1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nhân vật trong trùng quang tâm sử của phan bội châu

74 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 607,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đích đến trong việc nghiên cứu đề tài khoá luận “Thế giới nhân vật trong Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu” là khám phá những hình tượng anh hùng yêu nước tiến bộ của nhà chí sĩ Pha

Trang 1

Phan Thị Hoa Lài

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh Các tài liệu, những ghi nhận trong khoá luận là hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Tác giả Phan Thị Hoa Lài

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Kết cấu của đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 7

1.1 Hình tượng nhân vật, hình tượng nghệ thuật 7

1.1.1 Hình tượng nhân vật 7

1.1.2 Hình tượng nghệ thuật 8

1.2.Phan Bội Châu - cuộc đời, văn nghiệp 9

1.3 Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử 15

1.3.1 Hoàn cảnh ra đời 15

1.3.2 Nội dung của tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử 17

1.3.3 Vị trí, những cách tân của Trùng Quang tâm sử đối với tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam 20

CHƯƠNG II THẾ GIỚI NHÂN VẬT XÉT TỪ NỘI DUNG YÊU NƯỚC 24

2.1 Nhân vật anh hùng - con người hữu danh và vô danh 24

2.1.1 Nhân vật hữu danh 24

2.1.2 “Anh hùng vô danh” 31

2.2 Con người ‘‘vị quốc’’ - sự tiếp biến của tư tưởng trung quân trong học thuyết Nho giáo 40

2.2.1 Con người ‘‘vị quốc’’ - con người của chủ nghĩa anh hùng 40

2.2.2 Con người hoài nghi lý tưởng - con người của chủ nghĩa “tôn dân” 46

CHƯƠNG 3.THẾ GIỚI NHÂN VẬT XÉT TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 53 3.1 Giọng điệu 53

3.1.1 Giọng điệu ngợi ca hào sảng 53

Trang 4

3.1.2 Giọng điệu triết lý suy nghiệm 56

3.2 Không gian nghệ thuật 58

3.2.1 Không gian làng quê 58

3.2.2 Không gian chiến trận 60

3.3 Thời gian nghệ thuật 62

3.3.1 Thời gian hiện tại 62

3.3.2 Thời gian hồi cố 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là một thời

kì lịch sử đau thương với những biến động và thăng trầm Sự tiếp mặt trước một kẻ thù mới với dã tâm và trang bị hoàn toàn khác trước đã đẩy các cuộc đấu tranh yêu nước của dân tộc vào thất bại liên tiếp Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc đặt trong hoàn cảnh mới đòi hỏi phải có thêm những phẩm chất mới Bởi nguy cơ mất nước đã quá rõ ràng và bởi con đường cứu nước không thể trở về với những bài học, những kinh nghiệm cũ như cha ông trước đây Cần kíp phải tìm một con đường mới với những người mở đường mới Trong tư thế là một người yêu nước Việt Nam xứ Nghệ, là nhà nho duy tân, là nhà hào kiệt, Phan Bội Châu xung trận trong đội ngũ những người mở đường với bầu nhiệt huyết nồng nàn và một lòng yêu nước tha thiết vĩ đại nhất

Những biến đổi to lớn trong đời sống xã hội với những yêu cầu mới mẻ

mà lịch sử lúc bấy giờ đặt ra, hơn ai hết Phan Bội Châu sớm nắm bắt và lĩnh hội một cách tinh tường trọn vẹn Điều này được minh chứng bởi những bước đường hoạt động cách mạng, những đường lối chính trị tiến bộ và đặc biệt nó được thể hiện rõ nét trong những hình tượng nhân vật anh hùng yêu nước mới

mà nhà văn thể hiện trong sáng tác của mình

Thế giới nhân vật trong cách sáng tác của Phan Bội Châu là sản phẩm của việc mạnh dạn từ bỏ đường mòn, lối cũ, dũng cảm khám phá lối đi mới đến với con người theo tư tưởng dân chủ phương Tây Con người mới trong thơ văn Phan Bội Châu là con người của tình yêu nước tha thiết, là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước tiến bộ - cụ thể hơn, thống thiết hơn, giục dã hơn Không phân định biên độ đẳng cấp, xuất thân, tuổi tác tất cả cùng quần tụ, đồng lòng vì lợi ích chung của toàn dân tộc, cùng hướng về mục đích chung, đánh đuổi giặc xâm lược, rửa mối nhục của người dân mất nước, đem độc lập

về cho Tổ quốc, đem tự do về cho dân tộc

Trang 6

Tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh cách mạng là mạch ngầm xuyên suốt sáng tác của Phan Bội Châu nhưng có thể nói tiêu biểu trong đó là tiểu

thuyết Trùng Quang tâm sử Tiểu thuyết đánh dấu sự chuyển biến trong hệ tư tưởng yêu nước của nhà chí sĩ Trùng Quang tâm sử là tác phẩm tụ hội đường

nét nhất những thang bậc đi lên trong tư tưởng yêu nước của nhà chí sĩ về chủ nghĩa yêu nước dân tộc Những hình tượng nhân vật anh hùng yêu nước trong

Trùng Quang tâm sử chính là những đứa con tinh thần chứa đựng ước mơ,

khát vọng mà Phan Bội Châu đã từng ấp ủ

Đích đến trong việc nghiên cứu đề tài khoá luận “Thế giới nhân vật

trong Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu” là khám phá những hình

tượng anh hùng yêu nước tiến bộ của nhà chí sĩ Phan Bội Châu muốn chuyển tải, đồng thời thấy được nét đặc trưng của con người Việt Nam tại trạm trung chuyển cận hiện đại Từ đây, thấy được sự kế thừa của Phan Bội Châu đối với giai đoạn trước và cả những đóng góp, những thành quả đối với các giai đoạn sau việc định hướng con người yêu nước lí tưởng Trở về với nhân vật trong

Trùng Quang tâm sử, chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau, có cách nhìn toàn

vẹn và sinh động nỗi trăn trở duy nhất của các bậc tiền bối trước thử thách cam go của lịch sử để vươn lên bảo vệ Tổ quốc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tầm cao về tư tưởng yêu nước trong sự nghiệp “vị quốc” của Phan Bội Châu là lãnh địa lí thú được nhiều nhà nghiên cứu phê bình chọn làm điểm đặt chân cho hành trình khám phá của mình Song hành cùng tư tưởng yêu nước, văn thơ yêu nước của Phan Bội Châu cũng là một miếng đất đông khách tới lui Số lượng bài viết về nhà cách mạng Phan Bội Châu nói chung, về tư tưởng yêu nước trong tác phẩm văn học của ông nói riêng, đạt một dung

lượng đồ sộ Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Nhà yêu nước và văn Phan Bội Châu (Viện văn học, NXB Khoa học và xã hội, 1967), Phan Bội Châu về tác giả và tác phẩm của Chương Thâu, Trần Ngọc Vương (NXB

Trang 7

tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây- NXB Thuận Hoá, Huế 2001), Nghiên cứu Phan Bội Châu của Chương Thâu (NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004), Phan Bội Châu trong dòng thời đại của Chương Thâu (NXB Nghệ An, trung

tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2007) Theo dòng chảy lịch sử, các tập sách dung chứa những bài nghiên cứu của Phan Bội Châu và tư tưởng yêu

nước của ông ngày một đầy đủ và hoàn thiện

Để công việc nghiên cứu được dễ dàng và hiệu quả, tôi tạo lập một bố cục lịch sử nghiên cứu theo trục dọc thời gian như sau:

những bài nghiên cứu có chất lượng về Phan Bội Châu như: Văn chương ông Phan Sào Nam của Cao Xuân Huy (Văn học tuần san, số 3, 1935), Phan Bội Châu con người của một thời đại và một xứ sở của Đặng Thai Mai (trích văn thơ Phan Bội Châu, NXB văn hoá Hà Nội, 1960), Chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu của Trần Đức Sự (Nghiên cứu lịch sử, số 83, 1966), Bàn thêm

về quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu của Nguyễn Đổng Chi (Nghiên cứu lịch sử, số 111, 6/1968), Phan Bội Châu nhà tuyên truyền tư tưởng yêu nước của Nguyễn Văn Hoàn (Tạp chí văn nghệ quân đội số 12, 1967)

* Sau năm 1975

Khảo sát trên tinh thần tổng hợp cả 3 miền đất nước, tôi tìm thấy một lượng lớn các bài nghiên cứu, phê bình về Phan Bội Châu ở giai đoạn này trong các tạp chí, sách chuyên ngành, các bài tham luận từ các hội thảo khoa

học Theo khả năng và điều kiện có thể, tôi tìm thấy các công trình sau: Phan

Trang 8

Bội Châu về tác giả và tác phẩm của Chương Thâu, Trần Ngọc Vượng (NXB giáo dục, 2001), Phan Bội Châu cuộc đời và thơ văn của Hoài Thanh (NXB văn hoá, Hà Nội 1978), Từ Phan Bội Châu đến Nguyễn Ái Quốc, sự chuyển giao thế hệ trong đấu tranh giữ nước của Phan Ngọc Liên, Nguyễn Đình Lễ

(trong sách Phan Bội Châu, con người và sự nghiệp, NXB Đại học quốc gia

Hà Nội, 1999), Phan Bội Châu trong hiện đại hoá văn học dân tộc của Lê Trí

Viễn (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 1977)

* Những năm gần đây

Trong hoàn cảnh đất nước hoà bình, với độ lùi thời gian nhất định, tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu càng đặc biệt thu hút sự tìm hiểu của các nhà nghiên cứu phê bình Mở rộng biên độ thu thập, tìm kiếm, chúng tôi tập

hợp được những công trình tiêu biểu sau đây: Phan Bội Châu trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam thế kỷ XX của tác giả Trần Ngọc Vương (Phan Bội

Châu về tác giả và tác phẩm; Chương Thâu, Trần Ngọc Vương, NXB giáo

dục, 2001), Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế

kỷ XX của Trần Đình Sử (tạp chí văn học Hà Nội, 2001), Tầm vóc Phan Bội Châu trong lịch sử và lịch sử văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX của Phong

Lê (tạp chí nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 4, 2008)

Nhìn một cách tổng quát các công trình nghiên cứu trên đây, chúng ta thấy mặc dù số lượng bài viết khá nhiều, sự quan tâm của các nhà lí luận càng rất tích cực, hứng thú nhưng tập trung lại ít có công trình nghiên cứu chuyên biệt xuyên suốt về sự nghiệp và tư tưởng yêu nước tiến bộ của Phan Bội Châu Đến gần hơn với hình tượng con người yêu nước trong sáng tác của

