa các nhân tố với chỉ tiêu phân tích, song không có tác dụng phát hiện những mâu thuẫn bên trong và những tiềm năng dự trữ của chỉ tiêu phân tích Tuy nhiên, nếu biết kết hợp với các phương pháp khác, với sự hiểu biết về bản chất kinh tế của hiện tượng, thì có thể rút ra những kết luận có giá trị khách quan, phương hướng giải quyết vấn đề đúng đắn

b) Phương pháp quy hoạch tuyến tính: thường được sử dụng trong công tác

kế hoạch hoá và phân tích nhằm tìm ra các giải pháp tối ưu trong điều kiện có một

hệ thống các ràng buộc của điều kiện sản xuất kinh doanh Các hàm mục tiêu thường gặp ở đây như làm cực tiểu chi phí sản xuất (giá thành) hoặc một bộ phận của nó, cực đại hoá lợi nhuận, cực đại hoá doanh thu v.v Còn các ràng buộc thường gặp là thể hiện các giới hạn về tiềm năng mà doanh nghiệp có, các điều kiện phải tuân theo về mặt kỹ thuật và công nghệ, các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với bên ngoài, chẳng hạn với các thị trường đầu vào và đầu ra

Phương pháp này có thể dùng để kiểm tra phân tích mức độ hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp hoặc phân tích hiệu quả đầu tư

c) Phương pháp sơ đồ mạng: được dùng phổ biến nhất là trong phân tích phát hiện các dự trữ (về thời gian, hao phí lao động v.v ) trong tổ chức các quá trình sản xuất như thi công xây dựng, lắp ráp nhằm đảm bảo mục tiêu đúng thời gian và tiết kiệm nhất

Nhóm thứ ba: Phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật

Đặc điểm của phương pháp này là không chỉ dựa trên các số liệu thống kê,

mà còn đi sâu phân tích các khâu, các quá trình trong dây chuyền công nghệ sản xuất, các mối liên hệ giữa chúng, nhằm xác định năng lực sản xuất của dây chuyền, tính cân đối, đồng bộ, các tiềm năng còn ẩn náu và khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của chúng

Đây là phương pháp rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập tính cân đối nhịp nhàng của sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh

Trên đây trình bày một số phương pháp phân tích kinh tế có tính chất “truyền

Trang 25

thống” theo những phân loại phổ biến và được áp dụng phổ biến hiện nay Với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay, các phương pháp đó vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và càng có ý nghĩa thiết thực hơn nữa Ngoài ra, các nhà kinh tế còn

đưa vào áp dụng các phương pháp mới phù hợp với những thay đổi trong cơ chế và phương pháp quản lý kinh tế Một số ví dụ có thể nêu như các phương pháp dùng trong phân tích chiến lược kinh doanh, phân tích cung cầu thị trường, phương pháp tâm sinh lý, phương pháp phân tích tổng mức, phân tích biên (trên hạn mức) v.v

Qua xem xét phân loại các phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh như trên có thể nhận thấy nhược điểm của các cách phân loại hiện nay là:

- Các phương pháp được nêu là chưa đầy dủ, đặc biệt là chưa phản ánh được các phương pháp mới được đưa vào áp dụng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường

- Các phân loại hiện có chưa gắn với một tiêu thức nhất định hoặc chưa được phân loại theo những tiêu thức khác nhau nhằm có thể tạo điều kiện thuận lợi và chính xác cho người phân tích khi lựa chọn cho mình một phương pháp thích hợp trong điều kiện của một mục tiêu phân tích đd định

Từ đó, trong nội dung chương sau, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu để đưa ra một hệ thống phân loại các phương pháp phân tích

1.2.2 Những cách tiếp cận về nội dung của phân tích kinh tế hoạt

động kinh doanh trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Những cách tiếp cận về nội dung phân tích

