Việt Nam là một quốc gia đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử với một nền nghệ thuật truyền thống phong phú và đặc sắc, trong đó có nghệ thuật múa rối nƣớc. Múa rối nƣớc (hay còn gọi là trò rối nƣớc) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, một sáng tạo đặc biệt của ngƣời Việt ở châu thổ Bắc Bộ, ra đời từ nền văn hóa lúa nƣớc, nhận đƣợc sự quan tâm hƣởng ứng của đông đảo nhân dân và bạn bè quốc tế. Là một trong những cái nôi của nghệ thuật múa rối nƣớc truyền thống, múa rối nƣớc tại huyện Đông Hƣng tỉnh Thái Bình từ lâu đã nổi danh trên cả nƣớc và bạn bè quốc tế với các phƣờng rối nhƣ: rối nƣớc làng Nguyễn và rối nƣớc làng Đống. Mặc dù đã nhận đƣợc sự quan tâm đầu tƣ từ nhà nƣớc và các tổ chức khác nhƣng nghệ thuật múa rối nƣớc tại đây vẫn phải đối mặt với thực trạng nhiều khó khăn, thách thức và nguy cơ bị mai một theo thời gian. Là sinh viên đang theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa của Trƣờng Đại học Nội Vụ Hà Nội, tôi mong muốn đƣợc tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nƣớc tại đây để nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về múa rối nƣớc một nghệ thuật dân gian đặc sắc, một nét đẹp văn hóa không chỉ của ngƣời dân Đông Hƣng Thái Bình mà còn của cả dân tộc Việt Nam phục vụ cho quá trình học tập, làm hành trang cho quá trình công tác thực tiễn sau này. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nƣớc tại huyện Đông Hƣng tỉnh Thái Bình” làm đề tài khóa luận. 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu: Nghệ thuật múa rối nƣớc làng Nguyễn và làng Đống tại huyện Đông Hƣng tỉnh Thái Bình. Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi không gian: xã Nguyên Xá và xã Đông Các thuộc huyện
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn : THS NGHIÊM XUÂN MỪNG Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ THƯƠNG
Mã số sinh viên : 1405QLVB047
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình” là công trình của cá nhân tôi Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là khách quan, trung thực
Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Thương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, với sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong Khoa Quản lý xã hội và thầy giảng viên hướng dẫn, sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan chức năng và nhân dân địa bàn nghiên cứu,
sự cố gắng khắc phục khó khăn của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình” Qua đây, tôi đã rút ra được nhiều bài học, kinh nghiệm
bổ ích trong công tác quản lý di sản, quản lý văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cổ truyền trong bối cảnh hiện nay, đồng thời giúp tôi hiểu rõ hơn
lý thuyết, kiến thức đã được nhà trường trang bị, áp dụng vào thực tiễn công việc
Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Khoa Quản lý xã hội và thầy Nghiêm Xuân Mừng, giảng viên hướng dẫn, đã định hướng, tư vấn, giúp
đỡ tác giả trong quá trình lựa chọn và thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn các nghệ nhân múa rối nước làng Nguyễn và làng Đống, cùng các cơ quan chức năng huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp cho tác giả nhiều thông tin, tư liệu bổ ích, giá trị về lịch sử hình thành, quá trình phát triển, các giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại địa phương
Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2018
TÁC GIẢ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC VÀ MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH 7
1.1 Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước 7
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và nghệ thuật múa rối nước tại đây 23
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG 30
2.1 Phường rối nước làng Nguyễn xã Nguyên Xá 30
2.2 Phường rối nước làng Đống xã Đông Các 39
Tiểu kết chương 2 48
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG 49
3.1 Đối với cơ quan quản lý và các cấp chính quyền 49
3.2 Đối với các nghệ nhân 58
3.3 Đối với khán giả 63
Tiểu kết chương 3 64
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử với một nền nghệ thuật truyền thống phong phú và đặc sắc, trong đó có nghệ thuật múa rối nước
Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, một sáng tạo đặc biệt của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ, ra đời từ nền văn hóa lúa nước, nhận được sự quan tâm hưởng ứng của đông đảo nhân dân và bạn bè quốc tế
Là một trong những cái nôi của nghệ thuật múa rối nước truyền thống, múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình từ lâu đã nổi danh trên cả nước và bạn bè quốc tế với các phường rối như: rối nước làng Nguyễn và rối nước làng Đống Mặc dù đã nhận được sự quan tâm đầu tư từ nhà nước và các
tổ chức khác nhưng nghệ thuật múa rối nước tại đây vẫn phải đối mặt với thực trạng nhiều khó khăn, thách thức và nguy cơ bị mai một theo thời gian
Là sinh viên đang theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa của Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, tôi mong muốn được tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại đây để nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về múa rối nước - một nghệ thuật dân gian đặc sắc, một nét đẹp văn hóa không chỉ của người dân Đông Hưng - Thái Bình mà còn của cả dân tộc Việt Nam phục vụ cho quá trình học tập, làm hành trang cho quá trình công tác thực tiễn sau này Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình” làm đề tài khóa luận
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật múa rối nước làng Nguyễn và làng Đống tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: xã Nguyên Xá và xã Đông Các thuộc huyện
Trang 7Đông Hưng tỉnh Thái Bình
+ Phạm vi thời gian: khảo cứu hoạt động từ năm 2010 đến năm 2018
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận góp phần tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triển, những đặc trưng, giá trị nghệ thuật và thực trạng hoạt động múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại đây
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, tổng hợp nguồn tư liệu đã viết về nghệ thuật múa rối nước để tham khảo, sử dụng cho đề tài nghiên cứu
- Tiến hành liên hệ, điền dã, khảo sát thực tiễn tại làng Nguyễn (xã Nguyên Xá), làng Đống (xã Đông Các) và các cơ quan quản lý, chức năng tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình để thu thập thông tin, dữ liệu, phục vụ cho đề tài nghiên cứu
- Tổng hợp, phân tích, xử lý các thông tin, dữ liệu thu thập được trước khi viết khóa luận
- Hoàn thiện đề tài khóa luận
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả thực hiện việc điền dã, liên
hệ và đến khảo sát thực tế tại các làng múa rối nước ở xã Nguyên Xá và Đông Các, trực tiếp quan sát, tiến hành phỏng vấn, điều tra, tìm hiểu, các hoạt động
tổ chức, biểu diễn và bảo tồn nghệ thuật rối nước tại đây
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở các dữ liệu thu thập
được, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp các dữ liệu nhằm làm rõ thực trạng của hoạt động tổ chức biểu diễn, cũng như những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo tồn phát huy nghệ thuật múa rối nước ở huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Trang 86 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đến nay, có một số công trình nghiên cứu về nghệ thuật múa rối nước tại Thái Bình nói chung và ở huyện Đông Hưng nói riêng
- Niên luận: Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, giảng viên chuyên
ngành Dân tộc học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Nội dung đã khai thác: tác giả giới thiệu sơ lược vài nét về vùng đất Thái Bình và hoạt động của các phường rối nổi tiếng tại Thái Bình Tuy nhiên, tác giả chưa
đi sâu phân tích được thực trạng hoạt động của các phường rối, và chưa đưa
ra được những giải pháp cụ thể cho việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa rối nước tại đây
- Luận án Tiến sĩ văn hóa học: Múa rối nước ở Thái Bình từ khi đất
nước thống nhất (1975) đến nay, tác giả Nguyễn Văn Định, Học viện Khoa
học Xã hội Luận án của tác giả đã làm rõ thực trạng và sự chuyển biến của hoạt động múa rối nước ở Thái Bình từ năm 1975 đến nay thông qua nghiên cứu trường hợp múa rối nước ở làng Nguyễn (xã Nguyên Xá, Đông Hưng) và làng Đống (xã Đông Các, Đông Hưng) Tuy nhiên, do là một đề tài thuộc chuyên ngành Văn hóa học nên tác giả chưa đi sâu vào phân tích những thuận lợi, khó khăn trong công tác hoạt động và biểu diễn của hai phường múa rối nước này, đồng thời chưa đưa ra được những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước ở đây
