Nếu như người Nhật từng tự hào vì có Yasunari Kawabata tiêu biểu cho vẻ đẹp Nhật Bản truyền thống trong những năm 70 của thế kỉ XX trở về trước thì Haruki Murakami, bằng tài năng kì lạ c
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè Qua đây, cho phép em gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến giảng viên TS Dương Thị Ánh Tuyết, người trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Quý thầy cô trong Khoa Khoa học Xã hội, Quý thầy cô của trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa học vừa qua
Em cũng xin cảm ơn tới thư viện trường Đại học Quảng Bình đã giúp em trong quá trình tìm kiếm và mượn tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Cuối cùng, em thiết tha bày tỏ lời tri ân sâu sắc đến ba mẹ đã luôn quan tâm, yêu thương và tạo mọi điều kiện cho em học tập Cảm
ơn những người bạn đã góp ý, luôn bên em, động viên và giúp đỡ em vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống
Tuy đã cố gắng và nỗ lực hết sức, nhưng do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn hẹp nên bài khóa luận không thể tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2016 Tác giả khóa luận
Nguyễn Hương Linh
LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện, dưới sự
hướng dẫn của TS Dương Thị Ánh Tuyết Các tài liệu, những nhận định ghi trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung
khoa học của công trình này
Đồng Hới, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Hương Linh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của khóa luận 7
6 Kết cấu của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 8
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Nhân vật trong tác phẩm văn học 8
1.1.1 Nhân vật – phạm trù trung tâm của tác phẩm văn học 8
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm 9
1.2 Hình tượng nhân vật nữ 10
1.2.1 Hình tượng nhân vật 10
1.2.2 Nhân vật nữ nhìn từ quan điểm giới 10
1.3 Haruki Murakami - nhà văn của những tâm hồn trôi dạt 12
1.3.1 Cuộc đời và con người 12
1.3.2 Murakami – cây bút chạm đến tầng sâu của tâm hồn 14
Chương 2 16
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ 16
THỂ HIỆN TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 16
2.1 Khảo sát - thống kê hệ thống nhân vật nữ 16
2.2 Nhân vật nữ và những chấn thương 17
2.2.1 Chấn thương vật chất 18
2.2.2 Sang chấn về tinh thần 22
2.3 Nhân vật nữ và nỗi cô đơn trong nhịp sống hiện đại 26
Trang 42.4 Nhân vật nữ và những cuộc tìm kiếm vô vọng 32
2.4.1 Kiếm tìm bản ngã đích thực 32
2.4.2 Kiếm tìm tình yêu trọn vẹn 36
2.5 Nhân vật nữ - biểu tượng của cái đẹp 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 42
Chương 3 43
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 43
3.1 Cá thể hóa nhân vật qua ngoại hình 43
3.2 Miêu tả chiều sâu của tâm hồn để dò tìm bản thể 47
3.3 Sử dụng yếu tố huyền ảo 52
3.3.1 Nhân vật huyền ảo 53
3.3.2 Kiến tạo những hành trình vô tăm tích 54
3.4 Không gian và thời gian nghệ thuật 56
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 56
3.3.2 Không gian giàu tính biểu tượng 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 66
PHẦN KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nói về sự bí ẩn, khó nắm bắt trong tâm hồn người phụ nữ, nhà văn người Ý Luigi
Pirandello đã từng viết: “Phụ nữ giống như những giấc mơ, chẳng bao giờ như cách
mà bạn muốn có được” Quả đúng như vậy! Tâm hồn người phụ nữ là một thế giới kỳ
diệu và mênh mông với những cung bậc cảm xúc khó đoán định, vừa dịu dàng như sương, mềm mại như nước lại vừa thăm thẳm như đáy biển sâu Sự nhạy cảm, mơ hồ, khó nắm bắt làm nên vẻ đẹp bí ẩn cho người phụ nữ, cũng là nguồn cảm hứng nghệ thuật cho các nhà văn, nhà thơ, cho dù viết về những quanh co, gấp khúc, những tầng sâu thầm kín trong tâm hồn người phụ nữ chưa bao giờ là điều dễ dàng
Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học lâu đời và giàu có, chỉ đứng
các bộ tộc, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập Ảnh hưởng của văn học Nhật Bản đối với nhiều nước trong khu vực “văn hóa chữ Hán” và một số nước khác trên thế giới đã để lại những dấu ấn khá rõ nét Hàng nghìn năm qua, giống như những đợt sóng không biết dừng lại, thời nào Nhật Bản cũng sinh ra không chỉ một mà rất nhiều nhà văn xuất chúng
Trong dòng chảy của văn học đương đại, Haruki Murakami xuất hiện đánh một dấu mốc quan trọng trong bước chuyển của một nền văn xuôi hiện đại: trước Murakami và sau Murakami Cùng với tên tuổi của Ryu Murakami và Banana Yoshimoto, Murakami xuất hiện với một vị thế quan trọng trong các công trình nghiên cứu lịch sử văn học hiện đại Nhật Bản, như một minh chứng cho “sự khuôn mẫu” của tác phẩm Murakami ngay từ khi tác giả còn sinh thời Nếu như người Nhật từng tự hào
vì có Yasunari Kawabata tiêu biểu cho vẻ đẹp Nhật Bản truyền thống trong những năm 70 của thế kỉ XX trở về trước thì Haruki Murakami, bằng tài năng kì lạ của mình,
đã khuấy động đời sống văn học không chỉ trong biên giới xứ sở Phù Tang mà còn tạo
ra một hiện tượng văn học sôi động trên văn đàn thế giới trong những năm cuối thế kỉ
XX đầu thế kỉ XXI với những tiểu thuyết nổi tiếng như Rừng Nauy, Xứ sở kỳ diệu vô
tình và nơi tận cùng thế giới, Biên niên ký chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, Kafka bên bờ biển, Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời… Tác phẩm của ông là
những thông điệp về số phận con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, những suy tư về tình yêu, tình dục, hoài nghi và hoang mang về thực tại vỡ vụn… trong một
xã hội hỗn độn, thiếu vắng lý tưởng và mục đích sống Bằng ngòi bút tài tình, Murakami đã xóa nhòa ranh giới giữa cái tầm thường và cái thanh cao, giải quyết hài hòa giữa tính chất bình dân và tính chất bác học trong sáng tạo nghệ thuật, trở thành một trong những tài năng tiểu thuyết hiện đại bậc thầy xuất sắc nhất cuối thế kỷ XX
Trang 6Từ Điển Bách Khoa Columbia 2001 ghi rằng Murakami Haruki "là một trong những tiểu-thuyết-gia-thế-kỷ-XX quan trọng nhất của Nhật Bản" Đề cập đến thời đại
lắm bão tố hiện nay, Matsuda Tetsuo của Nhật báo Yomiuri có số in lớn nhất ở Nhật,
viết:" Trong bất cứ trận bão lớn nào cũng có những nhà văn giương cao ngọn đèn soi
cho quần chúng.Murakami Haruki đang và sẽ lãnh vai trò đó" Báo The Guardian
viết: "Không có nhiều tác giả cùng thời mà tác phẩm lôi cuốn được giới độc giả trẻ
trực tiếp đến như thế, không chỉ trong nước ông mà còn trên khắp thế giới"
Đọc tiểu thuyết Murakami, dễ nhận thấy những câu chuyện của ông thường được
kể với ngôi thứ nhất, trong đó, nhân vật chính đối diện và trôi nổi giữa rất nhiều mối quan hệ với những người phụ nữ Những nhân vật nữ trở thành một phần quan trọng không thể thiếu trong tác phẩm của Murakami, là nguồn cớ bắt đầu câu chuyện và cũng là trung tâm trong cảm xúc của nhân vật chính cũng như độc giả Mặc dù được thể hiện một cách gián tiếp, nhân vật nữ trong trang sách của Murakami dù yếu đuối hay mạnh mẽ, rụt rè hay mạnh dạn, cá tính hay dịu dàng… vẫn hiện lên đầy ám ảnh và
mê hoặc đến kỳ lạ Có những gì trong thế giới chứa đầy bí ẩn của họ là điều mà xuyên suốt những câu chuyện đẹp và buồn da diết, nhân vật chính lẫn người đọc đều băn khoăn đi tìm và muốn được giải đáp
Nghiên cứu “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Haruki Murakami” là
việc cần thiết nhằm mở ra cánh cửa bước vào thế giới nghệ thuật đặc sắc của nhà văn, đồng thời khẳng định tâm huyết và tài năng độc đáo của nhà văn này
Xuất phát từ những lý do trên cùng với lòng yêu thích, ngưỡng mộ tài năng của Murakami, đồng thời nâng cao kiến thức và tầm hiểu biết về văn học nước ngoài nói
chung nên chúng tôi chọn vấn đề “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của
Haruki Murakami” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
Nghiên cứu đề tài đầy tính thời sự này phần nào cho ta cái nhìn thực tế, nhãn quan sắc bén của H.Murakami khi ông nhận ra sự suy giảm giá trị của người phụ nữ sự mất mát, mối quan tâm giữa con người với con người trong xã hội tư bản nước Nhật, đặc biệt đó là cơ sở cho ta soi lại, nhìn nhận và lý giải nỗi đau của chính mình, của những người xung quanh và cũng là những nhức nhối chung của nhân loại
2 Lịch sử vấn đề
Kể từ khi trở thành hiện tượng best seller, Haruki Murakami đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu phê bình trong và ngoài nước Những tờ báo danh tiếng như The New York times, The Washington Post Book World, New Statesman, The Los Angeles Times … đã dành cho ông rất nhiều sự ca ngợi mà bất cứ một người
cầm bút nào cũng ao ước: “Murakami, cách này hay cách khác, chính là hình vóc văn
chương của thế kỷ XXI (…) Văn ông không thuộc trường phái nào, nhưng lại có chất gây nghiện của loại văn chương tuyệt hảo” (New Statesman), “Sự sẵn sàng vượt-
Trang 7thẳng-lên-tới-đỉnh luôn luôn là dấu hiệu cho thấy thiên tài của ông (…) Một hiện tượng Nhật Bản, Murakami là một nhà văn tầm cỡ thế giới, người có thể mở to con mắt nhìn và dám mạo hiểm”… Nhiều tác phẩm của ông cũng được bàn luận, nghiên
cứu với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, trong tư liệu chúng tôi thu thập
được, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề “Hình
tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Haruki Murakami”
Do trình độ ngoại ngữ còn hạn chế nên chúng tôi chỉ có thể tiếp cận vấn đề thông qua các tài liệu nghiên cứu bằng tiếng Việt Trên cơ sở tài liệu thu thập được, chúng tôi điểm qua các công trình nghiên cứu theo hai mảng sau: các công trình nghiên cứu chung về tiểu thuyết của Murakami và các công trình nghiên cứu về hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami
2.1 Các công trình nghiên cứu chung về tiểu thuyết của Murakami
Không chỉ là một tượng đài văn học ở Nhật Bản, Haruki Murakami còn là nhà văn nổi tiếng khắp thế giới Tên tuổi của ông cùng những tác phẩm best-seller đã thực sự gây rung động trên văn đàn, chinh phục một lượng độc giả khổng lồ trên khắp thế giới, nhất là giới trẻ Được viết bằng tiếng Nhật - một ngôn ngữ không được sử dụng nhiều trên thế giới, nhưng những câu chuyện tinh tế về sự phi lý và trạng thái cô đơn của con người hiện đại trong tác phẩm của Murakami vẫn có sức cuốn hút mạnh mẽ với độc giả toàn cầu Một loạt tiểu thuyết xuất sắc của Murakami đã được giới thiệu và phát hành rộng rãi với hơn 40 ngôn ngữ khác nhau Hàng loạt quán cà phê tại đất nước này được đặt theo tên sách của ông Không những thế, Murakami còn trở thành tên gọi cho một loại cocktail tại Matxcơva…
Trên thế giới, giới phê bình đã tốn rất nhiều giấy mực để viết về nghệ thuật tiểu thuyết Murakami, tuy nhiên đó chỉ mới dừng ại ở những bài viết mang tính chất chuyên luận như: Tiết điệu nhạc Jazz, tính ngẫu hứng, cấu trúc tiểu thuyết đen, yếu tố
ma ảo, đặc biệt là sex… những thứ không hề là truyền thống văn chương Nhật Bản Tính đến nay, có khoảng 10 cuốn sách có giá trị viết về Murakami và tác phẩm
của ông Từ tiểu thuyết mới Nhật Bản: “Văn hóa đại chúng và văn hóa truyền thống
trong sáng tác của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto” của Giorgio Amitrano
(NXB Chang & Tsui, 26.01.1996), “Khiêu vũ với cừu: Đi tìm sự đồng nhất trong tiểu
thuyết của H Murakami” của Matthew Carl Strecher (Trung tâm Nhật Bản, Đại học
Michigan, tháng 3.2002) đến “H Murakami và âm nhạc của ngôn từ của Jay Rubin”
(NXB vintage 6.01.2015)…
Là một hiện tượng văn học đã và đang gây chú ý đặc biệt trong đời sống từ cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, dù những sáng tác của H Murakami xuất hiện khá muộn ở Việt Nam nhưng chỉ trong thời gian ngắn, một khối lượng lớn các tác phẩm tiêu biểu
Trang 8đã được dịch ra tiếng Việt, đồng thời Murakami chỉ xếp sau Yanasuri Kawabata về số lượng bài nghiên cứu của các nhà phê bình
Hiện nay, có rất nhiều bài viết nghiên cứu về tác phẩm của Murakami, cụ thể:
Khóa luận tốt nghiệp (Đại học Vinh) của Nguyễn Thị Hồng Ánh “Nghệ thuật thể hiện
tâm lý nhân vật của H.Murakami trong Rừng Nauy”; Khóa luận tốt nghiệp (Đại học
Vinh) của Đỗ Thị Minh Phương “Vấn đề dục tính qua tiểu thuyết Người đẹp say ngủ
(Y.Kawabata) và Rừng Nauy (H.Murakami)…
Bên cạnh đó, ta bắt gặp rất nhiều các trang mạng xã hội, blog, các bài báo nói về H.Murakami Với trên hai chục bài viết đăng Tạp chí Văn học, Văn học nước ngoài, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Sông Hương và Tạp chí khoa học các trường đại học , các tác giả làm nổi bật những đặc điểm nội dung và nghệ thuật, khẳng định những đóng góp của Murakami đối với nghệ thuật văn chương nói chung và văn học Nhật Bản nói riêng Nhìn sáng tác của H.Murakami từ góc độ nhân vật, các motip phức cảm và cố
mẫu, yếu tố sex thể hiện qua các bài: “Kiểu con người đa ngã trong tiểu thuyết
“Người tình Sputnhik” của H.Murakami” (Trần Thị Tố Loan - Văn học nước ngoài,
số 3/2010 ), “Phản ứng của giới trẻ và yếu tố sex trong tiểu thuyết Rừng Nauy”
(Vũ Thị Thu Hà - Nghiên cứu văn học, số 12/20080) Nghiên cứu về những biểu hiện của yếu tố kỳ ảo, giấc mơ, những dấu ấn nghệ thuật hậu hiện đại trong sáng tác của
Murakami tiêu biểu là những bài: “Yếu tố hậu hiện đại trong “Biên niên ký chim vặn
dây cót” của H.Murakami” (Lê Thị Diễm Hằng - Tạp chí KH&GD -ĐHSP Huế số
2/2010), “Nghệ thuật xây dựng giấc mơ trong “Kapka bên bờ biển” của
H.Murakami” (Nguyễn Hồng Anh - Văn học nước ngoài số 1+2/2012), “Một số yếu tố
kỳ ảo trong truyện ngắn của H.Murakami” (Hà Văn Lưỡng - Nghiên cứu Đông Bắc Á
số 9/2012 ) Cùng với những tác phẩm đã xuất bản, những bài báo cáo khoa học và những chuyên đề, chuyên luận liên quan, hiện tượng Murakami và tiểu thuyết của ông
đã trở thành tiêu điểm cho nhiều cuộc hội thảo Có thể kể tới như: Hội thảo “Thế giới của Haruki Murakami và Banana Yoghimoto” do Đại sứ quán Nhật, Trung tâm Hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản và Công ty Văn hóa và truyền thông Nhã Nam tổ chức Nội dung cuộc hội thảo tập trung vào phân tích 6 tác phẩm của 2 nhà
văn này đã được xuất bản tại Việt Nam gồm: Rừng Nauy, “Biên niên ký chim vặn dây
cót”, “Phía nam biên giới phía tây mặt trời” của Haruki Murakami và “Kitchen”,
“Vĩnh biệt Tugumi” của Banana Yoshimoto… Hay gần đây nhất là Tọa đàm thế giới
trong gương của H Murakami được tổ chức vào ngày 18/01/2013 Buổi tọa đàm nhằm tạo cơ hội để độc giả gặp gỡ, trao đổi sâu hơn nữa về Murakami, 1Q84 cũng như các tác phẩm đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt của ông, đồng thời có cái nhìn cụ thể hơn về vị trí của văn học Nhật Bản ở Việt Nam hiện nay…