Nội dung và trình tự nội dung trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh hiện nay được tiếp cận theo những cách khác nhau Những cách tiếp cận chủ yếu là:

a) Xác định nội dung và trình tự phân tích theo các vấn đề hay các mặt của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đây là cách tiếp cận phổ biến trong đa số các tài liệu lý thuyết Nó đơn giản,

dễ hiểu và dễ thực hiện do phù hợp với trình tự các nội dung, các mặt của hoạt động kinh doanh Ví dụ với cách tiếp cận này, người ta đi từ phân tích chung rồi phân tích các nội dung cụ thể như tình hình sản xuất sản phẩm, chuẩn bị sản xuất, tình hình và

Trang 26

hiệu quả sử dụng TSCĐ, năng lực sản xuất, tình hình sử dụng lao động và tiền lương, chi phí sản xuất và giá thành, tiêu thụ và lợi nhuận, cuối cùng là phân tích tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh Cũng thấy rằng ngay ở đây, tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi người làm phân tích, mà trình tự của các vấn đề nội dung cũng có sự khác nhau, mặc dù không nhiều Ví dụ có tác giả luôn phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ đi đôi với nhau, song nhiều người khác lại gắn quá trình tiêu thụ với lợi nhuận để phân tích…

b) Xác định nội dung phân tích theo kết quả và nhân tố ảnh hưởng

Cách tiếp cận này thường được được sử dụng trong các trường hợp phân tích chuyên đề, chẳng hạn về một chỉ tiêu kinh tế nào đó và các nhân tố ảnh hưởng đến

nó Tác dụng đáng kể của cách phân tích này được phát huy khi mục tiêu phân tích tập trung vào một chỉ tiêu, một vấn đề sâu, hoặc khi mục tiêu là cần phát hiện các tiềm năng để cải thiện một mặt, một chỉ tiêu nào đó của sản xuất kinh doanh

c) Xác định nội dung phân tích theo kết quả và các nguồn lực huy động để

có được kết quả đó

Với cách tiếp cận này, toàn bộ nội dung phân tích kinh tế được tách thành 2 phần: trước tiên người ta phân tích các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh như sản lượng, doanh thu, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận v.v… để khẳng định trình độ đạt được của sản xuất kinh doanh; sau đó là quá trình phân tích từng nhóm nguồn lực đd được huy động và tiêu hao để có đựoc các kết quả

đó Thường người ta đưa ra các nhóm nguồn lực như: lao động, vốn, công nghệ kỹ thuật… Phân tích như vậy sẽ tập trung hơn theo hướng so sánh lợi ích- chi phí trong khi lại giảm nhẹ sự quan tâm đến tính “quá trình” trong sự hình thành các chỉ tiêu

d) Có nhiều tác giả chỉ nhấn mạnh vào khía cạnh “Kinh doanh” trong hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đồng nhất luôn 2 khái niệm “Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh” và “Phân tích kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh” Tác giả Nguyễn Tấn Bình [3] cho rằng phân tích kinh tế hoạt động của doanh nghiệp bao gồm phân tích kinh doanh, phân tích báo cáo tài chính và phân tích kinh tế các dự án, từ đó xác định nội dung cuốn sách

Trang 27

Tác giả luận án cho rằng có thể chấp nhận nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với nội dung của phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, tuỳ thuộc vào mục tiêu quan tâm của doanh nghiệp làm phân tích Vấn đề cần thiết là ở chỗ khi tiếp cận từ một góc độ nào đó thì phải đảm bảo tính hệ thống nhất quán của nội dung phân tích Chẳng hạn có thể đặt ra 3 nội dung phân tích kinh tế là phân tích chiến lược, phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh hàng năm và phân tích quản trị, đó là những nội dung phân tích nằm trong cách tiếp cận từ tính chất dài hạn, ngắn hạn trong các nội dung và mục tiêu phân tích Tương tự như vậy, nếu là phân tích các nhân tố ảnh hưởng thì nội dung phải xuất phát từ chính việc xác định danh mục các nhân tố được lựa chọn làm đối tượng phân tích

