Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của ngƣời dân đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Lễ hội cũng chính là dịp để con ngƣời giao lƣu, gặp gỡ, là nơi kết nối cộng đồng, nơi con ngƣời thể hiện truyền thống uống nƣớc nhớ nguồn. Lễ hội là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam và là một loại hình có tính chất tổng hợp chứa đựng trong nó cả tín ngƣỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xƣớng dân gian và văn nghệ dân gian. Nghiên cứu lễ hội truyền thống trên phƣơng diện lý luận lẫn thực tiễn, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Là một tỉnh miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn là một vùng đất có bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa và luôn có một vị trí quan trọng qua các thời kỳ lịch sử của đất nƣớc. Vùng đất này đã hình thành nhiều loại hình văn hóa với những sắc thái riêng. Trong đó, phải kể đến di tích và lễ hội đền Tả Phủ Kỳ Lừa, phƣờng Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn. Đây là một lễ hội văn hóa truyền thống, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống vật chất cũng nhƣ tinh thần của ngƣời dân nơi đây. Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hƣởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc. Với ý nghĩa to lớn và ảnh hƣởng đến đời sống con ngƣời, vấn đề đặt ra là quản lý, tổ chức lễ hội nhƣ thế nào để phát huy hết giá trị của lễ hội, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc. Những năm gần đây, khi nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của ngƣời dân ngày càng cao, sự giao lƣu văn hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho nhiều hiện tƣợng văn hóa có sự biến đổi nhanh chóng. Xu hƣớng thƣơng mại hóa lễ hội, hiện tƣợng lợi dụng niềm tin tôn giáo để mƣu
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHÙ - KỲ LỪA,
PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn : TS NGUYỄN THÀNH NAM
Sinh viên thực hiện : LÊ MINH THẮNG
Mã số sinh viên : 1405QLVB044
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả trong bài nghiên cứu là hoàn toàn trung thực Mọi thông tin nghiên cứu đƣợc đều do chính bản thân tôi trực tiếp thực hiện, các tài liệu tham khảo đã đƣợc trích dẫn đầy đủ
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2018
Sinh viên
Lê Minh Thắng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Là một sinh viên hiện đang theo học chuyên ngành Quản lý Văn hoá, được thực hiện Khóa luận tốt nghiệp thực sự là một niềm vinh hạnh lớn đối với tôi Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ và động viên Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người đã dõi theo và sát cánh bên tôi để giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thành Nam – là người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khóa luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban quản lý khu di tích đền Tả Phủ -
Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, đã cung cấp cho tôi nhiều thông tin quý báu trong suốt quá trình khảo sát làm bài
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy tại khoa Văn hoá - Thông tin & Xã hội, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tạo điều kiện thuân lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến
đề tài
Tuy nhiên, do kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, tư duy còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bản thân có thể hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của khóa luận 5
8 Bố cục khóa luận 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 7
1.1 Một số khái niệm 7
1.1.1 Khái niệm “Lễ hội” và “Lễ hội truyền thống” 7
1.1.2 Khái niệm “Quản lý” và “Quản lý lễ hội” 12
1.2 Quan điểm về quản lý lễ hội 15
1.3 Tổng quan về di tích đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn 16
1.3.1 Khái quát về phường Hoàng Văn Thụ thành phố Lạng Sơn 16
1.3.2 Giới thiệu về lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa 19
Tiểu kết 21
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 22
2.1 Thực trạng tổ chức lễ hội đền 22
2.1.1 Công tác chuẩn bị 22
2.1.2 Thực hành nghi thức, nghi lễ 23
2.1.3 Các trò chơi dân gian trong lễ hội 24
2.2 Thực trạng quản lý lễ hội 25
2.2.1 Công tác thực hiện các văn bản pháp quy 25
Trang 52.2.2 Công tác quản lý các nguồn lực 29
2.2.2.1 Quản lý nhân sự và đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ 29
2.2.2.2 Quản lý tài chính của lễ hội 31
2.2.2.3 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ lễ hội 33
2.2.2.4 Quản lý các hoạt động trong lễ hội 34
2.2.3 Công tác trùng tu, tôn tạo di tích 36
2.2.4 Công tác quản lý an ninh, vệ sinh môi trường trong lễ hội 37
2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra 38
Tiểu kết 40
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 41
3.1 Đánh giá chung 41
3.1.1 Tác động tích cực 41
3.1.2 Tác động tiêu cực 42
3.2 Đề xuất một số giải pháp 43
3.2.1 Giải pháp “Nâng cao chất lượng bộ máy quản lý” 43
3.2.2 Giải pháp “Nâng cao vai trò của cộng đồng” 44
3.2.3 Giải pháp “Thực hiện các cơ chế chính sách” 46
3.2.4 Giải pháp “Tăng cường quảng bá lễ hội” 48
3.2.5 Giải pháp “Xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội”49 3.2.6 Giải pháp “Nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự trong lễ hội” 51
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 6Là một tỉnh miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn là một vùng đất có bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa và luôn có một vị trí quan trọng qua các thời kỳ lịch sử của đất nước Vùng đất này đã hình thành nhiều loại hình văn hóa với những sắc thái riêng Trong đó, phải kể đến di tích và lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn Đây là một lễ hội văn hóa truyền thống, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân nơi đây Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc
Với ý nghĩa to lớn và ảnh hưởng đến đời sống con người, vấn đề đặt ra