Phan Bội Châu có công trình: Bàn thêm về quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu của Nguyễn Đổng Chi (Nghiên cứu lịch sử số 111, tháng 6 năm 1968)

công trình này đã nói lên được quan niệm xây dựng thế giới nhân vật trong sáng tác của Phan Bội Châu Đặc biệt là đã đi sâu làm rõ từng giai đoạn chuyển biến trong tư tưởng yêu nước của cụ Phan theo các sáng tác thơ văn

Trang 9

Phan Bội Châu đã chuyển mạnh từ chủ nghĩa anh hùng yêu nước kiểu phong kiến sang chủ nghĩa anh hùng yêu nước kiểu nông dân kết hợp với chủ nghĩa anh hùng yêu nước kiểu tư sản Mặc dù Nguyễn Đổng Chi đã tiến gần hơn với chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu qua các nhân vật văn học, nhưng để thực sự

đi sâu và làm rõ quan niệm về con người yêu nước trong sáng tác của Phan Bội Châu thì công trình này cũng chưa được triển khai một cách thấu đáo

Đại đa số các nghiên cứu này đều thống nhất với nhau ở chỗ, ghi nhận

nội dung yêu nước tràn đầy và hình thức nghệ thuật cách tân “thoát lốt” nhà

nho trong các tác phẩm của Phan Bội Châu Song, với độ sâu và chiều cao tư tưởng yêu nước của nhà đại ái quốc, thì việc nghiên cứu cần thiết nhiều hơn nữa một công trình chuyên sâu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử của

Phan Bội Châu Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng các tác phẩm khác của tác giả có liên quan đến quan niệm về chủ nghĩa anh hùng yêu nước Đồng thời, tìm hiểu các sáng tác thuộc giai đoạn văn học trung đại và các sáng tác cùng thời với Phan Bội Châu để có cái nhìn đối sánh Phạm vi nghiên cứu của đề

tài là tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, trong đó chúng tôi

tập trung nghiên cứu thế giới hình tượng nhân vật anh hùng yêu nước mà nhà văn miêu tả và sáng tạo

4 Phương pháp nghiên cứu

Để khảo sát đề tài này, tôi hướng đến vận dụng những phương pháp sau đây

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Với phương pháp này, chúng tôi

tiến hành phân tích các đặc điểm riêng lẻ, độc lập ở hình tượng nghệ thuật, đồng thời tiến hành tổng hợp lại để có những nhận thức đầy đủ, đúng đắn về bản chất chung của các hình tượng, cũng như tìm ra được quy luật vận động

về tư tưởng của hình tượng trong đề tài này

Phương pháp cấu trúc hệ thống: Ở phương pháp này tôi đặt ra những

vấn đề của đề tài trong mối tương quan mang tính hệ thống và quy luật cấu trúc định hình

Trang 10

Phương pháp so sánh: Bằng phương pháp này, tôi hướng tới việc đối

sách giữa tác giả với các nhà yêu nước cùng thời để thấy được sự tiến bộ vượt bậc trong tư tưởng của ông

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng các phương pháp thống kê, quy nạp, diễn dịch cùng với lý thuyết thư pháp học và phương pháp đồng đại, lịch đại để tiến hành nghiên cứu hiệu quả hơn

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận được chia làm 3 chương cụ thể như sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung

Chương II: Thế giới nhân vật xét từ nội dung yêu nước

Chương III: Thế giới nhân vật xét từ phương thức thể hiện

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Hình tượng nhân vật, hình tượng nghệ thuật

có thể là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, người đàn bà làng chài, chàng trai, những kẻ đưa tin, lính hầu thường thấy trong kịch Đó là những nhân vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Nhân vật có thể là những con người được miêu tả cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Đó cũng có thể là những con người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc nỗi niềm, ý nghĩa, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Khái niệm nhân vật

có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ là một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm Nhưng chủ yếu nhất vẫn là hình tượng con người trong tác phẩm

Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua

đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Văn học vốn có mối quan

hệ đối với đời sống Và chỉ tái hiện được đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời

Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu

để ta nhận ra Nhân vật trong văn học, khác với nhân vật trong hội hoạ, điêu

Trang 12

khắc bộc lộ trong hành động và quá trình Nó luôn hứa hẹn những điều sẽ xẩy

ra, những điều chưa biết trong quá trình giao tiếp

Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, ước ao và hi vọng về con người Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và mối quan

hệ giữa các cá nhân đó Đó là chàng Thạch Sanh được công chúng mến phục, dùng tài năng và lòng dũng cảm của mình để cứu thoát công chúa, đánh tan quân xâm lược Đó là một Sọ Dừa thông minh tài sắc hiếu thảo, lột khỏi hình dạng bề ngoài xấu xí để lọt vào mắt con út phú ông xinh đẹp, nết na, sống cuộc đời hạnh phúc Những kiểu nhân vật tốt đẹp như thế là ước mơ của nhân dân lao động thời xưa Trong cuộc sống hiện đại, hình tượng nhân vật phản ánh rõ đời sống xã hội dưới mọi gốc cạnh đa diện, đa chiều Hiện lên trong sáng tác của Nam Cao là những nhân vật bị tha hoá, bị xã hội ruồng bỏ nhưng vẫn khát khao lương thiện Hay là những nhân vật sống mòn trong vòng xoáy

cơm áo gạo tiền Hình tượng nhân vật trong Trùng Quang tâm sử là những

nhân vật anh hùng cứu nước Phan Bội Châu bằng những sáng tác của mình

đã làm nổi bật lên trong văn học những nhân vật anh hùng với sự ý thức về cách làm người, không chịu nhục, không quỳ gối trước cường quyền

Tóm lại, trong tác phẩm văn học, nhân vật là hình thức để phản ánh hiện thực Hình thức ấy rất đa dạng, thể hiện các khía cạnh vô cùng phong phú của cuộc sống Đó cũng có thể là con người, cũng có thể là đồ vật, động vật nhân hoá Việc hình dung sự đa dạng của nhân vật là rất cần thiết để đi sâu tìm hiểu những nội dung phong phú đó trong di sản văn học nhân loại cũng như sự phong phú của văn học xã hội chủ nghĩa ngày nay

Trang 13

con người Ở hình tượng nghệ thuật có sự hoà trộn nhân tố nhận thức khách

thể và nhân tố sáng tạo chủ thể Hình tượng nghệ thuật là một khách thể tinh

thần Mọi phương tiện biểu hiện chỉ có ý nghĩa khi làm sống lại các khách thể

đó, và người đọc tác phẩm, chỉ khi nào thâm nhập vào thế giới tinh thần đó mới có thể nảy sinh được sự thưởng thức, đồng cảm

Hình tượng nghệ thuật là cái được sáng tạo, được khái quát, không phải

là sao chép cái có sẵn mà là đứa con tinh thần của nghệ sĩ trong quá trình nhận thức về hiện thực cuộc sống, đồng thời là con đẻ của hiện thực khách quan Hình tượng nghệ thuật thể hiện quan hệ giữa thế giới nghệ thuật và thực tại mà nó phản ánh, giữa tác giả với người đọc Quan hệ giữa tác giả đối với cuộc sống trong tác phẩm, cuối cùng là quan hệ giữa các yếu tố của bức tranh đời sống Nam Cao quan niệm: nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối mà nghệ thuật phải thoát ra từ tiếng kêu đau khổ của những kiếp lầm than Dấu chân của người nghệ sĩ phải xuyên thấm từ cách tiếp cận hiện thực, cách phát hiện vấn đề và phương thức chuyển tải tư tưởng tình cảm qua hình tượng

Beelin khẳng định: “tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó mô tả cuộc sống chỉ

để miêu tả, nếu nó không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc trong tư tưởng bao trùm thời đại nếu nó không phải là tiếng thét đau khổ hoặc lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”

Tóm lại hình tượng nghệ thuật là nơi kết tinh của các yếu tố về con người, đời sống xã hội, tư chất nhà văn, mà nhà văn là người giữ một vai trò quan trọng trong việc chuyển từ thế giới vật chất sang thế giới tinh thần, hướng người đọc tới cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm

1.2 Phan Bội Châu - cuộc đời, văn nghiệp

Trong sâu thẳm tâm hồn con người Việt Nam, nhớ đến cái tên Phan Bội Châu là nhớ đến người anh hùng cứu quốc, đồng thời nhớ đến nhà văn, nhà thơ lớn của Quốc gia, dân tộc

Trang 14

Phan Bội Châu sinh năm 1867, quê mẹ ở làng San Nam, xã Nam Hoa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tên thật là Phan Văn San (san trong từ san

hô, một thứ cây bằng chất khoáng ở dưới biển, do đó lấy biệt hiệu là hải thụ), năm 1900 mới lấy tên là Phan Bội Châu Từ khi chính thức ra nước ngoài hoạt động cứu nước, Phan Bội Châu lấy biệt hiệu Sào Nam (do câu cố văn: Việt điểu sào Nam chi – chim Việt làm tổ ở cành Nam, tỏ ý luôn luôn hướng

về Tổ quốc) Ngoài ra, còn có nhiều bút danh biệt hiệu khác mang nhiều ý nghĩa nữa như: Phan Thị Hán, Độc Tính Tử, Hán Mãn Tử…Thân phụ Phan Bội Châu là Phan Văn Phổ, một người thâm nho, thông hiểu kinh truyện, một đời sống với nghề dạy học: Lấy nghiêm làm trọng, lấy bút làm cây, ông là một bậc thiên nhân, là một người đôn hậu, cũng có dòng dõi Nho học Phan Bội Châu từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, mới lên 4 lên 5 đã học thuộc lòng

được mấy thiên “Chu Nam” trong Kinh thi, tức là quyển sao chép nhiều thơ ca

nhân gian của Trung Quốc thời xưa Lên sáu tuổi đã bắt đầu đi học chữ Hán,

học sách Tam tự kinh chỉ trong vài ba ngày, học sách luận ngữ (Luận ngữ của

tiên sinh họ Phan) trong đó vì có lời chế diễu bạn nên bị bố đánh đòn Tám tuổi, bắt đầu biết làm bài và đỗ đầu một kỳ thi hoạch ở xã, ở huyện Lên 13 thì thành thạo các thể văn cử tử: thơ, phú, kinh nghĩa Tài giỏi nhưng thi cử lại lận