1.2.2.2 Phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong mối liên hệ với loại hình và mục tiêu phân tích

Phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh luôn luôn được lựa chọn trong mối liên hệ thống nhất với mục tiêu, loại hình, quy mô đối tượng phân tích, nội dung trình tự cũng như các chỉ tiêu phân tích Đó là điều kiện đảm bảo cho các phương pháp sẽ phát huy cao nhất tác dụng của chúng

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa phương pháp phân tích và

mục tiêu, nhiệm vụ phân tích

Trang 28

Mối quan hệ giữa phương pháp phân tích với mục tiêu phân tích, các loại hình phân tích, quy mô đối tượng, nội dung, trình tự và chỉ tiêu phân tích có thể

được thể hiện trong các sơ đồ (Hình 1.1 và 1 2)

Như vậy, mục tiêu phân tích được đặt ra sẽ quyết định việc lựa chọn các loại hình phân tích, quy mô đối tượng, nội dung, trình tự và chỉ tiêu phân tích, và từ đó chính là quyết định việc lựa chọn phương pháp phân tích Việc lựa chọn mục tiêu nhiệm vụ phân tích một cách rõ ràng, chính xác là điều kiện đảm bảo cho tính hiệu quả thiết thực của phân tích

1.2.3 Một số phương pháp phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh cần thiết nghiên cứu sâu thêm

Do phạm vi có hạn, ở đây chỉ đề cập một số phương pháp phân tích kinh tế được cho là cần thiết đi sâu do còn có những vấn đề có thể hoàn thiện

1.2.3.1 Phương pháp so sánh

Phân tích toàn diện

Phân tích chuyên đề

Phân tích chiến lược

Phân tích HĐSXKD hàng

kỳ (năm, quý, tháng)

Phân tích thường xuyên (Phân tích quản trị)

Phân tích

bộ phận

DN

Các loại hình phân tích

Trang 29

Mặc dù được coi là một phương pháp “vạn năng” nhất và đơn giản trong ứng dụng, song các tác giả đôi khi chưa chú trọng một số vấn đề sau:

a) Cơ sở so sánh:

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, do quá nhấn mạnh vai trò của

kế hoạch (được hiểu theo nghĩa truyền thống) nên cơ sở so sánh chủ yếu khi phân tích thường là kế hoạch Những tiêu đề thường gặp trong các nội dung phân tích là

“Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch…” Trong khi đó, phương pháp so sánh cần

được mở rộng sang rất nhiều căn cứ so sánh khác như so sánh với kỳ gốc, với chỉ tiêu mức kinh tế kỹ thuật, với trị số điển hình (có thể là mức trung bình xd hội, trung bình ngành, trị số tiên tiến hoặc lạc hậu…), với mục tiêu chiến lược, so sánh theo ddy số thời gian Mỗi cơ sở so sánh khác nhau như vậy đều có tác dụng riêng cần phát huy

b) Điều kiện so sánh

Các tác giả thường nhấn mạnh các điều kiện so sánh được khi sử dụng phương pháp so sánh Đó là đảm bảo tính thống nhất về nội dung, tên gọi chỉ tiêu, phương pháp tính, quy mô và thời gian so sánh Tuy nhiên cần làm rõ thêm là tính thống nhất đó không cứng nhắc mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh và mục tiêu so sánh Ví dụ nếu so sánh doanh thu của từng tháng với doanh thu cả năm với mục

đích xem xét cơ cấu và sự hình thành chỉ tiêu doanh thu cả năm thì vẫn có ý nghĩa, mặc dù không cùng quy mô thời gian so sánh So sánh chỉ số tăng năng suất lao