là quản lý, tổ chức lễ hội như thế nào để phát huy hết giá trị của lễ hội, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Những năm gần đây, khi nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân ngày càng cao, sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho nhiều hiện tượng văn hóa có sự biến đổi nhanh chóng Xu hướng thương mại hóa lễ hội, hiện tượng lợi dụng niềm tin tôn giáo để mưu
Trang 7lợi, tổ chức các trò chơi thiếu lành mạnh, mang tính ăn thua như: cờ bạc, cá
độ, xóc thẻ, bói toán… Việc xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, bày bán hàng rong gây mất an ninh trật tự, vấn đề an toàn thực phẩm, là những hình ảnh xấu, góp phần tác động tiêu cực và làm mất đi không gian văn hóa của lễ hội, làm ảnh hưởng tới ý nghĩa thiêng liêng trong lễ hội, từ đó khiến việc quản
lý lễ hội trở thành một vấn đề cần được quan tâm
Việc tìm hiểu về lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, nhất là nghiên cứu thực trạng quản lý và tổ chức lễ hội thời gian qua là một việc làm cần thiết, giúp chúng ta có được cái nhìn sâu sắc về phong tục tập quán, tính cộng đồng, những nét đẹp văn hóa và đời sống tin thần của nhân dân nơi đây Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức lễ hội trong thời gian tới Đây là một việc làm thiết thực góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa đã trường tồn
trong lịch sử dân tộc Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý lễ hội đền Tả Phủ
- Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Quản lý Văn hóa
2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về lễ hội truyền thống không phải là vấn đề mới Từ trước đến nay đã có rất nhiều tác giả quan tâm vấn đề này
Nghiên cứu về lễ hội, quản lý lễ hội Năm 1994, Hội thảo khoa học Lễ
hội truyền thống trong xã hội hiện đại do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân
văn quốc gia tổ chức đã quy tụ nhiều bài nghiên cứu của nhiều tác giả về ý nghĩa, giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại Trong bài viết của mình, tác giả Đinh Gia Khánh đã nhận xét về các mặt tích cực và tiêu cực của
sự bùng phát trở lại của các lễ hội truyền thống Đồng thời, tác giả nêu ra một
số quan điểm phổ biến khi đánh giá về sự trở lại của lễ hội
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh trong công trình Lễ hội trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam (Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004) cho
rằng lễ hội không phải là một hiện tượng văn hóa bất biến mà nó có sự thay
Trang 8đổi qua thời gian Sự biến đổi và tiếp tục của các lễ hội chính là sự hài hòa của nó đối với không gian và thời gian nhất định Thừa nhận sự trường tồn của lễ hội cổ truyền, các nhà nghiên cứu không quan niệm lễ hội là sự luyến tiếc quá khứ, để lưu giữ, huyền thoại và cô lập con người Lễ hội cũng không phải tồn tại để con người quay ra tìm sự huyền bí với những cảm giác bồng bềnh, ngây ngất nhằm mục đích thoát ly cuộc sống Trong lễ hội có sự tưởng tượng về sự hiện diện các thần linh, các bí tích, nhưng không phải là để tấn công khoa học, đi ngược chiều với xã hội mới như xã hội hậu công nghiệp
Năm 2004, các tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú thực hiện đề
tài khoa học cấp Bộ Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp Đề tài
đã đánh giá tương đối đầy đủ về thực trạng lễ hội truyền thống Việt Nam và đưa ra một số giải pháp để phát triển và nâng cao giá trị của lễ hội Giáo dục các thế hệ biết và hiểu về lịch sử - văn hóa dân tộc địa phương mình qua các trải nghiệm hội hè, trò chơi, trò diễn dân gian có giá trị tìm lại môi trường phục sinh và tôn tạo Hàng loạt các nghề thủ công – mỹ nghệ, ẩm thực truyền thống được củng cố và phát triển tạo ra những cơ hội việc làm và thu nhập cho không ít lao động, góp phần bảo vệ di sản - văn hóa dân gian đang có cơ hội trở thành hàng hóa có giá trị trong xã hội hiện đại Các tác giả nhấn mạnh rằng lễ hội đang trở thành một sản phẩm du lịch, thúc đẩy kinh tế ở nhiều địa phương
Cùng quan tâm về quản lí lễ hội, tác giả Bùi Hoài Sơn công bố công
trình Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà
Nội, 2009) Tác giả đã khái quát hệ thống văn bản của Nhà nước ta về quản lý
lễ hội, đánh giá ưu, nhược điểm về công tác quản lý lễ hội, đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý lễ hội từ góc độ quản lý di sản văn hóa phi vật thể
Có thể thấy lễ hội là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên bình diện chung về lí luận, mô tả quá trình chuẩn bị, diễn biến của từng lễ hội, tìm hiểu và làm rõ các giá trị đa dạng của loại hình này trong nhiều công trình
Trang 9đã được công bố Những vấn đề về quản lí lễ hội cũng đã được một số tác giả quan tâm để chỉ ra thực trạng chung trong công tác quản lí qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước, góp phần bảo tồn giá trị của lễ hội trong bối cảnh hiện nay
Các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu những vấn đề chung
về công tác quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống, quản lý di tích lịch
sử văn hóa; còn đối với công tác lễ hội truyền thống đền Tả Phủ - Kỳ Lừa chưa có tác giả đề cập đến
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những giá trị tiêu biểu của lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội của địa phương, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày cơ sở lý luận về quản lý lễ hội và tổng quan địa bàn nghiên
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa trong
2 năm trở lại đây (2016 – 2017) Bên cạnh đó nghiên cứu không gian văn hóa nơi bảo tồn, gìn giữ lễ hội truyền thống
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Tác giả trực tiếp tham dự khai
mạc lễ hội Đền Tả Phủ - Kỳ Lừa tại phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố
Trang 10Lạng Sơn, quan sát các hoạt động qua các ngày diễn ra lễ hội, chứng kiến từ khâu khai mạc, chuẩn bị tổ chức trước khi làm lễ đến khâu tiến hành và bế mạc Lưu lại các thông tin tự thu thập qua không khí những ngày diễn ra lễ hội tại địa phương ( công tác chuẩn bị banner, áp phích, các thiết bị âm thanh, điện tử, cách bố trí các phương tiện phục vụ cho lễ hội, vai trò của các cơ quan chức năng trong việc quản lý lễ hội, …), từ cơ sở vật chất đến sự quan tâm, công tác bảo tồn của chính quyền, các cơ quan chức năng, của người dân đối với lễ hội