- Cuốn sách Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, tác giả Nguyễn Huy
Hồng Nxb Sở Văn hóa và Thông tin Thái Bình, 1987 Tác giả đã khai thác những thông tin về đất Thái Bình và nghệ thuật múa rối nước: sân khấu, buồng trò, quân rối, máy điều khiển, nghệ nhân, nhân vật, biểu diễn,… của những phường rối tiêu biểu ở Thái Bình Tuy nhiên, tác giả lại chưa khai thác được thực trạng hoạt động của các phường múa rối nước tại đây và chưa đưa
ra được những biện pháp khắc phục tình trạng đó
- Bài viết: Làng Nguyễn (Nguyên Xá - Đông Hưng – Thái Bình): cái
Trang 9nôi của múa rối nước Việt Nam, tác giả Đình Huy đăng trên báo Hòa Nhập
- Bài viết: Giữ gìn nghệ thuật rối nước truyền thống làng Nguyên Xá,
tác giả Nguyễn Lành đăng trên Báo Tin Tức ngày 22/4/2016
Nội dung: Tác giả đã khai thác được nhiều nội dung trong việc nỗ lực gìn giữ truyền thống quê hương của các nghệ nhân, các diễn viên trẻ và bà con nhân dân nơi đây Đồng thời cũng nói ra những khó khăn đang tồn tại ở phường rối này Tuy nhiên chưa đưa ra những giải pháp giải quyết tình trạng khó khăn đó
- Bài viết: Độc đáo múa rối nước làng Đống, tác giả Nguyễn Hậu đăng
trên Báo Thái Bình ngày 13/6/2016
Nội dung: Tác giả giới thiệu về phường rối nước làng Đống xã Đông Các huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, những nét đặc trưng của nghệ thuật rối nước tại đây như quân rối, buồng trò, cơ cấu tổ chức phường hội… Tuy nhiên tác giả chưa khai thác được những thuận lợi và khó khăn mà phường rối này đang gặp phải cũng như những giải pháp hợp lý giải quyết tình trạng đó
- Bài viết: Nghệ nhân múa rối nước Nguyên Xá, tác giả Quỳnh Thanh
đăng trên Báo Thái Bình ngày 26/3/2016
Nội dung: Tác giả viết về cuộc nói chuyện của tác giả với nghệ nhân Nguyễn Hữu Ngữ (xã Nguyên Xá, Đông Hưng), những tâm sự về nghề múa rối nước và lòng nhiệt huyết của ông với nghề
Đây là những tư liệu tốt cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho việc tìm kiếm thông tin làm khóa luận của tôi Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
và những bài viết trên chưa tổng hợp và phân tích một cách chi tiết về thực
Trang 10trạng hoạt động của các phường rối nước trên địa bàn huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, những thuận lợi và khó khăn mà các phường rối đang gặp phải cũng như chưa đưa ra những biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống này Vì vậy, đề tài “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình” của tác giả được thực hiện, mong muốn là
đề tài đầu tiên, có hệ thống tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước ở những khía cạnh này
7 Giả thuyết nghiên cứu
Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, cách thức hoạt động và biểu diễn, những thuận lợi và khó khăn mà múa rối nước đang gặp phải Từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng Kết quả việc nghiên cứu khóa luận góp phần phổ biến rộng rãi và gìn giữ nét đặc sắc của nghệ thuật múa rối nước nói chung và của địa phương nói riêng
8 Đóng góp của khóa luận
- Đề tài góp phần tìm hiểu nghệ thuật rối nước tại huyện Đông Hưng đồng thời chỉ ra được những thuận lợi và khó khăn mà nó đang gặp phải, từ
đó đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại đây
- Kết quả việc nghiên cứu khóa luận góp phần phổ biến rộng rãi và gìn giữ nét đặc sắc của nghệ thuật múa rối nước nói chung và của địa phương nói riêng đồng thời có thể là nguồn tham khảo cho các cơ quan quản lý, các trường học và những công trình nghiên cứu tiếp theo về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
9 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài chia làm 3 chương
Trang 11Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước và múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Chương 2: Thực trạng nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC VÀ MÚA RỐI
NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH
1.1 Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của múa rối nước
Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo của Việt Nam, ra đời từ nền văn hóa lúa nước ở châu thổ Bắc Bộ Nét độc đáo của nghệ thuật cũng như nền tảng văn hóa nông nghiệp ẩn đằng sau những trò diễn rối đã khiến cho nghệ thuật này mang ý nghĩa biểu tượng cho đời sống sinh hoạt nông nghiệp vùng nông thôn Bắc Bộ Việt Nam Ngoài khu vực châu thổ này, sẽ không thể nhìn thấy rối nước ở một nơi nào khác vì trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, rối nước luôn chịu sự tác động của môi trường sống, đặc biệt là các điều kiện tự nhiên, xã hội, những sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần của cộng đồng
Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái vốn được coi là những tác nhân quan trọng có ảnh hưởng đến sáng tạo văn hóa của con người Sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người là nhân tố tạo nên sự hình thành phát triển và đặc trưng của nghệ thuật múa rối nước
Bắc Bộ là châu thổ được hình thành do sự bồi đắp phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình trong một vịnh biển mà bờ là một vùng đồi núi Các con sông lớn của châu thổ và các chi lưu đã chia cắt châu thổ thành nhiều ô trũng Vào mùa lũ, nước dâng cao tràn vào các khu vực trũng thấp, từ đây hình thành nhiều dòng sông nhỏ làm cho bề mặt châu thổ tăng thêm các diện tích chứa nước như ao, hồ, đầm, sông, suối,
Nhưng đặc điểm địa hình của châu thổ Bắc Bộ không chỉ là hình thành
tự nhiên từ quá trình bồi đắp phù sa của các con sông mà nó còn được can
Trang 13thiệp từ bàn tay của con người trong quá trình định cư định canh Khi đê đã được đắp để hạn chế sự hủy hoại của nước mùa lũ, khi khoa học kỹ thuật chưa thể giúp con người chủ động được nguồn nước tưới tiêu bằng hệ thống các công trình thủy lợi, cộng với việc mưa nắng khó lường, người dân đã lựa chọn
ao làng là giải pháp trữ nước để tăng thêm sự chủ động nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt
Thói quen sử dụng nước tại chỗ đã hình thành tư duy về nước đặc trưng của cư dân Nước được coi là chất sống (phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp…), chất thiêng (lễ cầu mưa, cầu nước, rước nước, tắm tượng…), chất sáng tạo nghệ thuật (rối nước, đua thuyền và các trò chơi sông nước…) Với riêng rối nước, những ao gắn với cụm công trình kiến trúc đình, đền, chùa của làng đã trở thành không gian diễn rối trong những ngày hội làng và được truyền tới ngày nay Cho tới trước những năm 50 của thế kỷ XX, rối nước vẫn chỉ diễn ra chủ yếu ở ao làng để phục vụ nhu cầu của cộng đồng làng
Sử dụng mặt nước ao làng để làm nghệ thuật, các nghệ nhân đã khai thác nước ở đặc tính làm nổi chứ không khai thác dòng chảy của nó, khai thác tính động và ảo của chất liệu này để tạo một bề mặt diễn xuất tự nhiên Nước
đã được khai thác làm chất liệu nghệ thuật
Những sinh hoạt nông nghiệp diễn ra quanh ao làng là chủ đề xuyên suốt các tiết mục rối, hình mẫu để xây dựng con rối được lấy ngay từ cuộc sống thường ngày với những con người sinh sống, lao động ở làng xã Chất liệu cuộc sống phong phú đã giúp nghệ nhân dễ dàng phiên chuyển thành nghệ thuật và người ta nhận thấy ở rối nước một thế giới thu nhỏ của những sinh hoạt văn hóa làng quê với những hình mẫu quen thuộc Ao làng không chỉ là không gian sinh sống mà còn là không gian để người nông dân làm nghệ thuật Sự ra đời của rối nước ở ao làng như thêm một minh chứng cho thói quen sử dụng nước tại chỗ Rối nước trở thành nghệ thuật của ao làng
Trang 14Rối nước xuất hiện trong các lễ hội, nó được xem như những trò diễn vui giúp cho người nông dân giải tỏa sau những ngày lao động mệt nhọc của hoạt động thời vụ Nhưng, không ít lễ hội nông nghiệp ở Việt Nam có căn cỗi ban đầu là để cầu xin sự phù trợ của các thế lực siêu nhiên cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt Vì vậy, đã có những ý kiến cho rằng, rối nước hình thành bên cạnh những lễ thức nông nghiệp cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt nên rối nước có thể mang ý nghĩa tâm linh chứ không đơn thuần là trò vui bình thường
