Để thực hiện Nghị định 124/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý sản xuất VLXD, định hướng đầu tư phát triển VLXD trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu
Trang 1PHẠM THỊ THANH
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
ĐÁ XÂY DỰNG TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
Trang 2liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, không phải là kết quả của bất kỳ một công trình nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2010
Tác giả
Phạm Thị Thanh
Trang 3Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các hình vẽ
Danh mục các bảng biểu
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN TỈNH Q.NINH 5
1.1.Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn và lịch sử nghiên
1.1.3 Sơ lược lịch sử nghiên cứu địa chất; hiện trạng thăm dò và khai thác
b Hiện trạng thăm dò và khai thác đá xây dựng 12
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN ĐÁ
XÂY DỰNG TỈNH QUẢNG NINH
Trang 4a Khái niệm 49
b Tiêu chuẩn và yêu cầu chất lượng đối với các lĩnh vực sử dụng 49
2.2.Đặc điểm phân bố đá xây dựng ở Quảng Ninh 52
b Đặc điểm phân bố đá xây dựng nguồn gốc magma ở Quảng Ninh 54
b Đặc điểm phân bố vật liệu xây dựng nguồn gốc trầm tích ở Q.Ninh 60
b Đặc điểm phân bố đá xây dựng nguồn gốc biến chất ở Q.Ninh 52
2.3 Đánh giá tài nguyên khoáng sản đá xây dựng ở Quảng Ninh
2.3.1.Lựa chọn phương pháp đánh giá tài nguyên đá xây dựng 60
a Phương pháp đánh giá tài nguyên đã xác định 60
b Lựa chọn phương pháp dự báo tài nguyên chưa xác nhận đá XD 61 2.3.2.Kết quả đánh giá tài nguyên trữ lượng đá xây dựng ở Q.Ninh 65
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ PHÂN VÙNG QUY
HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
ĐÁ XÂY DỰNG TỈNH QUẢNG NINH
3.1 Hiện trạng sản xuất đá xây dựng và dự báo nhu cầu đá xây dựng tỉnh
3.1.1 Hiện trạng sản xuất các chủng loại đá xây dựng 69
Trang 5b Dự báo thị trường đá XD của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 90
c Dự báo nhu cầu đá XD của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 92
d Khả năng mở rộng lĩnh vực sử dụng và thị trường tiêu thụ đá xây
3.2.3 Phân vùng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp đá xây dựng
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020, tầm nhìn 2030 101
c Dự kiến vùng quy hoạch khai thác, chế biến đá xây dựng 107
d Giải pháp và chính sách thực hiện quy hoạch 114
3.3 Vấn đề bảo vệ tài nguyên khoáng và môi trường trong khai thác, chế
Trang 6Hình Tên hình Trang Hình 1-1:
Sơ đồ vị trí, giao thông vùng nghiên cứu
(Theo Báo cáo tổng hợp tài liệu địa chất khoáng sản tỉnh Quảng Ninh, năm 2008 )
9
Hình 1-2: Khu vực khai thác cát của Công ty Cổ phần An Dương (Theo Báo cáo tổng hợp tài liệu địa chất khoáng sản tỉnh
Quảng Ninh, năm 2008 )
17
Trang 7Bảng 1-1: Hiện trạng đánh giá, thăm dò đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh 13 Bảng 1-2: Tổng hợp sản lượng khai thác đá xây dựng giai đoạn 2006-2009 14 Bảng 1-3 Hoạt động khoáng sản ở các khu vực trên địa bàn tỉnh Quảng
Bảng 1-4: Sản xuất, chế biến đá xây dựng giai đoạn 1998-2009 16
Bảng 2-3: Yêu cầu về mô thức cỡ hạt và lượng sót lại trên rây 45 Bảng 2-4: Yêu cầu kỹ thuật cát đối với beton thủy kỹ thuật 47
Bảng 2-8: Bảng các chỉ tiêu chất lượng cơ bản của đá ốp lát 51 Bảng 2-9: Qui mô, trữ lượng / tài nguyên của các mỏ và điểm quặng sét
Bảng 2-11: Bảng cách thức chuyển đổi Trữ lượng tài nguyên đã xác nhận 65 Bảng 2-12: Bảng thống kê trữ lượng tài nguyên các mỏ, điểm mỏ đá xây dựng đã xác nhận ở Quảng Ninh 66 Bảng 2-13: Bảng thống kê tài nguyên đá xây dựng chưa xác nhận ở Quảng Ninh 68 Bảng 3-1: Thống kê các cơ sở (đơn vị) khai thác đá hiện nay tại tỉnh
Bảng 3-2: Sản lượng đá xây dựng ở các huyện, thị giai đoạn 2005 - 2009 72 Bảng 3-3: Sản lượng khai thác cát xây dựng giai đoạn 2005 – 2009 74 Bảng 3-4: Sản xuất gạch nung bằng lò tuy nen giai đoạn 2005 - 2009 78
Trang 8Bảng 3-7: Thống kê các mỏ sét gạch ngói 82 Bảng 3-8: Nhu cầu đá xây dựng tính cho 1 tỷ đồng vốn đầu tư 93 Bảng 3-9: Dự báo nhu cầu đá xây dựng theo vốn đầu tư XD cơ bản 94 Bảng 3-10: Dự kiến tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ các chủng loại đá xây dựng 94 Bảng 3-11: Dự báo nhu cầu đá xây dựng theo tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ 95 Bảng 3-12: Dự kiến mức tiêu thụ đá xây dựng bình quân trên đầu người 95 Bảng 3-13: Dự báo nhu cầu đá xây dựng theo bình quân đầu người 96 Bảng 3-14: Bảng dự kiến vùng quy hoạch thăm dò phát triển mỏ đá xây
Bảng 3-15: Tổng hợpdự kiến quy hoạch khu vực thăm dò đá xây dựng 107 Bảng 3-16: Dự kiến kế hoạch khai thác sét sản xuất gạch ngói 108
Bảng 3-18: Dự kiến kế hoạch khai thác đá xây dựng các kỳ kế hoạch 112 Bảng 3-19: Nồng độ ước tính của các chất ô nhiễm trong khí thải 119 Bảng 3-20: Mức độ ồn khi máy móc thiết bị làm ở mỏ lộ thiên 119
Trang 9MỞ ĐÂU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển công nghiệp khai khoáng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để có thể đưa Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2015, trong đó công nghiệp sản xuất đá xây dựng thuộc lĩnh vực Vật liệu xây dựng (VLXD) được xác định là lĩnh vực ưu tiên phát triển thứ tư trong sáu lĩnh vực của ngành công nghiệp Tuy nhiên sản xuất đá xây dựng cần được phát triển như thế nào trong giai đoạn tới để vừa đảm bảo tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực được “ưu tiên phát triển”, vừa bảo vệ được cảnh quan môi trường của một tỉnh có lợi thế về phát triển du lịch, đồng thời bảo tồn được giá trị ngoại hạng về cảnh quan địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học và giá trị văn hoá, lịch sử của vịnh Hạ Long đã 2 lần UNESCO công nhận là “di sản thế giới” đang là vấn đề đặt
ra cho Quảng Ninh hôm nay
Ngành công nghiệp xây dựng Quảng Ninh nói chung, công nghiệp đá xây dựng nói riêng những năm qua đã có tốc độ tăng trưởng cao, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã và đang hội nhập với xu thế phát triển chung của cả nước Trong giai đoạn tới, nhu cầu về đá xây dựng của Quảng Ninh sẽ ngày một tăng cao và đòi hỏi đa dạng hơn về chủng loại và chất lượng ngày càng yêu cầu cao hơn để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Để thực hiện Nghị định 124/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý sản xuất VLXD, định hướng đầu tư phát triển VLXD trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu cầu VLXD ngày càng tăng, tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần chuyển đổi
cơ cấu kinh tế của tỉnh, việc nghiên cứu Đánh giá tài nguyên khoáng sản đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh là rất cần thiết, là cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch và quản
lý Nhà nước về sản xuất đá xây dựng trên địa bàn nhằm sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản một cách có hiệu quả, đúng mục đích và phát triển ngành công nghiệp