động tính bằng hiện vật và bằng giá trị vẫn có ý nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều biến động về giá bán, mặc dù nếu xét máy móc sẽ cho rằng ở đây không đảm bảo điều kiện so sánh được

c) Cách thức so sánh

Trong các tài liệu lý thuyết, các tác giả cũng đd thường chỉ ra rằng so sánh không chỉ có việc đối chiếu đơn giản 2 con số, mà còn có thể là phương pháp so sánh có liên hệ đến một chỉ tiêu thứ 3, so sánh cả bằng chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối

và chênh lệch tương đối Tuy nhiên cần đi sâu hơn ở khía cạnh so sánh liên hệ như thế nào, chọn chỉ tiêu thứ 3 nào để liên hệ Ví dụ, khi so sánh tổng quỹ lương và đưa

Trang 30

ra kết luận có tiết kiệm tương đối quỹ lương hay không sẽ phải lựa chọn chỉ tiêu thứ

ba để liên hệ là sản lượng sản xuất, sản lượng tiêu thụ, số lượng lao động hay doanh thu? Cách so sánh chỉ ra số lao động tiết kiệm tương đối, ngoài sản lượng (hoặc doanh thu), còn phải liên hệ đến cả số lượng lao động biến đổi và quy ước cố định của kỳ gốc so sánh Có thể xem xét một trường hợp ví dụ sau: một doanh nghiệp có

số lượng công nhân sản xuất năm trước là 1500 và năm sau là 1550 người, với sản lượng đd tăng 20% theo cách so sánh có liên hệ thông thường sẽ tính được số lao

động tiết kiệm tương đối là 250 người (= 1550 – 1500 1,20), một thành tích rất

đáng kể Tuy nhiên nếu tính thêm rằng số công nhân quy ước cố định của năm trước

là 500 thì con số tiết kiệm tương đối sẽ là 150 người (= 1550 – (1000 1,2 + 500))

Rõ ràng phép so sánh sau cho kết quả là đúng hơn do đd tính đến cả nhân tố cố định

và biến đổi trong phân tích

1.2.3.2 Phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng

Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ngày càng đòi hỏi phải đánh giá được

ảnh hưởng của chỉ tiêu nhân tố đến một chỉ tiêu kết quả nào đó Đây là cơ sở đưa ra những giải pháp đúng đắn, hữu hiệu cải thiện hoạt động kinh doanh

Trong mục này, tác giả chỉ đề cập phương pháp phân tích nhân tố ảnh hưởng

đang được áp dụng rộng rdi và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề khi tiến hành tổng quan Phương pháp sẽ được đề cập lại và mở rộng, đi sâu, hệ thống hoá thêm ở chương 2 và 3 của luận án

Để đánh giá ảnh hưởng trước hết cần làm rõ khái niệm về chỉ tiêu nhân tố, chỉ tiêu kết quả và hệ thống hóa những thuật toán phục vụ cho việc đánh giá

Chỉ tiêu nhân tố là chỉ tiêu kinh tế hoặc kỹ thuật công nghệ… đặc trưng cho nhân tố nào đó mà sự biến động của nó ảnh hưởng đến sự biến động của một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, công nghệ khác

Chỉ tiêu kết quả là chỉ tiêu kinh tế hoặc kỹ thuật công nghệ… khác chịu sự biến động khi các chỉ tiêu nhân tố trên biến động

Một số vấn đề cần chú ý ở đây là:

- Chỉ tiêu nhân tố và chỉ tiêu kết quả phải có mối liên hệ hàm số với nhau

Trang 31

trong một biểu thức kinh tế nhất định, trong đó chỉ tiêu nhân tố đóng vai trò biến số

độc lập, còn chỉ tiêu kết quả đóng vai trò biến số phụ thuộc Vì vậy khi viết liên hệ hàm số chỉ tiêu kết quả được viết ở bên trái của dấu bằng (=) còn các chỉ tiêu nhân

tố được viết ở bên phải dấu bằng Ví dụ ta có liên hệ hàm số:

Trong đó:

S - Sản lượng của doanh nghiệp, đóng vai trò chỉ tiêu kết quả

N - Số lượng công nhân viên trong doanh nghiệp

W - Năng suất lao động bình quân một CNV, sp/người

N và W đều đóng vai trò của chỉ tiêu nhân tố

- Trong một liên hệ các chỉ tiêu kinh tế có dạng hàm số, vai trò chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu nhân tố có thể đổi chỗ cho nhau