Hình ảnh con rồng phun nước vẫn được người dân nông nghiệp coi là biểu tượng cho việc cầu mưa; lân tranh cầu có liên quan đến việc cầu nắng, cầu tạnh; tiếng ếch kêu, tiếng trống như lời gọi sấm Đó là những con vật linh thiêng có ảnh hưởng tới việc tạo ra nguồn nước để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Hành động của con người dùng sào, dùng gậy múa rối rất gần với hành vi khuấy động mặt nước trong các cuộc đua thuyền để nhắc nhở thủy thần ban nước cho mùa màng , những trò rối mô tả lao động nông nghiệp đa phần đều có liên quan đến nước Có thể bằng cách diễn rối, con người đã hướng tới các thế lực siêu nhiên và con rối thay người chuyển tải ước vọng tới các thần linh Người làng hưởng ứng các trò rối nước với ước vọng mùa màng, với niềm tin về sự no đủ và bình an
Cùng với hoạt động canh tác lúa nước, lao động thủ công cũng là một đặc thù của đời sống cư dân Bắc Bộ và là nền tảng cho sự ra đời của rối nước Công việc nhà nông dù bận rộn, vất vả nhưng nó cũng không chiếm hết quỹ thời gian của người nông dân Lúc nông nhàn họ thường làm thêm nghề phụ Các công việc phụ này vô cùng đa dạng và hầu như đều là nghề thủ công thô
sơ, đơn giản chứ không có nghề nào có quy mô lớn
Sự khéo tay và khả năng thích ứng đã trở thành lợi thế của người nông dân trong đời sống lao động cũng như trong sáng tạo nghệ thuật Những con
Trang 15rối nước được làm ra từ những đôi tay của người nông dân quen với lao động thủ công và nghệ thuật tài tình ấy đã được sáng tạo trên tinh thần tư duy của lao động tại chỗ Ta thấy trong rối nước, người nông dân đã biến những vật dụng bình thường và đơn giản (tre, gỗ, thừng, vải, cao su ) trở thành nghệ thuật tài tình như thế nào Họ không sản xuất ra chất liệu để làm nghệ thuật
mà thường sáng tạo trên tinh thần sử dụng chất liệu, vật liệu có sẵn Điều đó cho thấy giá trị nghệ thuật không phải từ những gì cao siêu, xa lạ với con người mà từ những điều giản dị đi ra từ đời sống
Sự tồn tại của rối nước ở châu thổ Bắc Bộ là một quá trình nhiều thăng trầm Quá trình đó diễn ra không liên tục mà có sự đứt đoạn Có thời kỳ rối nước phát triển mạnh, có thời kỳ lại suy tàn, có lúc còn rơi vào tình trạng đe dọa bị biến mất
Rối nước là sáng tạo của dân gian, được lưu truyền qua nhiều đời Tuy nhiên hình thức lưu truyền phi văn bản khiến cho việc tìm hiểu lịch sử rối nước từ dân gian khó có thể thực hiện Căn cứ vào nguồn sử liệu, những hình thức rối đầu tiên được ghi chép là khi nó đã trở thành trò diễn phục vụ triều đình
Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép về một hình thức làm núi giả Vạn Thọ
Nam Sơn kết bằng tre để chúc thọ vua Lý Thái Tổ vào ngày sinh nhật năm
1021 [1, tr 246] Theo nhiều tác giả, hình thức núi giả có nhiều liên quan đến rối nước khi trên núi có hình trạng chim bay, muông chạy, rồng cuốn, muôn
vẻ kỳ lạ, có con hát thổi sáo, thổi kèn, hát múa trong hang núi, có người bắt chước tiếng các loài cầm thú [1, tr 252]
Bên cạnh hình thức làm núi giả, dưới thời Lý còn tồn tại một số trò chơi sông nước được vua Lý ưa thích là đua thuyền và rối nước Tất nhiên tên gọi rối nước chưa xuất hiện trong thời gian này mà sử sách chỉ mô tả về những trò diễn trên sông nước và chúng ta tạm hiểu đó là những trò rối nước
Trang 16Cụ thể trên văn bia Sùng Thiện Diên Linh (chùa Long Đọi, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) soạn năm 1121, tác giả Nguyễn Công Bật đã
có nhiều dòng miêu tả trò rối sinh động thường được biểu diễn trước vua quan
và dân kinh thành trong những ngày hội lớn Rùa vàng là một màn rối độc đáo, thể hiện trình độ kỹ thuật làm rối tinh vi diệu thuật đến từng chi tiết nhỏ: rùa có thể bơi, phun nước, liếc mắt, cúi chào Trong tiết mục rối rùa vàng còn
có cảnh thần tiên ca múa nơi cửa động, chim thú bay nhảy theo từng đàn [5, tr 404]
Vua Lý Thái Tổ đã dành cho loại hình nghệ thuật dân gian này riêng một vị trí biểu diễn ngay tại kinh thành, đó là việc xây dựng điện Linh Quang
ở bên bờ sông Hồng để nhà vua ngự xem đua thuyền và rối nước [5, tr 404] Đây là một sự ưu ái lớn của nhà vua dành cho rối nước cho dù ngay tại kinh
đô không có riêng một phường rối nước nào Vào những ngày lễ hội lớn của kinh đô, những phường rối nước nằm rải rác quanh kinh thành Thăng Long lại tấp nập kéo tới điện Linh Quang bên bờ sông Hồng để thi tài trước đức vua và toàn dân kinh đô Tuy vậy, điện Linh Quang là nơi dành cho vua quan triều đình ngự xem đua thuyền và rối nước, không phải là nơi để các nghệ nhân sử dụng cho biểu diễn rối nước Nơi diễn rối nước là đoạn sông Hồng phía trước điện Linh Quang
Thời Lê có một xáo trộn về thế sự tác động không nhỏ đến nghệ thuật rối, đó là việc vua Lê Thánh Tông cấm dân chúng sử dụng diêm tiêu, thuốc súng làm trò chơi (1466) [3, tr 62] Vì lẽ đó nhiều trò rối sư dụng thuốc pháo trở thành trò chơi bất hợp pháp Các phường hội không làm nghề nên dần tan
rã theo thời gian Cùng với đó phong trào biểu diễn phục vụ cung đình suy giảm và các phường rối nước trở về dân dã, với đình đám, hội hè ở làng quê [6, tr 31]
Không còn xuất hiện trong các hoạt động của chính triều, song không
Trang 17có nghĩa là rối nước đã mất hẳn vai trò và vị thế trong đời sống xã hội Rối nước vẫn là sinh hoạt văn hóa khá phổ biến trong hội hè đình đám lớn nhỏ ở làng quê, các phường hội này vẫn giữ ngày giỗ tổ linh thiêng Thời Lê cũng là giai đoạn mà các phường rối ổn định tổ chức và định danh tên tuổi Nhiều phường rối ở vùng Bắc Bộ hiện nay đều khẳng định sự ra đời của phường rối mình là từ thời Lê như phường Đào Thục, phường Thanh Hải, phường Hồng Phong, phường Chàng Sơn, phường Nam Chấn,…
Lúc này những phường rối chủ yếu hoạt động tại địa phương và các làng xã lân cận trong nội vùng Chính phạm vi hoạt động hẹp đã giúp các phường phát triển về chiều sâu và những sắc thái văn hóa địa phương đã dần hình thành trong từng trò rối [6, tr 31]
Do không còn được phục vụ cho vua quan triều đình nữa, rối nước quay về với làng xã Các trò rối lúc này chủ yếu dành cho bà con làng xóm nên nội dung có sự biến đổi Mặc dù những trò rối từ thời Lý vẫn được lưu truyền với những nhân vật như rùa tiên, chim, thú, rồng, phượng, sư gõ mõ, tiểu đánh chuông song những trò rối mang nội dung ca ngợi cung đình và vua quan dường như không còn thích hợp với bối cảnh không gian văn hóa làng xã và mối quan tâm của những con người ở làng Mối quan tâm của những người làm rối lúc này quay về với cuộc sống thế tục nơi làng xã với cảnh quan không gian nơi mình sinh sống, với sinh hoạt của đời sống thường nhật, những thú vui, thú chơi ở nông thôn, với những mối quan tâm và ước
mơ bình dị của người nông dân Vì thế, những trò rối phản ánh cuộc sống làng xã nông thôn, những trò rối mang hình ảnh, dấu ấn của môi trường tự nhiên, phương thức sản xuất, thói quen tập tục, tâm lý cộng đồng đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn
Khi nhà Lê và Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên nắm quyền đã chuyển kinh đô về Huế, Thăng Long trở thành tỉnh Hà Nội Lúc này là thời kỳ phát
Trang 18triển mạnh của các nghệ thuật chèo, tuồng, còn nghệ thuật rối thu mình ở các làng dân gian Bắc Bộ Không đạt được những bước phát triển nào đáng kể nhưng nghệ thuật rối vẫn không mất đi vì các phường hội vẫn duy trì được tổ chức, giữ gìn được kỹ thuật tạc đẽo con rối và bảo mật được cách làm máy rối của riêng mình Một số ít trò rối độc đáo đã được các phường rối giữ gìn như
ngón nghề của riêng mình như phường Phú Đa có trò Hai Bà Trưng đánh
trận, đi thần về phật, nhảy qua vòng lửa; Đào Thục có Võ Tòng chém hổ, Lên võng xuống ngựa; Hồng Phong có leo cột đốt pháo; Nguyên Xá có trò Tễu, Tiên, chạy đàn ngũ phương, dệt cửi cho con; Đông Các có trò đu dây Các
trò rối này có kỹ thuật tương đối khó, khi biểu diễn nghệ nhân phải thật khéo
léo và tinh tế mới thành công Những trò rối khác phổ biến hơn như leo cột
đốt pháo, bơi lội, chăn vịt, xay lúa giã gạo, mời trầu, bật cờ, thả lưới bắt cá, rồng vàng phun nước, phun lửa, thì gần như phường rối nào cũng có, song cách
thức thể hiện lại khác nhau ở mỗi phường
Nếu lấy Hà Nội làm trung tâm, phía bắc có các phường Đồng Ngư, Bùi
Xá, Thanh Long, Thịnh Lộc của Bắc Ninh; Bồ Dương, An Liệt, Bùi Thượng, Lại Ốc của Hải Dương; phía tây có Chàng Sơn, Yên Thôn, Phú Đa, Đông Bình của Hà Tây (nay là Hà Nội); phía nam có phường Nguyên Xá, Đông Các, Duyên Tục, Kỳ Hội của Thái Bình và Nam Chấn, Nam Giang, Nghĩa Hưng của Nam Định