VLXD toàn diện, bền vững; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp trong việc xin cấp phép thăm dò, khai thác và chuẩn bị đầu tư sản xuất đá xây dựng trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030
Nhằm giải quyết yêu cầu do thực tiễn đòi hỏi trên, học viên chọn đề tài “Đánh giá tài nguyên khoáng sản đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh”
Trang 102 Mục đích của luận văn
Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm chất lượng, tiềm năng tài nguyên đá xây dựng làm cơ sở định hướng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp khai thác khoáng sản đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: -Phân tích đặc điểm địa chất khoáng sản đá xây dựng phân bố trên địa phận tỉnh Quảng Ninh
- Tổng hợp, đánh giá chất lượng, dự báo tiềm năng tài nguyên đá xây dựng
và sự phân bố của chúng trên địa bàn tỉnh quảng Ninh
- Phân vùng quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác đá xây dựng và định hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả và thân thiện với môi trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loại đá xây dựng thông thường và cao cấp
- Phạm vi nghiên cứu: Trong địa phận tỉnh Quảng Ninh
5 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích đặc điểm địa chất và khoáng sản đá xây dựng phân bố trên địa phận tỉnh Quảng Ninh
-Tổng hợp, đánh giá chất lượng, dự báo tiềm năng khoáng sản đá xây dựng
có trong tỉnh và sự phân bố của chúng trên địa bàn tỉnh quảng Ninh
- Phân vùng quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác đá xây dựng và định hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả và thân thiện với môi trường
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, học viên sử dụng hệ phương pháp sau:
- Tiếp cận hệ thống, kết hợp phương pháp địa chất truyền thống để nhận thức đối tượng nghiên cứu
- Thu thập, tổng hợp, xử lý tài liệu địa chất - khoáng sản; trọng tâm là khoáng sản đá xây dựng
- Nghiên cứu lựa chọn phương pháp dự báo định lượng để dự báo tài nguyên
đá xây dựng chưa xác nhận, lựa chọn phương pháp và tiến hành đánh giá tài nguyên
đá xây dựng đã xác định (trữ lượng và tài nguyên dự tính)
Trang 11- Áp dụng phương pháp chuyên gia kết hợp kinh nghiệm thực tế của học viên
để phân vùng quy hoạch và định hướng sử dụng đá xây dựng hợp lý, kinh tế
7 Những điểm mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu cho phép tác giả luận văn đưa ra những điểm mới sau: 7.1 Góp phần đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn về chất lượng, đặc điểm phân bố và tiềm năng tài nguyên đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh;
7.2 Trên cơ sở phân tích yếu tố kinh tế tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm phân bố nguồn tài nguyên đá xây dựng; cho phép phân vùng quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh Đây là cơ sở cho những đề xuất quy hoạch và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đá xây dựng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến 2020, tầm nhìn đến 2030
7.3 Dự báo nhu cầu đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 dựa trên cơ phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua
8 Ý nghĩa khoa học của luận văn
8.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần nhận thức đầy đủ và toàn diện về đặc điểm phân bố, chất lượng, tài nguyên trữ lượng đá xây dựng ở tỉnh Quảng Ninh; đồng thời góp phần hoàn thiện phương pháp đánh giá tiềm năng tài nguyên đá xây dựng không chỉ ở tỉnh Quảng Ninh
mà còn có thể áp dụng cho các vùng có đặc điểm địa chất - khoáng sản tương tự
8.2 Giá trị thực tiễn
Là tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý trong định hướng chiến lược phát triển
đá xây dựng tỉnh Quảng Ninh và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng đá xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhằm sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích, phát triển bền vững và thân thiện với môi trường
9 Cơ sở tài liệu để xây dựng luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở tài liệu của chính bản thân học viên thu thập được trong quá trình tham gia trực tiếp Đề án Tổng hợp tài liệu địa chất, khoáng sản tỉnh Quảng Ninh
Ngoài ra, luận văn còn tham khảo, thu thập và tổng hợp các tài liệu, các kết quả nghiên cứu từ các công trình sau:
Trang 12- Báo cáo đo vẽ bản đồ địa chất nhóm tờ Cẩm Phả, tỷ lệ 1/50.000 của Lê Hùng và nnk, năm 1995
- Các tài liệu, văn bản liên quan đến khoáng sản làm vật liệu xây dựng như:
+ Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31/7/2007 của Chính phủ về quản lý VLXD
+ Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD
ở Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định
số 152/2008/QĐ-TTg, ngày 28/11/2008
+ Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm xi măng ở Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 105/2008/QĐ-TTg, ngày 21/7/2008 và Quyết định số 065/QĐ-TTg ngày 29/7/2010 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt điều chỉnh bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm xi măng ở VN đến năm 2020
10 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 126 trang, 37 bảng biểu cùng các bản vẽ (sơ đồ, bản đồ)
Không kể mở đầu và kết luận, luận văn trình bày thành 3 chương
Luận văn được hoàn thành tại Bộ môn Tìm kiếm -Thăm dò, Khoa Địa chất, trường Đại học Mỏ Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Phương
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy hướng dẫn và các thầy,
cô trong Bộ môn Tìm kiếm – thăm dò Khoa Địa chất đã có nhiều đóng góp, giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn đúng thời gian quy định Học viên xin chân thành cảm
ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các đồng nghiệp thuộc chuyên ngành Địa chất khoáng sản và thăm dò
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lãnh đạo trường Đại học Mỏ Địa chất, phòng Đại học và Sau đại học, Bộ môn Tìm Kiếm - Thăm dò, Khoa Địa chất; Khoa Môi trường; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Sở Công thương tỉnh Quảng Ninh, các đồng nghiệp đã giúp đỡ tận tình học viên trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn
Trang 13CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN
b.Địa hình
Tỉnh Quảng Ninh có địa hình đa dạng và phong phú, có núi cao-trung
bình-thấp, đồi và đồng bằng, với đặc điểm chung là địa hình thấp dần từ bắc, đông bắc đến nam, tây nam, được chia thành 3 vùng như sau:
- Vùng núi cao-trung bình: phân bố dọc địa giới phía bắc của tỉnh từ Đông Triều, Uông Bí qua Ba Chẽ, Bình Liêu đến tây bắc Móng Cái, chiếm khoảng nửa diện tích toàn tỉnh, có độ cao trung bình giao động từ 500-1000m (vùng núi cao), đỉnh cao nhất trên 1500m, đến 300-500m (vùng núi trung bình), với độ dốc sườn 30-500 Một số vùng núi cao vẫn bảo tồn được rừng tự nhiên, thảm thực vật phát triển tốt, nhiều cây to, rậm rạp