đận Ở khoa thi Đinh Dậu (1897) do vô tình mà bị án “hòa hiệp văn tử” (mang theo sách vở) “chung thân bất đắc ứng thí” (suốt đời không được đi thi) Đến

khoa thi Canh tý (1900) sau khi được bạn bè vận động, vua Thành Thái xóa án cho, Phan Bội Châu tham gia ứng thi và đậu Giải nguyên trường Nghệ

Phan Bội Châu từ nhỏ đã được nuôi dưỡng trong không khí sôi sục chống Pháp của

cả nước, đặc biệt là ở quê hương Nghệ Tĩnh, vùng đất sớm có tinh thần yêu nước và chí khí mạnh mẽ, ngoan cường Tinh thần yêu nước sớm nảy nở và định hình trong ý thức của Phan Bội Châu Từ lúc còn nhỏ cậu bé San đã cùng các bạn lấy ống tre làm súng, lấy hạt

vải làm đạn chơi trò “Bình Tây” (dẹp yên giặc Tây) Năm lên 17 tuổi, khi nghe tin ở Bắc

kỳ phong trào Cần Vương phất cờ kháng chiến khí thế, liền nửa đêm viết hịch Bình Tây thu

Bắc (dẹp giặc Tây thu lại đất Bắc) lời lẽ rất thống thiết, bí mật đem dán lên gốc cây to đầu

làng với mong muốn bày tỏ chí đánh giặc của mình Năm lên 19 tuổi, khi nghe vua Hàm Nghi phát hịch Cần Vương, Phan Bội Châu cùng người bạn thân là Trần Văn Lương thành

lập nên “Sĩ tử Cần Vương đội” bị giặc Pháp khủng bố nên đã tan rã Tuy sớm có tinh thần

cứu nước nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ mất sớm, cha già không có ai chăm sóc

Trang 15

muốn hoàn toàn dành trọn vẹn cuộc đời mình để tìm đường cứu nước Năm 1901 Phan Bội Châu ấp ủ âm mưu chiếm thành Vinh nhân ngày Quốc Khánh của Pháp (14 tháng 7) nhưng không thành Năm 1904 Phan Bội Châu tích cực vận động thành lập Duy Tân Hội Năm

1905, ông bí mật sang Trung Hoa, Nhật Bản phát động phong trào Đông Du Năm 1908, phong trào Đông Du bị giải tán Kế đó, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi Nhật Bản, phải trở lại Trung Hoa, rồi tới Thái Lan xây dựng căn cứ đợi thời cơ Năm 1912, sau cách mạng Tân Hợi (1911) Phan Bội Châu trở lại Trung Hoa thành lập Việt Nam quang phục hội và Hội chấn Hoa hưng Á Từ năm 1913 – 1916 (có chỗ nói 1917) ông bị chính quyền Quảng Châu bắt giam Tuy bị giam trong ngục nhưng nhà cách mạng vẫn không ngừng tìm cách liên hệ với các đồng chí mình và chủ trương lợi dụng việc Đức hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương để vùng lên đuổi Pháp cứu nước Nhưng đại chiến thứ nhất kết thúc và Pháp là phe thắng trận Năm 1922, Phan Bội Châu bắt tay cải tổ Việt Nam quang phục hội thành Đảng Việt Nam Quốc dân Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ nước Nga đến Trung Hoa làm ủy viên Đông Phương bộ Được Nguyễn Ái Quốc góp ý, Phan Bội Châu sẵn sàng thay đổi đường lối, chưa kịp bàn bạc cụ thể thì đến năm 1925, ông bị Pháp bắt cóc giải về nước, chúng định thủ tiêu kín nhưng bị bại lộ đành đưa xử ông công khai, kết án tù chung thân (từ năm

1922, ông đã bị thực dân Pháp kết hợp với Nam triều kết án tử hình vắng mặt) Nhân dân

cả nước đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu; Varen (varenne) sang Đông Dương thay thế Meclanh (Merlin) làm toàn quyền, ra lệnh ân xá, nhưng thực tế đưa cụ về giam lỏng tại Huế (Bến Ngự) cho đến khi qua đời (1940)

Con đường cứu nước của cụ Phan cũng gắn chặt với cuộc đời của cụ Trải qua nhiều khuynh hướng chính trị, từ chỗ chịu ảnh hưởng của phong trào Cần Vương, chuyển sang chủ trương quân chủ lập hiến, rồi đi đến chủ trương cách mạng dân chủ tư sản, tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu luôn vận động và sáng tạo, hướng đến sự hoàn thiện một chủ nghĩa yêu nước cho cách mạng dân tộc

Song song với quá trình hoạt động cách mạng ấy là chặng đường cầm bút viết văn Bản thân Phan Bội Châu không nuôi giấc mộng làm thi nhân, tiểu thuyết gia Trái lại từ thời trai trẻ đã lấy câu nói của người xưa làm điều

tâm đắc “lập thân tối hạ thị văn chương” nhưng chính sở học Nho giáo thiên

bẩm chữ nghĩa và công cuộc vận động cách mạng đã đưa đẩy Phan cầm ngọn bút và trở thành cây bút tuyên truyền cổ động lớn nhất trong những năm đầu thế kỷ XX như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Giáo sư Trần Văn Giàu

cho rằng “Thơ văn Phan Bội Châu trước hết là thơ văn yêu nước, nhằm xây dựng tư tưởng yêu nước, xây dựng tinh thần chiến đấu chống xâm lăng” dưới tiêu đề Nhà nho yêu nước thành nhà chính trị, nhà văn Tác giả Trần Đình

Trang 16

Hượu, một trong những chuyên gia hàng đầu về tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam, đã phân tích cặn kẽ sự nghiệp văn chương này

Nhìn từ nội dung, văn chương Phan Bội Châu bám sát và phản chiếu trọn vẹn cuộc đời chính trị cũng như những diễn biến tư tưởng của thời đại bấy giờ Ba chặng đường đời của Phan Bội Châu thường được phân chia trên cơ sở những ngã rẽ chính trị của ông Và giai đoạn thứ 2, khi Phan bôn ba hải ngoại là

giai đoạn “đắc ý” nhất trong sự nghiệp chính trị của ông, cũng là thời kỳ ông có

nhiều thơ văn tuyên truyền thành công cả về nội dung lẫn nghệ thuật

Giai đoạn thứ nhất, ngoài văn chương cử tử, Phan còn viết những bài

văn cổ động tinh thần yêu nước chống Pháp như hịch Bái thạch vi huynh (lạy

đá làm anh, 1987) Lưu cầu huyết lệ tân thư (lá thư mới viết bằng lệ máu từ

đảo Lưu Cầu 1904) Trong đó Lưu Cầu huyết lệ tân thư, đương thời đã làm

cho nhiều sĩ phu có tâm huyết biết tiếng của Phan Bội Châu và sau đó thành đồng chí chiến đấu của ông Ông còn sáng tác nhiều thơ ca, cả chữ Hán và

chữ Nôm, manh nha tư tưởng canh tân như: Chơi xuân, Khuyên chồng xuất

dương du học (2 bài), Kể chuyện năm châu Đường hướng cứu nước và tư thế

của một lãnh tụ cách mạng chưa bộc lộ rõ ở trang văn thơ kì này, nhưng có cái hào sảng của đấng nam nhi chí khí:

Ngã vị đăng sơ thì, Chúng sơn dữ ngã tề

Ngã kí đăng sơn thì, Ngã thi chúng sơn đê

( Ta chưa lên đỉnh núi kia, Núi non bao bọc từ ngang vai

Ta lên trên đỉnh kia rồi, Non xanh trăm ngọn gió xuôi lè tè.) Hay tâm thế xông pha để làm nên đại nghiệp, tâm trạng bức bối mong cứu vong cứu tồn cho quốc gia thì rất rõ ràng

Trang 17

Rửa bụng bằng tám chín đầm Vân Mộng, làm nhà dưới muôn vạn hác tùng quân

Hay Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời Trong khoảng trăm năm cần có tới Sau này muôn thủa há không ai Non sông đã mất sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài Muốn vượt biển đông theo cánh gió Muôn trùng sống bạc tiễn ra khơi (Xuất dương lưu biệt, bản dịch của Tôn Quang Phiệt)

Giai đoạn thứ hai (từ năm 1905 đến 1925), trên con đường bôn ba hải ngoại, nhà cách mạng Phan Bội Châu thường lấy bút danh Sào Nam Tử, Thị

Hán… Với khí thế tung hoành, hào sảng, một số tác phẩm như: Việt Nam

vong quốc sử (1905), Khuyến quốc dân tư trợ du học văn (bài văn khuyến

quốc dân giúp đỡ phong trào du học (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Kính cáo toàn quốc phụ lão thư (Thư kính báo phụ lão toàn quốc, 1907) thư gửi

Phan Châu Trinh đã được bí mật gửi về nước, giữ vai trò to lớn khích lệ nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên trí thức đi vào đấu tranh cứu nước Có tác phẩm đã làm cho nhiều chính khách Trung Hoa, Nhật Bản biết tiếng mà khâm phục tác giả, từ đó ủng hộ cách mạng Việt Nam Cũng trong thời kỳ này Phan

Bội Châu đã viết Việt Nam quốc sử khảo (khảo về sử của nước Việt Nam

(1908) với ý thức làm sống dậy lịch sử dựng nước, giữ nước rất mực hào hùng của dân tộc

Phan Bội Châu cũng viết nhiều truyện về các liệt sĩ: Kỷ niệm Lục (1901), Sùng bái giai nhân (1907), Trần Đông Phong truyện, Hoàng Phan Thái truyện (1907), Ngư hải ông liệt truyện, Tước thái thiền sư (1917), Chân

Trang 18

tướng quân (1917), Phạm Hồng Thái (1924), nhằm ghi công các đồng chí và

nêu gương sáng dũng cảm, bất khuất trước đồng bào

Hơn thế nữa, trong thời kỳ này nhà văn còn viết nhiều bài trên tờ Vân Nam tạp chí, bằng Trung văn của nhóm cách mạng người Vân Nam, Trung

Quốc tập hợp ở Nhật Bản hồi đó Khoảng vào năm 1907 trong tập Phan Bội Châu niên biểu còn ghi tên mấy bài: Ai Việt điếu điền (1906), Việt vong thảm trạng (1907) Vào khoảng năm 1920 -1922, Phan Bội Châu còn viết cho tờ