Mặc dù không phải là một hoạt động nổi trội trong đời sống văn hóa nghệ thuật của nhân dân, song nghệ thuật rối nước vẫn tồn tại với sắc thái riêng, vẫn được duy trì như là thú chơi của người dân ở làng trong những ngày hội Nó bị gián đoạn khi cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp
nổ ra vào nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ XX có hai dấu mốc quan trọng, đó là sự ra đời của rối chuyên nghiệp năm 1956 và sự phục hồi của rối nước năm 1986
Trang 19Năm 1956 là một điểm mốc quan trọng trong quá trình phát triển của ngành rối Nhà nước chủ trương chuyên nghiệp hóa múa rối và Nhà hát múa rối Trung ương được thành lập trên cơ sở tiếp thu học tập nghệ thuật múa rối cạn hiện đại của thế giới Đây là cơ sở rối chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam Tuy nhiên vào thời điểm này, sự chuyên nghiệp hóa chủ yếu thực hiện ở mảng rối cạn vì đây là hình thức rối mới được học hỏi từ nước ngoài và cách
tổ chức nhân sự hoàn toàn mới Các đoàn rối chuyên nghiệp cho tới các đơn
vị nghiệp dư đều chú trọng nhiều hơn tới nội dung vở diễn và phát triển kỹ thuật rối cạn bởi nó không bị lệ thuộc quá nhiều vào điều kiện biểu diễn khó khăn như sân khấu rối nước Vào thời điểm đó, sự hấp dẫn của kỹ thuật rối cạn mới học hỏi của nước ngoài cũng đang cần được nhân rộng và phổ cập rộng rãi nên đã hình thành những câu lạc bộ rối nghiệp dư trong nhà trường, hợp tác xã, công trường, nông trường, lâm trường, đơn vị bộ đội Điều này trái ngược hoàn toàn với tính bảo thủ và bí truyền nghề nghiệp của rối nước
Trong khi rối chuyên nghiệp (chủ yếu là rối cạn) phát triển với tư cách
là đơn vị của nhà nước thì rối nước vẫn chỉ có vốn liếng là các phường rối nước dân gian tại các vùng nông thôn Tính chất hoạt động của các phường hội này không diễn ra thường nhật mà chủ yếu là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tại địa phương, trong các mùa lễ hội Một số gia đình, nhóm người, vào những lúc nông nhàn làm rối kiếm sống qua tháng ba ngày tám Có thể thấy rằng trong giai đoạn trước Đổi mới, hoạt động của rối nước mang tính chất phường hội, làng xã chốn dân dã Sức sống của rối nước là mạch chảy ngầm âm ỉ trong lòng làng xã như một món quà quê và chỉ những người dân quê thưởng thức
Năm 1957, Nhà hát múa rối Trung ương đã tìm về giá trị dân tộc theo các trò rối nước của các phường hội dân gian Từ đây đã có sự giao lưu học hỏi và phối hợp của rối dân gian và rối chuyên nghiệp Nhưng sau đó, thời kỳ
Trang 20suy giảm kinh tế đất nước cộng với những quan niệm sai lệch của những người quản lý văn hóa đã dẫn tới tình trạng sa sút của văn hóa, cùng với đó rối nước cũng rơi vào sự suy thoái nặng nề
Do điều kiện tự nhiên và công việc của nhà nông, có thể nói rằng: Múa rối nước được xây đắp hình thành từ tâm tư, tình cảm của người dân lao động,
nó tái hiện cuộc sống và ước vọng của thời đại Trước kia rối nước chỉ diễn ngoài trời, sân khấu gắn bó, hòa quyện với thiên nhiên, trong không gian mênh mông, trời, đất và nước có cây xanh, mây, gió, lửa, có khói mờ vương tỏa, ẩn hiện mái đình uốn cong và màu ngói đỏ, quả là một sự hòa quyện độc đáo giữa thiên nhiên và con người Ngày nay, múa rối nước Việt Nam, không chỉ bảo tồn mà đã được khai thác sâu, rộng hơn Hiện nay, cả nước có khoảng
18 phường rối nghiệp dư và 5 Nhà hát, đoàn múa rối chuyên nghiệp Hoạt động của các phường rối phần lớn vẫn theo hình thức phục vụ hội hè, đình đám…, các thành viên tham gia chủ yếu là nông dân trong làng, xã Có phường các thành viên là ông bà, cha mẹ, vợ chồng con cái dâu rể cùng trong một gia đình
Trong những năm gần đây, múa rối Việt Nam đã mạnh dạn thể nghiệm một số vở diễn với hình thức kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, để đáp ứng và phù hợp hơn với tiến trình phát triển xã hội hóa đất nước Với vị thế hiện nay, múa rối nước Việt Nam được xếp vào hạng là nghệ thuật độc đáo của Văn hóa dân tộc
1.1.2 Đặc trưng nghệ thuật của múa rối nước
1.1.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng của rối nước là ngôn ngữ biểu hình, nghĩa là sử dụng hình ảnh, cụ thể là những động tác hình thể diễn đạt về nội dung Ngôn ngữ biểu hình còn có ở nghệ thuật múa, nhưng múa là nghệ thuật
sử dụng cơ thể người và những động tác của con người thật Động tác thường
Trang 21hướng tới những biểu hình khái quát về một nội dung hay một sự biểu cảm nào đó Còn ngôn ngữ biểu hình ở rối thì ngược lại, bởi con rối không phải là một sinh vật sống thực, nó là một vật thể nhân tạo nên nó hướng tới cuộc sống thật, hướng tới những biểu hình giống thật để cho mình thật hơn
Chính từ việc diễn xuất bằng hình thể nên nghệ thuật này được cường điệu là múa rối Song thực ra không phải tất cả các biểu hình ở rối đều là múa
ngoại trừ một số trò Múa rồng, Múa phượng, Múa tiên, còn hầu hết là những
trò diễn tả hành vi như lao động, cấy cày, tát nước, câu cá, chăn vịt, rước xách,…
Thuở ban đầu những trò rối đều là diễn không lời và thông tin được truyền đạt hoàn toàn qua ngôn ngữ biểu hình không cần đến lời nói để diễn tả hành vi mà ngược lại, sử dụng hành vi để diễn tả nội dung cần nói Cho đến
ngày nay vẫn còn tồn tại một số trò rối không lời như cấy cày, múa rồng, múa
phượng, múa lân, rước xách, bơi chải… còn lại hầu hết đều có lời hát, lời nói
phụ họa Thực tế cho thấy khi có lời hát, lời nói phụ họa, những trò rối trở nên sinh động hơn rất nhiều Tuy nhiên, ngôn ngữ lời nói không phải là điều kiện cần, mà chỉ là điều kiện đủ, có tính chất hỗ trợ Điều đó có nghĩa là trong một trò rối không nhất thiết phải có lời nói, người xem vẫn có thể hiểu nội dung thông qua ngôn ngữ hình ảnh, thông qua biểu hình của con rối [6, tr 37]
Như vậy, rối nước là nghệ thuật diễn hình phi diễn ngôn Nội dung truyền tải qua ngôn ngữ biểu hình có tính phổ quát rộng hơn so với sự diễn giải bằng lời nói Người xem có thể không hiểu hết ngữ nghĩa của lời nói nhưng vẫn có thể hiểu hết nội dung trò rối thông qua sự diễn tả bằng hành động Vì thế, những trò rối nước của đồng quê không chỉ là nghệ thuật của riêng cộng đồng mà nó có thể đến với mọi người thuộc những nền văn hóa khác nhau, nói những ngôn ngữ khác nhau chính bởi đặc trưng biểu hình của nghệ thuật
Trang 221.1.2.2 Hình tượng nghệ thuật
Mỗi loại hình nghệ thuật đều cần tới những chất liệu riêng để tạo nên hình tượng và điều quan trọng dẫn đến thành công trong nghệ thuật chính là sức sống của hình tượng Với nghệ thuật rối nước, hình tượng đòi hỏi nhiều nhất sự dày công sáng tạo của người nghệ sĩ chính là các con rối, nó như một minh chứng thể hiện năng lực nghệ thuật của người nghệ sĩ dân gian Vì vậy
để có thể hiểu rõ giá trị nghệ thuật của múa rối nước, người ta không thể không nhắc tới vai trò của các con rối
Hầu hết các con rối nước của Việt Nam đều thuộc thể loại tượng tròn
và được tạo bằng gỗ với những kích thước to nhỏ khác nhau Có những con rối rất nhỏ chỉ cao 10cm nhưng cũng có những quân rối cao tới 80cm hoặc 1m Kích thước lớn hay nhỏ của con rối hoàn toàn do nghệ nhân chủ động điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kỹ thuật và nội dung diễn xuất Con rối càng lớn sẽ càng nặng và khó điều khiển, do vậy mà hiếm khi thấy con rối cao trên 1m Các con rối chủ yếu tập trung thể hiện hoạt động sống thường ngày như lao động sản xuất, quân binh, thi thố, tế lễ, rước xách hội hè… Nhân vật thể hiện rất đời thường và phần nhiều mang tính phiếm chỉ như những người nông dân, tiều phu, ngư chài, bộ đội,… nhưng cũng có khi nó là trí tưởng tượng của người nông dân về các nhân vật có trong các truyện kể dân gian hoặc trong chính sử và dã sử, ví dụ như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lê Lợi, Sơn Tinh, Thủy Tinh,…
Ngoài chức năng biểu diễn, ở các con rối còn có giá trị của một tác phẩm điêu khắc độc lập với những tiêu chí riêng về tạo hình và mỹ cảm Tuy rằng ở các thể loại rối, tính trưng bày không phải là yếu tố quyết định và nó không quan trọng như tính năng biểu diễn, nhưng rõ ràng là về mặt tạo tác, những đặc điểm cấu thành rối đã khiến cho thể loại điêu khắc này có một vị trí rất riêng trong đời sống mỹ thuật dân gian của Việt Nam [6, tr 39]
Trang 23* Con rối là một khối điêu khắc kết nối theo tính năng chuyển động
Để tạo ra một con rối sẽ là không khó nếu như dưới đôi tay của một điêu khắc gia chuyên nghiệp, nhưng để tạo một con rối có thể biểu diễn thì không phải ai cũng có thể làm được Bản thân các nghệ nhân làm rối cũng rất hiểu điều đó Họ cho rằng thợ tạc tượng thông thường chỉ có thể làm ra rối Vậy cái gì là yếu tố quyết định cho tiêu chí thẩm mỹ của một tác phẩm rối?