- Vùng đồi-núi thấp: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao-trung bình với vùng đồng bằng, tạo thành dải có phương đông bắc-tây nam, có độ cao trung bình 100-150m, độ dốc sườn thoải Chủ yếu phát triển thảm thực vật thứ sinh do dân trồng như thông, bạch đàn, keo tai tượng, cây ăn quả vải nhãn…
Trang 14- Vùng đồng bằng và dải ven biển:
+ Vùng đồng bằng phân bố chủ yếu ở phía nam, tây nam của tỉnh thuộc các huyện Yên Hưng, Đông Triều, thị xã Uông Bí…có độ cao trung bình <10m, thường có xen đồi thấp hoặc khối núi đá sót Phát triển cây lương thực (lúa nước) là chủ yếu
+ Dải ven biển hẹp chạy dọc đới duyên hải từ Móng cái, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên, Cẩm Phả, Hạ Long đến Yên Hưng và 2 huyện đảo: Vân Đồn, Cô Tô Dải ven biển có độ cao giao động phụ thuộc vào mức nước thuỷ triều lên xuống, có bờ biển dài, với nhiều bãi cát phẳng, sạch, đẹp…thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, khu du lịch sinh thái, khu nghỉ mát và phát triển các khu công nghiệp, cảng biển…
Nhìn chung vùng đồng bằng và dải ven biển nằm sát các cửa sông lớn nên thường bị chia cắt bởi hệ thống sông, lạch rất phát triển trong vùng
1.1.2.Đặc điểm kinh tế nhân văn
a.Hành chính
Tính đến 31/12/2009, tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính (1 thành phố, 3
thị xã, 10 huyện), với 54 phường, thị trấn và 132 xã, trong đó thành phố Hạ Long là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh
Tổng dân số toàn tỉnh khoảng 1,1 triệu người bao gồm các dân tộc Kinh, Tày, Dao, Sán chỉ…trong đó dân tộc Kinh chiếm chủ yếu (khoảng 90%), mật độ dân số trung bình 180 người/km2 Cơ cấu dân số: nam giới chiếm 50,3%, nữ giới 49,7%; dân số thành thị chiếm 45%, nông thôn 55%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh trong 10 năm gần đây có xu hướng giảm dần, từ 1,69% (năm 1996) xuống còn 1,02% (năm 2006), trong đó tỷ lệ tăng cao nhất là các huyện miền núi như Ba Chẽ, Bình Liêu (trên 1,43%), thấp nhất là thị xã Cẩm Phả (dưới 0,8%) Nhìn chung tỉnh Quảng Ninh có nguồn nhân lực lao động dồi dào
b.Khí hậu-thuỷ văn
- Về khí hậu: Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận chí tuyến, nóng ẩm mưa nhiều, với 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến
Trang 15tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm; theo số liệu Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2006 [1] nhiệt độ trung bình trong năm 22-250C, nóng nhất vào các tháng 6-7 (với số giờ nắng 130-195 giờ/tháng) [1], lạnh nhất vào tháng 1 (nhiệt độ có thể xuống <50C) với sự xuất hiện của băng giá, rét đậm, rét hại; lượng mưa cả năm giao động 1300-2700mm [1] (trung bình ~ 2000mm), tháng có lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 7-8 (300-900mm)[1], tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (0-6mm)[1], các vùng có mưa nhiều nhất là Hải
Hà, Móng Cái, Tiên Yên, lớn hơn lượng mưa trung bình của vùng đồng bằng Bắc bộ;
độ ẩm tương đối trung bình cả năm 81-84%)[1]
- Về thuỷ văn: Quảng Ninh có mạng lưới sông suối khá phát triển, với mật
độ trung bình khoảng 1,5 km/km2,thường bắt nguồn từ vùng núi cao biên giới, chảy theo hướng tây bắc-đông nam, gần như vuông góc với bờ biển Do đặc điểm sông suối ngắn, dốc, xâm thực sâu mạnh, nên tốc độ dòng chảy thường lớn, đặc biệt vào mùa mưa, lũ lên rất nhanh và rút cũng rất nhanh, dễ xảy ra các hiện tượng tai biến địa chất như: trượt lở đất, lũ ống, lũ quét…
c.Giao thông
Quảng Ninh có hệ thống giao thông phát triển bao gồm: đường bộ, đường
sắt, đường thuỷ (sông, biển) rất thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế
- Đường bộ: có các quốc lộ 18A, 18C, 10, 4B tạo trục xương sống chạy xuyên suốt chiều dài từ tây sang đông, từ bắc xuống nam của tỉnh, nối liền với thủ
đô Hà Nội về phía tây và với Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái về phía đông; ngoài ra còn có các tuyến giao thông tỉnh lộ, các tuyến liên huyện, liên xã, liên bản cũng rất phát triển, nhìn chung chúng đã được nâng cấp (nhựa hoá, bê tông hoá) khá tốt, tạo thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá giữa các vùng, miền trong tỉnh
-Đường thuỷ: với hệ thống sông, lạch chằng chịt, với dải bờ biển dài tạo nên
hệ thống đường thuỷ rất phát triển, trong đó hệ thống đường thuỷ biển với các cảng biển: Mũi Chùa, Mũi Ngọc, Móng cái, Vạn Gia, đặc biệt là cảng nước sâu Cái Lân…chúng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển hàng hoá (xuất, nhập khẩu) trong nước và quốc tế
Trang 16-Đường sắt: so với đường bộ, đường thuỷ thì giao thông đường sắt có hạn chế hơn, ngoài tuyến đường sắt chính Kép-Uông Bí-Hạ Long, còn có các tuyến đường sắt thuộc các vùng mỏ than Uông Bí, Cẩm Phả, đã góp phần đáng kể trong lưu thông vận chuyển hàng hoá (chủ yếu than)
d.Tài nguyên thiên nhiên
Quảng Ninh là tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú cả về số lượng và chất lượng, trong đó có loại đã và đang được khai thác sử dụng phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, cũng có loại đang ở dạng tiềm năng, cần được đầu tư để làm rõ
- Tài nguyên khoáng sản: Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối
phong phú, với 209 mỏ và điểm quặng của 36 loại hình khoáng sản đã được điều tra, thăm dò, đánh giá ở các mức độ khác nhau như: khoáng sản cháy (than đá, đá dầu), khoáng sản kim loại (vàng, antimon, đồng, chì, kẽm…), khoáng sản vật liệu xây dựng và khoáng chất công nghiệp (sét chịu lửa, sét gạch ngói, đá vôi xi măng,
đá ốp lát, kao lin, pyrophylit, sericit, cát cuội sỏi xây dựng…) Trong đó bể than Quảng Ninh được đánh giá có trữ lượng và chất lượng lớn nhất vùng Đông Nam Á; sét Giếng Đáy được đánh giá có chất lượng rất tốt; pyrophylit, sericit vùng Bình Liêu, Tấn Mài có tiềm năng lớn
- Tài nguyên nước: bao gồm nước mặt và nước ngầm, trong đó nước mặt đóng vai
trò chính; nhìn chung chất lượng nước mặt của các sông suối lớn (Diễn Vọng, Trới,
Vũ Oai, Tiên Yên…), các đập hồ chứa nước lớn (Cao Vân, Yên Lập, Đồng Giang, Lưỡng Kỳ…) và nước ngầm vùng Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông, Móng Cái… đều được đánh giá là khá tốt, đạt tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ cho dân sinh và cho sản xuất Tuy nhiên, trữ lượng, chất lượng nước mặt lại thay đổi rất lớn theo mùa và đang đứng trước nguy cơ bị bồi lấp, ô nhiễm dần do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, khai thác, chế biến khoáng sản với tốc độ quá nhanh và hiện tượng mặn hoá dọc đới duyên hải Đó cũng chính là thách thức, nguy cơ lớn đòi hỏi các nhà quản lý cần phối hợp xây dựng quy hoạch dự báo, khai thác nguồn tài nguyên nước một cách có hiệu quả
Trang 17Hình vẽ 1.1Sơ đồ giao thông tỉnh QN) (MAP)
Trang 181.1.3 Sơ lược lịch sử nghiên cứu địa chất, hiện trạng thăm dò và khai thác đá xây dựng
a Sơ lược lịch sử nghiên cứu địa chất
Căn cứ vào nguồn tài liệu hiện có từ trước tới nay, có thể phân chia lịch sử nghiên cứu địa chất và khai thác khoáng sản vùng Quảng Ninh theo các thời kỳ như sau:
*Giai đoạn trước năm 1945