- Phương pháp thu thập thông tin và phân tích: sau khi tư liệu thực tế
từ phương pháp điền dã đã thu được từ nhiều nguồn thông tin thực tế và tác giả đã thu thập thêm từ nhiều nguồn thông tin khác, sau đó tổng hợp lại và phân tích các khía cạnh của lễ hội, qua thực trạng diễn ra lễ hội tác giả từ đó thấy được điểm mạnh, điểm yếu, nhận định nguyên nhân và đưa ra những đóng góp về giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Đền Tả Phủ- Kỳ Lừa Lạng Sơn
7 Những đóng góp của khóa luận
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về quản lý lễ hội đền
Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn Kết quả nghiên cứu của khóa luận là tài liệu tham khảo cho Ủy ban nhân dân phường Hoàng Văn Thụ trong công tác trực tiếp quản lý lễ hội
8 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ -
KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN
TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
Trang 11Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA,
PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm “Lễ hội” và “Lễ hội truyền thống”
Trên thế giới, mỗi một quốc gia lại có một loại hình sinh hoạt văn hóa riêng, mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia mình, và có lẽ “lễ hội” là loại hình tiêu biểu nhất Đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặcbiệt có tính tập thể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất, hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử Lễ hội nước nào cũng có những hình thức rước xách, diễu hành, vui chơi, nhưng ở mỗi quốc gia thì lễ hội lại có những nét độc đáo riêng, mang đậm dấu ấn riêng của quốc gia đó
Vì thế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống
xã hội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế - xã hội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng tộc người
Lễ hội là một loại hình văn hóa, có thể nói là một tác phẩm văn hóa của tộc người Việt, là nhu cầu không thể thiếu trong tư duy, trong đời sống tinh thần của nhân dân Lễ hội mang những tác động tích cực, nhiều người coi lễ hội như là một nhân tố tạo ra sự thư giãn tinh thần, là sự biểu hiện cách ứng
xử văn hóa với thiên nhiên, với thần thánh, và nhất là với xã hội cộng đồng Mỗi người, khi tham gia vào các hoạt động, dù là tham gia trực diện vào lễ hay chỉ là người dự hội bình thường đều tìm thấy sự hồn nhiên, hưng phấn nghệ thuật, những xúc cảm chất phát ngây thơ Nhờ không khí vừa thiêng liêng, nghiêm trang, vừa vui vẻ, thân ái của ngày hội mà mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội, mỗi cộng đồng giảm nhẹ hoặc “cởi tháo” được những quẫn bách, thậm chí cả những mâu thuẫn, xung đột của đời sống thường nhật Trên tinh thần ấy, có thể nói giá trị của lễ hội có tác dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội nơi làng xã từ ngàn đời nay
Trang 13Lễ hội còn được coi là “nguồn sữa mẹ” nuôi dưỡng các loại hình nghệ thuật Lễ hội hỗn dung các tầng lớp văn hóa của tộc người và các yếu tố văn hóa của tộc người trong tiến trình lịch sử Lễ hội đã bảo lưu, nuôi dưỡng và phát triển nhiều truyền thống văn hóa của cộng đồng các làng xã Lễ hội còn
là chỗ dựa tinh thần của người nông dân, thể hiện quan niệm đối với cái đẹp
và cái khát vọng vươn lên cái đẹp của họ
Mỗi vùng miền, một quốc gia lại có hình thức tổ chức lễ hội khác nhau Chính vì thế mà đã córất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạt văn hóa này.Sau đây là một số khái niệm điển hình về “Lễ hội” như:
Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga, M.Bachie cho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực
lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả” (Nếu theo như định nghĩa này thì một sự kiện hay một cuộc chiến đấu của người dân sẽ không được tưởng nhớ khi không có sự tác động và ảnh hưởng của con người)
Ở Việt Nam, khái niệm “Lễ hội” mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu Trước hết chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn như: lễ Thành Hoàng, lễ gia tiên,…Cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim, Hội chọi trâu,… Thêm chữ “lễ” cho “hội”, thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc và sau là thăm thú vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ (hội)
Trang 14Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh Các lễ hội cổ truyền phản ảnh hiện tượng đó Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội để phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóa những thứ trần tục Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảm bớt và chỉ còn mang nặng tính văn hóa
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” – Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc Lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch
sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” [7; tr.131] Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọngvới
Trang 15người nông nghiệp” [12; tr.38] Bên cạnh lễ, hội có nghĩa là cuộc vui được tổ chức cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt
Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Lễ là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một
vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hợp” [14; tr.7-8]
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam có nhiều cách trình bày định nghĩa lễ hội như trong Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) có viết:
“Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện, còn hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy
nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “Nhân khang, vật thịnh””
Trong cuốn Văn hóa học xuất bản năm 1997, Đoàn Văn Chúc còn cho rằng: “Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự nhiên, tư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hiện theo nghi điển rộng lớn, mức độ rộng lớn, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ Hội là cuộc vui chơi bằng vô