Tính năng chuyển động là một đặc tính cơ bản chi phối sự cấu thành điêu khắc rối Xuất phát từ tính năng này mà hầu hết các thể loại rối đều mang dáng vẻ là một khối điêu khắc kết nối trong đó nhiều thành phần đơn lẻ được lắp ráp với nhau theo cơ chế tạo chuyển động Nếu như ta vẫn quen nhìn tượng ở đình, chùa hay tượng lăng mộ nói chung là một khối điêu khắc tĩnh tại trong một thế ngồi hay dáng đứng thì điêu khắc rối là một thể loại điêu khắc động vì nó có thể thay đổi hình dạng bằng những chuyển động cơ học đơn giản khi được giật dây điều khiển Chuyển động của rối có được là nhờ ở các khớp nối được thiết kế mô phỏng theo một số cơ chế chuyển động của cơ thể người hoặc vật như khớp tạo chuyển động chân, lưng, khớp tạo chuyển động cánh tay, cổ tay, khớp cổ,…
Khớp tạo chuyển động cũng được thiết kế đơn giản và có nhiều dạng thức khác nhau: khớp chốt đinh, khớp nối dây, khớp đàn hồi, lợi dụng quán tính, giật dây, que đẩy, trục quay, con chì… tùy từng vị trí và nhu cầu hoặc mục đích diễn xuất mà người ta sử dụng cách tạo khớp sao cho phù hợp để đem lại hiệu quả cao khi biểu diễn Như vậy, tính chuyển động là yếu tố quyết định đặc điểm của một tác phẩm tượng rối
* Máy rối
Mặc dù đã được thiết kế theo tính năng chuyển động nhưng để con rối
có thể nhịp nhàng, sinh động trong những vũ điệu trên mặt nước thì lại cần tới một cơ chế điều hành được con người gián tiếp thực hiện Cơ chế điều hành
Trang 24ấy gọi là máy rối Bí mật của trò rối nằm ở đây [6, tr 40]
Thực chất máy rối là một hệ thống dây được thiết lập theo những nguyên tắc riêng, có áp dụng những lý thuyết vật lý cơ học như: dao động quán tính, dao động đàn hồi, dao động cộng hưởng… để tạo chuyển động cho rối
Máy rối bao gồm hai phần có thể tháo lắp tách rời nhau Mỗi phần nằm
cố định trong thân rối để điều khiển các động tác biểu diễn múa rối, một phần
là dây hoặc sào tre, gậy gỗ chạy ngầm dưới nước để điều khiển quân rối di chuyển xa gần trên mặt nước Thông thường khi con rối biểu diễn, ta không thể nhìn thấy máy rối bởi nó được lắp đặt ngầm bên trong thân rối đã được khoét rỗng hoặc được giấu ngầm dưới nước Mỗi con rối có một kiểu lắp đặt máy riêng để tạo những chuyển động khác nhau, do vậy máy rối chỉ có tính đơn chiếc chứ không thể được tạo hàng loạt Người thợ tạc rối đồng thời cũng
là người thiết lập hệ thống máy điều khiển rối Họ là người hiểu con rối cần dùng vào việc gì và phải được tạo tác ra sao, phải có hệ thống dây mắc như thế nào… Cũng chính từ lý do này mà tính phổ cập của việc làm rối gỗ không nhiều Một người thợ tạc tượng bình thường có thể tạc được nhiều loại tượng khác nhau, nhưng nếu không ở trong phường rối, không sống cùng nghề rối thì cũng khó có thể hiểu được những yêu cầu về kỹ thuật, về mỹ cảm cần thiết
để sáng tạo ra được một tác phẩm rối hoàn chỉnh Đây có lẽ cũng là lý do tại sao chúng ta không có nhiều nghệ nhân tạc đẽo rối gỗ đơn lẻ ngoài phường rối [6, tr 41]
Cũng vì máy điều khiển rối luôn là một bí mật nhà nghề cho nên ta ít khi thấy rối được trưng bày như những tác phẩm điêu khắc thông thường vì
dễ bị lộ phần máy rối Sau mỗi buổi diễn, rối được phơi khô và được các nghệ nhân cất giữ cẩn mật, không cho người ngoài tiếp cận với những con rối
* Màu sắc
Trang 25Màu sắc trang trí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với con rối Không chỉ có ý nghĩa tăng độ đẹp hay độ bền của cốt gỗ bên trong, màu sắc còn hỗ trợ khá đặc lực cho nghệ thuật biểu diễn con rối trên mặt nước Các nghệ nhân xưa thường sử dụng kỹ thuật làm sơn ta truyền thống cùng với bảng màu của tranh dân gian để trang trí con rối Với đặc tính dai dẻo và có độ đàn hồi, khô trong hơi nước, sơn ta thích hợp cho những vật dụng dùng nhiều trong môi trường nước Kết hợp được với sơn ta thường là màu tự nhiên Màu trắng hồng của mặt, màu đen của tóc, màu đỏ, xanh, vàng của trang phục là những màu sắc chủ đạo, được phối hợp với nhau trong kỹ thuật công màu của phép
bổ túc [6, tr 42]
Nhờ đó con rối có màu sắc tươi sáng, khác biệt hoàn toàn với màu thâm
u huyền bí của những pho tường chùa Điểm đặc biệt là các nghệ nhân xưa, bằng cách sơn thếp vàng, bạc dưới các lớp sơn màu đã khai thác được hiệu quả ánh sắc của màu khi bắt sáng, tạo nên vẻ rực rỡ, lung linh của con rối dưới ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo Hơn thế nữa, khi các con rối xuống nước, các lớp sơn trở nên trong veo, có độ sâu, hắt ánh kim của vàng
và bạc làm cho màu sắc dường như cũng có sự thay đổi, lay động, hấp dẫn thị giác
1.1.2.3 Phương thức trình diễn
* Không gian diễn rối
Không gian diễn rối là một phần quan trọng tạo thành nét riêng độc đáo của thể loại rối này Không gian ấy cần có mặt nước để nghệ nhân và các con rối của họ thể hiện cái tài khéo và bí ẩn của nghệ thuật Nước là một đặc trưng
cơ bản của loại hình rối nước Với các loại hình rối khác, tên gọi thường gợi cho ta hình dung về phương thức biểu diễn Với rối nước của Việt Nam, nước không đơn thuần chỉ là phương thức biểu diễn mà nó còn là một nhân tố khá quan trong trong “cộng sinh, cộng minh, cộng hưởng” với quân rối
Trang 26“Nước đã dùng đặc tính lỏng và phản quang để tạo nên sự ảo hóa hiện trường Sân khấu rối nước in sắc hình trời, mây, cây, cảnh… cùng sự chuyển đổi khôn lường làm nền cho rối hoạt động Trên tấm gương lỏng tự nhiên này, tất cả đều trở nên lung linh, mềm mại, uyển chuyển, biến hóa muôn hình nghìn vẻ liên tục trước mắt người xem Những gì là thô cứng, nghèo nàn ở quân rối vào đây đều trở nên phong phú, dịu mềm, sinh động, linh hoạt Nước giấu trong lòng nó mọi bí ẩn của trò rối Quân rối nước thoắt ẩn, thoắt hiện trên mặt nước sân khấu
Dùng nước làm nơi cho quân rối hoạt động, nghệ thuật rối nước đã đẩy
sự kỳ diệu của nghệ thuật lên một bước… Nước không chỉ là khung cảnh, là môi trường, mà còn là chất xúc tác làm nên sức mạnh của rối và tài năng của nghệ sĩ rối… Trong biểu diễn, khi mặt nước sôi trào biến hóa, hình những quân rối in trên sóng nước đã được nhân lên thành vô vàn con bóng như giữa một cơn mơ lạ Nước như đã có hồn…” [2, tr 40]
Với nhiều loại rối trên thế giới như rối tay, rối dây, rối người, rối bóng, việc biểu diễn rối không phụ thuộc quá nhiều vào môi trường không gian diễn xướng Người nghệ sĩ có thể mang quân rối đi biểu diễn ở bất cứ nơi nào mà họ muốn và không gian dành cho diễn xuất được thiết lập một cách khá chủ động và cơ động Rối nước của Việt Nam thì không như vậy Môi trường diễn xướng không đơn giản chỉ là một cái phông nền cho diễn rối
mà còn là một nhân tố đặc trưng làm nên nghệ thuật rối nước
Khi biểu diễn rối nước, ngưòi ta dựng giữa ao một buồng trò bằng tranh tre, nứa, lá để tạo ra một sân khấu nhỏ cho các con rối, đó cũng là nơi nghệ nhân giấu mình sau lớp mành tre để biểu diễn Buồng trò sau này được xây cố định bằng gạch gọi là thủy đình Thủy đình ra đời khi mà rối nước đã rất phát triển Tuy nhiên tại các làng rối của vùng châu thổ Bắc Bộ cho đến trước thời Đổi mới cũng chưa có làng nào có tòa thủy đình riêng dành cho rối nước cho
Trang 27dù hằng năm rối nước vẫn được người dân biểu diễn trong các ngày hội làng
* Kỹ thuật diễn rối
Khá đặc biệt so với nhiều thể loại rối trên thế giới, kỹ thuật điều khiển rối nước không chỉ dừng ở sự khéo léo tinh xảo mà nó còn thể hiện sự kỳ bí khó tưởng tượng Khi các quân rối “múa” chúng ta không thể nhìn thấy được hình thức tạo chuyển động của nó là như thế nào bởi hệ thống tạo chuyển động được giấu kín hoàn toàn trong lòng thân rối và trong lòng nước Hệ thống này được gọi là máy rối