Vào cuối thế kỷ XIX (1873-1894) có một vài tài liệu của các nhà địa chất người Pháp (Bourbet, Zeillei, Jourdy, Douville…) đã tiến hành điều tra, nghiên cứu
sơ lược tình hình địa chất của khu vực Hòn Gai, chủ yếu liên quan đến các tầng trầm tích chứa than
Đầu thế kỷ XX (1907) lần đầu tiên Sở địa chất Đông Dương công bố một công trình nghiên cứu tương đối tổng hợp về địa chất Đông Dương (bao gồm cả tỉnh Quảng Ninh) của Lantenois
Năm 1925 Sở địa chất Đông Dương bắt đầu tiến hành thành lập tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1/500000 trên cơ sở tổng hợp các tài liệu của Jacôp, Colani, Promaget, Mansuy, Dassauit, Patte và Deprat
Năm 1927 Patte hoàn thành tờ bản đồ địa chất miền đông bắc Bắc bộ tỷ lệ 1/200000, bao trùm toàn bộ tỉnh Quảng Ninh Đây là công trình nghiên cứu địa chất
có ý nghĩa quan trọng của các nhà địa chất Pháp về bể than Đông bắc
Trong giai đoạn này, công tác khai thác khoáng sản vùng Quảng Ninh tập trung chủ yếu vào than đá, theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 1887 đến năm 1954 thực dân Pháp đã khai thác ước tính vào khoảng 55 triệu tấn than
Các khoáng sản khác: antimon được người Pháp phát hiện và khai thác vào cuối thế kỷ XIX (1890-1903) ước tính khoảng 100 tấn quặng; sét, kao lanh cũng được khai thác (có thể trước cả than đá) để làm đồ gốm, sứ, gạch ngói song không
có số liệu chính xác
*Giai đoạn sau năm 1945
Trang 19Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nhìn chung công tác nghiên cứu địa chất-khoáng sản không được tiến hành Sau năm 1954 miền Bắc được giải phóng, công tác nghiên cứu địa chất và khoáng sản được chú trọng, tiến hành có hệ thống, theo quy hoạch Trong đó có nhiều công trình điều tra tổng hợp
có ý nghĩa với sự tham gia giúp đỡ của các chuyên gia địa chất các nước XHCN và Liên Xô, Trung Quốc…và các nhà địa chất Việt Nam
-Công tác điều tra địa chất tỷ lệ 1/500.000
Chủ yếu là công trình Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1/500.000 (1963) do Dovjicov A.E chủ biên Đây là công trình khoa học tổng hợp nhiều vấn
đề về địa tầng, magma, cấu trúc-kiến tạo vùng Quảng Ninh và khu vực; Trong đó, một số phân vị địa chất đặc trưng của khu vực đã mang tên địa danh của tỉnh Quảng Ninh như: hệ tầng Hòn Gai (T3n-rhg); hệ tầng Hà Cối (J1-2hc); hệ tầng Cô Tô (O3-
Sct) đặc
-Công tác điều tra địa chất tỷ lệ 1/200.000
Công tác này được tiến hành trong những năm 1969-1979, do Liên đoàn Bản
đồ địa chất miền Bắc thực hiện Thuộc phạm vi tỉnh Quảng Ninh nằm trên các tờ bản đồ địa chất, tỷ lệ 1/200.000 như vùng bể than Đông Bắc (1969), tờ Lạng Sơn (1976), tờ Hải Phòng-Nam Định (1978) và tờ Hòn Gai-Móng Cái (1979) Kết quả các tờ bản đồ địa chất chủ yếu là điều tra địa chất khoáng sản và điều tra địa mạo, địa chất thuỷ văn, phóng xạ .Trong đó, các đối tượng địa chất được điều tra chi tiết, một số phân vị địa chất được ghi nhận, cùng với hàng loạt điểm khoáng sản được đăng ký và phát hiện, mối liên quan khoáng sản với các đối tượng địa chất được sáng tỏ hơn
-Công tác điều tra địa chất tỷ lệ 1/50.000
Công tác điều tra địa chất tỷ lệ 1/50.000 do các đơn vị của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện; trên diện tích tỉnh Quảng Ninh cho đến nay mới
đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1/50.000 chủ yếu phần phía đông gồm các nhóm tờ Bình Móng Cái (1995); Đầm Hà (1984) và Cẩm Phả (1996); Nghiên cứu cấu trúc kiến
Trang 20Liêu-tạo, chất lượng, đặc tính công nghệ than bể than Quảng Ninh và xác lập phương pháp, mạng lưới thăm dò hợp lý (1991)…; Còn một phần diện tích phía tây của tỉnh (phía tây kinh tuyến 1070) chưa được đo vẽ Công tác điều tra địa chất tỷ lệ 1/50.000 đã tiến hành đo vẽ chi tiết nhiều đối tượng địa chất, khoáng sản, khoanh vẽ chính xác hơn diện phân bố của chúng, xác định quy luật và mối liên quan với các khoáng sản; đã chỉ ra và định hướng cho công tác điều tra, đánh giá khoáng sản tiếp theo Đáng chú ý nhất là xác lập hệ tầng Bình Liêu, tuổi Trias giữa (T2abl) trên cơ
sở hệ tầng Sông Hiến của Dovjicov A.E (1965) để mô tả các thành tạo trầm tích, trầm tích-phun trào, liên quan tới các loại hình khoáng sản kao lin-pyrophylit (quarzit thứ sinh), vàng và một số đối tượng địa chất liên quan tới các khoáng chất công nghiệp, vật liệu xây dựng (sét, sét gốm sứ, phụ gia xi măng ) đã, đang được tỉnh chú ý đầu tư
- Các công trình điều tra khác
Các công trình điều tra kết hợp (địa chất, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình và tìm kiếm nước ngầm) ở một số khu vực đảo như đảo Cô Tô (1999), đảo Trần (2000), đảo Quan Lạn (2001), đảo Trà Bàn (2004), tỷ lệ 1/10.000, công trình điều tra địa chất đô thị thành phố Hạ Long (1995), tỷ lệ 1/25.000, công trình quy hoạch bảo vệ môi trường vùng Hạ Long-Cẩm Phả-Yên Hưng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (2007), kèm theo các bản đồ địa chất khoáng sản, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, địa chất môi trường…
b Hiện trạng thăm dò và khai thác đá xây dựng
*Hiện trạng điều tra đánh giá thăm dò khoáng sản: Theo số liệu thống kê có được, tính đến thời điểm hiện tại trên địa bàn tỉnh số lượng các mỏ vật liệu xây dựng được thăm dò là 18, trong đó: đá vôi 02 mỏ, sét gạch ngói: 12 mỏ, cát xây dựng: 04 mỏ Hầu hết các mỏ đã và đang được khai thác, chế biến, sử dụng (trong đó
có mỏ đã khai thác gần hết trữ lượng thăm dò) Hiện trạng công tác điều tra đánh giá, thăm dò các mỏ đá xây dựng tổng hợp ở bảng 1.1
Trang 21chèn bảng1.1 hiện
trạng đánh giá
thăm dò
Trang 22*Hiện trạng khai thác, chế biến khoáng sản
Quảng Ninh có lợi thế về tiềm năng tài nguyên khoáng sản phong phú, về giao thông, du lịch và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nên trong những năm gần đây hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã phát triển nhanh cả về quy mô, chất lượng sản phẩm, sản lượng khai thác và hiệu quả kinh tế
Tuy điều kiện năng lực, thiết bị công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản trong tỉnh còn ở mức độ, hiệu quả kinh tế khai thác đá xấy dựng của một số nơi chưa cao Các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản hàng năm tăng trưởng được khái quát hoá như sau:
-Giai đoạn 2000-2005: tính đến cuối năm 2005 trên địa bàn tỉnh có khoảng
230 cơ sở và hàng nghìn hộ gia đình tham gia hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Ngoài than đá, các sản phẩm có sản lượng lớn chiếm tỷ trọng kinh tế cao chủ yếu là nhóm vật liệu xây dựng: xi măng, gạch ngói, gốm sứ, đá xây dựng, cát sỏi
Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001-2004 của ngành khai thác đá xây dựng các loại 20%, ngói nung 18,8%
-Giai đoạn từ năm 2006 đến nay: do có sự đầu tư, bổ sung công nghệ tiên tiến, tăng quy mô sản xuất…đã tạo sự tăng trưởng đáng kể trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản Sản lượng khai thác đá xây dựng giai đoạn 2006-2009 tổng
hợp ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Tổng hợp sản lượng khai thác đá xây dựng giai đoạn 2006-2009