Đông Á tân văn ở Bắc Kinh, rồi Binh sự tạp chí ở Hàng Châu, Trung Quốc,

tác phẩm Trùng quang tâm sử (khoảng 1913 -1917) một cuốn tiểu thuyết luận

đề yêu nước và ít nhiều mang hình thức tiểu thuyết lịch sử của Phan Bội Châu

đã được in trên tạp chí Bình sự này

Thơ văn của Phan Bội Châu viết trong thời gian bôn ba ở nước ngoài

đã bộc lộ phần nào tư tưởng tình cảm tốt đẹp nhất cùng các bước chuyển biến trong đường lối đấu tranh cách mạng của tác giả

Giai đoạn thứ 3 (từ 1925 -1940), thời kỳ bị bắt về nước, lúc này mặc dù sống trong hoàn cảnh bị thực dân Pháp kìm kẹp không được giữ gìn gắn bó với đồng bào, đồng chí nhưng số lượng sáng tác của Phan Bội Châu cũng

không phải là ít: Nam quốc dân tu tri (1927), Nữ quốc dân tu tri (1926), Xã

hội chủ nghĩa (1953), Phan Bội Châu niên biểu (khoảng 1937 -1940), Khổng

học đăng (1953) Ngoài ra còn nhiều văn thơ khác được tập hợp lại trong các quyển: Phan sắc nam văn tập, Phan sắc nam quốc văn thi tập Tư tưởng

truyền tải ở đây vẫn chứa chan tấm lòng yêu nước, thương dân thiết tha với nét độc lập tự do của quốc thể, đồng bào Phan Bội Châu tham gia chú giải kinh dịch cũng trong giai đoạn này

Trong văn nghiệp của Phan Bội Châu có 2 cuốn hồi kí tự thuật đó là:

Ngục Trung thư (1914) ngay sau khi bị giặc bắt giam tại nhà ngục Quảng Châu, và cuốn Phan Bội Châu niêu biểu viết trong những năm cuối đời Qua

Trang 19

hai cuốn hồi kí có thể thấy rõ toàn bộ cuộc đời cách mạng, con người và nhân cách cao cả của Phan Nếu trên đường chính trị Phan là một chính khách, nhà tuyên truyền không mệt mỏi thì trọn vẹn văn chương ông cũng là ngòi bút

xông pha bền bỉ Nhưng “dù làm thơ, viết tuồng hay viết tiểu thuyết có thể đến hàng nghìn tác phẩm, Phan Bội Châu cũng chỉ có đáng kể những cái gì đã góp phần vào mục đích thức tỉnh đồng bào đang mê ngủ” (Trần Đình Hượu)

Văn nghiệp Phan Bội Châu là sự biểu hiện tròn đầy những biến hóa tích cực về đường lối cảm nghĩ và hành động của nhà đạo đức cách mạng Việt Nam Qua văn chương của ông, những thước phim cận cảnh về ý chí dân tộc,

về đất nước giống nòi, về đồng bào đồng chí như còn hiện diện một cách sống động trước nhãn tiền của người xem Cũng từ trong trang văn, trang thơ của

cụ, vang vọng những tiếng thét căm hờn dữ dội, những bản cáo trạng hùng hồn, đanh thép về tội ác của quân thù Ở đó ta thấm thía lẽ sống và tiếng nói giục giã cứu nước thương nòi trong thời đại mới

Phan Bội Châu vẫn tiếp tục sự tồn tại của mình trong tư cách nhà yêu nước, nhà văn, xuất hiện thêm trong ông một nhà khảo cứu triết học và văn hóa Cuộc đời ông gắn liền với những thăng trầm, thành bại, vinh nhục của số phận dân tộc trên nhiều bình diện, nhiều chiều kích khác nhau Hiểu đúng ông

là một đòi hỏi quan trọng để hiểu đúng dân tộc Việt Nam trong cả một chặng lớn của lịch sử

1.3 Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử

1.3.1 Hoàn cảnh ra đời

Trùng Quang tâm sử (Pho sử lòng thời Trùng Quang) là tiểu thuyết

bằng Hán văn, được viết trong thời kì Phan Bội Châu sống lưu vong ở nước ngoài, khoảng từ 1905- 1914 đăng lần đầu tiên, làm nhiều kì trên tờ Binh sự tạp chí, xuất bản hàng tháng, ở Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, từ số 81(Tháng Giêng năm 1921) đến số 132 (tháng tư năm 1925) chỉ hai tháng trước khi ông bị thực dân Pháp lừa bắt Tuy được công bố từ năm

1921 đến 1925 nhưng đã được viết ra từ trước Trong cuốn niên biểu, Phan đã

Trang 20

liệt Trùng Quang tâm sử vào trong số những tác phẩm được viết ra trước thời

kỳ bị đô đốc Quảng Châu là Long Tế Quang bắt giam (19 -1-1914) Căn cứ

vào phần nội dung của tác phẩm, chúng ta có thể coi Trùng Quang tâm sử

được viết trong khoảng thời gian từ sau khi Phan xuất dương (1905) cho đến khi bị bắt giam ở Quảng Đông (1914) Được viết ra trong thời kỳ hoạt động sôi nổi đắc ý nhất của nhà chí sĩ, nhưng phải đến thời kì thê thảm nhất của cuộc đời nhà chí sĩ như chính ông viết trong niên biểu tác phẩm mới được ra mắt công chúng Mà cũng chưa phải là công chúng mà tác phẩm của nó nhe

nhắm và tha thiết kêu gọi ở ngay câu đầu và ở cả câu cuối tập sách: “Quốc dân ta ơi! Đồng bào ta ơi! Dậy! Dậy!Dậy!” Cái dụng ý của người viết được thức tỉnh, kêu gọi đồng bào bằng câu chuyện “bình Ngô phục quốc” này,

không thực hiện được, bởi lẽ rất đơn giản là từ ngày được hoàn thành, nó đã ngủ một giấc dài, có hơn nửa thế kỉ

Trong hoàn cảnh đất nước bị dày xéo bởi gót giày xâm lược, con đường cứu nước của dân tộc chìm trong bóng đêm không thấy lối Phan Bội Châu đã

sáng tác tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử với khát vọng truyền bá tư tưởng

tiến bộ về cách mạng, yêu nước và đánh thức tinh thần chống Pháp của nhân dân ta Nhưng việc mang theo những nội dung tư tưởng này, cuốn tiểu thuyết lúc trở về đất nước đã lập tức bị chính quyền thực dân phong kiến thanh trừ,

thủ tiêu, bởi đối với chúng đây là “tập sách nguy hiểm”, là “yêu thư yêu ngôn” Pháp luật thực dân lợi dụng bọn phong kiến làm nanh vuốt, thanh trừ

loại văn đó, truy tố, hãm hại những người đã viết tập sách này

Dưới chế độ thực dân Pháp và chính quyền phát xít của chủ nghĩa tư bản, sự khủng bố được tiến hành với một tinh thần ghê gớm, quỷ quyệt hơn bao giờ hết Tuy vậy, tất cả thủ đoạn áp bức, khủng bố đó vẫn không thể tiêu diệt được tinh thần nhân đạo của những tác phẩm ưu tú Và chính vì có một nội dung lành mạnh cho nên tập sách đã được người ta chép lấy và giữ lại cho đến ngày nay, để được phiên dịch ra tiếng Việt và giới thiệu với độc giả

Trang 21

Với sức mạnh trường tồn mãnh liệt của tinh thần yêu nước, tiểu thuyết

Trùng Quang tâm sử đã định vị giữa nền văn học dân tộc với vai trò là tác phẩm quan trọng trong bước chuyển mình “nhạy cảm” của lịch sử tư tưởng

yêu nước trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.3.2 Nội dung của tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử

Qua hai mươi chương hồi với ngót hai mươi nhân vật, Trùng Quang tâm sử, đã dựng lại bức tranh sinh động về thảm cảnh của một dân tộc đang

quằn quại dưới gót giày của đế chế Trung Hoa với những âm mưu thủ đoạn thâm độc của bọn dị tộc cướp nước Nhưng nổi bật nhất vẫn là cao trào giải phóng dân tộc với sức vùng dậy quật cường của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, trong khoảng cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV

Trùng Quang tâm sử là một cuốn tiểu thuyết mà trong đó yếu tố tưởng

tượng có một tác dụng, một địa vị rõ rệt Nhưng đây không phải là một bộ tiểu thuyết lịch sử, nhằm mục đích kêu gọi hay xây dựng lại cuộc sống xã hội của một thời kỳ đã qua, đây cũng không phải là một tập phiêu lưu kí với những đoạn lạc bất ngờ, những tình huống hồi hộp, lại càng không phải là một tập tiểu thuyết tâm lý với những tình tiết ly kì, những tâm trạng phức tạp trong một khung cảnh về không gian, về thời gian Trái lại trong động tác, trong lời nói, trong thái độ sống, trong quan niệm nhân sinh của các nhân vật

và ngay địa điểm, thời gian hoạt động của bấy nhiêu con người bạn đọc sẽ luôn vấp phải những tình tiết phản lịch sử khá nghộ nghĩnh

Khung cảnh lịch sử ở đây là đời sống của nhân dân Việt Nam trong thời kì mất nước và khủng hoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sự phiền hà trong thủ đoạn cướp nước của dị tộc, thuế nặng sưu cao làm cho nông dân xơ xác, khốn cùng Qua hai mươi chương sách đều là những màn cảnh sinh động, thổ lộ hết mọi nhục nhã, đau đớn của một dân tộc đang quằn quại dưới gót giày tàn bạo của kẻ thù

Thế hệ thanh niên nhà nho yêu nước đầu thế kỷ này đã đem hết tâm huyết, đem tính mạng chuộc lại non sông Tổ quốc, tự bắt tay vào việc chuẩn