Trang 9Tuy vậy, ngoài những công trình nghiên cứu được nêu ở trên thì các bài viết mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về Murakami chứ chưa có bài viết nào chuyên đi sâu
về Murakami và các tác phẩm của ông Đặc biệt về hình tượng nhân vật nữ, các chuyên luận hay các công trình nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát hoặc khai thác từng tác phẩm riêng biệt
2.2 Các công trình nghiên cứu về hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami
Viết và để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng tác giả với những câu chuyện ám ảnh và cảm động nên Murakami và các tác phẩm của ông nhanh chóng trở thành mục tiêu tìm hiểu và nghiên cứu của giới phê bình nói riêng và các học giả, dịch giả, bạn đọc mến mộ Murakami nói chung Tuy nhiên việc nghiên cứu về hình tượng nhân vật
nữ trong tiểu thuyết của Murakami chỉ mới dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ, điểm qua hoặc
đi sâu nghiên cứu về một nhân vật chứ chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
Có thể kể đến các công trình như:
Một số khóa luận tốt nghiệp, báo cáo khoa học nghiên cứu về Murakami và các
vấn đề có liên quan: Đề tài “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của
Murakami” của Trần Thị Thoan (2010); Đề tài “Nhân vật Naoko trong tiểu thuyết Rừng Nauy của H.Murakami” của Trần Thị Minh Trang (2011) đã đi sâu vào phân
tích tâm lý nhân vật, thấy được sự cô độc đến tuyệt vọng và khát khao hòa hợp tuyệt đối trong tình yêu của Naoko, đồng thời mở rộng thêm về nghệ thuật xây dựng nhân
vật trong tiểu thuyết Rừng Nauy…
Các chuyên đề, bài báo nghiên cứu về nhân vật trong tác phẩm của Murakami có
thể kể đến như: “Kiểu con người đa ngã trong tiểu thuyết của H.Murakami” của Trần
Tố Loan in trên tạp chí văn học nước ngoài số 3/2010; “Phức cảm Gẹnji trong tiểu
thuyết “Kapka bên bờ biển” của H.Murakami” của Nguyễn Thị Bích Thủy, in trên
tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2010; Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hồng
Vân “Hình tượng con người cô đơn trong tiểu thuyết của H.Murakami”… Việc đi sâu
vào khai thác con người cô đơn, con người đa ngã phần nào đã hé lộ về con người của các nhân vật nữ trong tác phẩm của Murakami
Chúng tôi cũng tiếp nhận thêm những bài viết trên mạng Internet để có thêm tư
liệu cho việc thực hiện khóa luận Chẳng hạn: “Người tình Sputnik đi sâu vào thế giới
đồng tính nữ” (Jang P), “Những vệ tinh cô đơn trong vô tận” (Nhật Chiêu), “Rừng Nauy – Haruki Murakami”(Yên Chi)… Tất cả đều hướng tới một nhận xét chung:
Những tác phẩm của ông từ Rừng Nauy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Phía Nam biên
giới phía Tây mặt trời, Người tình Sputnik… thực sự là những “hành trình trăn trở, những cuộc lãng du kỳ lạ trong hiện thực, những cuộc vượt thoát ra ngoài không gian
Trang 10và thám hiểm vào cõi nội tâm đầy bí ẩn của con người để truy tìm bản ngã của mình”
như Trần Thị Tố Loan đã nhận xét
Chỉ với hai từ khóa “Harunki Murakami” chúng ta có thể tìm thấy hơn 4.000.000 kết quả trên Google Điều này cho thấy sức hút mạnh mẽ của H.Murakami đối với công chúng toàn thế giới, một hiện tượng đặc biệt của văn học Nhật Bản
Điểm lại quá trình giới thiệu và nghiên cứu H.Murakami trong phạm vi tư liệu bao quát được, chúng tôi nhận thấy:
- Cho đến nay, H.Murakami không còn là hiện tượng xa lạ ở Việt Nam Tên tuổi của ông cùng với văn chương Nhật Bản H.Murakami đã thu hút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của nhiều thế hệ độc giả Sáng tác của H.Murakami đã có những ảnh hưởng sâu rộng chi phối đời sống và quan điểm của thế hệ trẻ, dần trở thành biểu tượng của văn hóa Nhật tại Việt Nam
- Thành tựu nghiên cứu H.Murakami ở Việt Nam còn khá khiêm tốn Đa số các công trình, bài viết đều xuất phát từ góc độ cảm nhận, phê bình chung, nêu ấn tượng khái quát của tác giả cũng như tác phẩm cụ thể Chưa có nhiều công trình, chuyên luận
có hệ thống nghiên cứu về tác phẩm của H.Murakami nói chung và tiểu thuyết của ông nói riêng
- Nhân vật nữ đóng một ví trí đặc biệt quan trọng trong tác phẩm của H.Murakami Khi nghiên cứu về H.Murakami cũng như tác phẩm của ông, các nhà nghiên cứu đã phần nào đề cập tới vấn đề này Song, tất cả mới chỉ dừng lại ở mức độ tản mạn, đơn lẻ, chưa thấy được tiếng nói bức thiết của hiện thực đời sống người phụ
nữ, chưa thẩm thấu được những vấn đề mang ý nghĩa thời đại trong tiểu thuyết của H.Murakami Vì vậy, “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Haruki Murakami” là vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Haruki Murakami chúng tôi tập trung vào ba phương diện sau:
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Hình tượng nhân vật nữ thể hiện trong quan niệm nghệ thuật
- Hình tượng nhân vật nữ nhìn từ góc độ nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi hướng đề tài của mình tập trung
vào 3 tiểu thuyết:
- Rừng Nauy (1987) do Trịnh Lữ dịch
- Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời (1992) do Cao Việt Dũng dịch
- Người tình Sputnik (1999) do Ngân Xuyên dịch
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx làm nền tảng, chúng tôi tiến hành khóa luận với phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ yếu là thi pháp học, tự sự học
Khóa luận cũng được tiến hành bằng một số phương pháp cụ thể như: khảo sát, thống kê, so sánh liên hệ, bình giá, phân tích, tổng hợp
Các thao tác này được sử dụng một cách có hệ thống, ngoài ra, trong khi thực hiện đề tài chúng tôi cũng không loại trừ một số gợi ý của phê bình trực giác
5 Đóng góp của khóa luận
Từ những phương diện của lịch sử vấn đề, khóa luận của chúng tôi có những đóng góp sau:
Hệ thống lại những vấn đề nghiên cứu về hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami ở phạm vi tài liệu bao quát
Chỉ ra và phân tích những biểu hiện của người phụ nữ trong trong tiểu thuyết của Murakami
Đưa ra cách tiếp cận mới về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong sáng tác của Haruki Murakami Đó là cách tiếp cận dưới ánh sáng của lý thuyết văn học hiện đại: thi pháp học có kết hợp tự sự học
Có được những đóng góp trên, khóa luận sẽ là một tài liệu bổ ích phần nào giúp cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy Haruki Murakami ở Việt Nam
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có ba chương sau:
Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương II: Hình tượng nhân vật nữ thể hiện trong quan niệm nghệ thuật về con người
Chương III: Hình tượng nhân vật nữ nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 12
NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhân vật trong tác phẩm văn học
1.1.1 Nhân vật – phạm trù trung tâm của tác phẩm văn học
Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô Hoài đã
có lí khi cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy
trong một sáng tác" [15;127]
Với tư cách là một trong những thành tố quan trọng cấu tạo tiểu thuyết nói chung
và là chủ thể trong những cuộc hành trình ở trang sách của Murakami nói riêng, nhân vật đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà phê bình và nghiên cứu văn học
Theo Từ điển tiếng Việt (1992), Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội – Việt Nam, Viện Khoa học - Xã hội Việt Nam, Viện ngôn ngữ học, nhân vật có nghĩa là “đối
tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học, nghệ thuật” [7;705]
Theo giáo trình Thi pháp học hiện đại, nhân vật văn học là hình thức thể hiện con
người trong tác phẩm và con người được miêu tả trong văn học bằng các phương tiện văn học
Giáo sư Phương Lựu trong cuốn Lý luận văn học, NXB Giáo dục (2000) định nghĩa: “Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện
ngôn ngữ” [14;277]
Giáo sư Trần Đình Sử trong sách Lý luận văn học (2012), NXB Đại học sư phạm cho rằng: “Nhân vật là phương tiện tư duy về hiện thực và định hướng giá trị con
người” [17;118]
Bertolt Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản
đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả"
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của
Trang 13nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm
Con người là trung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu mà các nhà văn, nhà thơ khao khát hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói riêng và thời đại văn học nói chung Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu song khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách định nghĩa về diễn đạt khác nhau Cụ thể như sau:
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách
cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [18;15]… Nghĩa là, quan
niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người được thể hiện thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp trong các tác phẩm văn học, từ đó, thấy được giá trị và chiều sâu triết lí của tác phẩm
Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa quan niệm nghệ thuật về con người là
“hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật
[6;275]
Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng một cách nhìn khá
bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều
sâu triết lí của tác phẩm”
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Chúng ta có thể
hiểu quan niệm nghệ thuật về con người một cách khái quát như sau: Quan niệm nghệ
thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải
về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng
Quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng
mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người
Nhưng mọi cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải về con người của nhà văn đều
là sản phẩm của lịch sử, xã hội và văn hóa thời đại nhà văn sáng tác Không chỉ vậy quan niệm nghệ thuật về con người còn mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Khi nhà văn miêu tả những con người là kết quả của sự vận động ấy thì sẽ làm văn học đổi mới Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng
Trang 14nhất để đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm văn học nói riêng và thành tựu của người nghệ sĩ nói chung
1.2 Hình tượng nhân vật nữ
1.2.1 Hình tượng nhân vật
Hình tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính Trong quá trình sáng tác, người nghệ sĩ luôn trăn trở, suy nghĩ, phấn đấu cho tác phẩm của mình có hình tượng đạt chất lượng cao Gorki gọi nghệ thuật là
khoa học về con người và nghệ thuật bắt đầu nói mà độc giả quên mất tác giả, chỉ
trông thấy và nghe thấy những con người do tác giả trình bày trước độc giả Nếu nghệ
sĩ không xây dựng được hình tượng thì tác phẩm của anh ta sẽ rơi vào lý thuyết khô khan trừu tượng
Hình tượng là phương thức biểu hiện chủ yếu của văn học Nói đến văn học là nói đến hình tượng Hình tượng chính là phương tiện để nghệ sĩ miêu tả con người và thế giới khách quan một cách sinh động, toàn diện, có hệ thống
Vai trò của hình tượng luôn được các nhà lý luận phê bình văn học nhấn mạnh
Heghen viết: “Sứ mệnh của nghệ thuật là ở chỗ dùng hình thức hình tượng nghệ thuật
cảm tính để làm nên tính chân thực” Macxim Gorki thì cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật không phải là kể ra mà là dùng hình tượng và bức tranh để miêu tả hiện thực”
Hình tượng là vấn đề phổ biến trong văn học và được nhiều người quan tâm
nghiên cứu Theo Hữu Đạt thì: “Hình tượng văn học nghệ thuật là bức tranh sinh động
nhất được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nghệ sĩ” [8;99] Trong “150 phép Thuật ngữ văn học” của tác giả Lại Nguyên Ân,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội cũng khái quát: “Hình tượng nghệ thuật văn học là
hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi
là những con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặ điểm giống với con người”
Như vậy, có thể thấy rằng hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật gọi là hình tượng văn học hay cũng có thể gọi là hình tượng ngôn từ Thông qua hình tượng ngôn từ, tác phẩm đem đến cho người đọc không phải bức tranh đời sống đứng yên mà luôn sống động, lung linh, huyền ảo, vừa vô hình vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ như bóng trăng dưới đáy nước, như bóng người trong gương, như không gian vốn ba chiều nay lại thu lại trong không gian hai chiều như hội họa, như mái chèo hai thước chiếu trên sân khấu mà tác giả đã vùng vẫy trước đại dương
1.2.2 Nhân vật nữ nhìn từ quan điểm giới
Lịch sử của nữ giới là một lịch sử câm lặng và giông bão Tính từ thời điểm mà
nhà Nữ quyền học người Italia - Catherine de Sienne ở thế kỷ XIV, đã lên tiếng đòi
Trang 15nhân quyền cho nữ giới, bằng cách viết 381 bức thư gửi các nhân vật quyền lực nhất trong Giáo hội, đến thời điểm 1960, với phong trào giải phóng nữ giới ở phương Tây,
đó là một hành trình dài để gắn vấn đề nữ quyền với nhân quyền
Femme - đàn bà, hay là phụ nữ, được Henri Bénac - nhà lý luận người Pháp định nghĩa như là một sự bí ẩn và phức tạp, có tính hai mặt Phụ nữ, phải chăng “Nàng là thiên thần, hay nàng vừa là ác quỷ?” [5] Nàng sáng tạo ra thế giới và cũng là nguyên
cớ hủy diệt thế giới Nàng thống ngự cuộc hành trình nhân loại bằng một vũ khí đáng
yêu và cực kỳ nguy hại: tình yêu và chiến tranh Từ thời tiền Adam và hậu Adam cho đến nay, phụ nữ luôn được/bị nhìn nhận như vậy: có thể cao hơn cả quyền lực, trí tuệ
và sức mạnh, cũng có thể bị xem là sự tầm thường nhất trong mọi sự tầm thường Phụ nữ, vì vậy đã trở thành một chủ đề bàn luận khá sôi nổi trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật, triết học và mỹ học Những triết gia lớn vào loại bậc nhất thế giới, họ thường lấy phụ nữ, như một luận đề tường minh cho lý thuyết của mình Và không ít những công trình trở nên bất hủ, nhờ vào việc “triết luận về đàn bà” Có thể kể
đến:Nhật ký của Augustin, Siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết của Athur Schopenhauer, Siêu lý tình yêu của V.Soloviev, Bên kia thiện ác của Nietzsche, Giới
nữ của Simone de Beauvoir…
Aristotle - triết gia cổ đại Hy Lạp đã nhìn phụ nữ từ phương diện không hoàn
thiện của giới tính: “Phụ nữ chỉ là một người đàn ông khiếm khuyết” Tư tưởng này
ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền ở phương Tây Còn J Bruyère, nhà phê bình người
Pháp, nhìn đàn bà ở sự cực đoan: “Đàn bà là cái gì đó vô cùng cực đoan, họ hoặc vượt
trội hoặc thấp kém hơn so với đàn ông” Nietzsche, với vẻ hoài nghi và cảnh giác:
“Trước lúc đến với đàn bà, mi đừng quên mang theo một cây roi!”