STT Loại Khoáng sản năm 2006 năm 2007 năm 2008 năm 2009
1 Đá xây dựng (m3) 1.751.253 1.930.313 2.680.078 4.291.840
2 Sét ngạch ngói (m3) 788.333 1.000.000 1.235.145 1.664.924
3 Cát XD, san lấp (m3) 752.000 816.000 1.669.521 728.217 (theo số liệu tổng hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh)
Tong 14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh, chủ yếu tập trung tại các huyện Đông Triều, Hoành Bồ, thị xã Uông Bí, Cẩm Phả và thành phố Hạ Long Các huyện thị miền đông của tỉnh có rất ít mỏ khoáng sản hoạt động, đặc biệt là các khoáng sản
Trang 23làm vật liệu xây dựng thông thường, hiện tại huyện Cô Tô chưa có hoạt động khoáng sản
Trong tổng số 150 khu vực (mỏ) khoáng sản đã được cấp phép hoạt động thăm dò, khai thác, chiếm số lượng nhiều nhất là các mỏ sét gạch ngói và đá xây dựng (109 mỏ), theo tính chất hoạt động và loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo các địa danh tổng hợp ở bảng 1.3
Bảng I.3.Hoạt động khoáng sản ở các khu vực trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Công suất khai thác mỏ như sau:
- Đá làm vật liệu xây dựng: 3.800.000 m3/năm
Trang 24Ngoài các khoáng sản khai thác sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến thô, đối với các khoáng sản khác, khối lượng đã khai thác, sử dụng trong các năm từ 1998 đến 2007 được tính tương đối thông qua các loại sản phẩm được sản xuất chế biến
từ nguồn khoáng sản đó, cụ thể là: sét gạch ngói 7.263,8 nghìn m3 (sản xuất gạch ngói nung và các sản phẩm khác); đá xây dựng 9.441 nghìn m3; cát xây dựng 5.694 nghìn m3; Vôi nung 1.200 nghìn tấn;
Tổng sản lượng sản phẩm sản xuất, chế biến đá xây dựng giai đoạn
Nhìn chung, công tác thăm dò mỏ triển khai chậm, cho đến nay trừ một số
mỏ sét, đá vôi xi măng, cát xây dựng…đã thăm dò, còn lại mới dừng ở mức đánh giá hoặc điều tra Tình trạng khai thác chưa có tài liệu thăm dò vẫn còn, dẫn đến hậu quả hoặc gây thất thoát tài nguyên khoáng sản hoặc gây rủi ro cho các nhà đầu
tư khai thác
Về khai thác, công tác xây dựng cơ bản mỏ triển khai chậm, một số mỏ đã cấp giấy phép chậm triển khai các thủ tục pháp lý liên quan, quá thời hạn 01 năm chưa đưa mỏ vào khai thác; một số cơ sở khai thác chưa tuân thủ hoặc chưa đảm bảo quy định chung của Luật Khoáng sản, Luật Môi trường hoặc các điều kiện về
an toàn lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương
Trang 25Hình vẽ 1.2
ảnh khai thac
cát
Trang 261.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN
1.2.1 Đặc điểm địa chất
Thuộc phạm vi đất liền và biển (tính từ 0 đến 30 mét nước so với mặt biển), tỉnh Quảng Ninh có mặt 30 phân vị địa tầng (đá gốc và trầm tích bở rời) có tuổi từ Paleozoi hạ đến Đệ tứ và 2 phức hệ magma, nằm trên 4 đới cấu trúc (đới Quảng Ninh, đới Hòn Gai, đới An Châu và một phần nhỏ thuộc Trũng Hà Nội)
a Địa tầng
GIỚI PALEOZOI
HỆ ORDOVIC, THỐNG TRÊN-HỆ SILUR
Hệ tầng Tấn Mài (O 3-S tm)
Hệ tầng Tấn Mài (O3-S tm) do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác lập
(1965) theo mặt cắt đặc trưng ở vùng Tấn Mài (Quảng Ninh)
Hệ tầng phân bố từ Móng Cái qua Tấn Mài tới núi Răng Chó, nằm hoàn toàn
ở phía nam đứt gãy sâu Đồng Mô-Tiên Yên-Móng Cái, kéo dài gần 60 km, rộng từ
3-6 km; vùng bắc Dương Huy, ngoài ra còn phân bố tạo dải nhỏ ở đảo Cái Chiên và đảo Vĩnh Thực Thành phần đặc trưng của hệ tầng là các đá trầm tích lục nguyên biến chất yếu, phần dưới chủ yếu có độ hạt trầm tích lớn và phần trên hạt nhỏ, bị biến chất không đều theo đường phương Nhiều nơi đá bị vò nhàu, uốn nếp mạnh mẽ và bị ép láng bóng Hệ tầng được chia thành 2 phân hệ tầng
Trang 27kết xen ít lớp mỏng bột kết màu xám vàng, dày 120m; trên cùng là bột kết xen cát bột kết và đá phiến sét sericit, dày 125m.Tổng chiều dày của phân hệ tầng trên hệ tầng Tấn Mài là 700m
Khoáng sản liên quan: có sét gạch ngói nguồn gốc tái trầm tích từ các đá
trầm tích hạt mịn (bột kết, đá phiến sét, trầm tích hạt mịn chứa tuf) phong hoá tạo nên Một số khoáng sản nội sinh như antimon, vàng… Ngoài ra, ở một số nơi còn gặp quặng sắt lăn (limonit)
Hệ tầng Cô Tô (O 3-Sct)
Hệ tầng Cô Tô (O3-Sct) do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác lập (1965),
xếp tuổi Neogen; Trần Văn Trị và nnk (1972), xếp tuổi tuổi Ordovic muộn-Silur sớm, theo mặt cắt quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh) Hệ tầng phân bố ở vịnh Hạ Long gồm các đảo Thanh Lân, Mã Châu (Con Ngựa), Núi Ngọn, Lò Chúc San, quần đảo
Cô Tô và được chia 2 phân hệ tầng:
-Phân hệ tầng dưới (O3-Sct 1): Phân bố ở đảo Lò Chúc San, quần đảo Cô Tô Thành phần chủ yếu gồm cát kết tuf phân lớp dày, xen thấu kính sạn kết và lớp mỏng sét kết, bột kết cấu tạo sọc dải, các đá xen kẽ với nhau có tính chất dạng nhịp Dày 1000m
-Phân hệ tầng trên (O3-Sct 2): Phân bố hạn chế ở các đảo Cô Tô, Thanh Lân Thành phần gồm bột kết, sét kết xen nhịp nhàng với cát kết tuf và đá phiến sét silic,
chứa phong phú Bút đá:Rastriteees sp., Monoclimacis limardsoni, Pristiograptus dusbius tuổi Silur Chiều dày 700m
Ở đáy biển khu vực giữa cửa Thiện Ngôn (gần đảo Sâu Nam) và quần đảo
Cô Tô lộ các đá của hệ tầng Cô Tô với diện lộ khá rộng, hơn chục km2
HỆ DEVON
HỆ DEVON, THỐNG DƯỚI Loạt Sông Cầu (D 1 sc)
Trang 28Loạt Sông Cầu (D1 sc) do Trần Văn Trị và nnk xác lập (1964) và gọi là điệp Tống Duy Thanh (1979) chuyển thành loạt Theo mặt cắt vùng Sông Cầu (Thái Nguyên), Loạt Sông Cầu có thành phần và khối lượng tương ứng với “seri” Bắc Bun do Deprat J., 1915 xác lập ở vùng Đồng Văn (Hà Giang) Các trầm tích của loạt chỉ phân bố ở các đảo trên Vịnh Hạ Long thuộc phía đông tỉnh Quảng Ninh như đảo Thoi Xanh, Sâu Nam và khối nhỏ ở phía nam đảo Lò Chúc San (đảo Trần), nam đảo Vĩnh Thực
Mặt cắt của loạt Sông Cầu ở các đảo có thể phân chia thành 2 phần:
-Phần dưới: lộ ra ở các đảo Lò Chúc San, đảo Vĩnh Thực gồm cuội kết hỗn
tạp, sạn kết chuyển lên là cát xen bột kết màu tím hoặc nâu vàng Trong các lớp bột kết nằm trên lớp cuội cơ sở ở đảo Thoi Xanh đã tìm được hoá thạch Tay cuộn
Lingula Chiều dày 200-440m
-Phần trên: quan sát thấy ở đảo Trà Bàn, có mặt cắt khá đầy đủ, gồm 5 tập
Tổng chiều dày của loạt Sông Cầu là 1150-1390m
HỆ DEVON, CÁC THỐNG DƯỚI - GIỮA
Hệ tầng Dưỡng Động (D 1-2 dđ)
Hệ tầng Dưỡng Động (D1-2 dđ) do Nguyễn Quang Hạp xác lập (1967) theo
mặt cắt vùng Dưỡng Động (Hải Dương); sau đó Phạm Văn Quang và nnk (1969)
mô tả và đặt tên là điệp Yên Phụ (Hải Phòng) Các trầm tích hệ tầng phân bố ở các đảo Trà Bàn, Châu Dáp, Ngọc Vừng, Lũ Con, Thừa Bồng, Ba Mun, Sâu Nam,…thuộc vùng Quán Lạn và lạch Đồng Chén
Tổng chiều dày của hệ tầng là 1000-1300m
Trên đảo Ngọc Vừng, Izokh E.P (1965) đã phát hiện hoá thạch Tay cuộn:
Desquamatia ex.gr desquamatia, Camarotoechia sp., Acrospirifer sp., còn Trần
Văn Trị phát hiện Atrpa sp ở đảo Trà Bàn (1977) Căn cứ vào các hoá thạch trên
nên xếp hệ tầng vào Devon, các thống hạ-trung
Trang 29Về khoáng sản liên quan: các lớp cát kết thạch anh dạng quarzit thuộc tập 1