Trang 22

bị tổ chức Duy tân Những nhân vật chính ở đây có lẽ là người xứ Nghệ Hứng thú tập sách không phải ở nơi cốt truyện, hành động của các nhân vật anh hùng Nhưng có thể thấy câu chuyện cách mạng ở đây có một cốt cách hoàn toàn Việt Nam Khi anh Trầm, anh Hạnh kể lại cảnh sống khổ sở của họ, thì qua lời họ chúng ta có thể nhận thấy cả màn kịch của đời sống nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ Đời sống thực tế chính là cơ sở hiện thực của tập truyện này Cách gọi tên nhân vật rất bình dị: Ông Chân, cô Chí, anh Trầm , anh Phúc…nhưng các anh hùng vô danh ấy không phải là những nhân vật ước

lệ Ông Xí là một nông dân, bước vào sân khấu với gánh nước mắm trên vai Ông Võ, con trai nhà chài lưới, nhưng giỏi võ và thích hát dặm Anh Trầm thạo bẻ chuyện đò đưa Ông Chân bất bình với thời cuộc sống ngày lấy chén rượi làm trò tiêu khiển nhưng vẫn nghiên cứu binh pháp Bà Triệu, cô Chí, cô Liên là đại biểu cho thế hệ phụ nữ ái quốc ở thập kỉ này Mỗi người một thành phần, một nghề nghiệp, một tâm hồn, một vẻ mặt

Trùng Quang tâm sử là cuốn tiểu thuyết có ý nghĩa luận đề, một luận

đề cách mạng Việt Nam và đã nêu rõ sự cần thiết đoàn kết toàn dân để hoàn thành cách mạng dân tộc Tác giả cũng là người đầu tiên đã nhận rõ ý nghĩa toàn dân của cách mạng Việt Nam và sự cần thiết đoàn kết toàn dân để hoàn thành cách mạng dân tộc

Nhân dân là chủ nhân chính đáng của đất nước Trước con mắt của bọn thực dân và phong kiến, tôi tớ của chúng ý niệm đó là loạn thần tặc tử Đối với nhân dân ta hồi bấy giờ, đó cũng là một câu chuyện lạ lùng, khủng kiếp, nhưng đối với Phan Bội Châu nguyên tắc đó là cơ sở lý luận được nêu ra ngay

từ đầu cuốn tiểu thuyết Ông Xí cũng như các bác nông dân, các chị phụ nữ các bác thợ rèn đều cảm thấy một nỗi chua cay, đau khổ của những người mất nước Vì đất họ cày, nghề nghiệp họ làm đã bị người khác cướp đoạt Anh Phúc, anh Thắng, hai ngụy binh đi về với hàng ngũ cách mạng vì họ đã mắt nhìn thấy rằng: cái cách mạng người An Nam không bằng con ngựa của tên

Trang 23

quan cai trị Những đoạn đối thoại giữa các nhân vật đều là những lời lẽ cảm động để củng cố lòng yêu nước và niềm tin đối với tiền đồ cách mạng

Công việc cứu nước là công việc của toàn dân Con người cứu quốc là con người anh hùng Anh hùng ở đây không hoàn toàn thuộc dòng dõi quý tộc

mà phần lớn là những anh hùng thảo dã Họ đã có gan đảm đương lấy công việc cứu quốc với ý chí nghị lực sắt đá, kiên trung

Công cuộc dẹp giặc giành lại nước nhà, khi chúng ta khép lại tập sách, vẫn còn bỏ dở, chưa phải đã tới thắng lợi Tác giả còn nhắc đến kết cục thất bại của vua Trùng Quang, nhưng cũng phải nói rằng tác giả tập sách đã tin tưởng hơn ai hết vào tiền đồ của Tổ quốc Sau này, từ ngày cụ Phan bị bắt về nước, sau hơn hai mươi năm bôn ba, những người đã gặp cụ vẫn được nghe

cụ nhắc đến câu châm ngôn “thất bại là mẹ thành công” thì ở đây ông Xí, ông

Kiên cũng sẽ là những vị danh tướng của nhà Lê và tập sách này cũng không phải chỉ là tập tiểu sử của những anh hùng thất bại Nói cho đúng hơn, đây là

câu chuyện của những người “anh hùng vô danh” Mục đích của tác giả chỉ là

cất tiếng gọi to để thức tỉnh đồng bào

“Dậy ! Dậy ! Dậy!”

Ba chữ mở đầu cho tập sách, và cũng là ba chữ kết thúc không thể nói

là tập tiểu thuyết đã thực hiện được mục đích đó, bởi một lẽ rất rõ rệt là từ ngày diễn ra mãi cho đến ngày cụ Phan từ trần, tập sách chưa được phổ biến, nhưng cái mà tập sách này chưa thực hiện được, tư tưởng và hoạt động của cụ

và của các đồng chí, mấy năm sau sẽ gây được những tiếng vang lớn hơn trong tâm hồn các thế hệ Tập sách này là tiếng gọi đầu tiên

Mượn câu chuyện “bình Ngô” của tổ tiên để kí thác ý nguyện của chính

mình, Phan Bội Châu đã góp cho lịch sử văn chương dân tộc một tác phẩm

kiệt tác, với đầy đủ những đường nét mang tính thời sự và tính lịch sử Trùng Quang tâm sử là một cuốn tiểu thuyết tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước,

cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX

Trang 24

Mang những phẩm chất anh hùng yêu nước xứng tầm với thời đại,

những hình tượng nhân vật yêu nước trong tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử là

những biểu hiện cụ thể nhất cho tư tưởng yêu nước tiến bộ của nhà cách mạng Phan Bội Châu Qua đây, nhà chí sĩ góp một phần tâm huyết quan trọng vào việc định hình phẩm chất yêu nước cho dân tộc Việt Nam trong buổi chuyển

mình “nhạy cảm” – cận hiện đại

1.3.3 Vị trí, những cách tân của Trùng Quang tâm sử đối với tiểu thuyết

chương hồi chữ Hán Việt Nam

Phan Bội Châu đã đóng góp cho văn học Việt Nam một số lượng tác

phẩm đồ sộ, trong đó phải kể đến Trùng Quang tâm sử Tác phẩm có vị trí

quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của cụ Phan vào những năm đầu thế kỷ

XX Đây là một cuốn tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán Từ khi được phát hiện đến nay tác phẩm được nhiều người tìm đọc và nghiên cứu

Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam có lịch sử hơn 200 năm (từ năm 1696 đến 1925) Mở đầu cho thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ hán

Việt Nam là Hoan Châu kí, được viết vào năm 1696, một bộ tiểu thuyết

chương hồi miêu tả thuật lại tám thế hệ đầu của dòng họ Nguyễn Cảnh ở

Nghệ An thuộc đất Hoan Châu thời cổ Tiếp theo là Nam triều công nghiệp diễn chí do Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm soạn vào năm 1719 Tác phẩm này có nhiều tên gọi Trịnh Nguyễn diễn chí, Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp diễn chí, Việt Nam khai quốc chí truyện Sau đó là Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm tác giả Ngô Gia Văn phái soạn vào khoảng

thời gian cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX Bộ tiểu thuyết này có nhiều tên

gọi An Nam nhất thống chí, Hậu Lê thống chí, Lê quý ngoại sử Tác phẩm tiếp theo Hoàng Việt Long hưng chí được hoàn thành vào năm 1899 do Ngô Giáp

Đậu, người làng Tả Thanh Oai, con cháu của Ngô Gia Văn phái soạn

Một tác phẩm dùng thể loại này là Việt Lam xuân Thu, còn gọi là Việt Nam tiểu sử hoặc Hoàng Việt xuân thu do Vũ Xuân Mai khởi thảo, Lê Hoan

Trang 25

tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam là Tây Dương Gia Tô bí lục, do các

tác giả Phạm Ngô Hiên – Nguyễn Hoà Đường - Nguyễn Bá An - Trần Trình Hiên soạn vào những năm cuối của thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Cuối cùng

là tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, tác phẩm được đăng

tải nhiều kỳ trên Binh Sự tạp chí, ở Hoàng Châu thuộc cơ quan quân sự tỉnh Triết Giang Trung Quốc từ năm 1921- 1925

Trùng Quang tâm sử là tác phẩm ra đời muộn nhất trong hệ thống thể loại tiểu thuyết chữ hán Việt Nam Với lối viết đặc trưng của tiểu thuyết

chương hồi cổ điển và vượt sang địa hạt của bút pháp tiểu thuyết hiện đại khi

giới thiệu nhân vật không còn thấy lối “gây bất ngờ” hoặc giới thiệu lai lịch

một cách dài dòng, gắn với một sự kiện lịch sử có ngày tháng rõ ràng như

trong các tiểu thuyết chương hồi kiểu như “Mọi người đều reo mừng hưởng ứng và cùng nhìn về phía kẻ mới nói, thì ra đó là viên biên lại của đội tiếp Bảo tên là Vũ Bằng, Vũ Bằng là người huyện .”[5, 542] “lại nói năm ấy Thanh Đô Vương Trịnh Tráng xuống mở khoa thi chọn học trò Bây giớ học trò ở quê xã Hoa Trai, Huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia là Đào Duy Từ, tên hiệu ”[5, 221] Tất cả các nhân vật đều được giới thiệu đầy đủ lai lịch như

cách kể của của liệt truyện và cũng giống như nghệ thuật trì hoãn của sử thi, khiến cho câu chuyện trở nên rườm rà bởi lời giới thiệu của tác giả khác hẳn

với cách giới thiệu của Trùng Quang tâm sử Phan Bội Châu đã mượn lời kể

của một nhân vật để giới thiệu về nhân vật mới, kiểu như phần giới thiệu cô Chí bằng câu chuyện lí giải cho cô có mặt trong buổi họp mặt các Đảng viên tại sơn trại Nói chung là không có một công thức nhất định như các tác phẩm trước đó của thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam

Dấu hiệu hiện đại của Trùng Quang tâm sử còn thể hiện ở cách đặt tên

các tiết hồi của tác phẩm Nếu các tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam là kết quả của sự học tập, vay mượn hình thức kết cấu của tiểu thuyết chữ hán Trung Quốc như mỗi hồi có hai câu tóm tắt nội dung đặt ở đầu hồi và hai câu thơ

thất ngôn mang tính bình luận, đánh giá ở cuối hồi thì Trùng Quang tâm sử đã

Trang 26

có sự thay đổi Các hồi được đặt tên gọi cụ thể, tên các hồi rất ngắn, tóm lại

nội dung hồi đó như: Bỏ nhà cứu bạn, lộ gan anh hùng, anh hùng thử gươm

Những tên gọi này không khó hiểu, dễ nhớ và rất thuận tiện cho người tiếp nhận, đồng thời có thể kết thành những câu chuyện lẻ trong hệ thống những câu chuyện về trại Trùng Quang Quá trình trần thuật câu chuyện theo thời gian tuyến tính, không có những đoạn hồi cố, người đọc theo dõi câu chuyện

từ đầu cho đến khi kết thúc, khác với lối kể chuyện của tiểu thuyết chương hồi

truyền thống, sử dụng nhiều cụm từ “lại nói”, “nay lại nói”