Những nghệ nhân rối nước rất coi trọng hệ thống máy rối Họ đặt ra những lời thề, lời nguyền, những quy định khắt khe để bảo vệ bí mật của máy rối Những gì gọi là sáng tạo của rối nước hiện nay không tập trung nhiều vào việc làm ra những trò rối mới mà chủ yếu là những sáng tạo ở hệ thống máy rối Vì vậy, chúng ta có thể gặp những tiết mục rối khá giống nhau ở các phường rối nhưng kỹ thuật máy rối thì chưa chắc đã giống nhau
Rối nước biểu diễn không chỉ đem đến cho người ta những thỏa mãn
về vẻ tài khéo bề ngoài của các tiết mục mà nó luôn thôi thúc năng lực tìm hiểu khám phá ở người xem buộc họ phải tự tư duy Luôn có những câu hỏi tại sao được đặt ra khi xem nghệ nhân biểu diễn rối nước và muốn có câu trả lời thì phải dành thời gian tìm hiểu chứ không thể nhìn thấy bằng mắt ngay được Chính vì vậy rối nước luôn tạo được sự hấp dẫn riêng mang tính khám phá
Ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật và phương thức trình diễn
là những nét cơ bản làm nên sự độc đáo và hấp dẫn của nghệ thuật rối nước Người xem rối nước cảm thấy thú vị bởi những cái hay và độc đáo ấy đã được
ra đời từ những sáng tạo hết sức mộc mạc của người nông dân
Trang 281.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và nghệ thuật múa rối nước tại đây
1.2.1 Tổng quan về huyện Đông Hưng
Cùng với thành phố Thái Bình, huyện Đông Hưng nằm giữa trung tâm tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp huyện Thái Thụy, phía Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hưng Hà, phía Tây Nam giáp huyện Vũ Thư, chính giữa phía Nam giáp thành phố Thái Bình, phía Đông Nam giáp huyện Kiến Xương Con sông Trà Lý chảy men theo ranh giới phía Nam của huyện với các huyện Vũ Thư và Kiến Xương
Trên địa bàn huyện có một mạng lưới chằng chịt các con sông nhỏ lấy nước từ hai con sông là sông Luộc và sông Trà Lý để cấp nước cho sông Diêm Hộ Trong đó con sông lớn nhất là sông Tiên Hưng, là nhánh lớn của sông Diêm Hộ, lấy nước từ sông Luộc, chảy qua thị trấn huyện lỵ Đông Hưng
Huyện có diện tích tự nhiên là 191.76 km², toàn bộ là đồng bằng
Dân số của huyện là: 246.335 người (2007)
Huyện có 44 đơn vị hành chính cấp xã gồm thị trấn Đông Hưng và 43 xã: An Châu, Bạch Đằng, Chương Dương, Đô Lương, Đông Á, Đông Các, Đông Cường, Đông Dương, Đông Động, Đông Giang, Đông Hà, Đông Hoàng, Đông Hợp, Đông Huy, Đông Kinh, Đông La, Đông Lĩnh, Đông Phong, Đồng Phú, Đông Phương, Đông Quang, Đông Sơn, Đông Tân, Đông Vinh, Đông Xá, Đông Xuân, Hoa Lư, Hoa Nam, Hồng Châu, Hồng Giang, Hồng Việt, Hợp Tiến, Liên Giang, Lô Giang, Mê Linh, Minh Châu, Minh Tân, Nguyên Xá, Phong Châu, Phú Châu, Phú Lương, Thăng Long, Trọng Quan [8]
Là một huyện có truyền thống văn hiến lâu đời, trên địa bàn huyện hiện còn có 242 di tích các loại (chỉ tính những di tích có từ trước năm 1945),
Trang 29trong đó có 94 di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, 15 di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Một số di tích không chỉ có giá trị về lịch sử cách mạng, giá trị về văn hoá mà còn có giá trị rất lớn
về kiến trúc nghệ thuật, điển hình như di tích: đền thờ công chúa Trần Thị Quý Minh ở Thượng Liệt (Đông Tân), chùa Từ Ân ở Đông Hải (Đông Vinh), chùa Thiên Quý ở làng Kênh (Đông Xuân), đình Tiến Trật (Đô Lương), đình, chùa, đền Bình Cách (Đông Xá), đình Cổ Dũng (Đông La), lăng mộ, đền thờ Thái Bảo họ Đỗ ở thôn Tứ (Hồng Việt)
Đông Hưng còn là mảnh đất có truyền thống anh dũng kiên cường, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm, chống áp bức Nhiều danh nhân nổi tiếng tại đây đã đóng góp tài năng, trí tuệ vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, tiêu biểu như: An Hạ Vương (1175-1268), Đàm Chiêu Trinh, Nguyễn Thành, bảng nhãn Chu Hinh (thế kỷ XIII), danh nhân Quách Gia Di, Quách Gia Cầm (1254-1292), ngự tiền Đỗ Tử Bình (1324-1383), công chúa Trần Ninh Thiệu (thế kỷ XIV), công chúa Trần Thị Quý Minh, Thái học sinh Nguyễn Thành, Hoàng giáp Phạm Hưng Văn (thế kỷ XV), Hoàng giáp Nguyễn Hán Đình (thế kỷ XV), Tiến sĩ Đặng Doãn Tu, Tiến sĩ Bùi Sĩ Tiêm, Tiến sĩ Đào Triết (thế kỷ XVI), Tiến sĩ Hoàng Kỳ, Tiến sĩ Phạm Cảnh (thế kỷ XVI), Tiến sĩ phạm Công Huân, Tiến sĩ Phạm Công Thế, Tiến sĩ Đào Vũ Thường, Tể tướng Phạm Huy Đĩnh, Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương (1740-1783), Nguyễn Sơn, Hoàng giáp Lê Hữu Thanh, Cử nhân Lương Quý Chính (1825-1907)
Là vùng đất có truyền thống văn hiến, Đông Hưng còn tự hào là nơi có nền văn hóa nghệ thuật dân gian tiểu biểu của nền văn minh lúa nước, một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo và là quê hương của múa rối nước
khắp các làng xã trong huyện đều có người biết hát chèo, diễn chèo nhưng tiêu biểu nhất là Chèo làng Khuốc (Phong Châu):
Trang 30Ch ng th m ăn chả, ăn nem,
Th m mo cơm t , th m xem hát ch o
Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, Đông Hưng có 7 phường rối nước, hiện nay chỉ còn phường rối Nguyễn (Nguyên Xá) và phường rối Đống (Đông Các) hoạt động thường xuyên Rối nước Đông Hưng có nhiều trò hay,
hấp dẫn như: tễu giáo đầu, bật cờ, tứ linh, múa lân, chăn vịt, đánh cáo, bát
tiên, cày bừa, chọi trâu nghi đồng hý thủy, đánh cá, múa rồng, lân tranh cầu Các tiết mục, trò diễn của múa rối nước Đông Hưng không chỉ có mặt ở
nhiều cuộc liên hoan nghệ thuật ở địa phương, Trung ương mà còn được biểu diễn ở nhiều vùng miền trong nước và một số nước Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc
Ngoài chèo, múa rối nước, Đông Hưng còn là miền quê của nhiều làn điệu múa dân gian: múa giáo cờ, giáo quạt ở làng Thượng Liệt (Đông Tân), múa kỳ lân sư tử (xã Đông Sơn, Đông Hợp), múa rồng, múa tứ linh, múa sinh tiền, múa cờ, múa trống, múa dâng hoa, múa tiên Nét đẹp trong văn hoá Đông Hưng còn được hội tụ sâu sắc qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôn giáo mà sự phản ánh rõ nét nhất là các hội lễ, hội làng truyền thống có sức cuốn hút sự tham gia đông đảo của các cộng đồng với các lễ thức tín ngưỡng dân gian và các trò chơi dân gian: đánh vật, đánh thó (gậy), thả đèn trời, cờ tướng, tam cúc, chọi gà, kéo co, chơi pháo đất
1.2.2 Tổng quan về làng Nguyễn và làng Đống
* Làng Nguyễn nằm bên quốc lộ 39A Thái Bình - Hưng Yên ở km 12 -
13, cách thị trấn huyện Đông Hưng 1km, xưa thuộc huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng nay là xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng Từ xa xưa đến nay, làng Nguyễn vẫn là một làng một xã (nhất xã nhất thôn) Nguyên Xá đúng với tên gọi, là ngôi nhà chung của họ Nguyễn Làng xã có tới 47 chi, ngành họ Nguyễn chỉ khác nhau ở tên đệm
Trang 31Làng Nguyễn là một làng văn hóa văn nghệ dân gian với những sản phẩm vật chất và tinh thần rất độc đáo như bánh cáy, kẹo lạc, kẹo vừng, mạch nha, giò lụa, chả quế, dệt lụa, làm pháo, hay hát chèo, múa rối nước
Làng Nguyễn làm pháo bông chủ yếu để phục vụ cho múa rối nước Pháo bông làng Nguyễn có hai loại: pháo bông và pháo làm trò Pháo bông gồm nhiều loại thường đốt trước khi biểu diễn để lôi kéo người đến xem múa rối hoặc khi kết thúc đêm biểu diễn để tạo không khí hồ hởi phấn khởi sau đêm diễn Pháo bông làm trò làng Nguyễn rất độc đáo, pháo nổ chạy thành đường ngang dọc trên mặt nước Pháo gắn với từng trò diễn, dân làng Nguyễn gọi đây là “nghệ thuật đốt lửa thành trò” chẳng hạn khi diễn trò muốn đẩy xa, các nghệ nhân rối Nguyễn sẽ dùng pháo để đẩy Pháo bông, pháo làm trò làng Nguyễn đã làm nghệ thuật rối nước sinh động hơn, hấp dẫn hơn Từ ngày cấm đốt pháo, rối nước làng Nguyễn thiếu hẳn không khí sôi động trước, trong và sau buổi diễn [4, tr 88]