Trong ví dụ trên, nếu viết:

N

S =

Thì bây giờ chỉ tiêu năng suất lao động bình quân một CNV(W) đóng vai trò của chỉ tiêu kết quả, còn chỉ tiêu sản lượng (S) và chỉ tiêu số CNV (N) đóng vai trò chỉ tiêu nhân tố

- Sự đổi chỗ của chỉ tiêu kết quả với chỉ tiêu nhân tố không được phép áp dụng khi liên hệ giữa chúng là liên hệ tương quan, tức là liên hệ được rút ra từ thống

kê cho dù liên hệ đó chặt chẽ đến đâu Nhờ phương pháp phân tích tương quan, người ta đd từng rút ra kết luận năng suất lao động của công nhân là chỉ tiêu kết quả của các chỉ tiêu nhân tố như: góc dốc vỉa, chiều dày lớp khai thác, trình độ cơ giới hóa v.v… Nhưng nếu rút ra kết luận: góc dốc vỉa, chiều dày lớp khai thác v.v… là chỉ tiêu kết quả của chỉ tiêu nhân tố năng suất lao động thì sẽ là sai lầm

- Không nên coi một chỉ tiêu là chỉ tiêu kết quả của một số chỉ tiêu nhân tố nếu quan hệ hàm số của chúng trên thực tế không được sử dụng trong thống kê hoặc tính toán kế hoạch Ví dụ hàm số:

Trang 32

Q = 12 x L ì N (1.3)

Trong đó:

Q - Tổng quỹ tiền lương năm của doanh nghiệp, đ

L - Tiền lương bình quân tháng của một CNV, đ/người.tháng

N - Tổng số nhân viên bình quân năm, người

Rõ ràng quan hệ (1-3) là một hàm số chặt chẽ, song kể từ khi có sự đổi mới tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước theo nghị định 28/CP ngày

28 tháng 3 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ, thì việc phân tích chỉ tiêu nhân tố

đến chỉ tiêu kết quả dựa vào hàm số trên không đưa đến kết luận nào có ý nghĩa thiết thực, bởi vì theo Nghị định đó, biểu thức kinh tế phải xét đến sẽ có dạng khác

Đánh giá ảnh hưởng của chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu kết quả thực chất là xác lập mối liên hệ lượng biến thiên tuyệt đối (hoặc tương đối) của chỉ tiêu kết quả với lượng biến thiên tuyệt đối (hoặc tương đối) của các chỉ tiêu nhân tố căn cứ vào mối quan hệ chỉ tiêu đd biết thỏa mdn các điều kiện nêu trên Theo thuật toán sử dụng phổ biến hiện nay trong các tài liệu lý thuyết và cũng được áp dụng phổ biến trên thực tế, có thể nêu ra 4 phương pháp cơ bản sau: phương pháp hệ số kết cấu, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch tuyệt đối và phương pháp liên

hệ chỉ số

Dưới đây là công thức, đặc điểm và điều kiện áp dụng của từng phương pháp:

Để tiện theo dõi ở đây thống nhất những ký hiệu sau:

- K0, K1 là chỉ tiêu kết quả kỳ gốc, kỳ phân tích

- a0, b0, c0, a1, b1, c1 là chỉ tiêu nhân tố a, b, c tương ứng ở các kỳ gốc và kỳ phân tích

- ΔK = K1 - K0 biến thiên (chênh lệch) tuyệt đối của chỉ tiêu kết quả kỳ phân tích so với kỳ gốc

K

K

0

ì Δ

, biến thiên (chênh lệch) tương đối của chỉ tiêu kết quả kỳ

phân tích so với kỳ gốc

Trang 33

- ΔKa, ΔKb, ΔKc biến thiên (chênh lệch) tuyệt đối của chỉ tiêu kết quả kỳ phân tích so với kỳ gốc do ảnh hưởng biến thiên riêng của các nhân tố a, b, c