Tệ hơn nữa, thánh Jean Chrysostome còn tỏ thái độ miệt thị: “Trong tất cả các
loài dã thú, không có con nào là hại bằng đàn bà” Ngược lại, thánh Augustin thì nói
về phụ nữ, như một chiều sâu mê đắm, vô tận: “Muốn khám phá thân thể của một
người phụ nữ, đầu tiên, phải hiểu tâm hồn của họ”; hay “Điều bí ẩn lớn nhất là trong
nụ cười của người phụ nữ” Phụ nữ, được thánh Augustin đề cao dưới nhiều góc độ:
tâm hồn tinh tế, nhạy cảm; là hiện thân cho sắc đẹp và sự đam mê quyến rũ
Nhìn chung, dưới mắt của các triết gia, phụ nữ hiện lên từ hai mặt đối lập: dịu dàng và gai góc; yếu đuối và mạnh mẽ; khờ dại và khôn ngoan… Có thể ví như một chú mèo với bộ lông dịu dàng, mềm mại, nhưng sẵn sàng giương móng vuốt, bất kỳ lúc nào Họ rất mảnh mai, yếu đuối, nhưng cũng có thể trở thành sức mạnh vũ bão; họ
chung thủy vô cùng, nhưng cũng là giống phản bội siêu hạng…
Văn học nhìn nhận người phụ nữ với một vai trò, vị thế quan trọng trong việc tạo nên những tác phẩm nghệ thuật Vẻ đẹp mỏng manh hay sắc sảo, tâm hồn mạnh mẽ hay yếu đuối, lòng nhân hậu vị tha hay con người bản năng mạnh mẽ, hạnh phúc trọn vẹn hay bi kịch dang dở… tất cả đều được tái hiện lại một cách sinh động qua trang
Trang 16sách mà từ đó tác giả gửi gắm những tư tưởng, những yêu thương và trân trọng của mình Có thể kể đến các nhân vật như người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, Thúy Kiều của Nguyễn Du, chị Dậu của Ngô Tất Tố, Anna Karenia của Lev Tonstoi, Tachiana của Puskin, Esmeralda của Victor Hugo, Mecghi của Colleen McCullough… Mỗi người là một tâm hồn riêng, một vẻ đẹp riêng, nhưng tựu chung lại họ đều là những bông hoa đặc biệt khoe sắc trong vườn hoa của văn học thế giới
So với trào lưu văn học nữ quyền, hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami có chút khác biệt về bản chất Tuy nhiên cái nhìn đồng cảm, trân trọng, yêu thương của Murakami đối với nhân vật nữ của mình là một quan điểm tiến bộ, góp phần vào việc đấu tranh cho hạnh phúc và tiến bộ của người phụ nữ trong đó có trào lưu văn học nữ quyền
1.3 Haruki Murakami - nhà văn của những tâm hồn trôi dạt
1.3.1 Cuộc đời và con người
Haruki Murakami (âm Hán Việt: Thôn Thượng Xuân Thụ) sinh ngày 12 tháng 1 năm 1949 tại Kyoto nhưng lại trải qua tuổi trẻ ở thành phố Kobe, hiện đang sống ở Boston của Mỹ Cha ông là một thầy tu Phật giáo, mẹ ông là con gái của một thương gia ở Osaka Cả hai đều là giáo viên dạy môn học Nhật Bản Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tri thức của ông về văn học Nhật Bản, đặc biệt là cảm xúc
của ông về Nhật Bản: “Bởi bố tôi là giáo viên văn học Nhật, nên tôi muốn làm một thứ
gì đó khác Nên tôi đọc Kafka, Dostoyevsky và Tolstoy Tôi rất thích Đến nay, Dostoyevsky vẫn là thần tượng của tôi"
Ngay từ thuở nhỏ, Murakami Haruki đã có khuynh hướng phản kháng đối với văn
hóa truyền thống Ông tìm đọc mê mải tác phẩm của những tác giả Âu Châu thế kỷ
XIX Sau đó, ông học tiếng Anh, và đọc nguyên tác Truman Capote, Kurt Vonnegut… Ông ham mê nhạc Âu Mỹ: Elvis, Beatles, Beach Boys, nhạc Jazz Thế giới đó quyến rũ ông đến nỗi không bao lâu sau khi kết hôn với bạn đồng học Takahashi Yôko, năm 1971, ông ngưng việc học ở Đại học Waseda, cùng vợ mở một quán rượu nhạc Jazz ở Tokyo Song thân của ông rất thất vọng về việc ông lấy vợ sớm
và quay lưng lại với đời công tư chức vẫn được xem là an định, thậm chí lý tưởng trong xã hội Nhật lúc bấy giờ đang phát triển mạnh Ông chỉ bắt đầu viết từ 1978 Khi đang xem một trận bóng chày, ý nghĩ viết văn chợt đến với ông, như một tiếng gọi siêu hình, ông cho đó là sự kiện hạnh phúc nhất của đời ông Tác phẩm đầu tay của
ông, "Lắng Nghe Gió Hát" (KazeNo UtaO Kike, Hear the Wind Sing) xuất bản năm
1979, kể lại thời sinh viên tranh đấu phản kháng mà ông đã tham gia với một ít hoài
nghi, được giải thưởng "Tác giả Mới - Gunzô" ngay năm đó
Tiếp tục thành công với 2 tác phẩm sau đó và một số các truyện ngắn, ông bán quán Jazz, và trở thành một tác giả toàn thời Ông cũng bắt đầu việc dịch Raymond Carver, Truman Capote, F Scott Fitzerald, …Phong cách Murakami Haruki định hình
Trang 17từ tác phẩm thứ 3 "Cuộc Phiêu Lưu Theo Con Cừu" (HitsujiO Meguru Bôken, A Wild
Sheep Chase) xuất bản năm 1982, giải "Tác giả Mới - Noma" trong năm, pha trộn
những chi tiết trinh thám đen với những ảo giác và bí mật siêu hình Nhân vật của ông chủ trương những giá trị quan khác lạ với truyền thống xã hội Nhật, và ham mê âm nhạc, phim ảnh Âu Mỹ Đặc điểm đó hấp dẫn tâm tình giới trẻ Nhật Bản đang muốn cởi bỏ những trói buộc của văn hoá truyền thống
Dị ứng với lối sống đua đòi vật chất trong một nền kinh tế hãnh tiến, vợ chồng
ông rời Nhật sang sống ở Ý năm 1986 Ở Rome, ông viết "Rừng Na Uy" (NoruueiNo
Mori, Norw egian Wood), tác phẩm đã đưa ông lên địa vị "siêu sao" trong văn học
Nhật Bản Những ký ức hoài niệm trong tuổi đang lớn chen lẫn với ý thức về tính cách nhất thời của đời sống, ý thức về sự không thể tránh được của những mất mát, là đề tài của tác phẩm, đặt trong bối cảnh thời sinh viên tranh đấu phản kháng cùng lúc với bình
minh của phong trào tự do tính dục những năm cuối thập niên 60 và đầu 70 "Rừng Na
Uy" trở thành một phong trào, được tận dụng trong giới quảng cáo, từ bánh kẹo cho
đến vật dụng trong nhà; các nhà sản xuất xin làm phim; … Ngay trong năm đầu
tiên, "Rừng Na Uy" đã bán được 1 triệu bộ
Sống ở Âu Châu, ông vẫn băn khoăn về mục đích của đời sống của ông, một tác giả Nhật Hai vợ chồng lại quay về Nhật năm 1990, và năm sau, ông lại khoác áo ra đi, lần này sang Mỹ làm giáo sư khách của Đại học Princeton 2 năm, rồi 2 năm tiếp theo làm Tác giả Thường trú (Writer-In-Residence) ở Đại học Tuft,Massachusetts Tháng Giêng năm 1995, xảy ra thảm kịch động đất ở Kobe; 2 tháng sau, lại xảy ra
vụ tín đồ Chân Lý Giáo Aum thả hơi độc sarin trong tàu điện ngầm ở Tokyo Hai thảm kịch nầy đánh dấu sự chuyển biến từ căn bản của xã hội Nhật: Ý thức an định do an toàn xã hội từ lâu nay vẫn là một biểu hiện tính ưu việt của truyền thống văn hóa Nhật Bản, được tăng cảm nhờ tình trạng không ngừng phát triển của kinh tế bọt, bỗng một sớm một chiều đã bị thách thức gay gắt đến độ sụp đổ theo những toà nhà Kobe trong cơn động đất Không lâu sau đó, kinh tế bọt Nhật Bản cũng vỡ tan
Hai cơn sốc liên tiếp này đã đưa ông trở về Nhật Tuyển tập truyện ngắn "Sau Cơn
Động Đất" (JishinNo AtoDe, After The Quake) có những nhân vật chính, do ảnh
hưởng gián tiếp xa xôi của trận động đất Kobe, đã cảm nhận sâu sắc sự trống rỗng của
chính mình, mất niềm tin vào sự an định của đời sống gia đình Tập "Đường Ngầm"
(Andaguraundo, Underground) ghi những cuộc phỏng vấn trực tiếp tín đồ Chân Lý
Giáo Aum cùng những nạn nhân, cho thấy tâm tình phản kháng đối với những giá trị quan tôn thờ vật chất, cố gắng tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời từ những giải thuyết siêu hình, có khi cực đoan đến nỗi trở thành tội ác
Những nhân vật chính của Murakami Haruki không những chỉ hấp dẫn giới trẻ Nhật Bản, mà còn cộng hưởng với tâm tình giới trẻ Âu Mỹ vì những nét quen thuộc trong lối sống, thị hiếu mới; và chia sẻ với giới trẻ các nước chậm tiến hơn, lòng
Trang 18ngưỡng mộ hay ước vọng về lối sống Âu Mỹ Rất nhiều tác phẩm của ông đã được dịch và hâm mộ ở Mỹ, Anh, Nga, Đức, Hàn, Pháp, Ý, Spain, Hy Lạp, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch, Áo, Canada, Do Thái, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan Tiếng tăm của ông ở nước ngoài cộng với địa vị "siêu sao" trong nước Nhật, đã làm tăng khoảng cách đối với dòng văn học truyền thống Nhật Bản vốn vẫn nghi ngờ ý đồ có vẻ tạo loạn của ông Giải Nobel Văn học 1994 Oe Kenzaburo công kích Murakami Haruki và chê ông là "hôi mùi bơ" (batakusai) vì hay dẫn dụ những chi tiết văn hóa Âu Mỹ Murakami Haruki không thích sự săn đón của giới truyền thông, ông ít khi chịu phỏng vấn Giống như giới trẻ hiện đại, thành phần độc giả chủ yếu của ông, Murakami Haruki thoải mái với quần bò, áo thun, giày thể thao, ham thích các hoạt
động tăng tiến thể lực, tham gia nhiệt tình các kỳ chạy việt dã mỗi năm trong suốt 20
năm qua
Như vậy, ta có thể thấy Haruki Murakami là “một trong những giọng nói hấp dẫn
nhất trên văn đàn quốc tế (…) Murakami, cách này hay cách khác, chính là hình vóc của văn chương thế kỷ XXI Sử dụng lối mô tả của tiểu thuyết đen kiêu Hollywood, ông
đã khám phá qua lối siêu thực những lo âu của thời đại chúng ta trong lúc vấn giữ sự kinh ngạc cay đắng trước thực tại của tiêu thụ đại chúng Văn ông không thuộc trường phái nào, nhưng lại có chất gây nghiện của loại văn chương tuyệt hảo nhất” (Scott
Reybum, New Statesman)
1.3.2 Murakami – cây bút chạm đến tầng sâu của tâm hồn
Từ những năm 70 đến cuối những năm 80, Nhật Bản bắt đầu quá độ lên “xã hội hậu Công nghiệp” Đây là giai đoạn phát sinh nhiều biến đổi trong ý thức thẩm mỹ văn học Nhật Bản Chủ nghĩa Hậu hiện đại từng bước thâm nhập và tạo thành một trào lưu mới có ảnh hưởng sâu rộng Những thanh niên Nhật Bản lớn lên và cảm thấy bản thân cuộc sống của mình trong xã hội đã là sự mơ hồ, chán nản, trống rỗng mà không hiểu
rõ nguyên nhân Murakami đã theo dõi rất sát sao những chuyển biến tâm lý tình cảm của tầng lớp thanh thiếu niên, ghi chép lại cuộc sống, cái chết, những giấc mơ của họ trên phông nền đô thị hiện đại và đương đại không ngừng biến đổi Phương pháp sáng tác của văn học Hậu hiện đại giúp ông thể hiện được những điều phi thực tế nhất của thực tế, thiếu logic nhất của logic Trí tưởng tượng của ông bay xa vô tận, nhưng điều
mà ông phản ánh, cuối cùng vẫn là hiện thực
Trong số các nhà văn Nhật đương thời, Haruki Murakami có lẽ là cây bút nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất đến cả thế giới Với hơn 30 năm cầm bút, ông
đã vẽ nên bức tranh một Nhật Bản hậu chiến bao trùm bởi tâm trạng lãnh đạm, chán nản qua những trang văn khi siêu thực, lúc kỳ ảo và rải rác pha trộn những yếu tố tâm
lý, triết học phương Tây Nếu Nhật Bản với bao trầm tích văn hoá truyền thống đã nuôi dưỡng tâm hồn Y.Kawabata, thấm đẫm trang văn của ông ở tinh thần an nhiên tự tại, xúc cảm trước cái đẹp bình dị, sâu lắng, thâm trầm thì Âu - Mỹ với tư duy hiện đại,