Phường rối nước làng Nguyễn là một trong những phường rối nước có lịch sử lâu nhất và mạnh nhất nước ta Theo các cụ già trong làng thì rối nước làng Nguyễn có từ ngày thành lập làng, cụ thể bao giờ cũng không ai còn nhớ Nhưng qua các nguồn sử liệu khác nhau từ xưa còn để lại thì nghệ thuật múa rối nước làng Nguyễn có từ thời Lê, thời kỳ làng Nguyễn phát triển về mọi mặt trở thành một làng quê trù phú Múa rối nước đi liền với các trò diễn là các lời ca, ngoài trò diễn lại có diễn trích đoạn chèo bằng con rối nên người làng Nguyễn biết hát chèo, diễn chèo
Rối nước làng Nguyễn từ trước năm 1945 đã có 3 phường là Tây Trong, Tây Ngoài và Nam Ninh, có số trò diễn vượt xa các phường rối khác, vào thập kỷ 60 - 70 phường rối Nguyễn có tới 42 trò diễn (cả trích đoạn) Nổi
bật như: Bật cờ, Múa sư tử, Tứ linh, Múa bát tiên, Rồng phun nước, Tễu, Thị
Màu lên chùa, Đinh Bộ Lĩnh, Thi hóa rồng, Tiên nước,
Trang 32Hơn nửa thế kỷ qua, rối nước làng Nguyễn không chỉ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân trong xã trong tỉnh mà còn vinh dự được biểu diễn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh xem, phục vụ cho nhiều đoàn khách nước ngoài Rối nước làng Nguyễn cũng đi biểu diễn ở các nước Đông Âu, ở Nhật Bản, Các nghệ nhân rối nước làng Nguyễn từng là người truyền nghề cho nhà hát múa rối Trung ương
* Làng Đống gồm hai đống: đống Đông (Đông Các) và đống Tây (Nam Quán) nay là xã Đông Các huyện Đông Hưng Làng nằm bên quốc lộ 10 Thái Bình - Hải Phòng, cách thành phố Thái Bình 9km Làng Đống nằm trên một vùng đất cao, ngoài đống Đông, đống Tây trên đồng làng còn rất nhiều gò như gò chùa Ông, gò Đốt Thuyền, gò Con Hát
Làng Đống xưa nay vẫn là một làng đa nghề, xưa có nghề dệt vải, dệt lụa, làm vàng mã, Nay một số nghề truyền thống vẫn được lưu giữ phát triển như nghề mộc, nghề xây dựng, tạc tượng, thợ sơn, và chế biến nông sản Vì là một làng vừa làm nghề nông vừa có nghề thủ công lại có chợ nên làng Đống sớm trở thành một làng quê trù phú Làng Đống hằng năm mở hội hai lần vào mùa xuân và mùa thu Trong hội làng có lệ thi đánh cồng chiêng Các giáp thi với nhau, chiêng giáp nào kêu to, ngân vang lâu thì được giải, vì thế chiêng làng Đống nổi tiếng trong vùng “chiêng làng Đống - trống làng Triền”
Người làng Đống chịu chơi như cách nói của dân gian, làng có nghệ thuật múa rối nước, hát tuồng, chèo rất sớm Chuyện kể về trò “con rối rồng bơi trên nước” được sáng tạo vào đầu thế kỷ XIV cho biết làng Đống đã có nghệ thuật múa rối nước từ thời ấy Chuyện kể rằng: vào thời Vua Trần Anh Tông (1393-1414) ở làng Đống có người con gái tên là Chu Thị Hương “tứ đức
vô hà” (công, dung, ngôn, hạnh không ai sánh bằng) lại cinh đẹp, nết na, được vua triệu vào cung, phong làm cung phi Hàng năm vào các ngày lễ tết, bà
Trang 33thường đi thuyền rồng về thăm quê hương, gia đình Để tiện đi lại, bà đã cho đào một con sông nhỏ thông với sông lớn, dân làng vẫn quen gọi là cừ Tây
Một lần về thăm nhà, cha mẹ bị ốm nặng, bà ở lại chăm sóc, trở về cung không đúng hẹn nên bị khép tội “khi quân” bị tội chết, vua cho bà hãm sinh tại quê nhà (nay mộ bà và bốn nàng hầu vẫn còn ở bên quốc lộ số 10 đoạn km 10.3 Thái Bình - Hải Phòng) Sau khi bà chết, để tưởng niệm và nhớ lại những ngày bà đi thuyền rồng về thăm quê hương, các nghệ nhân làng Đống đã làm một con rồng gỗ và làm trò rối rồng đi trên nước Trò diễn được người xem ngưỡng mộ Vốn có nghề tạc tượng khắc gỗ, các nghệ nhân làng Đống làm tiếp những con trâu, con cá, con vịt, [4, tr 64]
Ban đầu phường rối làng Đống chỉ có một số trò diễn đơn sơ như: Tễu
giáo trò, Múa tiên và các trò phản ánh các sinh hoạt đời thường của người lao
động như: Ngư tiễu canh độc, Tứ dân lục sở, Đua ngựa, Múa tứ linh và cũng
chỉ biểu diễn phục vụ những ngày lễ hội của làng
Cùng với năm tháng, múa rối nước làng Đống đã phát triển, con rối được tạo hình đẹp và to hơn, được áp dụng sào đẩy có ròng rọc điều khiển bằng dây Từ các trò diễn đơn sơ được nâng thành nghệ thuật biểu diễn, múa rối kết hợp với hát chèo, diễn tuồng, kết hợp với âm nhạc, tiết tấu âm nhạc phù hợp với trò rối, với hát nên có sức hấp dẫn người xem Rối nước làng Đống vượt ra khỏi hội làng, đi diễn ở các nơi, càng đi biểu diễn thì các trò diễn lại càng được sáng tạo thêm
Trang 34Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã làm rõ những vấn đề về lý luận nghệ thuật múa rối nước: lịch sử hình thành và phát triển, nét đặc trưng của nghệ thuật này Đồng thời cũng đã giới thiệu những nét tổng quan về huyện Đông Hưng cùng những nét đặc trưng trong nghệ thuật múa rối nước tại đây Có thể thấy rằng đây là một trong những cái nôi của múa rối nước Việt Nam với những đặc trưng riêng Hiện nay những phường rối nước tại đây đang hoạt động ra sao và thực trạng như thế nào? Đó chính là những vấn đề đặt ra và sẽ được tác
giả khảo tả, giải quyết và làm rõ trong chương 2
Trang 35Chương 2 HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC
TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG 2.1 Phường rối nước làng Nguyễn xã Nguyên Xá
2.1.1 Cơ cấu tổ chức phường hội
Phường rối Nguyên Xá hiện tại có 18 thành viên bao gồm cả nhạc công
và nghệ nhân múa Hầu hết các thành viên trong phường đều đã tới tuổi “xưa
nay hiếm” Các nhạc công của phường người biết nhiều bài hát một phần đã
theo cố nhân, phần còn lại cũng không còn đủ sức khỏe để biểu diễn Tuổi già
cũng không cho phép các nghệ nhân lội bùn, ngâm mình trong dòng nước để
diễn các tích trò Trước đây có một số em nhỏ theo học múa rối nhưng một
thời gian sau các em đã không thể tiếp tục do các em bận công việc học tập
không theo được
Bên cạnh đó, học múa rối không phải ngày một ngày hai, tiền công
biểu diễn lại ít ỏi, kinh tế khó khăn nên các anh chị phải lao động đảm bảo thu
nhập cho gia đình
Một đặc điểm nổi bật nhất trong tổ chức phường hội rối Nguyễn là tính
chất “bí truyền” Việc giữ miếng, giữ nghề là can hệ trực tiếp đến danh dự và
sự sống còn của phường rối Bởi vì, ngày xưa có tục lệ thi đấu, hội thi được tổ
chức rất long trọng và điều đó làm cho các phường hội rối ráo riết tăng cường
sự chuẩn bị của mình Từng phường rối lần nào cũng cố tìm ra những trò mới,
hay, khéo lạ để thu hút được sự chú ý của người xem phường rối Nguyễn
để giữ bí mật nghề nghiệp, phường chỉ kết nạp con em trong nhà hoặc người
cùng làng, và chỉ tiếp nhận đàn ông, không tiếp nạp phụ nữ vì sợ họ đem bí
mật của phường về nhà chồng Người xin gia nhập phải ăn mặc chỉnh tề,
mang cơi trầu chai rượu đến lễ Tổ và trình phường, nguyện làm phường lớn
mạnh, nếu để lộ nghề sẽ chết “một đời cha, ba đời con” Đứng đầu phường rối
Trang 36là các ông Trùm, lo toan và quản lý mọi việc Làng Nguyễn có những ông Trùm nổi tiếng như ông Lý Mục, ông Tổng Quỳnh, ông Phó Thiếu… Ông Lý
Mục là người làm ra trò “Rồng phun nước trên cao”, trò “chú Tễu”; ông Tổng Quỳnh chế ra trò Múa bát tiên …
2.1.2 Kỹ thuật, nghệ thuật chế tạo buồng trò, máy rối và con rối
Buồng trò rối nước làng Nguyễn xưa không làm theo kiểu cố định như buồng trò của chùa Thầy (Hà Tây cũ) hay một số nơi khác mà làm theo kiểu lưu động, lắp buộc, tháo dỡ dễ dàng, khung bằng tre gỗ, vách bằng phên, vải, mái bằng cót vẽ giả ngói (ảnh 2)
Nhưng quan trọng hơn vẫn là cách làm quân rối - bởi sự phát triển của nghệ thuật múa rối không tách rời khỏi việc sáng tạo và cải tiến quân rối Quân rối càng hoàn hảo càng giúp cho kỹ xảo của người điều khiển nâng cao