của hệ tầng phân bố trên đảo Trà Bàn được sử dụng là vật liệu xây dựng rất tốt Ngoài ra, trên diện phân bố của hệ tầng ở Điềm Xá, Lộc Dữ (Cẩm Phả) dã phát hiện quặng sắt lăn (limonit) với diện tích nhỏ
HỆ DEVON, THỐNG GIỮA
Hệ tầng Bản Páp (D 2 bp)
Hệ tầng Bản Páp (D2 bp) do Nguyễn Xuân Bao xác lập (1970) theo các mặt cắt chủ yếu là đá vôi vùng Bản Páp (Sơn La); trước đó Phạm Văn Quang, 1969 cũng mô tả đá vôi này và đặt tên hệ tầng Lỗ Sơn (Hải Dương) Các đá đặc trưng hệ tầng chủ yếu là đá vôi phân bố ở đảo Trà Bàn và các đảo ở lạch Công Thế Cái như
Lũ Con, Thừa Cống, Bàn Sen,…và một số chỏm núi đá vôi ở phía nam thị trấn Đông Triều
Mặt cắt ở đảo Bàn Sen từ dưới lên có 3 tập Chiều dày tổng khoảng 650m
Hệ tầng Bản Páp nằm chỉnh trên hệ tầng Dưỡng Động, còn phía trên quan hệ chưa rõ, do đó hệ tầng Bản Páp tạm xếp vào Devon trung và không loại trừ yếu tố Devon thượng có mặt ở phần cao của mặt cắt
Đá vôi của hệ tầng là các đảo, quần đảo núi đá vôi có kích thước và hình thù khác nhau tạo nên thắng cảnh đẹp của vịnh Hạ Long
HỆ CARBON, THỐNG DƯỚI
Hệ tầng Cát Bà (C 1cb)
Hệ tầng Cát Bà (C1cb) do Nguyễn Công Lượng và nnk xác lập (1979) ở vùng đảo Cát Bà (Hải Phòng) Hệ tầng phân bố ở các đảo phía bắc đảo Cát Bà, là các khối núi đá vôi nhỏ ở vịnh Bái Tử Long, vịnh Hạ Long, trên đất liền phân bố ở phía bắc huyện Hoành Bồ, tạo dải đá vôi kéo dài không liên tục 12-14 km Hệ tầng có mặt cắt chuẩn ở vùng đảo Cát Bà chia làm 2 phần:
Trang 30- Phần dưới: đá vôi xám đen, phân lớp vừa đến dày, đá vôi chứa silic kẹp
lớp mỏng đá phiến cháy và đá vôi màu xám trắng, đá vôi trứng cá Chứa phong phú
hoá thạch thuộc các nhóm Trùng lỗ, San hô, Huệ biển, Tay cuộn
- Phần trên: đá vôi màu xám, xám sẫm, phân lớp vừa đến dày và dạng khối, chứa Trùng lỗ: Endothyranopsis crassa sphaerica, Archaediscus sp.,
Chiều dày tổng cộng 450m
Hệ tầng Cát Bà nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Bản Páp (đảo Vân Cảnh)
và theo tập hợp hoá thạch đề cập trên, hệ tầng được xếp vào Carbon hạ
Tương tự như hệ tầng Bản Páp, sự có mặt phong phú các đảo đá vôi thuộc hệ tầng Cát Bà phân bố ở vịnh Bái Tử Long đã tạo nên thắng cảnh “sơn thuỷ hữu tình” của vịnh
Hạ Long Đây cũng là nguồn khoáng sản về đá vôi xi măng, đá vôi dùng trong lĩnh vực công nghiệp, vật liệu xây dựng khá lớn của tỉnh, song việc khai thác, sử dụng chúng cần được lưu ý vì chúng nằm trong khu di sản được UNESCO công nhận
HỆ CARBON - HỆ PERMI
Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs)
Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs) do Nguyễn Văn Liêm xác lập (1979) ở khối đá vôi
Bắc Sơn (Lạng Sơn) với khái niệm là loạt, nó tương ứng với hệ tầng Quang Hanh của Nguyễn Công Lượng xác lập (1979) khi đo vẽ tờ Hòn Gai-Móng Cái tỷ lệ 1/200.000 Hệ tầng phân bố là vùng Quang Hanh trên đất liền và ở các đảo ở phía bắc đảo Cát Bà thuộc vịnh Bái Tử Long; ngoài ra lộ một số khối, chỏm đá vôi nhỏ ở phía nam Đông Triều Thành phần nhìn chung khá đồng nhất về mặt thạch học, gồm
2 phần
Chiều dày của hệ tầng 750m
Tập hợp hoá thạch trên tuổi Carbon đến Permi là cơ sở xếp hệ tầng vào hai
hệ Carbon-Permi Liên quan các đá vôi hệ tầng Bắc Sơn đã và đang được điều tra, khai thác, sử dụng sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, đá ốp lát, đá trang trí, đá vôi
Trang 31đất đèn, phosphorit Ngoài ra còn tạo ra nhiều hang động đẹp, đầy sức quyến rũ phục vụ cho ngành du lịch
HỆ PERMI, THỐNG TRÊN
Hệ tầng Bãi Cháy (P 3bc)
Hệ tầng Bãi Cháy (P3bc) mô tả trên cơ sở tầng silic Bãi Cháy (Quảng Ninh) của Nguyễn Văn Liêm (1967); Nguyễn Quang Hạp (1967) gọi là tầng Phù Lãng; Phạm Văn Quang (1969) lại gọi là điệp Hạ Long Hệ tầng phân bố ở các vùng Bãi Cháy, Hạ Long, Cẩm Phả thành một dải hẹp theo hướng đông bắc-tây nam, kéo dài không liên tục gần 20 km và một diện tích nhỏ ở phía bắc rìa biên giới Việt-Trung Mặt cắt hệ tầng được chia làm 2 phần
Chiều dày tổng cộng là 250-300m
GIỚI MESOZOI
Các trầm tích Mesozoi khá phát triển và phân bố rộng rãi chiếm chủ yếu diện tích của tỉnh Quảng Ninh, bao gồm các hệ tầng Bình Liêu, Nà Khuất, Mẫu Sơn, Hòn Gai, Vân Lãng, Hà Cối; trong đó đáng chú ý là hệ tầng Hòn Gai chứa khoáng sản than đá, có quy mô và trữ lượng lớn
HỆ TRIAS, THỐNG GIỮA, ANISI
Hệ tầng Bình Liêu (T 2abl)
Hệ tầng Bình Liêu (T2abl) do Trần Thanh Tuyền và nnk xác lập (1992) theo
các mặt cắt vùng Bình Liêu (Quảng Ninh) khi đo vẽ nhóm tờ Bình Liêu-Móng Cái
tỷ lệ 1/50.000 Trước đó, Dovjikov A E (1965) xếp vào hệ tầng Sông Hiến (T2-3sh)
Hệ tầng Bình Liêu phân bố rộng rãi ở xung quanh huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, tạo dải kéo dài không liên tục ở phía bắc Đông Triều về phía đông gần Quang Hanh và dải
ở góc tây bắc tỉnh Hệ tầng có thành phần thạch học không đồng nhất ở một số vùng, đặc trưng chủ yếu là trầm tích lục nguyên-các đá nguồn núi lửa và được chia làm 2 phân hệ tầng Thành phần từ dưới lên gồm:cát kết tuf phân lớp vừa xen bột kết và cát kết phân lớp mỏng, dày 600-1000m; cuội tảng núi lửa, cuội kết tuf, cát
Trang 32kết tuf, xen ít thấu kính mỏng ryolit, dày 100m; ryolit, ryolit porphyr, dacit porphyr, nhiều nơi có quan hệ không gian chặt chẽ với granit phức hệ Núi Điệng, dày 600-800m; cát kết tuf, bột kết tuf phân lớp dày xen thấu kính tuf và đá phun trào ryolit, dày 150m; bột kết tuf, đá phiến sét, bột kết, tuf ryolit dạng dải mỏng; trong bột kết
chứa hoá thạch nước lợ Estheria cf hubeiesis, E cf dactylis, E lepida đã gặp trong
Anisi ở nam Trung Quốc, dày 150m
Tổng chiều dày của hệ tầng Bình Liêu có thể đạt tới 2000m
Hệ tầng Bình Liêu nằm không chỉnh hợp trên các đá biến chất yếu của hệ tầng Tấn Mài, nhưng tiếp xúc trực tiếp chưa quan sát được rõ ràng Còn về phía trên, chuyển tiếp liên tục lên hệ tầng Nà Khuất thông qua một tập tuf ryolit dạng dải mỏng màu xám sẫm
Khoáng sản liên quan: có mối liên quan khoáng sản (trực tiếp và gián tiếp) phong
phú và đa dạng bao gồm: kaolin-pyrophylit-sericit (?) là loại hình khá phát triển liên quan các kiểu nguồn gốc: trao đổi nhiệt dịch (quarzit thứ sinh); phong hoá; tái trầm tích Vàng, chì-kẽm, sét gạch ngói, sét xi măng, bazan bọt (?) dùng làm phụ gia xi măng, pyrit, nước khoáng nóng và vật liệu xây dựng (đá xây dựng, cát sỏi)
HỆ TRAS, THỐNG GIỮA
Hệ tầng Nà Khuất (T 2 nk)
Hệ tầng Nà Khuất (T2 nk) do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác lập (1965)
với tuổi Ladin-Carni (Trias trung-thượng) theo mặt cắt đặc trưng vùng Nà Khuất (Lạng Sơn) Phân bố ở vùng trung tâm và tây bắc, khu vực núi Hang Chiêng, phần trung và thượng lưu các sông Làng Cổng, sông Đoáng, sông Quanh, dọc sông Ba Chẽ,…Dọc theo suối Tia Cát, mặt cắt của hệ tầng có thể chia làm 4 tập Thành phần gồm: sét vôi xám xanh, xám nâu phân lớp mỏng, dày 200m; bột kết xen cát kết dạng quarzit phân lớp vừa, bột kết màu nâu chứa hoá thạch Chân rìu bảo tồn xấu, dày 400m; đá vôi sét, sét vôi xen bột kết màu xám tím, phân lớp mỏng chứa Chân