số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa 4 điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ” [5; tr.12]
Trang 16Ở khía cạnh dân gian, trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại, Ngô Đức Thịnh và Frank Proscha đưa ra định nghĩa “Lễ hội là một hoạt động
kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống” [13; tr.8]
Như vậy, lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo Lễ hội bao gồm hai thành tố là lễ và hội kết hợp giữa tín ngưỡng và vui chơi, giữa con người và thần linh, giữa thế giới âm và dương
để thông qua đó, con người có thể bày tỏ niềm mong ước của mình vào các vị thần linh trên trời Đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Trước đây, con người chưa có đủ khả năng chinh phục, chế ngự và làm chủ thiên nhiên cũng như làm chủ xã hội nên bị bất lực và chi phối bởi những thiên tai bất trắc, may rủi hay bất công do thiên nhiên hay con người gây nên Vì thế, thần linh là nơi họ đặt niềm tin vào đó như: thần linh trời đất, thần linh núi sông, Vậy nên, xưa kia có nhiều làng xã đã xây dựng đình, miếu để thờ các vị thần linh tại địa phương và thường tổ chức lễ hội tại những nơi đó, nhằm thể hiện sự biết ơn đối với các vị thần linh đã ban cho người dân nơi đó sức khỏe, mùa màng bội thu, vật nuôi sinh sôi phát triển Hơn thế nữa, họ còn cầu mong các vị thần tiếp tục che chở, bảo vệ và ban phúc lành may mắn, thịnh vượng cho họ Các lễ hội truyền thống thể hiện rõ nhất điều này
Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam và là một hiện tượng có tính chất tổng hợp chứa đựng trong đó cả tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian và văn nghệ dân gian Bên cạnh đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng trong
“Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” thì “Lễ hội còn là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa” [16].Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch
sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ
Trang 17trong đời sống xã hội Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam
Trong Hán Việt Từ điển bách khoa, Đào Duy Anh đã định nghĩa truyền thống như sau: “Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời
nọ truyền xuống đời kia” [1]
Trong lễ hội truyền thống có sự tác động và ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo, tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục Liên quan đến khái niệm “Lễ hội truyền thống” còn có khái niệm “Lễ hội cổ truyền” dùng với nghĩa gần như tương đương với nhau Truyền thống hay cổ truyền thật ra chỉ là hai thuật ngữ Hán –Việt dùng để nói về cùng một đối tượng
Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ truyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội Như vậy, lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình
xã hội được tổ chức theo những giai đoạn lịch sử khác nhau
Tóm lại, lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong tục tập quán
1.1.2 Khái niệm “Quản lý” và “Quản lý lễ hội”
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ nhóm nhỏ đến
Trang 18phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải chịu một sự quản lý nào đó Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, luật học,… Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người
Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc
Ngoài ra, còn khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:
- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung
- Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức
- Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác
- Theo Từ điển Tiếng Việt thì quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định
Như vậy, một cách tổng quát nhất có thể định nghĩa về quản lý theo Mai Hữu Luân trong cuốn “Lý luận quản lý hành chính nhà nước” như sau:
“Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định” [6; tr.23]
Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Nhà nước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa như: quyền học tập, sáng tạo, phê
Trang 19bình văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng,… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa
Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: “Quản lý lễ hội là công việc cảu Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói chung” [11; tr.65]
Tác giả Phạm Thanh Quy lại cho rằng: “Quản lý lễ hội bao gồm quản
lý nhà nước và những hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội Quản lý lễ hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển được hiểu là sự tổ chức, huy động các nguồn lực Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu lợi ích công cộng, mục tiêu lợi ích công cộng, mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng phát triển đất nước” [10; tr.32-33]
Như vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội truyền thống nói riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý như: chính sách, pháp luật, các Nghị định, chế tài tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp và các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước đã ban hành Quản lý lễ hội gồm 4 công đoạn: xác định nội dung và phương thức tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm
tra, giám sát việc thực hiện; tổng kết, đúc kết kinh nghiệm
Trang 201.2 Quan điểm về quản lý lễ hội
Lễ hội là di sản văn hóa của dân tộc ta, là sinh hoạt văn hóa cộng đồng hấp dẫn, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia Lễ hội đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống nhằm thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn, sinh hoạt tín ngưỡng, cân bằng đời sống tâm linh và hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của nhân dân Những tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội là phác thảo cho một bức tranh toàn cảnh về hoạt động lễ hội trên cả nước, như một phần di sản văn hóa của quá khứ còn bảo lưu được cho đến ngày nay và một nhu cầu rất phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Cả hai phương diện ấy, vai trò quản lý của Nhà nước là rất quan trọng Bảo tồn và phát huy những hoạt động lễ hội chính là bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, những bài học truyền thống giúp ích cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc Hơn nữa, đó cũng chính là hành trang để chúng ta bước vào cuộc hội nhập toàn cầu với những bản sắc và bản lĩnh được tích lũy và đúc kết trong lịch sử Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, với những quan điểm mang tính định hướng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cùng với Luật di sản văn hóa đã được thông qua, những di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có di sản lễ hội đang trở thành một nguồn lực tinh thần to lớn cho toàn xã hội