Một dấu hiệu nữa của tác phẩm Trùng Quang tâm sử là bày tỏ những

quan điểm xã hội mới Đáng chú ý là đề cao vai trò người phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, thể hiện quan niệm xã hội mới bằng những khái niệm như bình quyền, bình đẳng, dân tộc, dân quyền Những nhân vật nữ trong tác phẩm đều là những nhân vật hư cấu nhưng đã thể hiện được tư tưởng mới về vai trò của người phụ nữ trong xã hội, đặc biệt trong việc đề cao phẩm giá của người phụ nữ với vai trò của người anh hùng cứu quốc Có thể nói rằng đối với nhà nho như Phan Bội Châu thời bấy giờ những kiến thức lý luận, xã hội học của phương Tây hiện đại chắc chắn chưa ăn sâu bám rễ trong nhận thức Hơn nữa, Phan Bội Châu vốn là một nhà nho, có tư tưởng quân chủ Vậy nên, khi tác giả để cho nhân vật phát biểu những khái niệm như bình đẳng, dân

chủ, vai trò người phụ nữ hay cách gọi danh hiệu quốc gia là “nước Việt Nam chúng ta”, thật mới mẻ Khi nghe một hào kiệt là ông Kiên nói với các đồng chí của mình: “anh em chúng ta mỗi người nhận một trách nhiệm do công chúng giao cho Ai làm không đúng trách nhiệm của mình, thì anh em có quyền trách phạt” [2,30], hoặc nhân vật Phấn nói “nhưng theo ý kiến riêng của tôi thì hai chữ anh hùng e rằng không phải chỉ dành riêng cho anh em nam giới”[2,33] hay Lực nói “xin mời vào Đảng! xin mời vào Đảng! bọn ta kết giao với nhau chỉ cốt thần hồn, không phải vì nhan tướng Nếu ai tán thành việc giết giặc thì đều là anh em rất yêu, rất kính của ta” [2,42] chúng ta

Trang 27

Đây là tác phẩm duy nhất trong tiểu thuyết chữ Hán sáng tác trong nước nhưng lại được xuất bản ở nước ngoài nên mang dấu ấn hải ngoại Cũng

như nhiều tác phẩm tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam khác, Trùng Quang tâm sử

phải mất một thời gian dài mới đến được với công chúng và bạn đọc Việt Nam qua bản dịch quốc ngữ

Đối với một chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, sự nghiệp cách mạng

“một trăm lần thất bại, một lần thành công” nhưng sự nghiệp văn chương lại

rất dáng kể Riêng trong thể loại tiểu thuyết chương hồi bằng chữ hán Việt Nam đã bộc lộ những điểm mới trong nội dung cũng như hình thức thể hiện

của “tiểu thuyết mới” có nguồn gốc từ Trung Quốc và phương Tây Các yếu

tố chương hồi còn đậm nét là bút pháp chủ đạo trong quá trình xây dựng tác phẩm, nhưng người đọc có thể nhận ra những đổi mới hay nói cách khác là

“tính cập nhật”, lối văn hiện đại ngày một lớn mạnh ở một nước có truyền thống văn học lâu đời như nước ta Ngày nay, nghiên cứu Trùng Quang tâm

sử trong hệ thống tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam để có một cái

nhìn toàn diện về tác phẩm, góp phần nhận thức tiến trình phát triển của thể loại tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chung

Trang 28

CHƯƠNG II

THẾ GIỚI NHÂN VẬT XÉT TỪ NỘI DUNG YÊU NƯỚC

2.1 Nhân vật anh hùng - con người hữu danh và vô danh

2.1.1 Nhân vật hữu danh

Một cội cổ thụ, nếu rễ càng ăn sâu thì nó càng đứng vững trước mọi cơn bão táp, một dân tộc, nếu truyền thống càng tốt đẹp và lâu đời thì tiềm lực tinh thần của dân tộc ấy càng lớn lao, người trong nước càng tự trọng, các thế hệ hậu sinh càng nổ lực, xứng đáng với ông cha để giữ gìn sự nghiệp của tổ tiên

Lịch sử dân tộc Việt Nam, về cơ bản là một chuỗi dài các cuộc chiến đấu chống xâm lăng, chống đô hộ Kể từ thời Bắc Thuộc kéo dài mấy trăm năm, chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa của dân ta Hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn ghi chép ở trang sử dân tộc đều là những cuộc khởi nghĩa lớn mang tính chất dân tộc nhằm dành lại độc lập chứ không đơn thuần là một cuộc nổi dậy của nhân dân diễn ra chống lại sự phi lí, nhũng nhiễu của quan lại địa phương Rồi từ Ngô Quyền trở đi, rất nhiều triều đại ở Trung Quốc đưa quân sang nước ta Có những triều đại xâm chiếm nước ta đến hai ba lần Tiếp theo vào cận hiện đại là sự xâm lược của Pháp, Nhật, Mĩ Trong chuỗi dài các cuộc xâm lăng này, để không bị tiêu diệt, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ các tiềm lực tinh thần để bù vào lực lượng vật chất khiêm tốn Bộ phận cốt lõi quyết định nhất trong các tiềm lực tinh thần đó là chủ nghĩa yêu nước khắc sâu vào truyền thống dân tộc Chủ nghĩa yêu nước là truyền thống đặc trưng độc đáo của dân tộc Việt Nam, biểu hiện sắc nét bởi nhiều góc cạnh: Là lòng căm thù giặc sâu sắc, là quyết tâm cứu nước mãnh liệt, là tình yêu non sông gấm vóc, yêu dân tộc anh hùng

và đặc biệt là truyền thống đấu tranh bất khuất của tổ tiên Tâm điểm của những truyền thống yêu nước tốt đẹp này chính là những vĩ nhân lịch sử Nhằm xây dựng tư tưởng yêu nước và tinh thần chiến đấu cách mạng dân tộc trong thời đại mình, Phan Bội Châu hơn bất cứ một văn nhân chính khách

Trang 29

dân tộc sẵn có, bằng cách ca ngợi những trang sử oanh liệt, các chiến công hiển hách cùng những đường nét bình dị của các bậc anh hùng kiệt nữ

Ngay từ đầu tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử, chỉ với một vài trang giấy,

Phan Bội Châu đã thể hiện khá tròn đầy sự nghiệp yêu nước oanh liệt của các thế hệ cha anh, làm giấy lên trong lòng người đọc những cảm xúc rất hào hứng và xúc động Hai từ tổ tiên được Phan Bội Châu nhấn đi nhấn lại, đã khơi gợi sâu sắc dòng suy tưởng của người Việt Nam mất nước Nó nhắc nhủ mọi người phải dương cao ngọn cờ đấu tranh, dành độc lập tự do, tiếp tục sự

nghiệp cứu nước của bậc cha anh: “dậy! dậy! dậy! Hỡi quốc dân ta! Hỡi đồng bào ta! Dậy mà nghe tôi kể chuyện ngày xưa! Câu chuyện tôi sắp kể đây không phải là chuyện Âu, Mĩ hay Nhật Bản, Xiêm La mà chính là chuyện của tổ tiên ta Sự việc của tổ tiên ta ngày trước nó có quan hệ rất mật thiết với chúng ta Nước ta về cuối đời nhà Trần trước đây bị nhà Hồ cướp quyền, gặc ngoại xâm thừa lúc nước ta loạn lạc, chiếm đóng hơn mười năm Đất đai và nhân dân tự do của nước ta phần lớn bị bọn dị tộc dày xéo Buổi ấy, cha anh

và con em của ông cha ta đều khốn khổ ở trong vòng ngựa trâu nô lệ Những

sự đau đớn phải nếm và những nỗi nhục nhã phải chịu không có lời bút nào

tả cho xiết Song việc tổ tiên ta nuôi chí căm thù, diệt thù rửa nhục, đổi quân địch hung bạo, khôi phục lại quyền chủ nhân sẵn có từ lâu đời và để lại giang sơn cho chúng ta ngày nay” [2,21-22] Cụ nhấn mạnh hơn nữa cho ai nấy thấy được rằng “theo bậc tổ tiên ngày xưa, ta sẽ nhớ tới tổ tiên sinh ra ta trong thời đó, không một ai là không anh hùng Dòng dõi anh hùng và hậu nhân của anh hùng là chúng ta thì sao chúng ta có thể quyên được” [3,22]

Câu chuyện được kể mộc mạc về tổ tiên của Phan Bội Châu có ý nghĩa rất lớn đối với những ai còn mang trong dòng máu mình truyền thống độc lập bất khuất của lịch sử dân tộc để từ đó định hình trong mỗi người một lý tưởng một lẽ sống

Đi từ khái quát hoá nghiệp yêu nước kiên cường của tổ tiên, Phan Bội Châu đã đem vào tác phẩm của mình những nhân vật lịch sử, những anh hùng

Trang 30

yêu nước, hữu danh với bản chất và tính cách đặc thù, biểu hiện tinh tế ý nguyện và tư tưởng yêu nước của nhà văn

Trùng Quang tâm sử, một cuốn tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử nhưng

đây không phải là một tiểu thuyết lịch sử Với dụng ý thay đổi chủ đề câu chuyện, tác giả đã chỉnh lí cả lịch sử để trình bày một quan niệm chính trị, diễn tả một ước mơ chính trị của mình Tác giả nhập hai cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của Trần Quý Khoáng và Lê Lợi làm một, trong đó thay đổi

cả xuất thân và vai trò của các nhân vật lịch sử, biến mưu đồ chống Minh khôi phục ngôi vua của Trần Quý Khoáng, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân thành cuộc khởi nghĩa của nhân dân để gành lại độc lập, giống với cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi và mang màu sắc chính trị của phong trào Duy Tân hội đầu thế kỷ

XX Tác giả đem Nguyễn Xí, người anh hùng yêu nước trong cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi nhập vào cuộc khởi nghĩa của Trùng Quang, dụng ý trình bày cuộc khởi nghĩa khôi phục đất nước theo tư tưởng chính trị khác với chính sử Trên nền tảng là tình yêu nước nồng nàn hướng tới đoàn kết toàn dân giành độc lập, vai trò quyết định trong cuộc khởi nghĩa là quảng đại quần chúng nhân dân chứ không phải là hoàng tộc và quan lại