rìu: Trigonodus prapezoidalis, dày 200m; bột kết xen ít cát kết màu xám tím, tím
nâu, phân lớp mỏng, dày 200m
Trang 33Chiều dày chung của hệ tầng khoảng 1000m
Diện tích phân bố hệ tầng khá rộng, song chưa thấy biểu hiện khoáng sản liên quan Duy nhất ở Tinh Húc (Bình Liêu) trong một vết lộ quan sát thấy malachit (đồng) ở dạng vết bám hoặc dạng ổ trong cát kết
HỆ TRIAS, THỐNG TRÊN, BẬC CARNI
Hệ tầng Mẫu Sơn (T 3cms)
Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms) do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác lập
(1965) theo mặt cắt vùng núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn) Hệ tầng có diện tích phân bố không nhiều ở góc tây bắc và tây nam vùng, chúng được chuyển tiếp liên tục từ hệ tầng Nà Khuất Đặc trưng của hệ tầng chủ yếu là trầm tích lục địa và ít carbonat ở phần cao, hệ tầng được chia làm 3 phân hệ tầng:
-Phân hệ tầng dưới (T3c ms 1): Phân bố thành những dải hẹp thuộc hai cánh của nếp lồi Mẫu Sơn dọc sông Ba Chẽ, ở khe Giám, nam Nà Giác, Na Hát
Chiều dày chung của phân hệ tầng dưới khoảng 400m
-Phân hệ tầng giữa (T3c ms2):Phân bố thành dải hẹp ở vùng Ngòi Phit, Bắc Tom Bề dày chung của phân hệ tầng giữa là 300-400m
Phân hệ tầng trên (T3c ms3): Các trầm tích phân hệ tầng trên lộ không nhiều, theo mặt cắt vùng thượng nguồn khe Phít, khe Min, suối nhỏ vùng Khôn Chủ, gồm
3 tập
Hệ tầng Mẫu Sơn nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Nà Khuất và khá đặc trưng là trầm tích lục địa màu đỏ; các trầm tích trên được đối sánh với hệ tầng chuẩn ở khu vực núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn), nên xếp vào Trias trên, Carni
Chiều dày chung của phân hệ tầng trên là 800-950m
HỆ TRIAS, THỐNG TRÊN, NORI-RET
Đây là địa tầng chứa than đá, từ lâu đã được nhiều nhà địa chất chú ý tới Thuộc phạm vi tỉnh Quảng Ninh có 2 địa tầng chứa than, đó là:
Trang 34Hệ tầng Hòn Gai (T 3n-rhg)
Hệ tầng Hòn Gai (T3n-rhg) do Pavlov xác lập (1965) để mô tả tầng chứa than
đá vùng Quảng Ninh Hệ tầng phân bố rộng rãi ở vùng Hòn Gai-Cẩm Phả, đảo Cái Bầu và vùng Hoành Bồ Đây là hệ tầng chứa than đá có tiềm năng, quy mô và trữ lượng lớn cung cấp nguồn nguyên liệu than chủ yếu của nước ta, than ở đây thuộc loại antracit có chất lượng tốt, đã được khai thác từ thế kỷ XIX Dựa vào mức độ chứa than, hệ tầng Hòn Gai chia làm 2 phân hệ tầng:
-Phân hệ tầng dưới (T3n-rhg1): Lộ ra ở các vùng Hà Tu, Đèo Bụt, Quang Hanh, Dương Huy, Hà Lầm, Giáp Khẩu, Mông Dương, đảo Cái Bầu và Bắc Cảng Cuốc Bê Than khu vực Quảng Ninh chủ yếu tập trung trong phân hệ tầng này, theo mặt cắt Quang Hanh, đảo Cái Bầu, phân hệ tầng được chia 15 tập có thành phần gồm: cuội kết, sạn kết thạch anh xen cát kết; bột kết, đá phiến sét, sét than xen cuội kết, sạn kết thạch anh và các vỉa than
Chiều dày chung của phân hệ tầng dưới khoảng 1500-1700m
-Phân hệ tầng trên (T 3 n-rhg 2 : Phân bố ở vùng Vịnh Cuốc Bê, Bàng Nâu và đảo Cái Bầu, bao gồm chủ yếu các trầm tích hạt thô, mặt cắt đặc trưng lộ ở dọc suối Lại, gồm 3 tập có thành phần cuội kết thạch anh màu xám sáng; cuội kết xen cát kết thạch anh màu xám sáng và bột kết màu xám đen chứa ổ sét than nhỏ
Chiều dày chung của phân hệ tầng trên là 600-700m Khoáng sản liên quan: chủ yếu là than đá, ngoài ra còn có đá phiến sét chịu lửa và sét gạch ngói
Hệ tầng Vân Lãng (T 3n-rvl)
Hệ tầng Vân Lãng (T3n-rvl) do Tạ Hoàng Tinh, Phạm Đình Long xác lập
(1966) theo mặt cắt vùng Vân Lãng (Thái Nguyên) Hệ tầng chỉ phân bố ở phía tây
và lộ với diện tích nhỏ vùng Na Min, Động Thắm mặt cắt hệ tầng được chia làm hai phân hệ tầng:
-Phân hệ tầng dưới (T 3 n-r vl 1 ), gồm các đá bột kết xen cát kết mầu nâu đỏ, xám lục nhạt, phân dải mờ, xen ít cát kết dạng quarzit xám sáng
Trang 35Chiều dày của phân hệ tầng dưới là 1600-1700m
-Phân hệ tầng trên (T2n-rvl 2), gồm các đá cát bột kết màu xám tím xen cát kết dạng quarzit màu đỏ nhạt Chiều dày chung phân hệ tầng trên khoảng 800m
Hệ tầng Vân Lãng nằm không chỉnh hợp trên các trầm tích Trias cổ hơn Đây
là tầng chứa than đá tương tự hệ tầng Hòn Gai, đặc trưng cho đới An Châu, tại một
số tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Yên Bái đã điều tra và khai thác than trong hệ tầng này Tuy nhiên thuộc phạm vi tỉnh Quảng Ninh, hệ tầng Vân Lãng có diện lộ
ít, đến nay chưa phát hiện được điểm quặng than đá nào
HỆ JURA, THỐNG DƯỚI - THỐNGGIỮA
Hệ tầng Hà Cối (J 1-2hc)
Hệ tầng Hà Cối (J1-2hc) do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác lập (1965) theo mặt cắt vùng Hà Cối (Quảng Ninh) Đặc trưng trầm tích của hệ tầng là lục địa màu đỏ hạt thô, có thế nằm thoải, phân bố thành các dải hẹp kéo từ Tiên Yên đến Vạn Hoa, từ Khe Tân đến núi Khe Thai, vùng núi Khe Cầm và tạo thành dải dọc đồi núi thấp sát trên bờ biển và ở một số đảo Cái Chiên, đảo Cái Bầu và đảo Vĩnh Thực; ngoài ra còn lộ ở bắc và tây bắc tỉnh với diện lộ nhỏ tạo dải nhỏ và mở rộng về phía Lạng Sơn Hệ tầng được chia 2 phân hệ tầng:
-Phân hệ tầng dưới (J1-2hc 1), gồm các đá cuội kết thạch anh, dày 50m, phủ không chỉnh hợp trên trầm tích Ordovic-Silur thuộc hệ tầng Tấn Mài; cát kết thạch anh xen cát kết quarzit chứa vôi màu xám trắng, nâu nhạt, chứa hoá thạch Chana bụng bảo tồn kém, xen ít lớp bột kết màu nâu đỏ, nâu tím
Chiều dày chung phân hệ tầng dưới là 300-750m
-Phân hệ tầng trên (J1-2hc 2) phân bố rộng rãi ở các vùng Khe Nong, Đông Quý, Mông Dương, Bản Lự, thượng nguồn sông Kéo May, Khau Phéo, Móng Cái,
Nà Quan, đảo Cái Bàu Mặt cắt theo đường ô tô Móng Cái-Hà Cối Các đá gồm: bột kết màu nâu tím, nâu đỏ xen kẽ đều đặn với cát kết hạt nhỏ cùng ít thấu kính đá vôi
Trang 36màu vàng lục nhạt; cát kết, cát kết dạng quarzit màu nâu nhạt, xám sáng, chứa kết hạch vôi, xen ít bột kết màu nâu tím
Tổng chiều dày của hệ tầng này là 1000-1600m
Khoáng sản liên quan: có cát kết xây dựng (cát kết thạch anh, cát kết dạng
quarzit), than đá (chỉ có ý nghĩa địa tầng, về mặt khoáng sản không có triển vọng), sét gạch ngói (nguồn gốc phong hoá), ngoài ra, một số nơi gặp quặng sắt lăn
(deluvi) với diện nhỏ
GIỚI KAINOZOI
HỆ NEOGEN, MIOCEN TRÊN
Hệ tầng Đồng Ho (N 1 3đh)
Hệ tầng Đồng Ho (N13đh) do Phạm Văn Quang thành lập theo các mặt cắt
vùng Đồng Ho (Quảng Ninh) Hệ tầng phân bố ở khu vực sông Cái phía nam dải núi Nương Chén kéo dài hơn chục km theo hướng đông-tây, rộng 1-5 km, phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Hòn Gai Theo mô tả của Trần Đình Nhân và Trịnh Dánh tại suối Đồng Ho và đường Trới-Bang Bê, hệ tầng gồm 6 tập
Chiều dày chung hệ tầng là 150m
Khoáng sản liên quan: sét gốm sứ, sét gạch ngói, sét xi măng liên quan trực
tiếp các đá hệ tầng phong hoá tại chỗ hoặc tái trầm tích và đây là khoáng sản chủ yếu có chất lượng tốt, quy mô và trữ lượng lớn, và đá dầu
HỆ NEOGEN, HỆ PLIOCEN
Hệ tầng Tiêu Giao (N 2 tg)
Hệ tầng Tiêu Giao (N2 tg) do Trần Đình Nhân và Trịnh Dánh xác lập để mô
tả mặt cắt đặc trưng của Pliocen vùng Tiêu Giao, Giếng Đáy (Quảng Ninh) Hệ tầng