Trong quá trình thực hiện Luật Di sản văn hóa, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, thông tư hướng dẫn cụ thể như:
- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/09/2010, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa
- Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL, ngày 21/01/2011 của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
Trang 21- Nghị định 92/2012/NĐ-CP, ngày 18/11/2012 quy định chi tiết và biện pháp thi hành pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
- Chỉ thị số 265/CT-BVHTTDL, ngày 18/12/2012 về việc tăng cường công tác quản lý, tổ chức thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội
- Chỉ thị số 41 – CT/TW, ngày 05/02/2015 của Ban Bí thư về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội
- Ngày 12/02/2015, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 229/CĐ –
TTg về chỉ đạo thực hiện công tác quản lý và tổ chức lễ hội
Trên cơ sở luật pháp của Đảng và Nhà nước hướng dẫn, chỉ đạo qua các Thông tư, Nghị định, Chỉ thị về công tác văn hóa và lễ hội, tỉnh Lạng Sơn cũng đã nghiêm túc triển khai thực hiện và lấy đó làm căn cứ để đưa ra các văn bản hướng dẫn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đồng thời xây dựng chính sách quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nhằm mục đích phát triển văn hóa của tỉnh nhà góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong những năm vừa qua, nhằm quản lý tốt hơn các hoạt động văn hóa trên địa bàn, Thành phố Lạng Sơn đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa, các di tích lịch sử trong
đó có lễ hội
1.3 Tổng quan về di tích đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn
1.3.1 Khái quát về phường Hoàng Văn Thụ thành phố Lạng Sơn
Thành phố Lạng Sơn - vùng đất đã trải qua thời kỳ Châu lỵ, Trấn lỵ và đến năm 1925 được thành lập, trở thành thị xã tỉnh lỵ, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của Tỉnh Đây là nơi có nhiều hang động, di tích lịch sử nổi tiếng như quần thể hang động Nhất, Nhị, Tam Thanh, Nàng Tô Thị, Thành Nhà Mạc, Chùa Tiên, Giếng Tiên, cùng các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc đã từng hấp dẫn khách bốn phương từ ngàn xưa
Trang 22Sự hội tụ của các điều kiện địa lý, thiên nhiên, hoàn cảnh lịch sử và con người
đã tạo cho Thành phố Lạng Sơn thế mạnh phát triển đô thị, trở thành trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hoá của tỉnh Lạng Sơn và vùng Đông Bắc Tổ quốc
Ngày nay Thành phố Lạng Sơn là một Thành phố trẻ, Thành phố thương mại cửa khẩu đang trên đà phát triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu Kinh tế - Văn hoá của cả nước với đất nước Trung Quốc và các nước Đông
Âu, là địa bàn quan trọng có mối quan hệ mật thiết với vùng tam giác kinh tế trọng điểm của miền bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Thành phố Lạng Sơn là đô thị loại III của tỉnh Lạng Sơn, có diện tích khoảng 78.11 km² Thành phố nằm bên quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc18 km; cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc
Dân số của thành phố năm 2014 là 92.200 người, với nhiều dân tộc khác nhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ, Thành phố nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm 21 độ C, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm
Bao gồm 5 phường và 3 xã: phường Hoàng Văn Thụ, phường Vĩnh Trại, phường Tam Thanh, phường Chi Lăng, phường Đông Kinh, xã Mai Pha,
xã Quảng Lạc, xã Hoàng Đồng
Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc, phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy - huyện Chi Lăng, phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên – huyện Cao Lộc, phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp – huyện Văn Quan
Thành phố Lạng Sơn nằm ở vị trí từ 21,45 đến 22 độ vĩ Bắc, 106,39 đến 107,03 độ kinh Đông Có diện tích tự nhiên 79,18km2; cách Thủ đô Hà Nội 154km, cách cửa khẩu Quốc tế Hữu nghị 14km và cách 5 cặp chợ đường
Trang 23biên Việt - Trung thuộc huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng từ 25 đến 30km Dân số của Thành phố ước tính có hơn 10 vạn người với 104 khối thôn được chia thành 8 đơn vị hành chính (05 phường, 03 xã) Cơ cấu kinh tế của Thành phố chủ yếu là phát triển thương mại du lịch dịch vụ (chiếm 59,8%), công nghiệp – xây dựng (chiếm 35,5%) và nông lâm nghiệp (chiếm 4,7%) GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 14,9 triệu đồng/người/năm
Hoạt động của các thành phần kinh tế phát triển ổn định, phong phú và
đa dạng Hiện Thành phố có hơn 300 doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, hơn 4.000 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn
Cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại du lịch cũng có những thay đổi mạnh mẽ, bước đầu đáp ứng được sự phát triển của ngành kinh tế thương mại
- du lịch - dịch vụ Thành phố Nhiều khu di tích văn hoá - lịch sử, danh lam thắng cảnh đã được đầu tư, tôn tạo như: Khu di tích Thành nhà Mạc, khu di tích Nhất Nhị Tam Thanh, Chùa Tiên,… Đầu tư xây dựng các công trình phục
vụ phát triển du lịch như: kè bờ sông Kỳ Cùng, kè suối Lao Ly, cải tạo công viên Hồ Phai Loạn, xây dựng Khu du lịch sinh thái hồ Nà Tâm, hồ Thâm Sỉnh, Khu du lịch sinh thái Đèo Giang - Văn Vỉ, nhằm tạo ra các điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách đến tham quan, du lịch trên địa bàn Hệ thống cơ