Mọi phương pháp phân tích phải bảo đảm quan hệ : ΔK = ΔKa + ΔKb + ΔKc

K

KΔKδ

; 100K

KΔKδ

; 100K

KΔ K

δ

0

c c

0

b

c

c c

; 100 b

b

; 100 a

a

0 0

b 0

lệch) tương đối của các chỉ tiêu nhân tố a, b, c kỳ phân tích so với kỳ gốc

Phương pháp hệ số kết cấu: với liên hệ chỉ tiêu kinh tế dạng bất kỳ K = f(a, b, c)

c δ b δ δ

K Δ a δ Δ

+ +

=

a

c δ b δ δ

K Δ b δ Δ

+ +

=

a

c δ b δ δ

K Δ c δ Δ

+ +

=

a

Phương pháp hệ số kết cấu có đặc điểm là có thể áp dụng với mọi dạng liên

hệ chỉ tiêu, nhưng thường cho kết quả sai lệch nhiều so với các phương pháp còn lại

Phương pháp thay thế liên hoàn:

Với liên hệ chỉ tiêu kinh tế dạng tích K = a b c

Trang 34

hệ chỉ tiêu mặc dù tổng ảnh hưởng của chúng vẫn giữ nguyên Nhìn chung phương pháp thay thế liên hoàn dễ thực hiện, hàm liên hệ các chỉ tiêu khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh Nhược điểm cơ bản của phương pháp này, cũng như các phương pháp trình bày tiếp theo trong mục này, là tính không chính xác tuyệt đối do xuất phát từ các giả định cố định các nhân tố còn lại khi cho một nhân tố thay đổi, bởi vì trên thực tế điều đó hầu như không xảy ra Nó cũng không cho phép người làm phân tích đưa ra một suy luận ngược lại là nếu muốn chỉ tiêu kết quả đạt một trị

số nào đó thì chỉ tiêu nhân tố phải là bao nhiêu…

Phương pháp số chênh lệch nhân tố: với liên hệ chỉ tiêu dạng tích K = a b c

ΔKa = Δa b0.c0 (1.10)

ΔKb = a1Δb c0 (1.11)

Các công thức (1.10, 1.11, 1.12) được suy ra trực tiếp từ công thức tương ứng (1.7, 1.8, 1.9), nên với liên hệ chỉ tiêu dạng tích có thể coi phương pháp số chênh lệch nhân tố là biến thể của phương pháp thay thế liên hoàn, đồng thời nó cũng mang những đặc điểm và điều kiện áp dụng của phương pháp thay thế liên hoàn

Với liên hệ chỉ tiêu dạng thương, ví dụ K =

d

c b

Trang 35

0 1 1 0

1 0 0 1

dd

d -dd

1 -d

1 )d

1( ΔK

a a

a Δ K

a K

a Δ δ

0 0 0 0 0 0

b b

b Δ K

b K

b Δ δ

0 0 0 0 0 0

c c

c Δ K

c K

c Δ δ

0 0 0 0 0 0

Víi liªn hÖ chØ tiªu d¹ng tæng kÌm theo hÖ sè vµ h»ng sè:

Trang 36

(bδ

c K

c

0 0 0

2

1 )(c

Liên hệ chỉ tiêu dạng tổng có kèm theo hệ số và hằng số do khác với liên hệ chỉ tiêu dạng tổng không kèm hệ số sẽ cho đánh giá ảnh hưởng tuyệt đối cũng như tương đối khác ở chỗ phải xét đến các hệ số trong các công thức (từ 1.23 đến 1.28) Hằng số độc lập không cần xét Liên hệ dạng tổng kèm theo hệ số thường được sử dụng khi mô tả những liên hệ chỉ tiêu được rút ra từ kết quả phân tích tương quan Tính chính xác của đánh giá ảnh hưởng của chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu kết quả

đương nhiên còn phụ thuộc của kết quả phân tích tương quan

Phương pháp liên hệ chỉ số:

Với liên hệ chỉ tiêu K =

d

c b.

d(1 / )100

c(1)100

b(1)100

a(1)100

K1

++

++

=

Hay:

% 1].100-

)100

d)/(1100

c(1)100

b(1)100

a

Trang 37

Phương pháp liên hệ chỉ số chỉ được áp dụng khi liên hệ các chỉ tiêu kinh tế

được phân tích có dạng tích hoặc thương, đồng thời nó cũng chỉ xác lập quan hệ giữa biến thiên tương đối chỉ tiêu kết quả với biến thiên tương đối của các chỉ tiêu nhân tố

Từ những lập luận trên cho thấy:

* Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của các chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu kết quả trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh, mặc dầu phụ thuộc vào dạng liên

hệ các chỉ tiêu nhưng vẫn đủ phong phú để áp dụng

* Khi đánh giá ảnh hưởng của các chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu kết quả cần lựa chọn liên hệ các chỉ tiêu phục vụ thiết thực cho mục đích nghiên cứu, đồng thời phải phân biệt chính xác chỉ tiêu nhân tố và chỉ tiêu kết quả

1.2.3.3 Phương pháp phân tích kinh tế- kỹ thuật

Đặc điểm của phương pháp này là không chỉ dựa trên các số liệu thống kê,

mà còn đi sâu phân tích các khâu, các quá trình trong dây chuyền công nghệ sản xuất, các mối liên hệ giữa chúng, nhằm xác định năng lực sản xuất của dây chuyền, tính cân đối, đồng bộ, các tiềm năng còn ẩn náu và khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của chúng

Đây là phương pháp rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập tính cân đối nhịp nhàng của sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh

Nghiên cứu lý thuyết cho thấy phương pháp này được chú trọng chủ yếu trong các tài liệu giáo khoa về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh của các tác giả Liên xô trước đây, còn đa số các tác giả trong nước chưa chú trọng đúng mức phương pháp này Một số tài liệu có đề cập việc phải xác định và khắc phục “khâu yếu” trong sản xuất kinh doanh, song chỉ ở mức độ rất chung chung, không xây dựng thành phương pháp với đầy đủ nội dung, trình tự tính toán

Đối với phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh trong công nghiệp mỏ, phương pháp này từ lâu đd được chú trọng, song vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện hoặc khắc phục những hạn chế, bất cập

Trang 38

Từ tổng quan này, tác giả sẽ đi sâu hoàn thiện phương pháp phân tích năng lực sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp mỏ trong chương sau

1.2.3.4 Phương pháp phân tích tương quan

Về mặt lý luận có thể nói phương pháp phân tích tương quan đd được đề cập rất toàn diện Tuy nhiên ứng dụng trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh nhiều tác giả chưa chú trọng nhấn mạnh các điều kiện và phạm vi áp dụng để những người làm phân tích có thể áp dụng phương pháp này sao cho có hiệu quả nhất Theo tác giả, những vấn đề cần lưu ý nhất khi áp dụng phương pháp toán tương quan là:

- Chọn đối tượng phạm vi ứng dụng phương pháp

- Quan tâm hơn đến bản chất kinh tế- kỹ thuật trước khi lập bài toán

- Xây dựng trình tự các bước lập và giải bài toán

- ứng dụng công nghệ thông tin để giải bài toán

1.2.3.5 Một số phương pháp phân tích mới được áp dụng khi chuyển sang cơ chế thị trường

Trong các tài liệu lý thuyết về phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh thường mới chỉ đề cập các phương pháp truyền thống đd biết Tuy nhiên từ khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, cùng với những quan điểm đổi mới về lý luận kinh

tế, cần nghiên cứu và đưa vào áp dụng những phương pháp phân tích mới mà theo tác giả là hoàn toàn có thể, với điều kiện người làm phân tích cần có cách tiếp cận

Trang 39

và tính toán theo quan điểm trung bình truyền thống sẽ cho kết luận sai về mức độ