Trang 19lối sống, thị hiếu mới đang hấp dẫn giới trẻ đã ảnh hưởng phong cách của Haruki Murakami Vì thế nên, nếu nhân vật trong tác phẩm của Y.Kawabata là kiểu con người tượng trưng cho một vẻ đẹp truyền thống dân tộc trong một “thế giới đã hoàn tất” thì ở tác phẩm của Haruki Murakami, họ lại là những con người mang nỗi ám ảnh về bản thể của con người hiện đại, đầy sự cô đơn và hoang mang trước một thực tại vỡ vụn Tác phẩm của ông đã mở ra một thế giới khả thể với nhiều kiểu con người trong đó Trang văn của Murakami là chốn tận cùng cô độc Những câu chuyện lạ lùng đầy dẫn dụ và có một sức mê hoặc lạ thường đã chạm vào những vi tế nhỏ nhất của cảm xúc Ông diễn tả tài hoa tâm trạng của con người: về nỗi thống khổ khi sống trong thời đại thừa mứa về vật chất nhưng cô độc và lang thang, về những tình yêu dằn vặt, về cái đẹp mong manh vô thường vốn là cảm hứng của các nhà văn Nhật Bản từ cổ chí kim, về cái chết tự chọn vốn là đặc trưng của phong cách sống Nhật Là đại diện tiêu biểu cho thế hệ trưởng thành sau thế chiến thứ hai của Nhật Bản, Haruki Murakami đồng thời là chứng nhân cho sự phát triển vượt bậc về mặt kinh tế cũng như sự tha hóa thần tốc về lối sống, thậm chí nhân tính, của xã hội Nhật Ông viết về nước Nhật, về người Nhật trong một xã hội quá gần nhau nên ta thấy bóng dáng của mình trong đó
Đó là những câu chuyện ám ảnh và đau đớn về con người trong thế giới hiện đại, buồn chán và thấy đời thực nhỏ hẹp, chật chội Họ say sưa đánh mất và say sưa tìm kiếm Trong lúc tìm kiếm, họ không ngại đánh mất chính mình Nhưng dù là tìm một con cừu, tìm một con mèo, tìm một chiếc bóng, tìm mẹ hay tìm vợ… thì cuộc kiếm tìm cũng luôn đầy ắp hoang đường và bất trắc, để cuối cùng, chỉ là tôi đang tìm chính tôi trên con đường gập ghềnh đơn côi của cuộc đời Từ mất mát, dẫn đến sự tìm kiếm và nắm bắt ảo ảnh một cách vô vọng
Đến với văn học theo một cách tình cờ lạ lùng, Murakami vẫn cần mẫn và miệt
mài với những câu chuyện “quanh co trong địa tầng của thể xác và tâm lý Và cái
nhân tại tĩnh lặng của cuốn tiểu thuyết tầng tầng lớp lớp nhất của ông là một mệnh lệnh bất di bất dịch: Mang ý nghĩa tới cho sự vô nghĩa” (Dennis Lim, The Village
Voice)
Chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu
thuyết của Haruki Murakami” cho khóa luận tốt nghiệp của mình và mong muốn
đóng góp cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này Với phạm vi khóa luận, chúng tôi
nghiên cứu “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Haruki Murakami” thể
hiện trong quan niệm nghệ thuật về con người và các phương diện nghệ thuật thể hiện hình tượng nhân vật nữ
Trang 20Chương 2 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ THỂ HIỆN TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 2.1 Khảo sát - thống kê hệ thống nhân vật nữ
Với đề tài nghiên cứu “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Haruki Murakami”, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận tiểu thuyết Murakami trên góc độ giới tính “những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ” Với tiêu chí này, chúng tôi tiến hành khảo sát hệ thống nhân vật nữ trong ba tiểu thuyết của Murakami và sẽ tiếp tục xem xét cách nhà văn cắt nghĩa những vấn đề thời đại qua hệ thống nhân vật nữ
Khảo sát 3 tiểu thuyết của Murakami gồm: Rừng Nauy, Phía Nam biên giới, phía
Tây mặt trời, Người tình Sputnik, chúng tôi có kết quả sau:
STT Số lượng nhân vật xuất hiện Tên tiểu thuyết
Nhân vật Nam Nhân vật nữ
Rừng Nauy
Reiko
Phía Nam biên giới, phía Tây mặt
trời
Trang 21Về số lượng nhân vật: chúng tôi không thể đưa ra con số chính xác tuyệt đối vì Murakami có những nhân vật đám đông mà không có con số xác thực Kết quả khảo sát cho chúng tôi nhận xét:
Trong ba cuốn tiểu thuyết, số lượng nhân vật nữ là 19/39, tương đương với số lượng nhân vật nam 20/39 Điều đó cho thấy, nhân vật nữ chiếm một ví trí và vai trò không nhỏ trong việc truyền tải những thông điệp nghệ thuật của Murakami
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami thường dao động từ trẻ tuổi đến trung
niên Đó có thể là những nữ sinh như Midori, Naoko, Hatsumi, chị gái Naoko (Rừng
Nauy), có khi là những người phụ nữ trưởng thành như Shimamoto-san, Yukiko, Izumi
(Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời), Reiko (Rừng Nauy), hoặc cũng có thể là những người phụ nữ trung niên như mẹ của Sumire, mẹ của Cà Rốt (Người tình
Sputnik)… Tuy nhiên, ngòi bút của Murakami chủ yếu hướng về những cô gái trẻ đang
vật lộn trong cuộc sống hiện đại, trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc
2.2 Nhân vật nữ và những chấn thương
Khái niệm “văn học chấn thương” và đi cùng với nó là vấn đề về “hội chứng sau chấn thương” biểu hiện trong văn học ra đời trong bối cảnh cuối thế kỷ XX Sau hơn nửa thế kỷ của những cuộc chiến, những cuộc thảm sát, những sai lầm lịch sử và mất mát, con người trở thành nạn nhân của chính mình trong nỗi ám ảnh khôn nguôi về quá khứ Những ám ảnh ấy biểu hiện trong các tác phẩm văn học đồng thời cũng trở thành đối tượng của những nghiên cứu lý thuyết văn học
Đầy rẫy trong những câu chuyện của Murakami là kiểu con người chấn thương Những năm 70, 80 sau chiến tranh của thế kỷ trước, cuộc sống bắt đầu đổi mới, nền kinh tế Nhật Bản bùng nổ Người ta nói về thành công của nước Nhật bằng những ngôn từ hầu như không tưởng (mặc dù đôi khi người ta cũng nói về Nhật như một mối
đe dọa về kinh tế không thể xem thường) Thậm chí, một số khía cạnh tiêu cực của xã hội Nhật được thêu dệt thành tích cực cả ở trong lẫn ngoài nước Nhật Và tại Nhật, nhiều người ra vẻ tuyệt đối tự tin trước viễn cảnh tương lai Tuy nhiên, dường như cái
sự hiên ngang của họ che giấu một tâm trạng lưỡng phân trước chiều hướng của xã hội
Bởi vì trong quá trình phát triển, người ta đã bỏ qua nhiều thứ, nhất là thờ ơ với những người trẻ, không chú trọng xây đắp tâm hồn và tinh thần đủ mạnh mẽ cho họ,
để họ hoang mang tự vạch lối đi Hoàn cảnh đó khiến cho thế hệ trẻ đương thời Nhật Bản – trong đó có nữ giới – không thể tránh khỏi tổn thương Giống như một người
mò mẫm đi trong đường hầm tối tăm bị ngã đến trầy trật, trưởng thành với họ lúc bấy
giờ là một quá trình đau đớn, như một nhân vật trong Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn
tận cùng thế giới đã nói: “Người dân thành phố này đã trả giá cho sự hoàn hảo đó bằng tâm hồn mình” [1;505]
Trang 222.2.1 Chấn thương vật chất
Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami chủ yếu là những người thuộc tầng lớp bình lưu trong xã hội Không hướng tới những thứ lớn lao siêu phàm, họ chỉ là những con người bình thường gần gũi mà ta có thể bắt gặp trong cuộc đời: một nữ sinh, một cô gái thất nghiệp, một doanh nhân, một người vợ nội trợ, một bệnh nhân tâm thần… Họ cũng phải học tập, lao động để kiếm sống trong một xã hội nhiễu loạn, đầy tính cạnh tranh và khắc nghiệt Murakami đã dựng nên một bức tranh khá toàn vẹn
về người phụ nữ Nhật Bản đương thời với những cảnh đời cụ thể ở mức độ đậm, nhạt khác nhau Họ có thể xinh đẹp, có thể bình thường, có thể giàu có, cũng có thể luôn đối mặt với cuộc sống bấp bênh và khó khăn Nhưng xuyên suốt những cuốn tiểu thuyết, họ lại có một điểm giống nhau nhất: Đều là những con người bị tổn thương
Naoko trong Rừng Nauy không phải là nhân vật xuất hiện nhiều trên bề mặt câu
chữ của tác phẩm, nhưng hình ảnh của cô lại xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, xuất hiện với mức độ đậm đặc trong dòng hồi ức của chàng sinh viên Toru Watanabe Không có nhiều chi tiết miêu tả cụ thể về Naoko, nhưng qua những mảnh vỡ trong ký ức của Toru, ta có thể lắp ghép được bức chân dung của Naoko với những nét phác thảo: một
cô gái xinh đẹp, gia đình có điều kiện, được theo học ở một ngôi trường Cơ Đốc giáo
vào loại hạng nhất mà theo lời Toru “cái trường ấy sang đến mức nếu học gạo quá sẽ
bị coi là thô thiển” [3;58] Naoko còn có một tình yêu đẹp với Kizuki, người bạn cùng
lớn lên với cô từ thời thơ ấu Mọi thứ với Naoko dường như đều may mắn, thuận lợi,
êm đẹp Nhưng chính trong cô gái tưởng chừng như hoàn hảo ấy lại đầy rẫy những
mầm mống của sự bất thường: “Từ hồi nhỏ mình đã nhất định sẽ chỉ làm một con bé
dịu dàng mà thôi”, “bố mẹ đã nhất định sẽ nuôi dưỡng mình thành kiểu búp bê như thế”[3;272] Hoàn cảnh sống với mọi thứ đều có sẵn và được nuôi dưỡng theo khuôn
mẫu khiến Naoko trở nên yếu ớt, sống thu mình và mất liên lạc với thế giới bên ngoài Người duy nhất cô có thể chia sẻ là Kizuki Naoko yêu Kizuki tự nhiên và chân thành
như bất kỳ cô gái nào ở độ tuổi ấy: “Mình yêu cả điểm yếu của anh ấy, chẳng khác gì
mặt tốt, anh ấy không có cái gì có thể gọi là xấu xa, mờ ám Trở thành người yêu của nhau là việc tự nhiên nhất trên đời của bọn mình” [3;244], nhưng rốt cuộc họ không
thể quan hệ với nhau Có cái gì đó làm trở ngại và ngăn cách hai người, họ tưởng như rất hiểu nhau, rất gần nhau nhưng thực tế vẫn luôn tồn tại một khoảng trống mênh
mang: “Mình đã sẵn sàng để ngủ với cậu ấy, và lẽ tất nhiên là cậu ấy muốn ngủ với
mình, và bọn mình thử nhiều lần lắm, nhưng chẳng lần nào được cả Hai đứa mình không thể loàn chuyện đó” [3;217] Như vết nứt trên vỏ cây dưới ánh mặt trời, những
mâu thuẫn giữa tình yêu đầu đời sâu đậm và sự bất lực về thể xác tạo thành một vết thương ngày một lớn mãi, và dần biến thành sự đau đớn, khủng hoảng và dằn vặt sau
cái chết của Kizuki: “Cậu ấy đưa một đường ống cao su từ miệng ống xả chiếc N-360
Trang 23của mình vào một cửa sổ của chiếc xe, lấy băng dính bịt kín các chỗ hở, rồi nổ máy”
[3;62] Cái chết đột ngột của hai người yêu quý, đầu tiên là chị gái treo cổ bên cửa sổ
và sau đó là Kizuki mà“không để lại một dòng tuyệt mệnh nào” [3;62] đã trở thành
những cú sốc lớn, như cú đánh làm vỡ tan thế giới bằng thủy tinh của Naoko, lần lượt lấy đi sự sống trong cô, để lại một tâm hồn khiếm khuyết đầy vết thương và lỗ hổng mãi mãi cũng không thể lấp đầy
Cũng như Naoko, hầu hết nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Murakami đều từng mang những tổn thương sâu sắc trong quá khứ Đó là chị gái Naoko, luôn tự mình làm
mọi việc, giỏi giang đến bất thường, “một đứa con gái đáng tin cậy và xuất sắc” [3;273] và bố mẹ “đã quen với chuyện đó nên nghĩ rằng cứ để mặc chị ấy như thế là
tốt cho chị ấy” [3;274] Không ai hay biết về ước mơ của cô, về những bất thường đau