sở lưu trú phục vụ du lịch hiện có hơn 800 cơ sở hoạt động kinh doanh dịch
vụ khách sạn, nhà hàng trên địa bàn Một số công trình phục vụ cho sự phát triển thương mại - du lịch - dịch vụ đã và sẽ tiếp tục được triển khai như: Khu vui chơi giải trí liên doanh quốc tế, dự án Công viên nước, khách sạn 3 sao,
dự án cải tạo, nâng cấp chợ truyền thống Kỳ Lừa…
Lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo năm
2005 còn 3,67% (theo tiêu chí mới), hộ giàu và khá chiếm trên 40% 100% thôn bản có điện lưới quốc gia, 100% số hộ được nghe đài phát thanh, trên
Trang 2495% số hộ được xem truyền hình, tỷ lệ thôn bản được dùng nước sạch chiếm khoảng 85% Chất lượng giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng cao, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp bình quân từ 98-100%, số học sinh giỏi hàng năm đều tăng Đảm bảo các chương trình mục tiêu quốc gia về Y tế, Dân số, Gia đình
và trẻ em Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ổn định ở mức 0,9%/năm Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 16% vào năm 2005
Theo số liệu khảo sát của Sở Văn hóa - Thông tin Lạng Sơn, đến năm
2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian với tính chất, quy mô lớn, nhỏ khác nhau Các lễ hội tiêu biểu như: lễ hội Lồng Tồng, lễ hội Bủng Kham, lễ hội Nàng Hai, lễ hội Ná Nhèm, lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa, lễ hội đền Bắc Lệ…
Hoàng Văn Thụ là một phường thuộc thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam, có diện tích 1,71 km², dân số năm 1999 là 11455 người, mật
độ dân số đạt 6699 người/km² Ở đây diễn ra lễ hội Tả Phủ - Kỳ Lừa nổi tiếng
1.3.2 Giới thiệu về lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa
Đây là hội có quy mô, lớn nhất và phong phú đặc sắc nhất trong lễ hội
ở Lạng Sơncó từ thế kỷ 17,gắn với một truyền thuyết lịch sử thể hiện lòng nghĩa hiệp của viên tướng thời Hậu Lê là Thần Công Tài Lễ hộiđược tổ chức
từ 22-27 tháng Giêng Âm lịch hằng năm Trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hình thức vui chơi giải trí Chơi cờ người, múa sư tử, đặc biệt là trò chơi cướp đầu pháo và rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ và quay lại
Theo truyền thuyết, đền Kỳ Cùng (phường Vĩnh Trại) thờ quan Tuần Tranh thuộc nhà Trần, do oan khuất nên ông nhảy xuống sông Kỳ Cùng tự vẫn Sau này, Tả đô đốc Hán quận công Thân Công Tài được nhà Lê cử lên Lạng Sơn đã minh oan cho cái chết của ông Tuần Tranh Ông Thân Công Tài
là người có học, có tài được Trịnh Tạc trọng dụng bổ nhiệm lên Lạng Sơn làm phó tướng nhận chức Đô đốc giúp việc cho Vi Đức Thắng, trấn giữ nơi biên thùy Lịch sử ghi lại vai trò của ông trong việc mở ra phố chợ Kỳ Lừa của trấn
Trang 25lị Lạng Sơn xưa kia, góp phần mở rộng giao thương giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc và vẫn duy trì đến ngày hôm nay Trước kia, khu Kỳ Lừa khi ông chưa khai phá mở chợ thường hay bị lũ lụt ngập úng, khi dựng chợ ông cho mua sắm lễ đưa xuống đền Kỳ Cùng để cúng thần Giao Long (thần sông nước) Từ đó, chợ Kỳ Lừa không bị ngập úng nữa, nhân dân địa phương yên tâm họp chợ và họ cho rằng ông Thân Công Tài được thần sông phù hộ để lo việc đời, nên sau khi ông mất, nhân dân lập miếu thờ ông; hằng năm tổ chức
lễ hội, rước thần Giao Long lên đền Tả Phủ, nhằm mục đích cầu mong thần Giao Long luôn phù hộ cho ông Thân Công Tài và nhân dân địa phương luôn gặp những điều may mắn, có được cuộc sống yên vui tốt lành Vậy nên, sau khi ông mất người dân lập đền Tả Phủ (phường Hoàng Văn Thụ) để thờ cúng vào năm Chính Hòa thứ 4 (năm 1683) Cảm kích trước công ơn của ông Thân Công Tài, ngày 22 tháng Giêng hàng năm, vào đúng Ngọ người dân địa phương mở hội rước bát hương ông Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ tạ nghĩa Ngày 27 sẽ rước kiệu quay ngược lại, đặc biệt ngày 27 diễn ra lễ cướp đầu pháo, theo quan niệm dân gian ai cướp được đầu pháo năm ấy sẽ gặp may mắn tài lộc.[11]
Đền Kỳ Cùng là một trong những ngôi đền có từ lâu đời của xứ Lạng Đền xây dựng từ bao giờ cho đến nay chưa có tài liệu nào xác định chứng minh chính xác, theo hồi ức của nhân dân thì đền có từ rất lâu và đã qua nhiều lần sửa chữa Dân gian vẫn lưu truyền rất nhiều truyền thuyết, truyện kể gắn với ngôi đền thiêng này Nổi tiếng nhất là truyền thuyết về ông Cộc, ông Dài – hai vị thần Giao Long, tức thần sông của sông Kỳ Cùng và truyện về Quan lớn Tuần Tương truyền, ông Tuần Tranh là một vị quan dưới thời nhà Trần, được cử lên Lạng Sơn đánh giặc, trấn ải biên thùy Do chủ quan, nên binh sĩ của ông hay bị ốm đau, lúc lâm trận với giặc thường hay bị thương vong, thiệt hại Sợ quay về triều đình sẽ bị phạt nặng, bước đường cùng ông nhảy xuống sông tự vẫn và con sông này được gọi là sông "Kỳ Cùng" Khi ông Thân
Trang 26Công Tài lên Lạng Sơn nhậm chức, được biết chuyện ông đã viết sớ về tâu với Vua để minh oan cho ông Tuần Tranh Trong tiềm thức của mình, nhân dân địa phương cảm phục lòng nghĩa hiệp của ông Thân Công Tài nên đã mở hội hằng năm và rước ông Tuần Tranh (đền Kỳ Cùng) lên tạ nghĩa với ông Thân Công Tài (đền Tả Phủ) Vì vậy mới có nội dung rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ
Lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa là lễ hội lớn và đông vui nhất tại Lạng Sơn trong ngày đầu năm Trong suốt ngày hội, dọc các tuyến phố từ đền Kỳ Cùng
đến đền Tả Phủ, các gia đình hàng xóm cùng nhau thành lập Hội liên gia, làm
cỗ chung, sửa soạn lễ vật rước lên đền thánh Vượt qua quy mô địa phương, lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa với ý nghĩa truyền thống sâu sắc không chỉ là ngày
hội của các dân tộc Lạng Sơn mà còn trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du
khách thập phương dịp đầu năm mới
Tiểu kết
Trong chương 1, tác giả đã tìm hiểu về cơ sở lý luận, đồng thời làm rõ một số khái niệm liên quan đến lễ hội, quản lý lễ hội,… Bên cạnh đó, tác gải khóa luận cũng đề cập đến một số văn bản nhà nước liên quan đến lễ hội
Tác giả cũng đã khái quát về đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, truyền thống lịch sử
và nhân vật được thờ phụng cũng như vai trò của di tích trong văn hóa tinh thần của người dân Thành phố Lạng Sơn