Phương pháp tổng mức hiện nay mới chỉ được đề cập trong các tài liệu lý thuyết về quản trị kinh doanh, kinh tế học vi mô, kế toán quản trị… Tác giả đề xuất

áp dụng rộng rdi trong phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh

Phương pháp phân tích tổng mức có thể áp dụng có hiệu quả trong các trường hợp cần đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố đầu vào đến kết quả sản xuất kinh doanh, đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực hoặc phân tích chiến lược nhằm dự kiến những thay đổi của chỉ tiêu phân tích trong sự biến động của các điều kiện sản xuất kinh doanh

động các yếu tố đầu vào

áp dụng trong phân tích, phương pháp cận biên cho phép làm các phân tích lựa chọn về quy mô huy động và từ đó tối ưu hoá sử dụng các nguồn lực

c) Phương pháp phân tích cung cầu

Đây có thể coi là một dạng đặc thù của phương pháp cân đối đd biết, song áp dụng vào vấn đề phân tích cụ thể đối với doanh nghiệp là cung cầu thị trường đối với sản phẩm

Bản chất của phương pháp là từ các dữ liệu thống kê tìm điểm cân bằng thị trường (về giá và sản lượng) mà theo đó doanh nghiệp sẽ cân bằng được giá và lượng sản xuất, còn xd hội sẽ có mức độ tận dụng nguồn lực cao nhất

Phương pháp phân tích cung cầu có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình hoạch định chiến lược và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh

Các phương pháp trên cho đến nay sở dĩ chưa được áp dụng nhiều trong phân

Trang 40

tích kinh tế hoạt động kinh doanh vì chúng đều dựa trên giả định "những thứ khác không đổi" mà trong thực tiễn sản xuất kinh doanh là rất ít khi có được Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khi các giả định đó có bị vi phạm song ở một mức độ chấp nhận được (tức là chấp nhận một mức độ sai số cho phép) thì chúng rất có ý nghĩa,

và khi đó tính trừu tượng sẽ được thay thế bằng tính thực tiễn trong sản xuất kinh doanh

Trên đây đd đề cập các phương pháp phân tích mới được áp dụng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường từ góc độ tổng quan Vấn đề sẽ được mở rộng và đi sâu hơn ở mục 2.4 đến 2.6 trong chương 2 của luận án

1.3 Tổng quan thực tiễn phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp khai thác than hiện nay

Công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh nằm trong một trong những chức năng quản trị doanh nghiệp (chức năng kiểm tra, đánh giá- controlling) Trong những năm gần đây, cùng với sự chuyển đổi cơ chế của toàn bộ nền kinh tế, đd có rất nhiều sự chuyển biến tích cực của các doanh nghiệp trong việc thực hiện các chức năng quản trị, đặc biệt là trong các lĩnh vực kế hoạch hoá, tổ chức sản xuất, hạch toán kinh tế, marketing Tuy nhiên công tác phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh vẫn là một lĩnh vực chưa được quan tâm đúng mức ở các doanh nghiệp và vì vậy chậm được đổi mới

Qua nghiên cứu thực tế ở các doanh nghiệp công nghiệp mỏ thuộc Tổng công

ty than Việt Nam có thể đưa ra một số nhận xét cụ thể về vấn đề này như sau:

1.3.1 Những nhận xét tổng quan về phân tích kinh tế trong các doanh nghiệp khai thác than hiện nay

1.3.1.1 Những ưu điểm và kết quả

- Các doanh nghiệp đd quan tâm thực sự hơn cho công tác phân tích kinh tế

Điều đó xuất phát từ nhu cầu của chính doanh nghiệp về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, hiệu quả công tác quản trị doanh nghiệp nói riêng Như vậy các doanh nghiệp phần nào đd khắc phục được tính thụ động, bắt buộc của lối quản

lý hành chính trước đây, khi mà các cơ quan quản lý cấp trên phải quy định cho các

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w