đớn trong quá trình trưởng thành Việc thiếu đi sự quan tâm làm cô tổn thương, khiến
cô rơi vào trầm cảm, bế tắc, để rồi cuối cùng dẫn đến tự sát
Đó là Sumire lạc lõng trong gia đình thiếu vắng bàn tay người mẹ, là Midori lớn lên trong ngôi nhà bi đát, lụn bại, khô cằn tình thương với vết thương không bao giờ
lành được sau câu nói khắc nghiệt của cha: “Tao thà mất hai đứa chúng mày còn hơn
mất bà ấy” [3;147]… Cuộc sống của nữ giới hầu như gắn chặt và có mối liên hệ mật
thiết với gia đình ngay từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành Chính vì vậy, so với nam giới, những ảnh hưởng từ gia đình tác động rất nhiều đến họ, và nếu có những bất ổn thì rõ ràng, họ dễ bị tổn thương hơn Khắp những trang sách của Murakami đầy rẫy những chấn thương của những cô gái mà nguyên nhân nằm ở sự rạn nứt và khiếm khuyết của gia đình Điều đó đã ảnh hưởng đến họ từ nhỏ, và những cô gái ấy trưởng thành với vết thương sâu sắc ngay từ nơi đã nuôi dưỡng mình như thế
Trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, Shimamoto-san cũng một ví dụ cho
sự chấn thương dưới tác động của gia đình Ngay từ nhỏ, Shimamoto-san đã bộc lộ sự nhảy cảm trong bản năng của người phụ nữ từ lúc mới chỉ là cô bé 12 tuổi khi thắc
mắc: “Nếu bố mẹ chỉ sinh một đứa con, thì có nhất thiết là vì họ không hòa thuận với
nhau không?” [2;21], một vấn đề mà cậu bạn trai cùng tuổi cùng hoàn cảnh con một
với mình là Hajime chưa từng nghĩ đến Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để cho cho Hajime nhận ra âm sắc hơi cáu kỉnh trong giọng nói của mẹ Shimamoto-san mỗi khi đến nhà, và cái cách tỉ mỉ mà Shimamoto-san hướng dẫn cách sử dụng, bảo quản dàn sterio của bố… Những chi tiết ấy cùng câu hỏi tưởng chừng như vu vơ của Shimamoto-san đã báo hiệu và ẩn chứa sự rạn nứt trong gia đình Câu hỏi ấy dường như thấp thoáng sự lo âu và trăn trở mà một cô bé con mười hai tuổi không nên có, và
sự nhảy cảm của Shimamoto-san lúc này vô tình trở thành con dao hai lưỡi khiến cô mất đi vẻ vô tư như những đứa trẻ cùng lứa tuổi mà trở nên trầm mặc, mang cái giọng
“tư lự” của người lớn, “phần người lớn của cô không phát triển theo cùng nhịp điệu
Trang 24với phần trẻ con”[2;14] Thêm vào đó, Shimamoto-san lại bị khập khiễng ở chân Sự
khiếm khuyết của tạo hóa đã vô tình khiến cô luôn bị mặc cảm và ám ảnh khi mình bất
thường so với những đứa trẻ khác: “Không bao giờ cô nói đến cái chân Ít nhất là
trong ký ức của tôi, cô chưa lần nào làm vậy Ngay cả khi đi học về, cô cũng không bao giờ nói, chẳng hạn: “Thứ lỗi cho mình vì mình đi chậm quá”, và không hề biểu lộ chút khó nhọc nào Tôi hiểu rõ là cô không bao giờ nói đến những khó nhọc đó chính
vì chúng gây ra nhiều vấn đề cho cô Cô không thích đến nhà những đứa trẻ khác chơi, vì sẽ phải cởi giày để ở cửa Cô đi đóng giày riêng, đế hai bên không dày bằng nhau, và ghét phải trưng chúng ra trước cái nhìn của các bạn Khi về đến nhà, lúc nào
cô cũng bắt đầu bằng việc xếp chúng vào tủ giày” [2;16-17] Đằng sau cái vẻ bình
thản gần như là xa cách của Shimamto-san là nỗi buồn của số phận, nỗi buồn của sự
khiếm khuyết, là cố gắng gồng mình mạnh mẽ lên từng ngày: “Không bao giờ cô than
thở, lời nói và khuôn mặt cô không bao giờ để lộ những dằn vặt” [2;12] Sự đứt gãy từ
cái nôi gia đình cộng với sự không hoàn thiện của cơ thể khiến cô bé Shimamoto-san
bị tổn thương, sống khép mình mà không thể hòa hợp với bạn bè: “Chắc chắn là
không ai hành hạ hay châm chọc cô, nhưng, ngoài tôi ra, cô không có người bạn thật
sự nào khác” [2;12] Như một cú đẩy trong trò đomino, sự không thể hòa hợp này
càng khiến Shimamoto-san tổn thương sâu sắc thêm nữa khi người duy nhất mà cô có thể chia sẻ là Hajimie cũng biến mất khỏi cuộc đời cô Ở Shimamoto-san là một tâm hồn với đầy những vết thương, và khi không còn ai để chia sẻ, những vết thương lòng
ấy bị dằn lại, bị đè nén xuống, nhưng không hề mất đi, nó vẫn âm ỉ cháy và Shimamoto-san đã sống với những nỗi đau đó suốt đời
Văn học là tiếng nói của tâm hồn Và Murakami, với những tác phẩm sâu sắc, đã lặng lẽ hòa vào dòng chảy ấy bằng cảm thức của thời đại con người hoang mang trước
sự đổ vỡ của thực tại Haruki Murakami đã không làm cái việc đáng chán là gom nhặt các mảnh vỡ của hiện thực để xây dựng một hình ảnh ngụy tạo về thế giới hoàn hảo như con người mong muốn nhìn thấy mà, ông bình thản chấp nhận thế giới là hỗn mang như vốn có,và những nhân vật nữ của Murakami đã được đặt trong cái thế giới chông chênh ấy Murakami đã diễn tả quá trình bị đẩy đến bi kịch của các nhân vật nữ dưới tác động của xã hội nặng về vật chất một cách sâu sắc và toàn vẹn Có thể tìm thấy trong trang viết của ông các nấc thang của sự suy sụp Từ những rạn nứt ban đầu cho đến những đứt gãy trong các mối quan hệ Từ những chứng trầm cảm ít giao thiệp cho tới căn bệnh về tâm lý, về thần kinh vô phương cứu chữa đến sự biến đổi về thể xác…
Miu trong Người tình Sputnik là một trong những trường hợp điển hình Chị vốn
là cô gái trẻ hai mươi lăm tuổi hừng hực hoài bão, ước mơ và lòng nhiệt tình với âm
nhạc: “Chị không hy sinh nhiều về piano” mà “chị đã hy sinh mọi thứ Piano đòi hỏi
Trang 25phải dâng hiến cho nó đến từng mảng da, từng giọt máu, và chị không thể từ chối, Không thể, dù chỉ một lần” [4;67] Vậy mà chị phải gác lại, phải từ bỏ vì cáng đáng
công việc của gia đình Chị gặp Ferdinando, một người Tây Ban Nha cao lớn, đẹp trai,
đã ly hôn và đang sống một mình, và đặc biệt “chị ngửi thấy dấu hiệu ham muốn tình
dục và điều ấy khiến chị sợ” [4;195] Một chuyện lạ lùng đã xảy đến với chị khi lang
thang vào công viên và bị mắc kẹt trên vòng đu quay khổng lồ Bằng chiếc ống nhòm mang theo, Miu đã thấy phiên bản khác của chính mình đang bên cạnh Ferdinando
trong căn phòng của chị: “Có một người đàn ông trần truồng trong phòng ngủ của chị
Thoạt đầu chị tưởng là mình nhầm phòng Chị xoay đi xoay lại chiếc ống nhòm Nhưng không hề nhầm: đấy đúng là phòng chị Người đàn ông đó là Ferdinando Rồi một phụ nữ xuất hiện ở cửa sổ Cô ta mặc chiếc áo khoác ngắn tay màu trắng và một chiếc váy cotton ngắn màu xanh Cái mà chị nhìn thấy là chính chị” [4;207] Nếu như trong thực tế, Miu chủ động tránh Ferdinando, thì trong cảnh
nhìn thấy được từ xích đu, chị “đã để mặc cho anh ta làm đủ trò và mình thì hoàn toàn
tận hưởng niềm khoái cảm đang dâng lên” [4;208] Nếu như trong thực tế, Miu thấy
buồn nôn và phát ốm khi nghĩ đến "chuyện ấy" cùng Ferdinando, thì từ điểm quan sát
kì lạ khi hai người kia cố tình cho chị thấy cảnh này, chị lại cảm nhận khác “Đó là
một trải nghiệm khủng khiếp Tôi ở chỗ này, còn một tôi ở khác kia Và người đàn ông đó- Ferdinando đang làm đủ trò với cái tôi kia nhưng cái tôi ở đấy không cảm thấy việc đó khiến chị bị ô uế” [4;209]
Khi tỉnh dậy ở trong bệnh viện, mái tóc mượt mà của Miu bỗng bạc trắng và chị vĩnh viễn mất đi thiên khiếu âm nhạc, tình yêu lẫn khao khát nhục cảm Sự lột xác của Miu nhanh đến ngỡ ngàng Mái tóc biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ bỗng hứng chịu hệ quả của sự xung đột khốc liệt giữa những ước mơ, ham muốn bị kìm nén với gánh nặng quá lớn của gia đình Sự biến đổi của mái tóc thể hiện những chấn
thương trầm trọng khủng khiếp cho cả thể xác lẫn tâm hồn đối với người phụ nữ: “Miu
cảm thấy chị vẫn ở phía bên này, ở đây Nhưng một cái tôi khác đã đi sang phía bên kia mang theo mái tóc đen của chị, ham muốn tình dục của chị Từ đó, Miu luôn trăn trở cái tôi nào, ở phía bên nào là cái tôi thật?” [4;211] Mái tóc đen ra đi cũng chính
là lời trăn trối cuối cùng của một con người khao khát sống theo bản năng của mình Mái tóc bạc xuất hiện như một lời tuyên ngôn từ bỏ những ham muốn bồng bột, cũng
có thể như một sự ai oán bi thương cho số phận của con người
Tương tự như trường hợp của Miu, Reiko trong Rừng Nauy cũng là nạn nhân của
danh vọng và xã hội coi trọng "sự cống hiến" Vấn đề của Reiko là tài năng âm nhạc,
và bởi vì là một đứa bé tài năng nên nhận được nhiều khen ngợi Sự khen ngợi, sự chú
ý là một liều thuốc phiện mà nếu quen rồi sẽ rất khó bỏ Và chị rơi vào vòng xoáy đó, càng ngày áp lực phải chơi tốt càng lớn hơn, không cho phép mình thất bại Rồi một
Trang 26ngày hệ thần kinh hết chịu nổi, ngón tay tê cứng và không chơi đàn được nữa: “Đột
nhiên ngón út bên tay trái tôi bỗng không cử động được nữa Không biết tại sao, nhưng nó cứ ì ra như vậy tôi thử xoa sát nó, ngâm nó vào nước nóng, nghỉ tập vài ngày, chẳng ăn thua gì cả” [3;226] Từ một người mà dương cầm là toàn bộ cuộc
sống, Reiko cảm thấy bản thân vô giá trị, hoang mang, dằn vặt Và thế là, nỗi sợ hãi và
tuyệt vọng về bản thân mình gây ra một chấn thương trầm trọng cho Reiko: “Phựt một
cái, tâm trí tôi rơi vào hỗn mang hoàn toàn Tối đen như mực”[3;227] Reiko là điển
hình trong xã hội trọng "sự cống hiến" của Nhật Tức là, con người được đánh giá theo tài năng và sự cống hiến của họ Họ càng tài năng và cống hiến, danh vọng có được càng lớn Xã hội không khoan nhượng cho Reiko chỉ vì chị là phụ nữ, mà ngược lại, bởi vì là phụ nữ nên sau cơn cơn khủng hoảng, những tổn thương về tinh thần của
càng trầm trọng hơn: “Tôi cảm thấy đau đơn vô cùng tận Như thể cuộc đời mình đã
chấm dứt Tôi vừa mới qua tuổi hai mươi mà cái phần tốt đẹp nhất của cuộc đời đã chấm dứt rồi” [3;228]
Nhân vật nữ của Murakami đều là những con người mảnh vỡ với những nỗi đau riêng và bị xô đẩy đến tình trạng bi đát Trong âm điệu du dương của những bản nhạc
cổ điển, trang sách của Murakami khoác lên bên ngoài những câu chuyện tình yêu, những ẩn ức tình dục, những xúc cảm đời thường nhưng thật ám ảnh, đau buồn, bởi ẩn chứa phía trong nó là bi kịch, là chấn thương tâm lý của những người phụ nữ đương đại gắn với cả một quá khứ bi thương, mất mát và dằn vặt Tuy vậy, có thể thấy, bằng nhiều phương thức khác nhau, những nhân vật nữ của Murakami luôn cố gắng vượt lên trên tất cả để hòa nhập với cuộc sống, hàn gắn khoảng cách, rạn nứt trong các mối quan hệ Shimamoto-san bằng mọi cách chữ lành cái chân tập tễnh như một cách hòa mình vào xã hội, Naoko cố gắng gỡ bỏ những ám ảnh trong lòng mình, Reiko tìm được người vừa ý và kết hôn, Sumire bỏ đi đột ngột và mất tích với mong muốn tìm Miu ở phía bên kia… Nỗ lực tìm kiếm sự kết nối với đồng loại để xoa dịu nỗi những mất mát, nhưng di chứng của chấn thương luôn bám theo họ, làm sống lại quá khứ trong hiện tại theo một cách khác, và tái hiện lên nỗi đau của quá khứ một cách trần trụi, day dứt, không cách gì chối bỏ được