Những vấn đề ở chương 1 là cơ sở để tác giả tiếp tục phân tích thực trạng quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa ở chương 2
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
2.1 Thực trạng tổ chức lễ hội đền
2.1.1 Công tác chuẩn bị
Tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng Giêng âm lịch tại đền Tả Phủ, chợ Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn Trong lễ hội này, một dây pháo dài khoảng 8 tấc, to 1,5 phân, đầu pháo có vòng đồng đính, sẽ được làm
lễ đốt sau ngày khai hạ Người nào cướp được vòng đồng ở đầu pháo sẽ được thưởng một con gà, một cân xôi, một cân rượu và quan trọng hơn cả là năm
ấy, họ sẽ được mạnh khỏe, phát tài
Lễ hội đầu pháo chợ Kỳ Lừa được tổ chức từ ngày 22 đến ngày 27 tháng Giêng Nhưng thực ra, không khí ngày hội đã có thể nhận thấy ngay từ sau rằm tháng giêng Từ ngày 16 trở đi, trong đền Tả Phủ, đèn nến được thắp sáng trưng, khói hương nghi ngút suốt ngày đêm Trong những ngày này, người dân nơi đây tổ chức đón rước thổ công, thần thánh ở các đền miếu lân cận về dự hội Từ ngày 16 đến ngày 21, các gia đình có “đầu pháo” lấy được
từ năm trước trả lại đền, kèm theo món lễ tạ và những tràng pháo để thông báo cho hàng phố biết Ngày 27, đúng giờ ngọ đoàn kiệu lại rước, trả thần sông về đền Kỳ Cùng và đưa thổ công, thần thánh về các miếu lân cận, lễ hội kết thúc Từ khi Chính phủ cấm đốt pháo nổ, tên gọi “Hội đầu pháo” được đổi thành “Lễ hội xuân đền tả Phủ” Hiện nay, còn có một lễ hội gắn liền với lễ hội đền Tả Phủ, đó là lễ hội đền Kỳ Cùng
Để cho lễ hội diễn ra và thành công tốt đẹp thì chính quyền địa phương, Ban quản lý đền cùng nhân dân phường Hoàng Văn Thụ chuẩn bị trước đó từ rất sớm Đây là khâu then chốt quyết định sự thành công hay thất bại, bởi sự chuẩn bị chu đáo, chi tiết, khoa học sẽ giúp cho quá trình thực hiện công việc được thuận tiện, dễ dàng hơn Về công tác chuẩn bị đầu tiên, Ban quản lý đền
Trang 28có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, kịch bản và tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động diễn ra trong lễ hội báo cáo xin phép Ủy ban nhân dân các cấp
và Phòng Văn hóa – Thông tin
Đồng thời, đảm bảo các công tác bảo vệ các di tích có liên quan đến lễ hội, an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường, quản lý các hoạt động dịch vụ, quản lý nguồn thu công đức trong quá trình diễn ra lễ hội, Ban quản lý còn thành lập các tiểu ban chuyên môn, như tiểu ban nội dung, tiểu ban tài chính, tiểu ban an ninh trật tự, tiểu ban khánh tiết, tiểu ban tiếp khách, Các tiểu ban có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, đồng thời giúp Ban quản lý điều hành các công việc trong quá trình tổ chức và quản lý lễ hội
Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, tài chính cũng giữ vai trò quan trọng, cần thiết, không thể thiếu trong quá trình thực hiện Đối với tiểu ban tài chính phải cắt cử thành viên đến các khu vực dân cư vận động, tuyên truyền cùng các tín đồ và hội phụ nữ các thôn thu tiền đóng góp tổ chức lễ hội Mỗi hộ gia đình đóng góp 100.000 đồng, tùy theo tình hình thực tế mà tiền thu tổ chức lễ hội có thể tăng giảm theo từng năm Lễ hội còn tổ chức lễ rước nên cũng cần phải chuẩn bị về con người và các trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho đoàn rước Ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian, đánh cở người, tổ tôm, các chương trình văn hóa, văn nghệ chào mừng lễ hội,… Lực lượng tham gia
và các công cụ liên quan như: âm thanh, ánh sáng, loa máy, để phục vụ cho các chương trình lễ hội diễn ra đúng như kịch bản
Tất cả các công việc chuẩn bị xong thì Ban quản lý kiểm tra, rà soát, tổng hợp báo cáo kỹ lưỡng, xong trước khi lễ hội diễn ra đảm bảo cho quá trình tổ chức lễ hội được diễn ra thuận lợi, an toàn, tiết kiệm
2.1.2 Thực hành nghi thức, nghi lễ
Hội Đầu pháo Kỳ Lừa bắt đầu từ sáng ngày 22 tháng giêng (âm lịch) Sau khi khai mạc lễ hội, một đoàn kiệu rước trang hoàng lộng lẫy, có thanh
Trang 29niên trai tráng, trang phục chỉnh tề gọi là “đồng nam” khiêng kiệu và một tốp thiếu niên gọi là “đồng tử” khiêng đình hoàng trầm cùng với đội sư tử Kỳ Lừa múa một vòng quanh sân đền rồi hướng thẳng xuống đền Kỳ Cùng để rước thần sông Kỳ Cùng về dự hội Sau khi làm lễ đón rước, đúng giờ Ngọ, đoàn kiệu rước thần sông Kỳ Cùng quay về đền Tả Phủ Trên quãng đường đoàn kiệu rước qua, các gia đình bày biện mâm lễ, cúng xôi, gà, hoa quả để cầu may, cầu tào lộc và đốt pháo chào mừng Đúng giờ ngọ bắt đầu làm lễ Lễ xong, đoàn người rước kiệu đến đền Tả Phủ hạ kiệu làm lễ tạ ơn
Bước sang ngày 23, 24 tháng giêng, lễ hội đầu pháo bắt đầu Đầu pháo
có gắn đầu kim loại, cuốn vải cẩn thận, chuẩn bị xong rước ra sau đền làm lễ cúng thần, xong đầu pháo được đem ra đốt Khi pháo nổ, vòng kim loại hất lên không trung rơi xuống, mọi người tranh nhau cướp Những ai tranh được đầu pháo thì đem đến trình với thần đền và Ban Tổ chức lễ hội lấy phần thưởng, phần thưởng ở đây thường là bức tranh vẽ khung cảnh hữu tình và có các chữ Phúc - Lộc - Thọ (hình đầu pháo) Người ta đem vật này về thờ tại gia đình và tin rằng trong năm sẽ làm ăn may mắn bình yên Trong thời gian hội
có các đầu pháo theo thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 10 (không có số 7 vì kiêng) Cùng với phần thưởng được trao, những người thắng cuộc thường mang đầu pháo về cầu may, mỗi đầu pháo chỉ được thờ một năm Đến mùa hội sang năm những gia đình có đầu pháo đem ra đền làm lễ tạ rồi trao lại đầu pháo
cho đền
27 tháng giêng là ngày kết thúc hội Cũng vào giờ ngọ, mọi người tập trung ở đền Tả Phủ làm lễ tạm biệt ông Tuần Tranh Sau tuần lễ, kiệu bắt đầu
được rước trở lại đền Kỳ Cùng với nghi thức ban đầu
2.1.3 Các trò chơi dân gian trong lễ hội
Hòa với trò chơi cướp đầu pháo, lễ rước kiệu, ở đây còn có nhiều hình thức vui chơi như thi đấu cờ người, múa sư tử, hát giao duyên (hát sli, hát
Trang 30lượn) tạo nên không khí nhộn nhịp vui tươi cho cả một vùng thị xã trong
những ngày xuân
2.2 Thực trạng quản lý lễ hội
2.2.1 Công tác thực hiện các văn bản pháp quy