Chính do lòng yêu nước và sự nhận thức sâu sắc và cao độ tư tưởng của mình, nhà văn đã thấy được khả năng đấu tranh chống giặc cứu toàn dân Những nhân vật lịch sử có mặt trong tác phẩm không phải được xây dựng theo lối thần tượng, thần thánh hoá vượt ra ngoài thời đại mà đều mang những nét tính cách bản chất nhất của một dân tộc - cùng yêu nước, cùng căm thù giặc, cùng mang ý chí chiến đấu quật cường, đặc biệt là cũng có những hoàn cảnh xuất thân rất bình dị, gần gũi với đời sống dân tộc để thấy rằng yêu nước

và cứu nước không phải của riêng ai Nó có tác dụng sâu sắc cổ vũ khích lệ tinh thần yêu nước của quần chúng, độ sâu về tư tưởng của tác phẩm cũng là

ở đây

Cổ kim lịch sử Việt Nam, khi nói về người anh hùng yêu nước thì

Trang 31

mĩ, nét siêu Việt xuất chúng của “thần tượng” Đến với Phan Bội Châu, lối

mòn này đã được khai rộng, tư tưởng yêu nước tiến bộ đã quyết định thái độ,

cách thức Phan Bội Châu trở về với các nhân vật trong tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử

Người anh hùng Nguyễn Xí, trong vai trò lịch sử là vị “Cương Quốc công” lừng danh với câu thơ ca tụng “Cương Quốc hùng tâm sơn hữu kiếm”

xuất hiện oai hùng trong tác phẩm, nhưng cũng quá đỗi bình dị bởi nghề

nghiệp “rất nhỏ mọn” với hình ảnh gánh nước mắn trên vai: “ở ngoài tỉnh thanh Nghệ An dọc theo sông Cấm, đi ra phía Bắc có một người quẩy hai thùng nước mắm rao bán rong ở ngoài đường, tiếng ấm như chuông đồng, vang xa tới mười dặm Nghe tiếng rao ấy người ta biết đó là một người trượng phu, nhưng làm một nghề nghiệp rất tầm thường Ôi! Người đó là ai? chính là ông Xí Có câu thơ rằng “cương quốc hùng, phong sơn hữu kiếm” tức là lời tán tụng con người đó” [2,23] Ngòi bút của Phan Bội Châu rất nhẹ,

nhưng quá đủ để Nguyễn Xí hiện diện trọn vẹn trong hình dung của người đọc hai cốt tính - anh hùng quân tử với xuất thân bình dân Sâu hơn nữa, Phan Bội Châu dẫn người đọc về quá khứ của vị anh hùng Cương Quốc công, thể hiện rõ tinh thần dân dã hoá người anh hùng yêu nước Ngày bé, Xí chỉ là cậu

bé chăn trâu theo cha ra ruộng cày Tuổi nhỏ và thân phận thấp hèn không cản trở được chí đuổi giặc và lòng yêu nước nảy nở mạnh mẽ trong Xí Thấy biết tình cảnh cùng cực, ngột ngạt của cha, của đồng bào là do những chính sách

áp bức vô đạo của giặc Ngô, Xí rất giận mà rằng: “thảm quá! Con thề nhất định phải giết bọn giặc đó để làm phúc cho nhân dân ta!” [2,25] Nỗi căm giận càng dội mạnh trong Xí, khi nghe cha kể rõ về tội ác của quân giặc “mặt

xí bỗng đỏ bừng, đầu tóc dựng đứng, thét lớn: Con thề con giết hết bọn giặc đó!”[2,25] Điều đặc biệt ở Xí là sự rất mực chững chạc bởi lòng tự trọng dân

tộc mà Xí sớm sở hữu trong suy nghĩ

Trang 32

Mới lên bảy, lên tám mà có bản lĩnh kiên cường như vậy, hình tượng nhân vật Xí đã đánh động rất mạnh tới cái tôi ý thức của người dân Việt Nam yêu nước

Nếu ở một cậu bé chăn trâu tầm thường như Xí mà đã có thể ý thức được về bản lĩnh dân tộc, có khát vọng giết giặc cứu nước thì há tại sao những người trưởng thành đầy đủ lại không thể can đảm vùng lên Nếu một ông Xí

bên “gánh hàng rông” vẫn trở thành “Cương Quốc công” lừng danh trong

quốc sử, thì thử hỏi đông đảo nhân dân Việt Nam có trừ ai là không thể làm anh hùng yêu nước, không thể thành danh Khẳng định nguyên lí đúng đắn ấy, Phan Bội Châu đã đánh mạnh vào cái tự ti hèn kém của dân tộc ta, đánh đổ cái định kiến sai lầm dân ta cam chịu kiếp nô lệ, khơi dậy tinh thần yêu nước, nỗi nhục mất nước và khát vọng tự do trong nhân dân Nhắc nhớ để ai nấy đều hiểu rằng yêu nước và cứu nước toàn dân Việt Nam là có thể

Với mục đích khẳng định tinh thần yêu nước và khả năng chiến đấu của

toàn dân, trong tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử Phan Bội Châu đã làm một cuộc “cải cách lịch sử” Sự thật lịch sử là một cuộc khởi nghĩa của Trần Quý

Khoáng chống giặc Minh được quan lại giúp sức và lên ngôi vua, nhưng xuất

hiện trong Trùng Quang tâm sử những nhân vật lịch sử này có gốc gác dân dã

Tuy giới thiệu ông Khoáng, Đặng Tất, Đặng Dung là dòng dõi tôn thất, ông Chân là thân văn yêu nước, đóng cửa đọc binh thư chờ cơ hội ra tay, giúp nước nhưng tác giả nói về điều này rất sơ lược Điều mà Phan Bội Châu quan tâm không phải là mục đích phò vua giúp nước như sử sách mà tác giả muốn hướng người đọc đến một tư tưởng duy nhất điểm xuyết ở các nhân vật là yêu nước

Tinh thần đấu tranh kiên quyết, cái nghĩa khí yêu nước liền mạch là những bộ phận hữu cơ trong tư tưởng nhất quán của Phan Bội Châu khi thể hiện các nhân vật lịch sử Tư tưởng yêu nước điển hình và hoàn cảnh lịch sử điển hình, tính cách chung và tính cách riêng ở các nhân vật được tác giả thể hiện ăn khớp thống nhất, tạo sức hấp dẫn nghệ thuật rất lớn Nguyễn Cảnh

Trang 33

xếch” [2,63], say quên trong men rượu “hay uống rượu, chẳng thiết làm việc

gì cả Nhà ông ta có ruộng có trâu đều bán hết để cúng cho ma rượu”

[2,62-63] Nhưng nỗi đau nô lệ vẫn ngầm dày vò tâm can Chân Nghĩ tới cảnh ngộ

bị áp bức dã man của đồng bào, Chân chua xót: “Ruộng là của giặc, đất là của giặc, thóc gạo của nhân dân ta cũng không còn phải là thứ mà dân ta đáng có nữa chẳng riêng gì thóc gạo vợ đẹp, con khôn cũng đều bị bọn giặc dày vò Cái thằng kia ngu thực! dám vì một ít thóc mà giết ngựa của quan, đền mạng là đáng, khách còn tức tối nỗi gì nữa!” [2,65] Với ông hạnh

phúc là khi rửa nhục cho giang sơn và tạo dựng được hạnh phúc cho nhân

dân Trần Quý Khoáng hào sảng với địa vị “trưởng giả” nhưng vẫn thường nghĩ đến quốc sĩ nuôi chí lớn Đặng Tất, Đặng Dung “làm quan châu ở Thăng Long” chịu tước phẩm quan Ngô nhưng trong lòng không có chữ Ngô rốt

cuộc thế nào họ cũng sẽ chống lại quân Ngô

Có sự riêng khác ở nhân vật về hoàn cảnh bản thân nhưng trước tình cảnh chung, khí thế giặc đang mạnh, dân trí chưa thông, ở tất cả họ lòng yêu nước vẫn được nhen nhóm Cho đến ngày những những mồi lửa yêu nước này

đã bén thì bùng cháy mãnh liệt “bắt đầu từ nay vĩnh viễn coi nhau là anh em thân thiết, một lòng một dạ tiêu diệt giặc thù, đến chết không hề thay đổi”[2,29], “Từ nay chúng ta lại càng cố gắng hơn, để thu hồi quyền lợi sẵn

có của chúng ta đương ở trong tay giặc” [2,31] Tất cả cùng chung một chí hướng: “mục đích cuối cùng của bậc đại trượng phu là phải làm cách mạng”

[2,29] Miêu tả tính nhất quán trong tinh thần chiến đấu của các nhân vật, Phan Bội Châu đã làm sâu thêm chủ đề đấu tranh của các nhân vật, đưa lại nhận thức sinh động và sâu sắc về tính cách yêu nước, căm thù giặc chân chính của đại chúng Việt Nam

Bài học thất bại của các triều đại phong kiến là bởi làm mất lòng dân nên mất nước Bấy giờ muốn lấy lại đất nước thì phải biết dựa vào sức dân, biết lấy sức dân mà kháng chiến, lấy dân làm cơ giới Việc xây dựng nhân vật lịch sử gần gũi với nhân cách quần chúng, Phan Bội Châu đã hâm nóng được

Trang 34

tấm lòng yêu nước của nhân dân, cho họ thấy sự thật Lịch sử dân tộc có sang trang được hay không, vai trò quyết định của họ rất lớn Dụng ý dựa vào sức dân, lôi kéo sức dân cho cách mạng yêu nước là tư tưởng rất tiến bộ của Phan Bội Châu

Trong giai đoạn đầu xuất ngoại, mặc dù Phan Bội Châu đã được tiếp

xúc tư tưởng dân chủ, đã có ý thức thoát khỏi “lối nhà nho”, từng tuyến bố

Giang sơn tử hĩ sinh dồ nhuế Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