2.2.2 Sang chấn về tinh thần
Trong một xã hội bất toàn và đa trị, ngòi bút của Murakami không thiên về ca ngợi mà lột trần những sự thật đau đớn sau hình ảnh một quốc gia giàu có và phồn thịnh, hướng vào những đứt gãy tâm hồn, những cảm xúc nội tại sâu thẳm của những con người Đó là sự thất vọng chán chường về một xã hội bị đảo lộn trật tự, những truyền thống tốt đẹp đã bị văn hóa thực dân xâm chiếm, là sự mất lòng tin vào tương lai, khi những triết lý nhân sinh tốt đẹp cao cả, đều hóa thành những lời nói dối nực cười Đó là sự mất mát của thế hệ, khi tiền bạc không thể nào thỏa mãn được những
Trang 27khát khao của con người, đặc biệt là những người trẻ Họ không tìm thấy chỗ đứng của
mình giữa thế giới xa hoa phồn thực
Cảm xúc của một con người đã đa sắc và phức tạp, tâm tư của người phụ nữ lại còn bề bộn hơn thế Sống trong thế giới hỗn loạn, người phụ cũng nữ bị cuốn vào dòng chảy của xã hội, va đập, cọ xát với những gai góc của cuộc sống, đã không tránh khỏi những tổn thương ghê gớm về cả thể xác lẫn tâm hồn Phụ nữ vốn nhạy cảm hơn nam giới, một chút vô tâm, một chút bất thường, hay quá nhiều những bình thường cũng khiến họ băn khoăn, huống hồ là những tổn thương trầm trọng Bởi vậy, sự tác động của nó lên họ càng giằng xé, nặng nề, chấn động, gây nên những sang chấn về tinh
thần Thấu hiểu điều đó, Murakami đã tái hiện và lột tả những chấn thương kéo theo
sự biến đổi nghiêm trọng trong tâm hồn các nhân vật nữ của mình một cách day dứt và chân thực như hơi thở
Izumi trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời từng là cô gái ngây thơ, đáng
yêu và chân thật Cô đến với Hajime bằng một tình yêu chân thành, trong sáng, nhưng mọi thứ đột ngột sụp đổ khi cô phát hiện ra một sự thật tàn nhẫn: Hajime ngủ với chị
họ của mình Một cú sốc quá lớn đối với Izumi “Cô trượt kỳ thi đại học, mà bình
thường lẽ ra cô phải đạt điểm tốt không chút khó khăn, và phải học trong một trường đại học tư nhỏ ở một nơi hẻo lánh” [2;65] Izumi dứt khoát đoạn tuyệt với Hajime,
nhưng nỗi đau khổ khủng khiếp mà Hajime gây ra đã khiến cô bị tổn thương nặng nề,
và dường như Izumi đã mang theo vết thương ấy trong suốt những năm tháng trưởng thành của mình với một nỗi căm giận sâu sắc Phụ nữ khi yêu chân thành, mãnh liệt, say đắm bao nhiêu, thì khi tình yêu không còn, họ càng tổn thương, vỡ vụn, đau đớn
bấy nhiêu Cô gái “Không đẹp ghê người, nhưng có duyên, có cái gì đó làm người
khác cảm động” [2;107] năm ấy cuối cùng lại trở thành con người với một khuôn mặt
“làm trẻ con sợ” [2;108], một khuôn mặt mà “mọi hình thức biểu cảm đã trốn chạy khỏi khuôn mặt cô, trên khuôn mặt đó, tất cả đều chết và lặng tờ như đáy đại dương (…) Đôi mắt cô quay về phía tôi; nhưng chúng không biểu lộ gì hết, không truyền tải một thông điệp nào Nếu cô định chuyển cho tôi một điều gì đo, thì hẳn đó chỉ có thể là một sự trống rỗng không đáy” [2;276]
Hay như Miu bị tách thành hai nửa, và cái tôi bản thể của Miu đã không bao giờ quay về đời sống thực tế này nữa Nó đã mãi mãi ở lại thế giới bên kia, thế giới của những giấc mơ ân ái, nhục dục, nơi có thể thỏa mãn, giải tỏa cho chị những ham muốn bản năng bấy lâu phải kìm nén Và con người Miu nối liền với vòng đu quay kia nay chi còn là cái bóng Phần đời còn lại của chị, cảm xúc, hành động của chị kể từ đây sẽ
vĩnh viễn chẳng còn chút ý ngĩa, giá trị hiện hữu thật sự nào nữa: “Cái người bây giờ
ngồi đây không phải con người thật của chị Mười bốn năm trước chị đã trở thành chỉ còn một nửa con người thật của mình” [4;65], “chị đã sống trong quá khứ, và bây giờ
Trang 28chị cũng vẫn sống, đang trò chuyện với em Nhưng cái em nhìn thấy ở đây không thực
sự là chị Đấy chỉ là bóng của chị ngày xưa Em đang sống thực sự nhưng chị thì không Thậm chí cả những lời chị đang nói ngay lúc này đây nghe cũng có vẻ trống rỗng, giống như một tiếng vang” [4;216] Ám ảnh về sự phân thân của mình trong quá
khứ chi phối lên tất cả cuộc sống của Miu, khiến chị trở thành một người bất lực về thể xác Mất đi mái tóc đen vốn là biểu tượng cho cái đẹp của người phụ nữ, mất đi cảm giác tình dục vốn là con đường dẫn tới sự hòa hợp trọn vẹn về thể xác và tình yêu, cánh cửa hạnh phúc như đã đóng sập hoàn toàn trước mặt người phụ nữ trẻ Chị không còn cảm nhận được cảm giác đắm say, mãnh liệt trong tình yêu, không còn cảm nhận được những niềm hạnh phúc ngọt ngào trong tình yêu mà mọi phụ nữ đều mong ước Đối với người phụ nữ, đó là nỗi đau thật sự quá lớn
Sự tổn thương về tinh thần khiến những nhân vật nữ của Murakami đang sống, song dường như họ không thể xác định được mình trong những quy ước thông thường của đời sống, trong cái tọa độ của các mối liên hệ bình thường Họ có vẻ ngoài là những con người lành lặn, bình thường, nhưng tâm hồn lại bất thường và méo mó Cô
bé học trò đồng tính của Reiko trong Rừng Nauy cũng là kiểu con người như vậy Đây
là nhân vật được nói về, được kể đến chứ không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà tác giả đã khéo léo đan cài trong câu chuyện của Toru Watanabe, kiểu nhân vật phi trung tâm Nhân vật này chỉ xuất hiện trong một vài phân cảnh của tiểu thuyết, qua dòng hồi tưởng của Reiko, hiện lên dưới góc nhìn của Reiko Không có nhiều chi tiết
để độc giả thấy một bức tranh đầy đủ về cô bé, và cuộc đời của cô vẫn là một ẩn số đối với người đọc Tuy nhiên, ấn tượng mà nhân vật này để lại vô cùng ám ảnh, như một
ví dụ cho sự chấn thương và biến đổi trầm trọng, méo mó trong nhân cách con người
trong xã hội hiện đại Cô học trò được Reiko miêu tả: “Nó thực là một tiểu thiên thần,
với một vẻ đẹp trong veo, dịu dàng và thuần khiết Tôi chưa từng, đến giờ cũng vậy, thấy một con bé nào đẹp đến thế” [3;234] Hơn thế, đây là một cô bé thông minh: “Nó biết cách nói chuyện Nó có những ý kiến sắc sảo và có tài thu hút người khác vào câu chuyện” [3;234], “con bé có mắt quan sát sắc sảo, sử dụng ngôn từ chính xác, miệng lưỡi sắc nhọn và khôi hài Nó có thể khuấy động những tình cảm của mình” [3;287]
Murakami đã chọn lọc những ch tiết vừa đủ để thể hiện rằng đó là một con người hoàn hảo, cả về ngoại hình lẫn trí tuệ Nhưng chính cái vẻ hoàn hảo ấy chẳng thể ngờ lại
mang đến bất hạnh mà Reiko đã linh cảm từ trước: “Tôi gần như phát hoảng Chính
xác cái gì làm cho con bé đáng sợ đến thế thì lúc ấy tôi chưa biết” [3;234] Sự hoàn
hảo đó là một thứ mặt nạ, một vỏ bọc nhằm che chắn cho những bất ổn tâm lý sâu sắc bên trong Nhân vật tưởng chừng như thuần khiết không tì vết ấy lại là một người đồng tính, và hơn thế, cái cách mà cô bé tìm cách tiếp cận Reiko, sắp xếp chi li và tính toán
để tận dụng mọi thứ từ việc chơi đàn, cách nói chuyện, cách quan hệ tình dục cho đến
Trang 29việc tạo bằng chứng giả biến mình thành nạn nhân… khiến người ta dễ cảm thấy ghê
sợ Mọi giá trị đạo đức bị phá vỡ Đằng sau lớp vỏ hào nhoáng và ngây thơ kia là một
con người bệnh hoạn: “Cõi lòng con bé ấy thối rữa hết rồi.Chỉ cần bóc một lớp da đẹp
đẽ kia ra thôi, ta sẽ chẳng thấy gì ngoài thịt thối rữa” [3;300] Sự sang chấn xảy ra với
một cô bé mười ba tuổi như là một lời cảnh báo về sự thiếu quan tâm và thấu hiểu của gia đình đối với những bé gái trong quá trình trưởng thành, đồng thời là sự xuống cấp trầm trọng của các giá trị truyền thống tốt đẹp, thay thế vào đó là những thứ hổ lốn, xấu xí và băng hoại
Bởi vì là những người trải qua mất mát, những nhân vật nữ thấu hiểu sâu sắc hơn
ai hết nỗi đau và cảm giác tuyệt vọng của nó gây ra Nỗi bất an ngấm ngầm luôn tồn
tại và gây xao xuyến trong họ Trong Rừng Nauy, bất an như một phần không thể tách
rời khỏi Naoko, đồng thời nó cũng lấy đi của cô quá nhiều thứ Những ám ảnh về cái
chết của chị gái luôn hiện lên rõ mồn một trong tâm trí cô: “Chị mình mặc một cái áo
cánh trắng - ừ, một cái áo trắng giản dị như cái áo này này – và một cái váy xám, và những ngón chân chị ấy chĩa thẳng xuống sàn như chân người múa ba lê” [3;276]
Ám ảnh về quá khứ hiện về bằng những phiến đoạn, những phân mảnh, qua những cơn
ác mộng về Kizuki “đang từ trong bóng tối” với ra gọi : “Này! Naoko, chúng ta
không thể xa nhau được” [3;269] Trạng thái bất ổn đó làm những chấn thương gia
bội, trở đi trở lại, giằng xé tâm can con người, tạo thành vết, thành lỗ đen không gì có thể khỏa lấp trong tâm hồn So với Toru, những tổn thương mà cacis chết của Kizuki gây ra cho Naoko trầm trọng hơn, khiến cô rơi hoang mang, bế tắc, tuyệt vọng Naoko
từ đó dần mất đi khả năng giao tiếp thông thường: “Chẳng bao giờ mình có thể nói
được điều mình muốn nói…Như vậy cũng lâu rồi, mình cố truyền đạt một điều gì đó, nhưng nói ra từ nào là sai từ ấy Mình cố khắc phục, nhưng chỉ càng tệ hơn” [3;57]
Naoko chỉ có thể quan hệ tình dục một lần duy nhất, và sau đó, cánh cửa ấy đã đóng lại hoàn toàn, như một phần nào đó trong cô đã vĩnh viễn chết đi, để lại một thân xác
mục ruỗng với nỗi sợ hãi lặp đi lặp lại: “Mình sẽ không bao giờ bình phục Mình sẽ
méo mó như thế này mãi rồi già đi và tàn tạ ở nơi này” [3;268] Cuối cùng, Naoko đã
không thể như Toru kiên cường sống tiếp, cô đã chôn vùi tất cả sự đau khổ và tuyệt vọng của mình trong rừng cây âm u, tìm đến cái chết như Kizuki Cảm giác hoang mang và tâm lý bất an đã đẩy sự nhạy cảm của người phụ nữ lên cao độ, chỉ cần một tác động nhỏ cũng khiến họ chao đảo Người phụ nữ trở nên mong manh và xa vời hơn bao giờ hết Họ bơ vơ trong thế giới hiện đại đầy sự cô đơn và hoang mang trước một thực tại vỡ vụn, không nắm bắt được quá khứ, hiện tại và cả tương lai, như Naoko
từng chua xót: “Con người mình hỏng hóc nhiều hơn cậu tưởng Bệnh của mình tệ hơn
cậu tưởng rất nhiều Gốc rễ của nó sâu lắm Và chính vì thế mà mình muốn cậu cứ sống trước mình đi nếu có thể”
Trang 302.3 Nhân vật nữ và nỗi cô đơn trong nhịp sống hiện đại
Cô đơn là bản chất của con người, như Nagasawa trong tiểu thuyết Rừng Nauy đã từng nói: “Bản ngã và tha nhân là cách biệt” Cá nhân là riêng tư, cá thể, không trộn
lẫn với ai và không có phiên bản khác Mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ bí ẩn Không ai hoàn toàn hiểu nó, và bản thân nó cũng không thể hiểu được người khác dù luôn có ý
thức muốn được hiểu và hiểu được người khác Nhu cầu hiểu và được hiểu này thể