Để lễ hội truyền thống được duy trì và phát triển theo định hướng, trong nhưng năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, văn hóa, xã hội đảm bảo phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Công tác quản lý lễ hội luôn được coi trọng và chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo cho người dân tham gia lễ hội thực sự văn minh, an toàn, tiết kiệm, tạo điều kiện cho các lễ hội được tổ chức
và quản lý theo đúng chủ trương và định hướng Hệ thống các văn bản liên
quan đến việc tổ chức và thực hiện quản lý lễ hội
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành, tạo điều kiện các lễ hội được tổ chức và phục dựng lại và quản lý theo đúng chủ trương và định hướng, Ủy ban nhân dân Thành phố Lạng Sơn đã quán triệt sâu sắc những chủ trương, chính sách và cố gắng thực hiện đúng với các
lễ hội nói riêng
Trong quá trình diễn ra lễ hội, các giá trị sáng tạo được nối tiếp liên tục, những sang tạo văn hóa luôn được sinh sôi và tái hiện lại theo một chu kỳ
Trang 31nhất định Những nghi lễ truyền thống, những khuôn phép và những quy định chặt chẽ về những người tham gia tế lễ luôn được các bậc cao niên gìn giữ
truyền lại cho đời sau
Thứ hai, chính sách quản lý kinh tế trong hoạt động của lễ hội đền Tả
Phủ - Kỳ Lừa
Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là đề cập đến việc hoạch toán ngân sách thu, chi các hoạt động của lễ hội Những lễ hội truyền thống do Nhà nước chủ trương và đầu tư, thì việc quản lý thu - chi
do cơ quan tài chính đủ thầm quyền của các cấp tổ chức lễ hội chịu trách
Trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa như hiên nay thì kinh phí tổ chức lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa thời gian trước là được lấy từ sản phẩm của ruộng làng Hiện nay, kinh phí để tổ chức mở hội chủ yếu là dựa vào sựu đóng góp của người dân trong cộng đồng, hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách, sự gia tâm cúng tiến của nhân dân và của các doanh nghiệp đia phương và tích lũy kinh phí để mở hội cho các năm sau
Tất nhiên, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường luôn có mặt tích cực và tiêu cưc Vấn đề đặt ra là làm thế nào đề phát huy tích cực, hạn chế tiêu cực, là sự đòi hỏi về tư duy, năng lực của cán bộ công tác quản lý Trên
Trang 32thực tế nếu không tạo ra được nguồn thu trong lễ hội thì sẽ làm hạn chế nguồn lực của lễ hội năm sau và có thể làm gián đoạn thời gian tổ chức
Thứ ba, xã hội hóa trong quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống
Trong thời kỳ đất nước trong giai đoạn kinh tế Nhà nước bao cấp thì các hoạt động văn hóa – nghệ thuật được tổ chức chủ yếu đều do Nhà nước bao cấp kinh phí và quản lý
Bước sang thời kỳ đổi mới, xóa bỏ cơ chế quan lieu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã ban hành những văn bản về chính sách pháp luật về văn hóa để phù hợp với tình hình thực tiễn
Trong bối cảnh chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường với xu thế giao lưu, hội nhập quốc tế, nhân dân ta đã tự “xã hội hóa” hầu hết các hoạt động sang tạo văn hóa từ khâu sản xuất đến phân phối các sản phẩm văn hóa Nhất là trong lĩnh vực phục dựng các giá trị văn hóa truyền thống như di tích,
lễ hội dân gian, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt văn hóa đáp ứng đời sống tinh thần hàng ngày ở mỗi cộng đồng dân cư
Xã hội hóa là biến một số hoạt động mang tính cá nhân trở thành hoạt động mang tính xã hội, mà bản chất của nó là “nhà nước và nhân dân cùng làm” Cùng với ý nghĩa văn hóa là của dân, do dân và vì dân đi đôi với chính sách dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của nhà nướ, các phong trào văn hóa – văn nghệ - thể thao đã phát triển hơn bao giờ hết Bởi đó là sự phát triển của các mối quan hệ lợi ích giữa văn hóa – kinh tế - xã hội theo quy luật vận động tất yếu và khách quan Việc xây dựng và ban hành các chính sách sẽ tạo điều kiện và cơ hội thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa văn hóa, xã hội hóa sẽ trở thành cơ chế và phương thức vận hành của đời sống xã hội
Cơ chế của xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động quản lý lễ hội truyền thống nói riêng, là sự huy động tham gia của các nguồn
Trang 33lực xã hội và các khâu trong quá trình hoạt động, dựa trên việc xác lập những mối quan hệ lợi ích nhiều chiều
Xã hội hóa các hoạt động văn hóa, đã làm gia tăng và phong phú đa dạng hơn các san phẩm văn hóa cả về số lượng và chất lượng, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển văn hóa định hướng xã hội chủ nghĩa đi đôi với phát triển đời sống tinh thần của nhân dân cả về vật chất và tinh thần
Xã hội hóa hoạt động lễ hội truyền thống là việc thiết lập, vận hành các quan
hệ lợi ích giữa người mở hội, người dự hội với các tổ chức kinh tế - xã hội khác, nhằm bảo tồn và phát triển di sản vô giá này cho hôm nay và cho thế hệ mai sau
Quản lý nhà nước về xã hội hóa hoạt động lễ hội truyền thống hiện nay, đòi hỏi phải có và đổi mới cơ chế quản lý thích hợp Công cụ quản lý dựa trên
cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước Các văn bản Luật, Nghị định của Chính phủ, Quy chế, Quyết định của Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch; các nội quy, hương ước của địa phương và phẩm chất, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng quản lý, trong việc tổ chức vận hành thanh tra, kiểm tra, giám sát,… sao cho linh hoạt với điều kiện thực tế của từng địa phương, của từng lễ hội truyền thống
Giáo dục truyền thống dân tộc về lịch sử, văn hóa trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, tưởng nhớ công đức của các danh nhân – những người có công với dân, với nước, tìm hiểu các giá trị văn hóa, giữ gìn, phát huy vốn văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc thông qua các
di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật Ngày 12/1/1998 Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị số 27-CT/TW về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội của nhà nước là công cụ quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống ở địa phương, là phương tiện để các tổ