(Giang sơn đã chết sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài) Nhưng quan niệm của ông về anh hùng yêu nước, về vai trò cứu nước

của kẻ sĩ vẫn không thay đổi Trong tác phẩm Sùng bái giai nhân, mặc dù

Phan Bội Châu đã có sự mở rộng về quan niệm con người yêu nước bằng những tiêu chí trên hết và trước tiên là yêu nước và hi sinh vì nước, nhưng lúc này theo Phan Bội Châu thì có khả năng làm việc lớn, thực hiện đại sự quốc gia chỉ có thể là những con người phi thường, là những kẻ vượt lên trên người anh hùng bình thường để lãnh đạo cách mạng Hạng anh hùng yêu nước này mới gánh được cái việc tối trong tối đại của nghìn muôn đời, lập nên được cái công tối gian tối khổ của nghìn muôn năm, và đương lấy các nhục tối hiểm tối

lạ của muôn thuở Sở dĩ Phan Bội Châu kì vọng, tin tưởng như vậy là vì đối với ông kẻ sĩ là người có thể dùng lưỡi để đánh, có thể dùng bút để đánh, là hạng người duy nhất có thể tiếp xúc với các kiến thức Hán học và Tây học để

có những phương pháp cách mạng phù hợp với tình hình đất nước, đưa cách mạng đến được với thắng lợi cuối cùng Nhân vật yêu nước mà Phan Bội Châu xây dựng trong thời gian này, hầu như không có bóng dáng của quần chúng bình dân, tư tưởng yêu nước mà ông theo đuổi lúc này là tư tưởng yêu nước phong kiến đã có từ trước Sự thiếu sót này của Phan Bội Châu phải trải

Trang 35

qua một quá trình dài kiên trì trong thực tế cách mạng mới được cải thiện và

bù đắp

Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử ra đời đánh dấu một bước phát triển

về quan niệm yêu nước của Phan Bội Châu Các nhân vật lịch sử được xây

dựng trong Trùng Quang tâm sử như “ánh nắng mới” được Phan Bội Châu

mang đến giữa hệ thống quan niệm yêu nước của cách mạng Việt Nam

Ở đây, tinh thần yêu nước, chí khí yêu nước và lực lượng yêu nước không còn bó hẹp ở lớp anh hùng, kẻ sĩ, những nhân vật lịch sử, những tên tuổi lừng danh trong quốc sử dân tộc mà còn chính là những con người bình dân có tinh thần yêu nước nồng nàn Thực tế cách mạng đã cho thấy, không phải học nhiều mới có lý tưởng ái quốc mà trong đám quần chúng vô học cùng có những bậc yêu nước lỗi lạc

Nuôi một tấm lòng yêu nước sâu sắc và sôi nổi, Phan Bội Châu dốc hết

nhiệt tình của mình vào việc tạo dựng các nhân vật lịch sử trong Trùng Quang tâm sử Chính niềm nhiệt tình và công phu của nhà văn mà đến nay, mỗi khi đọc Trùng Quang tâm sử, những hình tượng nhân vật lịch sử trong tác phẩm

khiến người đọc còn thấy sôi sục yêu nước, căm hờn và khát vọng chiến đấu

Từ những nhân vật lịch sử của Phan Bội Châu, tư tưởng yêu nước của dân tộc bước tới một bình diện có chiều sâu hoàn toàn mới Nhiệt tình yêu nước mới

là yếu tố quyết định tất cả

Chủ nghĩa yêu nước tiến bộ của Phan Bội Châu đóng góp to lớn mang cách mạng Việt Nam đi đến những trường đoạn hào hùng, oanh liệt

2.1.2 “Anh hùng vô danh”

Đầu thế kỷ XX, sau khi thất bại liên tiếp bởi sức mạnh áp đảo của tàu đồng súng cối từ Phương Tây, trước sự giàu mạnh tân tiến của kẻ thù, trong quần chúng cách mạng bắt đầu có sự run rẩy ở một số người Tâm lí tự ti khiến tinh thần chiến đấu mất đi sự liền mạch, sức mạnh đoàn kết bắt đầu có

lỗ hỏng

Trang 36

Đứng trước nguy cơ mất nước đã quá rõ ràng, thấy rõ nguyên nhân của nguy cơ mất nước, nhiệm vụ đặt ra cho nhà lãnh đạo cách mạng Phan Bội Châu và các chiến sĩ yêu nước đương thời là: Làm sao thức tỉnh đồng bào, hâm nóng lòng yêu nước, duy trì chí phục thù, mở mang dân trí; dân khí chống mọi tư tưởng trì trệ nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc và tiến tới

Trong tư thế là một nhà chiến sĩ cách mạng trực tiếp tham gia chiến đấu, Phan Bội Châu thấy rõ sức nặng của khối yêu nước đối với sự thành bại của cách mạng dân tộc Nhãn giới yêu nước của Phan đã mở rộng biên độ thực

thụ Điều mà ở lịch sử trước đó chưa từng có, trong Trùng Quang tâm sử,

Phan Bội Châu đã đưa vào một lực lượng đông đảo các nhân vật anh hùng yêu nước vô danh Gửi gắm quan niệm của mình về chủ nghĩa yêu nước thời đại mới: Vạch rõ nông dân là một đối tượng trọng yếu của chủ nghĩa yêu nước; xác định tường tận vai trò của quần chúng cách mạng Và khẳng định sức mạnh của tập thể đoàn kết với tầm nhìn này, Phan Bội Châu đã củng cố

và kích động một cách có ý thức lòng yêu nước, ham tự do cả đồng bào Với Phan chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng gắn chặt làm một, yêu nước

là anh hùng, anh hùng là yêu nước Phan ca ngợi tất cả những ai để đứng lên chống giặc cứu nước Phan không chỉ nêu những anh hùng dân tộc có tiếng tăm mà còn nêu những tấm gương ái quốc của những người không tên tuổi trong lịch sử Những ông Xí, ông Võ, bà Triệu, cô Chí, cu Trầm, chú Cửu…

Trong Trùng Quang tâm sử đều là những nhân vật tiêu biểu cho những anh

hùng vô danh trong lịch sử Theo Phan: Có hàng vạn, hàng cứ anh hùng vô danh rồi mới có những anh hùng hữu danh Khi nói đến những anh hùng dân

tộc bị thất bại ông nhấn mạnh: Một Trưng Vương mà không có hàng ngàn vạn

Trưng Vương vô danh làm vây cách, một Mai Hắc Đế mà không có hàng vạn

Mai Hắc Đế đồng tâm giúp sức thì nước ta sao khỏi bị chia làm quận huyện

Trong Trùng Quang tâm sử, Phan Bội Châu đã khắc họa rõ nét quan

niệm về chủ nghĩa yêu nước, cụ thể là những người anh hùng yêu nước vô

Trang 37

vật: nhân vật anh hùng yêu nước “hữu danh” và nhân vật yêu nước “vô danh” Giữa hai lớp nhân vật này luôn tồn tại mối quan hệ đồng đẳng về

quyền lợi, về tư tưởng Tương quan trong mối quan hệ đó được bộc lộ qua một số đối tượng duy nhất là lòng yêu nước Ngay ở đầu tiểu thuyết, nói đến những chiến công oanh liệt của tổ tiên - những anh hùng hữu danh như Lê

Lợi, Phan Bội Châu đã khẳng định: “Quyền chủ nhân sẵn có của một nước, đi rồi sẽ lại trở về, mất rồi sẽ lại thu phục được Nhưng việc đó không phải do một người mà có thể làm nên Có một người được mang danh anh hùng lừng lẫy mà không có hàng vạn ức vạn người anh hùng vô danh khác kéo trước, đỡ sau, nâng bên trái, dìu bên phải; thì bậc anh hùng hữu danh kia cũng không sao biểu hiện ra được Theo dõi chuyện của các bậc tiền liệt ngày xưa, ta sẽ tưởng nhớ tới tổ tiên ta sinh ra trong thời đó, không một ai là không anh hùng Dòng dõi anh hùng và hậu thân của anh hùng chính là chúng ta thì chúng ta sao có thể quên được” [2,22] Để thấy công lao của lịch sử, người

anh hùng hữu danh và người anh hùng vô danh tương xứng với nhau về mặt đóng góp

Phan Bội Châu bằng nhận thức và bằng sáng tạo nghệ thuật đã nhận thấy được trong bản chất con người Việt Nam ai nấy đều dung chứa một tình yêu nước nồng nàn Dù là người hiền tài thông thái hay là người bình dân học vấn hạn chế đều là những con người Việt Nam yêu nước Từ đây, Phan đi đến

xóa bỏ khoảng cách mặc cảm về tầng lớp bình dân “thiếu học” để nhìn thấy ở

họ nhiệt tình cách mạng, nhìn thấy ở họ những phẩm chất anh hùng, dẫn họ vào hàng ngũ anh hùng yêu nước của dân tộc Đối với cụ Phan, ai đã có trong lòng tình yêu nước và khát vọng cứu nước đều có thể đứng lên làm cách mạng, đều có thể trở thành anh hùng, không ngoại trừ một ai, kể cả người

nông dân bần hàn Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử - đánh dấu bước phát

triển trong tư tưởng yêu nước của Phan, bởi việc xây dựng hình tượng người anh hùng ái quốc Tác giả chỉ ra rằng, không chỉ ở tầng lớp trên và tầng lớp trung gian mà ngay cả với người lao động nghèo khó đều là người nhiệt tình

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2.Phan Bội Châu (1971),Trùng Quang Tâm Sử , NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trùng Quang Tâm Sử
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1971
3.Hà Minh Đức (1999), Lí luận văn học, NXB giáo dục , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1999
4.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (2008), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB giáo dục , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2008
5.Trần Nghĩa (1997), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam tập 3, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam tập 3
Tác giả: Trần Nghĩa
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1997
6.Chương Thâu, Trần Ngọc Vương (2001),Phan Bội Châu về tác giả và tác phẩm, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Chương Thâu, Trần Ngọc Vương
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2001
7.Chương Thâu (2001), Phan Bội Châu toàn tập (tập 4), NXB Thuận Hóa, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2001
8.Chương Thâu (2004),Nghiên cứu Phan Bội Châu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Phan Bội Châu
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
9.Trần Đình Sử tuyển tập ( tập 2) (2005), NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Sử tuyển tập
Tác giả: Trần Đình Sử tuyển tập ( tập 2)
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2005
10.Trần Đình Sử, Mấy vấn đề về quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX, tạp chí văn học, Hà Nội số 8, trang 613 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX
11.Trần Đình Sử (2005), Mấy vấn đề về thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thi pháp văn học Trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2005
12.Trần Hải Yến (2009), Phan Bội Châu, tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu, tác phẩm chọn lọc
Tác giả: Trần Hải Yến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w