hiện qua nhu cầu giao tiếp, tự thể hiện, nhu cầu nhập cuộc với xã hội để trưởng thành,
để tồn tại Nhưng trong quá trình nhập cuộc, dấn thân, con người luôn phải trượt từ môi trường đang là sang môi trường sẽ là, từ môi trường quen thuộc sang môi trường
xa lạ để tương thông với tha nhân, để tìm thấy hơi ấm của bầy đàn, để hóa giải sự cô đơn, cô độc Hành trình đó có sự chi phối của bản năng vô thức vì theo E.Fromm, con người luôn hoài nhớ một cách vô thức thời kì bào thai của mình, thời kì nó nằm trong Thiên đường bụng mẹ, nay không còn nữa, nó phải tìm đến tình bạn, tình yêu, tình dục nhằm thấy lại sự thanh bình, ấm áp và an toàn đã mất Nhưng không bao giờ nó tìm lại
được, bởi theo Octavio Paz, tình yêu và tình dục đều mang bản chất thời gian Nó là
giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm Có khởi đầu và có kết thúc Hơn nữa, tất cả chúng ta đều phải đối diện với cái chết Trước nó, con người ý thức đầy đủ về sự phù phiếm của vật chất, danh vọng, sự ngắn ngủi của khoảnh khắc yêu đương và sự cô đơn như là thứ tội tổ tông không ngừng đeo bám con người
Nhật Bản hiện đại đã Âu - Mỹ hóa với ê chề vật chất, tự do quá trớn, dục tình
buông thả lấn át một Nhật Bản truyền thống: tôn trọng các giá trị đạo đức, danh dự và lối sống cộng đồng Giữa hai phần truyền thống và hiện đại ấy đã không có sự tương thông, giao cảm để tạo lập sự hài hòa Ranh giới của nó là sự ngăn cách của những ám ảnh cạm bẫy, chết chóc, là sự cách ngăn giữa quá khứ và hiện tại H.Murakami đã thổi vào không - thời gian cảm giác nhàm chán vì sự thiếu vắng lí tưởng, thiếu vắng những mục đích sống chân chính khiến cho sự cô đơn như vón cục lại Ở trong trang sách của
Murakami, cô đơn là “cảm giác như khi đứng ở cửa một con sông lớn vào một chiều
mưa nhìn dòng nước trôi ra biển” [4;260], là giữa chốn đông người nhưng vẫn thấy
trống vắng và hoang lạnh… Nỗi buồn bi thảm xuất hiện trong hầu hết tác phẩm của Murakami cũng thoát thai từ sự cô đơn trống vắng khi con người muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, tình yêu, tình dục và cái chết
Giữa biển người mênh mông, giữa những đô thành rộng lớn, con người vẫn nói chuyện, yêu đương, chung đụng, sẻ chia và thông cảm với nhau, nhưng đồng thời họ cũng cảm nhận được giữa người với người là khoảng trống không thể lấp đầy Tuy nhiên, nỗi cô đơn mà Murakami thể hiện giữa các nhân vật không giống nhau Những nhân vật nam trong tác phẩm của ông, họ luôn luôn muốn sống một cuộc đời độc lập, phóng khoáng như là một bản nguyên, không sao chép theo một nguyên mẫu nào
Trang 31Nhưng cái tôi ấy không thể liên kết với cộng đồng Nó trở thành nỗi cô đơn và thất vọng với thời đại Cái cô đơn của họ thể hiện bằng sự bất cần, họ không biết họ cần gì
và muốn gì Họ gặp vài người bạn để cố thoát ra tình trạng hiện tại, nhưng khi gặp gỡ
họ cảm thấy họ cô đơn hơn Họ tìm một công việc họ nghĩ họ thích để cân bằng lại, nhưng rồi mỗi ngày công việc cứ lặp đi lặp đi lặp lại sẽ làm họ thấy chán nản Cuối cùng, họ phớt lờ và sống bên lề của cuộc đời, sống buông thả không quan tâm đến con mắt của người xung quanh như Toru Watanabe, như Nagasawa, như Hajime… Nhưng nhân vật nữ thì không đơn giản như vậy Thế giới nội tâm của họ phức tạp hơn rất nhiều so với nam giới Phụ nữ vốn là phái yếu Cái yếu về thể chất, cái yếu về sự phụ thuộc dễ dẫn đến cái yếu đuối về tinh thần Họ rất dễ bị tác động bởi thế giới bên ngoài, luôn phải e dè, luôn phải để ý đến ánh mắt và suy nghĩ của những người xung quanh, chịu những ràng buộc khắt khe của xã hội Nhật Bản áp đặt lên nữ giới, không thể dễ dàng sống tự do và buông thả theo bản ngã của mình So với nam giới, người
phụ nữ dễ bị rơi vào cô đơn và khó thoát ra khỏi cô đơn hơn Bởi thế, sự cô đơn của họ
cũng dai dẳng, nặng nề, âm ỉ và sâu sắc hơn
Có thể thấy rõ điều đó khi đặt Hajime bên cạnh Shimamoto-san Trong Phía Nam
biên giới, phía Tây mặt trời, Hajime và Shimamoto-san làm bạn với nhau từ khi họ chỉ
là những cậu bé, cô bé ngây thơ Nỗi ám ảnh từ những định kiến về “con một” thời đó
khiến cả hai đều không thể dễ dàng hòa nhập với thế giới xung quanh Nhưng so với cậu bé cùng tuổi Hajime, sự cô đơn của Shimamoto-san không biểu hiện rõ rệt ra bên
ngoài như kiểu “yếu đuối, và thất thường đến khủng khiếp” [2;11] của Hajime mà dằn lại sâu hơn vào bên trong:“Khác biệt lớn nhất giữa chúng tôi là cô có ý thức hơn tôi
rất nhiều về việc ẩn mình trong một cái mai rùa để tự bảo vệ mình khỏi thế giới bên ngoài (…), bức tường phòng vệ mà cô dựng lên quanh mình cao và vững chắc hơn bức tường của tôi” [2;15] Nếu như bớt nhạy cảm hơn và không suy nghĩ xa xôi như cậu
bé Hajime, có lẽ tuổi thơ của Shimamoto-san đã bớt trầm mặc hơn Nhưng thiên tính sâu sắc của nữ giới đã chi phối Shimamoto-san, khiến cô sống thiên về nội tâm hơn hơn hành động, giấu kín những cảm xúc của mình sau bức tường kiên cố Nếu chỉ nhìn
từ bên ngoài, dường như không ai hay biết về sự cô đơn của cô bé mười hai tuổi luôn
bình thản và mạnh mẽ: “Không bao giờ cô than thở, lời nói và khuôn mặt của cô
không bao giờ để lộ những dằn vặt và, dù lâm vào hoàn cảnh nào, cô cũng giữ được cái vẻ hết sức thoải mái Hoàn cảnh càng khó khăn, cô càng cười rạng rỡ Nụ cười đẹp của cô luôn tùy trường hợp mà an ủi hoặc khích lệ tôi”[2;12] Shimamoto-san
luôn cố hết sức để xóa bỏ sự khiếm khuyết của đôi chân, luôn cố gắng để ngang hàng với người khác, nhưng đồng thời càng cố gắng, sự mặc cảm dường như càng lớn hơn, gây ra những hiểu lầm với người khác và chính vì điều đó mà Shimamoto-san ngày
một khép kín hơn, đóng cửa hoàn toàn với mọi người: “Shimamoto-san sở hữu một thế
Trang 32giới nội tâm độc lập mà chỉ một mình nàng biết cách đi vào Nàng là người duy nhất biết nó, duy nhất đảm trách nó Tôi không thể xâm nhập Cánh cửa đã từng hé mở một lần duy nhất, nhưng kể từ đó nó đã đóng lại im ỉm” [2;195] Cánh cửa bảo vệ trước thế
giới bên ngoài càng kiên cố bao nhiêu thì Shimamoto-san sợ hãi và cô độc, không thể hòa nhập với cuộc sống bấy nhiêu Và cuối cùng, khi nó đã khép lại hẳn, Shimamoto-san đã vĩnh viễn bị nhốt lại trong chốn tận cùng cô độc ấy, mãi mãi cũng không thể thoát ra được
Naoko và Kizuki cũng là bạn thân từ thuở thơ ấu của nhau Họ mang tự trong bản thể của mình một nỗi cô đơn không thể lí giải nổi như có lần chính Naoko xác nhận:
“Cho nên nếu Kizuki còn sống, nhất định là bọn mình sẽ vẫn ở bên nhau, yêu nhau và dần dần trở thành bất hạnh […] Bọn mình giống như hai đứa trẻ trần truồng lớn lên trên một hòn đảo hoang Nếu đói, bọn mình chỉ việc nhặt chuối ăn, nếu thấy cô đơn, bọn mình chỉ việc tìm đến vòng tay nhau Nhưng những cái như thế không kéo dài mãi mãi Bọn mình lớn nhanh và phải gia nhập xã hội Chính vì vậy mà cậu rất quan trọng với hai đứa chúng mình Cậu là móc xích nối bọn mình với thế giới bên ngoài Bọn mình gắng gỏi thông qua cậu để hoà nhập với thế giới bên ngoài càng nhiều càng tốt Nhưng cuối cùng, việc đó không thành, tất nhiên rồi” [3;246] Họ không và không
dám bước chân ra thế giới bên ngoài, không dám mạo hiểm, chỉ sống bám vào Watanabe để liên lạc với thế giới xung quanh, nhưng họ vẫn rất cô đơn Đến lúc không thể chịu nổi, Kizuki đã chọn lựa cách kết thúc nhanh chóng những đau khổ đó bằng cái chết đột ngột, choáng váng và cũng không kém dứt khoát Nhưng với Naoko, con đường dẫn đến cái chết lại đau đớn, dai dẳng, nặng nề hơn rất nhiều Nữ giới dễ bị kiềm chế bởi khối khổ đau sâu dày của quá khứ ở trong mình khi nó bị đánh thức dậy Nỗi đau do sự cô đơn gây ra cho Naoko không quyết liệt như Kizuki, nhưng lại như một thứ thuộc độc ăn mòn tâm hồn con người từ bên trong một cách chậm rãi và đau đớn, phá hủy từng chút một ý chí sống của con người Naoko dần dần mất đi khả năng tình dục, khả năng diễn đạt từ ngữ, rồi sau đó là cái chết
Sự cô đơn khiến các nhân vật nữ luôn cảm thấy xa lạ và lọt thỏm giữa đám đông, lạc lõng và luôn thấy mình không thuộc về những nơi ồn ào Cái cách mà Naoko ngập ngừng khi hỏi Toru rằng liệu cô có thể sống trong một khu học xá không, Shimamoto-san không thể có thêm bạn trong suốt những năm tháng trưởng thành, hay việc Yukiko trở thành con người khép kín… cho thấy sự đứt gãy và mất mát sợi dây liên hệ giữa họ với xung quanh Những nhân vật nữ của Murakami không thể tìm được tiếng nói đồng cảm giữa chốn đô thị phồn hoa, giữa những bức tường bê tông lạnh lẽo So với những nam giới, người phụ nữ càng khó dứt khỏi trong những nỗi đau của quá khứ để mở lòng với hiện tại, họ chấp nhận nó, rồi gặm nhấm nó, như một thói quen Họ chỉ thấy
an toàn khi chỉ có một mình Và thế là, nỗi cô đơn không bộc lộ ra bên ngoài như nam
Trang 33giới mà bị dồn nén lại, âm thầm đến ngột ngạt khi bỗng dưng cảm thấy tâm hồn chẳng tìm nổi chỗ nào bấu víu, nhìn dòng người lãng đãng va vào mình như không khí chạm tay Họ tự mình vẫy vùng trong những bế tắc, trong những mối suy nghĩ chồng chéo, dằn vặt, họ sống thu mình lại, trở nên nhỏ bé, trở thành những ốc đảo cô đơn thời hiện đại, trốn tránh cuộc đời trong cái thế giới nhỏ bé của mình, không muốn thoát ra ngoài
Đó là Midori, Sumire cô đơn trong ý thức về cái tôi cá nhân độc đáo của mình; là Hatsumi, Shimamoto-san cô đơn trong khát vọng về một tình yêu vĩnh viễn và sự hài hòa tuyệt đối giữa tinh thần và thể xác; là Naoko không ngừng trốn tránh, vì sợ bị tổn thương, vì sợ làm người khác tổn thương, vì sợ lạc lối, sợ thất bại, sợ mình mắc sai lầm… Không khí buồn bã mệt mỏi trong nhưng câu chuyện về sự cô độc được miêu tả tròn trịa và thản nhiên đến nhức nhối của Murakami nhiều khi cứ tràn khỏi trang sách, khiến ta có cảm giác nặng nề đến khó thở
Cái khó khăn nhất trong cuộc đời một con người là vượt qua chính mình Và còn khó khăn hơn để vượt thoát khỏi nỗi cô đơn Theo E.Fromm, con người muốn thoát khỏi cô đơn không còn cách nào khác là phải hợp nhất với người khác Và con đường
hữu hiệu nhất là tình yêu Với E.Fromm “Tình yêu là một quyền năng chủ động trong
con người; quyền năng chọc thủng những bức tường ngăn cách người với người, hợp nhất mình với kẻ khác, tình yêu khiến mình vượt qua được ý vị cô lập và li cách nhưng
nó cho phép mình là mình, giữ lại sự toàn vẹn của mình” Triết gia hiện sinh
Kierkegaard cũng đã viết: “Nơi nào có tình yêu, nơi đó hết cô đơn” Với Murakami,