và khả năng diễn đạt phong phú hơn Quân rối Nguyễn thường được làm từ
gỗ sung, xưa nổi tiếng là đẹp, hay, có sơn son thiếp vàng, ít thấm nước, xuống nước là bóng lên do các nghệ nhân tài hoa của làng làm ra (ảnh 3)
Làng rối Nguyễn hiện nay còn hàng trăm quân rối nhưng trong đó chỉ
có 2 quân Tiên và Tễu là được tạo trước 1945, quân Tễu làng Nguyễn là quân Tễu đẹp nhất của sân khấu rối nước và của ngành rối nước truyền thống Việt Nam (ảnh 4)
Máy điều khiển cũng giữ vai trò hết sức quan trọng trong biểu diễn rối nước Máy điều khiển là khâu trung gian truyền tải những ý đồ, hành động điều khiển của người diễn viên tới quân rối để chúng có thể cử động Phường rối Nguyễn có cả 2 loại máy là máy dây và máy sào Máy sào tạo sức cân, tác động vào đế quân rối làm quân rối xoay chuyển được toàn thân Máy dây thì phong phú hơn máy sào, vừa nhiều kiểu độc đáo, vừa năng động, tổng hợp có thể chứa được nhiều quân hơn, có khả năng mở rộng các trò tới các hoạt cảnh Đây là kiểu máy triển vọng để phát triển nghệ thuật rối nước làng Nguyễn
Trang 372.1.3 Các trò, tích trò tiêu biểu và đặc trưng nghệ thuật
2.1.3.1 Các trò, tích trò tiêu biểu
Các chương trình tiết mục biểu diễn của rối nước làng Nguyễn rất phong phú gồm nhiều trò lẻ và tích trò Dù rằng là trò lẻ, hoạt cảnh hay tích trò thì các tiết mục rối nước làng Nguyễn đều mang ý nghĩ giáo dục và giá trị thẩm mĩ sâu sắc
Trước Cách mạng tháng 8/1945 gồm có: Trò bật cờ, múa Tễu, canh
nông, múa tứ linh, múa sư tử, đấu mã, chăn vịt đánh đáo, Đinh Bộ Lĩnh, Thị Màu lên chùa, đua thuyền, Từ Thức nhập thiên thai, Múa bát tiên (ảnh 5)…
Sau Cách mạng tháng 8/1945: Bình dân học vụ, đánh đường 10, đánh
trận sông Lô, trâu phá cày, đánh Mỹ Diệm, thi hoá rồng…
Ví dụ:
+ Trò Bật cờ: Công chúng háo hức chờ đêm biểu diễn mở màn, bồng một tiếng pháo nổ to làm mọi người giật mình hướng về buồng trò tự nhiên thấy một lá cờ hội (nay là quốc kỳ) bay phấp phới trước gió… Nhiều người nước ngoài lần đầu tiên xem trò diễn này không khỏi ngạc nhiên Người làng Nguyễn thì không lạ gì trò diễn này vì cờ đã được đặt trong các ống tre được bịt kín hai đầu để không bị thấm nước, khi biểu diễn các nghệ nhân đã dùng lực đẩy từ dưới và lực kéo từ trên lên
+ Trò múa Tễu: Chiếc mành trước cửa nhà thủy đình được từ từ kéo lên; chú Tễu bước ra, vừa đi vừa vung vẩy hai tay, người chú to lớn, da dẻ hồng hào, mình ở trần đóng khố đỏ, quay bốn phía chào khán giả rồi hắng
giọng hỏi: Anh em ơi! Tễu tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?
Người trong buồng trò đế: Chả xưng danh thì ai biết tên?
Tễu nói: Tên tôi là Tễu
Thuở xuân xanh tôi còn niên thiếu
Ai ai cũng gọi là Vông
Trang 38Đến năm sau trí sảo nhân công Phường khắc măt đặt tên tôi là Tễu…
Tễu dừng lại, đi đi lại lại rồi nói tiếp:
Cũng giống như nghệ thuật rối nước dân tộc, nghệ thuật rối nước làng Nguyễn vốn xuất thân từ những trò không lời, thu hút người xem bằng sự kỳ diệu do tài năng của các nghệ nhân tạo hình, nghệ nhân điều kiển tạo nên Lời văn cũng như âm nhạc mới tham gia vào giai đoạn sau này
Một nét điển hình của rối nước làng Nguyễn là những lời giáo Tễu, đó
là những bài văn vần phục vụ kịp thời các dịp biểu diễn ở trong làng, mang tính chất thời sự sâu sắc Ví như nhân dịp làng có tranh chức lý trưởng, nhân dịp tế xuân của họ Nguyễn Huy, nhân hội chùa Quỳnh…
Âm nhạc không chỉ giữ tiết tấu cho diễn xuất, khuấy động không khí biểu diễn mà nó còn truyền đạt, lay động tới người xem những nội dung, tư tưởng tình cảm nhất định Nghệ thuật rối nước làng Nguyễn do được sinh ra trên cái nôi của nghệ thuật chèo truyền thống vì thế các nghệ nhân múa rối ở đây đã biết tận dụng triệt để âm nhạc của chèo Nhạc cụ ở phường rối Nguyễn gồm có:
Trang 39+ Bộ gõ: Trống đại, trống trung, trống tiểu, thanh la, nạo bạt, mõ, chiêng
+ Bộ hơi: Sáo, kèn (kèn tàu)
+ Bộ dây: Hồ, líu, nhị, đàn tranh, đàn tam
Người xem bị cuốn hút không chỉ bởi những hình ảnh trên sân khấu mà còn bởi những âm thanh rộn rã của tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng sáo (trong các tiết mục bật cờ, múa lân, múa tứ linh) Những làn điệu, khúc nhạc chèo khi vui tươi rộn rã (trong các tiết mục xẩm xoan, tứ quý, lưu thuỷ, sắp qua cầu, sắp cổ phong), khi ngân nga da diết (như các điệu vỉa, ngâm sổng)…
Có người từng nhận xét: Đi xem biểu diễn rối nước ở phường Nguyễn
cứ như đi xem chèo, chỉ có khác chèo là người thật, còn rối nước là người giả Điều đó càng khẳng định vai trò của âm nhạc rất quan trọng trong sự thành công của nghệ thuật rối nước nơi đây
2.1.4 Thực trạng tổ chức hoạt động
2.1.4.1 Thuận lợi
Thứ nhất, dân làng Nguyễn ai ai cũng yêu cái nghề rối, ai ai cũng thích
xem biểu diễn rối, ai ai cũng tự hào về nghệ thuật truyền thống của quê hương
Nếu như người làng Khuốc yêu chèo của họ như yêu chính máu thịt của mình thì người dân của rối nước làng Nguyễn cũng không ngoại lệ Lớp lớp người dân làng Nguyễn từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành đã được đắm mình trong chính những tích trò rối đặc sắc, trong những lời giáo trò vui nhộn của các nghệ nhân Không chỉ là món ăn tinh thần độc đáo, múa rối nước còn
là biểu tượng của làng, là niềm tự hào của những người con làng Nguyễn khi nhắc đến Múa hát, diễn rối đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa quen thuộc của người dân nơi đây Hầu hết người dân trong làng đều biết, thích xem và thưởng thức múa rối Những thế sự buồn vui của mỗi cuộc đời, của làng quê
Trang 40đã ngấm vào trong dạ, trong máu, trong câu hát, tích trò của họ Cuộc sống làng, tình yêu làng, đó là mạch nguồn bất tận thẳm sâu, là không gian nuôi dưỡng các trò, tích trò Dù bần hàn, lam lũ, nhưng các câu hát, các tích trò đã dựng làng đứng dậy, đưa tâm hồn người dân cuốn theo những cử chỉ, những động tác vui nhộn, hài hước, chất phác của quân rối nước Những người con của rối nước làng Nguyễn dù đang ở góc bể, chân trời nào cũng nhớ về làng, nhớ về nơi “chôn rau cắt rốn” bởi trò rối nước đã ngấm trong da thịt họ, trong dòng máu họ Các thế hệ nối tiếp nhau, những trò, tích trò được nâng niu, gìn giữ và trao truyền lại hậu thế như báu vật muôn đời Ngay cả những nghệ sĩ chuyên nghiệp xuất thân từ rối nước làng Nguyễn cũng vậy Dù sau này thành danh vang dội nhưng họ cũng bắt đầu từ những con rối, tích trò quê mà ông
bà, cha mẹ truyền cho Khi đã là những nghệ sĩ nổi tiếng, họ quay về góp sức vun đắp nghệ thuật rối nước ở quê hương
Thứ hai, làng Nguyễn hiện có một nguồn nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn,
diễn viên, nhạc công chuyên nghiệp vốn xuất thân từ làng đi công tác tại các đoàn múa rối chuyên nghiệp, nay quay trở lại đóng góp cho hoạt động bảo tồn nghệ thuật múa rối nước tại làng
Phường rối Nguyên Xá hiện tại có 18 thành viên bao gồm cả nhạc công
và nghệ nhân múa Tuy rằng hầu hết các nghệ nhân gạo cội trong phường đều
đã tới tuổi “xưa nay hiếm” Các nhạc công của phường người biết nhiều bài hát một phần đã theo cố nhân, phần còn lại cũng không còn đủ sức khỏe để biểu diễn, tuổi già cũng không cho phép các nghệ nhân lội bùn, ngâm mình trong dòng nước để diễn các tích trò Nhưng ai ai cũng vẫn còn một niềm đam mê cháy bỏng với nghệ thuật truyền thống của quê hương Không đủ điều kiện biểu diễn, các nghệ nhân lại tìm cách truyền dạy nghề lại cho các thế hệ đời sau Cái tâm với nghề có lẽ đến lúc chết cũng không dứt ra được, luôn đau đáu làm sao để nghệ thuật truyền thống của làng ngày một ổn định và phát triển