có diện phân bố hẹp 3-5 km2 ở Đồng Rui, Làng Trới, Cây Quẹo, nằm chuyển tiếp lên hệ tầng Đồng Ho Mặt cắt quan sát ở khu vực Tiêu Giao, Giếng Đáy gồm 2 tập Chiều dày của hệ tầng 20-200m
Trang 37Hệ tầng Tiêu Giao nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Đồng Ho Hoá thạch thực vật
theo Trịnh Dánh xác định thuộc phức hệ phragmites oeningensis-Quercus nerifolia
tuổi Pliocen nên hệ tầng được xếp vào Pliocen
HỆ ĐỆ TỨ PLEISTOCEN GIỮA - TRÊN Trầm tích Pleistocen giữa- trên (Q 1 2-3 )
Trầm tích Pleistocen giữa - trên, nguồn gốc sông-lũ (apQ12-3): phân bố hạn chế thành dải hẹp ở vùng Đông Triều, Uông Bí, ven rìa phía bắc đồng bằng Bắc
Bộ, thành phần chủ yếu là cuội, tảng, cát, sét, kích thước cuội, tảng từ vài cm đến vài chục cm Hệ tầng phủ không chỉnh hợp trên các đá gốc có tuổi khác nhau Các
đá gồm cuội, sỏi, dăm thạch anh sắc cạnh; cát bột màu vàng, cát có thành phần chủ yếu là thạch anh Tổng chiều dày 2-4,2m
Trầm tích Pleistocen trên (Q 1 3 )
Trầm tích phân bố hạn chế ở một số vùng: Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Tiên Yên, vùng đáy biển phía đông và đông nam đảo Cô Tô, có các nguồn gốc:
sông-lũ (apQ13), thành phần chủ yếu là cát, sạn, sỏi, dày 2-4m và nguồn gốc biển
(mQ13) thành phần là cát mịn hạt trung, dày 5-30m Chiều dày chung 2-30m
Trầm tích Holocen dưới-giữa (Q 2 1-2 )
Phân bố khá rộng rãi ở thung lũng sông và đồng bằng hẹp giữa núi ở các vùng Đông Triều, Uông Bí, Hà Cối, Ka Long, có diện phân bố khá rộng và là trầm tích chủ yếu ở vùng biển Quảng Ninh; trầm tích Holocen hạ-trung có nguồn gốc
sau: nguồn gốc sông (aQ21-2) có thành phần gồm cát, cuội, sạn thạch anh, cuội có
độ mài tròn tốt, trên cùng là cát, sét màu xám, dày 1-2m; nguồn gốc biển (mQ21-2)
có thành phần là cát bùn, sạn cát màu xám đến xám xanh, giàu vụn sinh vật, vi cổ
sinh chứa phong phú Trùng lỗ tuổi Holocen sớm giữa Ammonica annectens elphidium sp., Bigenneria sp., Quynqueloculina sp; nguồn gốc biển-đầm lầy
Trang 38(mbQ21-2): có thành phần bùn cát, bùn sét màu xám tối chứa mùn thực vật, bã hữu
cơ màu nâu đen, dày 5-10m
Tổng chiều dày 1-25m
Trầm tích Holocen trên (Q 2 3 )
Phân bố khá rộng rãi ở ven biển gần sát mép nước biển, phần thấp nhất của các thung lũng sông, vùng cửa sông-ven biển có độ cao 0-2m và vùng biển ven bờ ở
độ sâu 0-10m nước so với mặt nước biển, có các nguồn gốc: nguồn gốc sông (aQ23)
có thành phần chủ yếu là cuội, sạn, cát, sét Ở các bãi bồi thành phần chủ yếu là sét,
bột màu nâu, nâu gụ có thể sản xuất sét gạch ngói chất lượng tốt, dày 0,5-2m; nguồn gốc biển (mQ23) phân bố cả trên đất liền, ven rìa một số đảo và vùng đáy biển nông; nguồn gốc biển-đầm lầy (mbQ23) phân bố chủ yếu ở các cửa sông, suối đổ ra biển từ Tiên Yên tới Móng Cái, có thành phần gồm cát, bột, sét màu xám, xám sẫm lẫn nhiều mùn thực vật, dày 1-5m
Khoáng sản liên quan của các thành tạo trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ: nhìn
chung khá phong phú và đa dạng, thuộc các loại hình vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp được phát hiện ở nhiều nơi, có mức độ quy mô từ nhỏ đến lớn, cụ thể là sét gạch ngói, đôi nơi tầng sét này còn đạt tiêu chuẩn sét gốm sứ, sét phụ gia
xi măng, cuội, cát, sỏi xây dựng, cát thuỷ tinh
Các trầm tích Đệ tứ không phân chia
- Trầm tích Đệ tứ không phân chia, nguồn gốc sông-lũ (apQ): có diện lộ rất ít
thường phân bố chủ yếu ở một số thung lũng giữa núi (phía bắc Đông Triều, Hoành
Bồ, Mai Lộc, Nà Mùng ) Thành phần trầm tích gồm cuội, cát, sỏi, bột sét, độ dày
từ 1m đến vài mét
- Trầm tích Đệ tứ không phân chia, nguồn gốc sườn-lũ tích (edQ): có diện lộ
rất ít, phân bố ở một số nơi như sườn thung lũng sông Cấm vùng Đông Triều và sườn địa hình các trầm tích sông-lũ có đặc điểm tương tự Thành phần chủ yếu là sỏi cát, ít cuội, bột, có độ dày thay đổi từ 1-3m đến 5m, độ phân lớp kém
Trang 39Khoáng sản liên quan: tuy diện lộ không nhiều, song ở một số nơi có mặt lớp
sét bột có độ dày nhỏ, đạt yêu cầu làm sét gạch ngói, cát sỏi xây dựng, đã được dân địa phương khai thác
b Magma xâm nhập
*Phức hệ Núi Điệng (GT 2nđ)
Do Nguyễn Kinh Quốc xác lập (1969) theo mặt cắt khối magma Núi Điệng (Cao Bằng) với tên gọi là phức hệ á núi lửa, sau đó, khi đo vẽ nhóm tờ Bình Liêu-Móng Cái, Trần Thanh Tuyền mô tả là tướng xâm nhập nông Phức hệ phân bố phía đông bắc Bình Liêu, Hải Hà, trong đó có khối Đồng Văn lớn nhất và một số khối nhỏ
vệ tinh Thành phần chủ yếu là các đá xâm nhập có thành phần felsic và chúng có liên quan chặt chẽ về mặt thời gian, không gian với các đá phun trào núi lửa của hệ tầng Bình Liêu Trong phạm vi vùng nghiên cứu có mặt các phiến lục
Phức hệ Núi Điệng lộ chủ yếu là các thể xâm nhập granit dạng porphyr ở phần trung tâm (phức hệ núi lửa pluton Bình Liêu) và được bao quanh bởi granophyr, ngoài cùng là ryolit và ryodacit Việc khoanh định cụ thể thành phần thạch học của khối xâm nhập này là rất khó khăn (kể cả ngoài thực tế và trên bản đồ) Khối Đồng Văn có diện
lộ lớn nhất, dọc theo biên giới Việt-Trung, từ sông Tiên Yên đến Công Nam Châu, dài
23 km, rộng 10 km; còn lại các khối nhỏ vệ tinh có diện lộ nhỏ hơn có chiều dài 4-6
km, rộng 1-2 km Các đá chủ yếu của phức hệ gồm:
+Granit porphyr: có màu xám trắng phớt lục, phong hoá màu trắng phớt hồng, hạt nhỏ không đều, kiến trúc dạng porphyr hoặc porphyr nền vi permatit, có thành phần khoáng vật: thạch anh; plagiocla; felpat kali; biotit; hyperten; khoáng vật quặng
- Granodiorit: là đá rất ít gặp trong phức hệ, đá có màu xám trắng phớt lục, phong hoá có màu phớt hồng, được phân biệt với các đá trên là lượng thạch anh và felpat kali ít hơn, còn plagiocla và khoáng vật màu tăng cao
*Phức hệ Pia Oắc (GK 2po)
Trang 40Đá magma của phức hệ có khối Lục Phủ, cách thị xã Móng Cái 8 km về phía tây bắc, sát biên giới Việt-Trung
Khối Lục Phủ có diện lộ nhỏ khoảng vài km2, còn phần lớn phát triển trên lãnh thổ Trung Quốc, vì vậy việc nghiên cứu chúng chưa được nhiều Trên bình đồ khối Lục Phủ kéo dài ~5 km theo phương đông bắc-tây nam, xuyên cắt đá vây quanh là các đá trầm tích hệ tầng Hà Cối (J1-2hc), đới biến chất nhiệt tiếp xúc dài 10-15m, các đá ở ranh giới tiếp xúc nhiệt bị sừng hoá là đá sừng thạch anh-muscovit, càng xa khối mức độ biến chất nhiệt càng giảm dần Về tuổi của phức hệ được nhiều nhà địa chất xếp vào sau Jura (Kreta muộn?) Đặc điểm khoáng vật của các đá gồm thạch anh, felpat kali, plagiocla, biotit, hocblen…và một số khoáng vật khác như apatit, zircon, orthit…
Khoáng sản liên quan: với các kiểu thành tạo này khá phong phú gồm vàng,
đồng, chì-kẽm, kaolin-pyrophylit-sericit… ngoài ra các đá còn được sử dụng làm đá
-Các đới cấu trúc:
+ Đới Quảng Ninh (thuộc phần đất liền và biển): đới được mô tả là sự hợp nhất của 2 đới Duyên Hải và Cô Tô và trùng với cấu trúc phức nếp lồi Quảng Ninh, kéo dài từ Móng Cái đến Cẩm Phả-Hòn Gai, phía bắc tiếp giáp đới An Châu qua đứt gãy sâu Đồng Mỏ-Tiên Yên-Móng Cái Đới được cấu thành bởi phức hệ thạch kiến tạo kiểu cung đảo Paleozoi sớm (O3-S), phức hệ thạch kiến tạo thềm lục địa