tình yêu không hề chỉ là một ý niệm kiểu Platon mà nó gắn bó chặt chẽ với khao khát hòa hợp thể xác và tâm hồn Như S.Freud đã khẳng định: gốc rễ của mọi hành vi con người là lòng ham muốn tính dục, là sự giải phóng dục năng Cho nên, có thể nói trong
tình yêu, tình dục là biểu hiện cao nhất của cảm xúc yêu thương
Nhật Bản của hôm nay, phải chăng là nơi người ta chứng kiến nỗi cô đơn của con người trong một xã hội hiện đại hãnh tiến và đầy ắp những giá trị vật chất, đã khiến các nhân vật của ông phải đi tìm nền tảng cuộc đời trong tình yêu và sự sống tự do, bình dị của cá nhân Cá nhân và sự giải phóng của xác thân, như là công cụ cuối cùng, thông qua tình dục Với những trang viết không kiêng dè, sex và chất thơ của sex, Murakami đã phá vỡ địa hạt cấm cuối cùng, để cho cái nhìn phóng khoáng và tự nhiên
về xác thân của phương Tây tràn ngập Trong tiểu thuyết của Murakami, tình dục như một thứ tự nhiên, mạnh mẽ, một cái giỏ để những người đàn ông, những chàng trai trẻ trút bỏ những bất lực của một đời sống buồn chán và mất phương hướng, khi mà người
ta không còn thấy những điều tốt đẹp trên cuộc đời này nữa Nhưng đối với nữ giới, tình dục còn như một hình thức hướng thượng, thiêng liêng nhất của nhân tính, là biểu hiện gợi cảm của sự hòa hợp toàn vẹn, hòng mang lại cho đời ta hạnh phúc và ý nghĩa Những nhân vật nữ tìm đến tình dục như một bản năng, một hành động tự nhiên để
Trang 34giải tỏa những u uất của mình Họ bỗng nhận ra sự nhẹ bẫng của tồn tại và sự mong manh của sợi dây tình cảm giữa người với người để rồi xích lại gần nhau trong nỗi chông chênh Naoko đến với Watanabe như tìm kiếm một sự giải mã cho tình yêu giữa
cô và Kizuki: “Những ngón tay nàng bắt đầu chạy qua khắp lưng tôi như thể tìm kiếm
một thứ gì, một thứ gì đó quan trọng vấn luôn ở đó” [3;246] Chị họ của Izumi tìm đến
với Hajime bởi một “lực hút” vô hình mãnh liệt, Reiko tìm đến Toru để xác nhận lại
những thắc mắc, để thoát khỏi những ám ảnh mà tự tin tìm yêu thương ở một nơi mới
Mẹ của Cà Rốt tìm đến thầy giáo K như một cách tìm kiếm hạnh phúc bù đắp cho sự
cô đơn giữa cuộc sống gia đình rạn nứt… Với những nhân vật nữ, tình dục trở thành thông điệp của nỗi cô đơn và sự đóng kín đầy bí mật, sự độc lập đầy thách thức và thoáng chút mỉa mai của con người, như Shimamoto - San, nhân vật nữ chính trong
“Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời”, gặp lại người yêu đầu đời sau những mất dấu
tưởng chừng vĩnh viễn, lại nhất thiết phải “tự mình” trước khi chia sẻ cảm xúc với
người yêu dấu…
Nhưng đến tận cùng, ngay giữa lúc chung đụng với kẻ khác, ngay trong lúc tiếng kêu cực cảm thốt lên giữa vòng tay ôm chặt mà thân xác lạnh lẽo như băng, người phụ
nữ vẫn cô đơn đến cùng cực Những sự chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm
hồn của những con người Cuộc tình giữa mẹ của Cà Rốt và thầy giáo K chỉ là một
mối quan hệ lỏng lẻ trong sự cố gắng lấp đầy nỗi cô đơn Naoko không thể tìm lại cảm giác tình dục, bởi khi mà cái khoảnh khắc gần gũi nhất giữa người với người, cô lại càng tuyệt vọng khi nhận thấy những khoảng trống không thể lấp đầy, những nỗi cô đơn không thể san sẻ Shimamoto-san đi đến tận cùng của sự chung đụng thể xác cũng không sao thoát ra ngoài nỗi ám ảnh của quá khứ, cảm giác bất toàn trong tình yêu, bất lực trong tình dục và sự phức tạp đa đoan của cuộc đời Nhà văn làm lộ diện trạng thái đó của nhân vật nữ thông qua những cuộc thoại mà họ thường không có khả năng diễn đạt, luôn rơi vào tình trạng bấn loạn ngôn từ, thể hiện sự bất lực trong khả năng giao tiếp với xã hội hiện đại Cô gái bị tật ở chân mà Hajime chỉ gặp một lần duy nhất luôn phải mất thời gian nhiều hơn người bình thường để sắp xếp từ ngữ Naoko luôn rất khó khăn để tìm cách biểu cảm bằng lời nói, bị mất năng lực diễn đạt Đó chính là
sự áp chế đầy phi lý của cái quá khứ, cái đã xảy ra với cái hiện tại đang xảy ra và nhất
là với cái đã có thể xảy ra Bởi vậy, kênh giao tiếp bằng lời đối thoại bị lung lay, Naoko tìm đến với kênh thư từ - một hệ thống chuyển mã mới từ ngôn ngữ nói sang ngôn ngữ viết Nhưng với Naoko, “viết là một quá trình đau đớn” [3;98] Đó không
phải là cách giao tiếp tự nhiên giữa con người - con người Naoko đã tìm đến cái chết khi cô không thể tìm thấy khả năng nào có thể kết nối mình với thực tại, với Toru và những người thân yêu khác, khi trong tai cô không ngừng ong ong những âm thanh của bóng tối, của quá khứ, của cái chết
Trang 35Tác phẩm của Murakami chưa bao giờ dừng lại ở cái khoái cảm bản năng Ông diễn tả một cách chi tiết những cảnh ân ái bởi chính trong đời sống tính dục bản chất con người được bộc lộ rõ nhất Có thể thấy với những nhân vật nữ, họ thường thụ động hơn trong tình dục, và tình dục với họ không đơn thuần chỉ là quan hệ thể xác mà gần như là một nghi lễ huyền bí, một phương thức quan trọng, một cánh cửa cuối cùng mang theo hy vọng cuối cùng để trốn tránh nỗi cô đơn Tình dục càng tự do nhiều bao nhiêu thì nó lại gặm nhấm, thậm chí bóp chết tình người bấy nhiêu Và tất yếu tình yêu cũng rất khó tìm được đất sống Hạnh phúc chỉ có trong sự hòa hợp của thể xác và tình yêu Murakami dụng sex ở đây như một sự cứu cánh cho nỗi cô đơn Số lượng của những cô gái mà Toru và Nagasawa gặp trong những cuộc tình dễ dãi báo hiệu cho một sự xuống cấp nghiêm trọng của những đạo đức, sự suy giảm giá trị của người phụ
nữ trong xã hội hiện đại
Thế giới trong tiểu thuyết của Murakami thiếu vắng lí tưởng, thiếu vắng các giá trị truyền thống có khả năng dẫn dắt cuộc sống hiện tại, cũng không có mẫu hình tương lai nào khả dĩ làm điểm tựa; cái đẹp phải trôi dạt và tự hủy diệt; tàn bạo, dung tục lên ngôi Sự cô đơn khiến các nhân vật nữ cố gắng tìm cách tương thông với người khác trong tình bạn, tình yêu, tình dục mong tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi nhất Nhưng rốt cuộc, họ không thể nào kiếm tìm được hạnh phúc như mình hằng mong muốn Tất cả chỉ là một sự vô vọng Cô đơn vẫn hoàn cô đơn Bế tắc, buồn chán, có nhân vật trải lòng với âm nhạc như Shimamoto-san, Miu, tìm đến sự nổi loạn ngông cuồng như Sumire, Midori, thậm chí, đến cái chết như Naoko, Hatsumi Nhưng cô đơn chỉ vơi đi chứ không biến mất Dẫu biết rằng cần phải làm khác đi để thoát khỏi bầu khí quyển đặc quánh ấy như Naoko và Reiko đã nói:
“Đây có lẽ là việc chúng ta nên làm: hãy tìm cách hiểu nhau hơn”, nhưng đã không ai
hoàn toàn vượt khỏi bản ngã của mình để hòa nhập thực sự với người khác Hình
ảnh “giếng đồng” chính là một biểu tượng, một hỉnh ảnh ẩn dụ nhằm chỉ những ám
ảnh khiến con người cô đơn cô độc và bị li cách mãi mãi, không thể tự mình giải thoát
và cũng không ai bên cạnh đủ sức đưa họ quay trở lên Cái chết của những Naoko hay Hatsumi, suy cho cùng chính là biểu hiện cao nhất của nỗi cô đơn không thể hòa nhập với cuộc sống, cho sự đau đớn, nhức nhối tột cùng của bi kịch con người hậu hiện đại
Cô đơn và bất toàn trước một xã hội đang chuyển mình như vũ bão, vượt quá tầm kiểm soát của mỗi cá nhân… là cảm thức chung trong những tiểu thuyết của Murakami Trong thế giới đó, sự cô đơn của người phụ nữ - vốn yếu đuối và nhạy cảm – lại càng sâu sắc hơn Trang sách của Murakami là những ẩn dụ thật đẹp, da diết buồn
về sự cô độc của kiếp người, về sự mất đi và hành tình tìm kiếm vô vọng cái tôi đích thực Những nhân vật nữ trong tác phẩm khiến người đọc loay hoay mãi với câu
hỏi:“Vì sao mọi người cứ phải cô đơn như thế này? Mục đích của nó là gì? Hàng triệu
Trang 36con người trên thế giới này, tất cả đều mong mỏi khát khao, đang kiếm tìm những người khác để thỏa mãn mình nhưng lại tự họ cô lập họ Vì sao? Trái đất sinh ra chỉ
để nuôi dưỡng sự cô đơn của con người?” [4;159]
2.4 Nhân vật nữ và những cuộc tìm kiếm vô vọng
Trong văn học, không ít lần chúng ta bắt gặp những nhân vật kiếm tìm Đó là cuộc hành trình kiếm tìm chân lí cuối cùng của Đông Juăng được Giorgio Bairơn thể hiện thành công qua cuốn tiểu thuyết cùng tên; cuộc hành trình tìm về với bản sắc văn hóa truyền thống Nhật Bản trong tiểu thuyết của Yasunari Kawabata hay cuộc hành trình tìm về với lương thiện, kiếm tìm lại nhân hình và nhân tính của Chí Phèo trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao… Tất cả những cuộc hành trình ấy đều mưu cầu những giá trị chân lý mà nhà văn đặt ra cho đứa con tinh thần của mình Cũng từ Đông Juăng, những nhân vật của Kawabata, Chí Phèo,… hình thành nên một nhận thức của nhà văn đối với hiện thực khách quan, khi đó kiểu nhân vật kiếm tìm hình thành
Bước sang văn học hậu hiện đại, những kiểu nhân vật kiếm tìm lại mang những sắc diện mới, đa dạng, phong phú, phức tạp và nhiều chiều hơn Đó là những nhân vật kiếm tìm tình yêu, kiếm tìm cảm giác tồn tại bằng sự thỏa mãn nhục thể, hay những nhân vật dấn thân vào cái chết chỉ để thấy được bản ngã của chính mình Những kiểu nhân vật kiếm tìm đó ta có thể thường xuyên bắt gặp ở các nhân vật nữ trong những
sáng tác của Murakami
2.4.1 Kiếm tìm bản ngã đích thực
"Bản ngã" hay "cái tôi" được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm
trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác Trong phân tâm học,
"cái tôi" là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác
động xã hội Theo Sigmund Freud, "cái tôi" cùng với "nó" và "cái siêu tôi" là ba miền của tâm thức "Cái tôi" được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, "cái tôi" học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận "Cái tôi" có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội
Từ khi thoát khỏi kiếp thú mông muội bốn chân, trên hành trình hoàn thiện chính mình, loài người đã luôn đau đáu với những câu hỏi: Ta là ai? Ta có mặt trên thế giới này để làm gì? Liệu rằng ta có khả năng hạnh phúc không? Để trả lời cho những câu hỏi khắc khoải đó, loài người đã làm một cuộc chạy tiếp sức bằng những phát minh vĩ đại từ đầu máy hơi nước đến vô tuyến truyền hình, máy bay, internet , đã sáng tạo ra các học thuyết, tôn giáo, triết học để lí giải thế giới với mong muốn tìm được nơi bình yên cho tâm hồn trú ngụ Những tưởng với những phát minh vĩ đại đó, các đức tin mãnh liệt đó, chúng ta sẽ sớm về đích và có câu trả lời thoả đáng cho tất cả Thế nhưng
không phải chỉ người xưa mới cảm nhận Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả,