Trong thời đại hiện nay, công tác bảo tồn di tích ngày càng đóng một vai trò quan trọng và tích cực. Công tác bảo tồn di tích tức là quản lý những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, những nguồn tư liệu đầu tiên của những kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Quản lý các tài sản văn hóa và thiên nhiên là giữ gìn và phát huy tác dụng chúng một cách có ích. Các di tích lịch sử văn hóa là những di sản văn hóa quý báu của mỗi địa phương, mỗi dân tộc và của cả nhân loại. Đó là những dấu vết, dấu tích còn lại của quá khứ, phản ánh những biến cố những sự kiện lịch sử, văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử. Di tích lịch sử còn là chứng tích, là tư liệu sống để các thế hệ mai sau tìm kiếm, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử đó, từ đó giáo dục thế hệ trẻ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc. Thực tế đã chỉ ra rằng bảo tồn di tích và những hoạt động của nó, phản ánh một cách khách quan mọi hoạt động của xã hội và ảnh hưởng ngược lại với xã hội. Công tác bảo tồn di tích đã và sẽ đóng góp quan trọng và tiến trình phát triển của nền văn hóa của từng dân tộc nói riêng và của cả nhân loại nói chung. Đền Đô là một di tích lịch sử nổi tiếng của vùng đất Bắc Ninh nổi tiếng là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt”. Lịch sử Việt Nam đã trải qua các thời đại của vua Lý và đền Đô chính là nơi những người dân Bắc Ninh tưởng nhớ về công lao xây dựng đất nước của nhà Lý. Đền Đô có rất nhiều tên gọi khác nhau, như đền Lí Bát Đế hay Cổ Pháp điện. Đây là ngôi đền thờ tám vị vua nhà Lý, những vị vua từng trị vì đất nước Việt Nam xưa. Lễ hội đền Đô được tổ chức vào những ngày mười lăm, mười sáu âm lịch. Đây chính là lễ hội kỉ niệm ngày vua Lý Công Uẩn lên ngôi vua và ban chiếu dời đô từ kinh đô Hoa Lư và thành Thăng Long. Đền Đô là một địa điểm lý thú mà khách du lịch có thể đến thăm mỗi khi có dịp về Bắc Ninh, trải nghiệm lễ hội ở đền Đô ta không chỉ được đắm mình trong không khí lễ hội mà còn thêm hiểu những
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ Ở PHƯỜNG ĐÌNH BẢNG,
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn : TS BÙI THỊ ÁNH VÂN
Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ OANH
Mã số sinh viên : 1405QLVA031
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình nghiên cứu, em đã thu thập được những số liệu cần thiết phục vụ cho việc viết đề tài của mình Em xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực, các kết quả nghiên cứu
là do chính em thực hiện, các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ Nếu
số liệu và kết quả của đề tài không trung thực, em xin chịu mọi trách nhiệm
Sinh viên
Lê Thị Oanh
Trang 3Hà Nội đã chỉ bảo và dạy dỗ em trong suốt bốn năm học vừa qua Em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã hỗ trợ và động viên để em có thêm niềm tin và sự cố gắng hơn nữa Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Ánh Vân đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình không chỉ về kiến thức mà còn cả phong cách cũng như thái độ làm việc nghiêm túc, để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Lê Thị Oanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀN ĐÔ 6
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa 6
1.1.1 Một số khái niệm 6
1.1.2 Nội dung và ý nghĩa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 7
1.2 Sơ lược về phường Đình Bảng và khu di tích đền Đô 9
1.2.1 Khái quát về phường Đình Bảng 9
1.2.2 Lịch sử hình thành Đền Đô 10
1.2.3 Các công trình kiến trúc tại Đền Đô 11
1.2.4 Lễ hội đền Đô 16
1.3 Các giá trị của khu di tích lịch sử đền Đô 18
Tiểu kết: 20
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ 22
2.1 Các chủ thể quản lý di tích 22
2.2 Công tác quản lý di tích Đền Đô 24
2.2.1 Thành lập Ban quản lý di tích Đền Đô 24
2.2.2 Trách nhiệm của BQL di tích Đền Đô 26
2.3 Xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị tại khu di tích đền Đô và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 29
2.3.1 Xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị tại khu di tích đền Đô 29
2.3.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 31
2.4 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tại khu di tích Đền Đô 32
2.4.1 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích 32
2.4.2 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tại khu di tích Đền Đô 35
2.5 Một số nhận xét và đánh giá về công tác bảo tồn và quản lý di tích Đền Đô 45
2.5.1 Ưu điểm 45
2.5.2 Hạn chế 46
Tiểu kết 48
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN ĐÔ 49
Trang 53.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của BQL khu
di tích 49
3.1.1 Nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nhân lực của Ban quản lý di tích đền Đô 49
3.1.2.Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý lễ hội đền Đô 50
3.2 Giải pháp nhằm bảo tồn giá trị của di tích Đền Đô 51
3.2.1 Tăng cường các hình thức bảo vệ, huy động các nguồn kinh phí đầu tư cho di tích 51
3.2.2 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm 52
3.2.3.Đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý di tích và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục 53
3.3 Giải pháp nhằm khai thác và phát huy giá trị của lễ hội Đền Đô 56
3.3.1 Tăng cường công tác giáo dục cộng đồng từ di tích 56
3.2.2 Khai thác các giá trị tại khu di tích gắn với phát triển du lịch 57
Tiểu kết 58
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 63
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
5 VH&TT Văn hóa và thông tin
6 VH,TT&DL Văn hóa, thể thao và du lịch
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, công tác bảo tồn di tích ngày càng đóng một vai trò quan trọng và tích cực Công tác bảo tồn di tích tức là quản lý những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, những nguồn tư liệu đầu tiên của những kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Quản lý các tài sản văn hóa
và thiên nhiên là giữ gìn và phát huy tác dụng chúng một cách có ích Các di tích lịch sử văn hóa là những di sản văn hóa quý báu của mỗi địa phương, mỗi dân tộc và của cả nhân loại Đó là những dấu vết, dấu tích còn lại của quá khứ, phản ánh những biến cố những sự kiện lịch sử, văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử Di tích lịch sử còn là chứng tích, là tư liệu sống để các thế hệ mai sau tìm kiếm, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử đó, từ đó giáo dục thế hệ trẻ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc Thực tế đã chỉ ra rằng bảo tồn di tích và những hoạt động của nó, phản ánh một cách khách quan mọi hoạt động của xã hội và ảnh hưởng ngược lại với xã hội Công tác bảo tồn di tích
đã và sẽ đóng góp quan trọng và tiến trình phát triển của nền văn hóa của từng dân tộc nói riêng và của cả nhân loại nói chung
Đền Đô là một di tích lịch sử nổi tiếng của vùng đất Bắc Ninh nổi tiếng
là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt” Lịch sử Việt Nam đã trải qua các thời đại của vua Lý và đền Đô chính là nơi những người dân Bắc Ninh tưởng nhớ về công lao xây dựng đất nước của nhà Lý Đền Đô có rất nhiều tên gọi khác nhau, như đền Lí Bát Đế hay Cổ Pháp điện Đây là ngôi đền thờ tám vị vua nhà Lý, những vị vua từng trị vì đất nước Việt Nam xưa Lễ hội đền Đô được
tổ chức vào những ngày mười lăm, mười sáu âm lịch Đây chính là lễ hội kỉ niệm ngày vua Lý Công Uẩn lên ngôi vua và ban chiếu dời đô từ kinh đô Hoa
Lư và thành Thăng Long Đền Đô là một địa điểm lý thú mà khách du lịch có thể đến thăm mỗi khi có dịp về Bắc Ninh, trải nghiệm lễ hội ở đền Đô ta không chỉ được đắm mình trong không khí lễ hội mà còn thêm hiểu những
Trang 8câu chuyện lịch sử ý nghĩa của các đời vua nhà Lý
Như đã biết, mỗi chúng ta ai cũng từng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thân yêu, đó là quê hương máu thịt, là tổ ấm nuôi ta lớn khôn từ thuở ấu thơ
và nâng bước cho ta trưởng thành Bởi vậy “Quê hương mỗi người chỉ một”
Vì vậy tìm hiểu lịch sử văn hóa địa phương là tìm về nơi “chôn rau cắt rốn” của mình, chứng tỏ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” từ ngàn đời của người dân đất Việt, đồng thời góp phần làm giàu đẹp phong phú cho lịch sử dân tộc Nghiên cứu góp phần cổ vũ niềm tự hào truyền thống quê hương trong công cuộc cách mạng mới của đất nước Việc nghiên cứu đề tài di tích lịch sử văn hóa đền Đô sẽ góp phần vào việc củng cố tinh thần yêu nước, yêu tổ quốc, quý trọng những danh nhân của dân tộc, quan tâm hơn đến các di tích lịch sử văn hóa và giáo dục cho thế hệ trẻ niềm tự hào về truyền thống tốt đẹp của tổ tiên ta, từ đó trau dồi kiến thức và hoàn thiện nhân cách
Là người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Bắc Ninh giàu thống, với
tư cách là sinh viên ngành Quản lý văn hóa, em rất mong có một đóng góp nhỏ vào việc tìm hiểu và làm rõ những giá trị của những di sản văn hoá quê hương mình Hơn nữa, hiện nay các di tích đang bị phá huỷ rất nhiều trước sự khắc nghiệt của khí hậu và chiến tranh Vậy, vấn đề giữ gìn và bảo vệ giá trị của các di sản văn hoá ấy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Với những lí
do trên tôi lựa chọn đề tài khóa luận: “Bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích
lịch sử văn hóa đền Đô ở phường Đình Bảng, Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
cuốn sách có dành một vài dòng viết gắn gọn về di tích lăng mộ và đền Đô
Trang 9với tư cách là nơi an nghỉ cuối cùng của các vị vua triều Lý tại Từ Sơn
“ ác di tích ịch sử văn hóa tỉnh Bắc inh” [Tài liệu số 11] do tác giả
Lê Viết Nga chủ biên, nội dung cuốn sách viết về hệ thống các di tích ở tỉnh Bắc Ninh theo đơn vị hành chính, trong đó các tác giả đã dành 75 trang từ trang 319 đến trang 394 để giới thiệu về các di tích của Từ Sơn Đặc biệt, cuốn sách đã dành 08 trang để viết về các di tích của xã Đình Bảng từ tr.361 đến tr.167 và có giới thiệu về di tích khu lăng mộ và đền Đô - Nơi thờ các vị vua triều Lý
“ i tích ịch sử văn hóa ti u i u ở Bắc inh” [Tài liệu số 12] do tác
giả Nguyễn Duy Nhất chủ biên Nội dung cuốn sách đề cập đến 02 nội dung: phần 1 Bắc Ninh - Vùng đất, con người và bản sắc văn hóa; phần 2 Các di tích tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh, trong đó có bài viết của tác giả Nguyễn Duy Nhất với tiêu đề “Đền Đô và lăng mộ các vị vua triều Lý” từ tr.181 đến tr.184
“ háp c s ” huy n àng Đình Bảng xưa [Tài liệu số 6] của tác
giả Nguyễn Khôi, đây là một tập tùy bút về phong tục, lịch sử và các sự tích ở làng Đình Bảng xưa Mỗi chuyện kể một việc, một sự tích đều có căn cứ theo sách sử, tài liệu nghiên cứu và truyện kể dân gian, trong đó, các câu chuyện
về đền Đô, chùa Lục Tổ, chùa Cổ Pháp và các truyền thuyết về vua Lý Thái
Tổ ở Đình Bảng
“ i tích ịch sử văn hóa Đền Đô” do tác giả Nguyễn Đức Thìn chủ
biên, năm 2006 [Tài liệu số 18] Đây là ấn phẩm đầu tiên giới thiệu một cách
hệ thống và khá toàn diện về di tích đền Đô, trong đó tập trung giới thiệu về không gian cùng các đơn nguyên kiến trúc trong khu di tích này, ngoài ra còn giới thiệu về các di tích đền đài, chùa, tháp, lăng mộ thời Lý và các di tích lịch sử cách mạng của xã Đình Bảng Qua đó giúp người đọc hiểu biết một cách sâu sắc về lịch sử truyền thống văn hiến và cách mạng của làng xã tiêu biểu này Cuốn sách giới thiệu công lao to lớn của các vị vua triều Lý, trong
đó tập trung khảo tả chi tiết di tích đền Đô và lễ hội truyền thống đền Đô vào
Trang 10ngày rằm tháng ba âm lịch hàng năm kỷ niệm ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang Đặc biệt cuốn sách cũng giới thiệu sơ qua quá trình tiến hành và kết quả phục dựng lại di tích đền Đô - công trình thờ tám vị vua nhà Lý đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh chống Pháp
Nhìn chung, các công trình, bài viết của các tác giả đi trước nghiên cứu
về di tích khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý ở nhiều khía cạnh khác nhau Song đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Đô ở Đình Bảng Do vậy, tôi
đã lựa chọn vấn đề nêu trên làm đối tượng nghiên cứu của khóa luận
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa đền Đô
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Khu di tích đền Đô Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) + Thời gian: Năm 2012 - 2017
4 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Đền Đô
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Đền Đô
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích các nguồn tư liệu thu thập được để làm rõ các nội dung trong đề tài nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, điền dã tại di tích, trên cơ sở đó tổ chức thu thập thông tin tư liệu thông qua điều tra xã hội học
6 Mục đích nghiên cứu
- Công trình nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các công tác nghiên cứu tìm hiểu giá trị di tích Đền Đô nói riêng và các di tích nói
Trang 11- Việc nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa góp phần củng cố, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự tôn dân tộc về quá khứ hào hùng của đất nước ta với sự tồn tại của triều đại nhà Lý gần 215 năm Giáo dục cho thế hệ sau củng cố về lòng biết ơn, trách nhiệm lưu giữ vốn văn hóa chung của dân tộc
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết lu n, Tài i u tham khảo và Phụ lục, đề tài
được chia làm 3 chương:
hương 1: Một số vấn đề lý u n chung về bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích ịch sử văn hóa và t ng quan về đền Đô
hương 2: Th c trạng công tác quản ý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích ịch sử văn hóa đền Đô
hương 3: Giải pháp ảo tồn và phát huy giá trị di tích ịch sử văn hóa đền Đô
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀN ĐÔ
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
1.1.1 Một số khái ni m
- Khái niệm “ i tích ịch sử văn hóa”:
Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa Khái niệm di tích lịch sử văn hóa được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa đã được nêu trong Pháp lệnh số 14
LCT/HĐNN ngày 04 thánh 4 năm 1984 của Hội đồng Nhà nước về “Bảo v
và sử dụng di tích ịch sử văn hóa và danh am thắng cảnh” quy định: “ i tích ịch sử văn hóa à những công trình x y d ng, địa đi m, đồ v t, tài i u
và tác phẩm có giá trị, khoa học, ngh thu t cũng như có giá trị về văn hóa hoặc có i n quan đến những s ki n lịch sử, quá trình phát tri n văn hóa, xã hội” [Tài liệu số 4]
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một nội dung trọng tâm có
ý nghĩa đặc biệt của quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và quản lý nhà
nước về di sản nói riêng được thể hiện rõ trong Lu t di sản văn hóa Khái niệm “Bảo quản di tích ịch sử - văn hóa, danh am thắng cảnh, di v t, c v t,
bảo v t quốc gia” Đây là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những
nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [17; Tr.2] Hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản giá trị hiện
trạng và hạn chế tình trạng xuống cấp của giá trị đó “ hát huy giá trị di sản”
là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi
đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu
Trang 13của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
Ngoài những khái niệm trên, trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử văn hóa còn có những khái niệm khác như : “Tu b di tích” là hoạt động tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh “Phục
hồi di tích ịch sử, danh lam thắng cảnh” là hoạt động nhằm phục dựng lại di
tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các dữ liệu khoa học về di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh
1.1.2 Nội dung và ý nghĩa công tác ảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
* Nội dung công tác ảo tồn và phát huy giá trị di tích ịch sử văn hóa
i tích ịch sử văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội
dung của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cũng bám sát các nội dung của quản lý DSVH
Nội dung quản lý nhà nước về DSVH được đề cập cụ thể tại Điều 54 và
Điều 55 của Lu t di sản văn hóa an hành năm 2001 và sửa đ i, b sung năm
2009 Tại điều 54, Mục 1, chương 5: Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn
Trang 14* Ý nghĩa của vi c bảo tồn và phát huy giá trị di tích ịch sử
Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa có mối liên hệ với nhau Phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa là tiền đề và mục đích của việc bảo tồn, bảo tồn di tích tốt sẽ góp phần tạo điều kiện cho di tích phát huy những giá trị vốn có của nó trên nhiều phương diện, và giá trị của di tích được phát huy sẽ mang lại những ý nghĩa và hiệu quả thiết thực về mặt văn hóa – xã hội – kinh tế và khoa học
Về mặt văn hóa Bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, những giá
trị về truyền thống lịch sử trong quá trình khai phá, xây dựng, yếu tố hay giá trị văn hóa và lịch sử là sự kết hợp và sự hun đúc cjkủa quá trình lao động sáng tạo, sự đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhiều thời đại và nhiều thế hệ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Về mặt xã hội Các di tích lịch sử văn hóa là di sản về lịch sử, di sản
văn hóa, là tài sản vô giá có giá trị giáo dục cao về tình yêu lao động sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì quốc gia dân tộc, tinh thần phấn đấu vươn lên vì tương lai của tổ quốc qua nhiều thế hệ mà nội dung đã được hàm chứa trong các di sản lịch sử, văn hóa, thông qua các loại hình di tích lịch sử – văn hóa Bảo tồn nhằm phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa còn là một truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, nên việc làm này luôn chứa đựng ý nghĩa về mặt xã hội sâu sắc
Về mặt khoa học Các di sản về lịch sử – văn hóa mãi là nguồn tư liệu
gốc về mặt tri thức khoa học trên nhiều lĩnh vực: tri thức dân gian, tri thức về khoa học kỹ thuật trong xây dựng, nghề thủ công truyền thống, tri thức về y
Trang 15dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực
Do vậy có thể nói bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa là góp phần quan trọng bảo tồn giá trị lịch sử, giá trị văn hóa truyền thống, là sự trân trọng giá trị của quá khứ để vận dụng cho hiện tại, định hướng cho tương lai
1.2 Sơ lược về phường Đình Bảng và khu di tích đền Đô
1.2.1 Khái quát về phường Đình Bảng
* Vị trí địa ý, điều ki n t nhi n và xã hội
Đình Bảng ngày nay là một trong 12 đơn vị xã, phường của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trải dọc theo quốc lộ 1A và đường xe lửa Hà Nội - Hữu Nghị quan, cách thủ đô Hà Nội 16km về phía bắc Phía đông bắc giáp phường Tân Hồng, phía bắc giáp phường Trang Hạ, phía tây bắc giáp phường Châu Khê, phía nam giáp xã Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm - Hà Nội , phía đông nam giáp xã Phù Chẩn, phía tây giáp xã ên Thường huyện Gia Lâm - Hà Nội Chiều dài của phường Đình Bảng từ ranh giới giáp Hà Nội đến phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn là 2,5km, chiều rộng từ giáp xã Ninh Hiệp đến phường Châu Khê và phường Trang Hạ là 2,3km [PL1; Tr.64]
Từ xưa, nằm trong xứ Bắc được phù sa màu mỡ của sông Hồng và sông Thiên Đức sông Đuống bồi đắp, Đình Bảng nằm trên ngã ba sông, giao lưu kinh tế và văn hóa thuận tiện Nơi đây sông Tiêu Tương phân nhánh, một nhánh chảy lên sông Ngũ Huyện Khê, một nhánh chảy qua Tương Giang, Nội Duệ, Cầu Lim Đình Bảng có lợi thế nằm trong vùng địa linh, rất sầm uất của
xứ Bắc nổi tiếng Đình Bảng có diện tích tự nhiên tính đến ngày 01/01/2014
là 826,74ha; ruộng trũng, ao hồ 100ha Theo điều tra dân số tháng 01/2014 thì Đình Bảng có số dân là 17.618 người [2; Tr.12]
* ịch sử hình thành và phát tri n của phường Đình Bảng
Đình Bảng là một địa danh bao đời nay đã đi vào lịch sử của đất nước,
Trang 16với ý nghĩa là quê hương của các vị vua triều Lý Đất lành, chim đậu Đình Bảng là một trong những điểm sớm có người đến tụ cư sinh sống
Ngày 01/01/1997 tỉnh Bắc Ninh được tái lập, Đình Bảng thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Ngày 11/08/1999 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 68/1999-NĐ-CP tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Từ Sơn và Tiên Du, do đó từ ngày 01/09/1999 Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tháng 10/2008, thực hiện Nghị định số 01/2008-NĐ-CP ngày 24 tháng
9 năm 2008 của Chính phủ, thành lập Thị xã Từ Sơn, xã Đình Bảng được chuyển thành phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đến năm
2009, thành lập khu phố Đền Rồng, nay phường Đình Bảng có 16 khu phố [2; Tr.16]
Người Đình Bảng kh o tay hay làm, tâm hồn nồng cháy, rộng mở, yêu quê hương, đất nước, giàu lòng nhân ái, sống giản dị Khi về thăm Đình Bảng vua Tự Đức đã tặng bốn chữ “Mỹ Tục Khả Phong” được treo ở đình làng Với những nghề truyền thống, nền kinh tế vững vàng, nếp sống văn hóa, đời sống tinh thần phát triển, Đình Bảng là đặc trưng tiêu biểu của làng xã Việt Nam, vừa mang đậm tính dân tộc, vừa có vóc dáng của làng xã văn minh, hiện đại
1.2.2 Lịch sử hình thành Đền Đô
Đền Đô còn gọi là “ háp đi n” cách thủ đô Hà Nội 16km về phía
Bắc và cách tỉnh l Bắc Ninh 12km về phía Nam, đi dọc theo đường quốc lộ 1A Hà Nội - Lạng Sơn Khu lăng mộ các vị vua triều Lý còn gọi là “Sơn lăng cấm địa” - nơi an nghỉ cuối cùng của các vua triều Lý, hiện nằm ở khu Ao Sen thuộc cánh đồng phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nơi đây cách đền Đô khoảng 800m về phía Đông Bắc, cách thủ đô Hà Nội 15km
về phía Tây Nam Theo hiếu dời đô, Lý Công Uẩn cho rằng: “ Đất háp
tuy rộng ng ph ng có n i Ti n Sơn và Ti n u à ch d a, có sông Thi n
Đ c và sông à ồ có th àm kinh đô đư c nhưng ta không thi n c n như
Trang 17nhà Đinh và nhà đem kinh đô về qu nhà đ hưởng ộc nhiều hơn thì đời ngắn ngủi không đư c dài V y ta àm theo m nh trời như nhà Thương và nhà Chu” [PL2; H.1; Tr65] Vì vậy, khu đồng đã được dọn dẹp, nhưng vua Lý
Thái Tổ không nghe nên chỗ đất đó vẫn bỏ trống Sau đó, nhà vua cử viên quan phụ chính là Lê Tái Nghiêm về rắc rừng làm nơi cấm địa để xây lăng mộ gọi là Thọ Lăng Trong khu đất ấy có tám đường cao và tám dọc nước trông tựa như những đầu rồng gọi là “Bát long, bát thủ” cùng chầu vào gò phát tích tương truyền là nơi an nghỉ của Thánh mẫu Phạm Thị Ngà sinh ra vua Lý Thái Tổ
Đầu thế kỷ XVII, nhà Lê đã cho trùng tu lại đền Đô và cho đắp lại toàn
bộ các lăng mộ nhà Lý Để ghi nhớ công lao của nhà Lý, năm 1604, sau khi trùng tu đền Đô, nhà Lê đã cho dựng bia tại đền Đô nhằm ca ngợi cảnh đẹp đất Cổ Pháp và ghi tạc công trạng của các vị vua triều Lý Văn bia do Tiến Sỹ
Phùng Khắc Khoan phụng soạn có ghi: “ đất háp à nơi thắng địa nhất
Kinh Bắc, thủ phủ phát tích, gót gối đầu của tám con rồng hình tư ng đ p muôn hình muôn v , vư ng khí tốt, toát n nơi này rất inh thi ng cho n n nẩy sinh ra tám vị vua triều ý đư c u dài và độc đáo ” [1; Tr55]
Ngày 25/1/1991 được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo quyết định số 154 – VHQĐ của Bộ Văn hóa Thông tin nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Đền Đô đã xác lập kỷ lục “Đền Đô – Đền thờ 8 vị vua nhà Lý được nhiều người biết đến nhất” theo quyết số 994/KLVN/2011 ngày 17/04/2011 [PL2; H.2; Tr.65] Ngày 31/12/2014 theo quyết định số 2408/QĐ-TTg công nhận “Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý” là di tích Quốc gia đặc biệt [PL2; H.3; Tr.66]
Nơi đây thờ 8 vị vua nhà Lý đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ
(1009-1028 ; Lý Thái Tông (1009-1028-1054 ; Lý Thánh Tông (1054-1072 ; Lý Nhân Tông 1072-1128 ; Lý Thần Tông 1128-1138 ; Lý Anh Tông 1138-1175);
Lý Cao Tông 1175-1210 và Lý Huệ Tông 1210-1224)
Trang 181.2.3 ác công trình kiến tr c tại Đền Đô
Năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 980 năm ngày vua Lý Thái Tổ mở đầu dựng nghiệp nhà Lý, thể theo nguyện vọng của nhân dân và trên cơ sở những tài liệu cũ hiện còn, đền Đô đã được phục hồi gồm 2 khu vực: Nội thành và Ngoại thành
Cuốn “Di tích lịch sử văn hóa đền Đô” cho biết: “Tổng diện tích toàn
bộ di tích đền rộng 31.250m2, trong đó: nội thành rộng 4.340m2, ngoại thành rộng 26.910m2 Diện tích xây dựng nhà là: 1.940m2, sân bãi nội ngoại thành 19.810m2, hồ bán nguyệt 9.500m2” [18; Tr.42] Kiến trúc Đền Đô bố cục cân xứng, hài hòa, quy mô bề thế, lại được xây dựng công phu, độc đáo, chạm khắc tinh xảo [PL2; H.4; Tr.66]
*Khu ngoại thành
hà Thủy đình
Thủy đình là một căn nhà nhỏ 3 gian hình vuông, được xây nổi trên hồ Bán nguyệt [PL2; H.5; Tr.67] Thủy đình có kiến trúc chồng diêm 2 tầng 8 mái, 8 đao cong và làm theo kiểu tầu đao mái góc Các thành phần kiến trúc
gỗ đều được chạm khắc hình rồng ngậm ngọc, vân mây và hoa lá cách điệu Phía trước có một sân rộng, lát đá xanh Đường ra thủy đình được nối bởi chiếc cầu đá gồm 5 nhịp uốn cong, mặt ngoài của cầu đá là các bức chạm về
đề tài phong cảnh thiên nhiên đất nước Bao bọc toàn bộ thủy đình là hàng lan can đá gồm 66 phiến đá, trên mỗi phiến đá đều chạm thủng hình ô van ở giữa, xung quanh là hình hoa lá cách điệu
Bên kia thủy đình, về phía nam của hồ bán nguyệt có nhà bia, kiến trúc kiểu che bia truyền thống, 8 đao cong, có 4 cột đỗ [PL2; H.6; Tr.67] Bao bọc toàn bộ hồ bán nguyệt là hệ thống lan can bằng đá [PL2; H.7; Tr.68] Nhà thủy đình nằm giữa hồ nước xanh trong phẳng lặng, xung quanh là cây cối um tùm xanh mát tạo nên vẻ đẹp duyên dáng, thơ mộng
hà Võ chỉ [PL2; H.8; Tr68]
Trang 19Nằm ở bên trái giữa nội ngoại thành, trong khuôn viên hình chữ nhật Nhà võ chỉ có kiến trúc hình chữ Công, Tiền đường 5 gian 2 chái, 4 mái đao cong, có diện tích 14,65 x 5,90 m [18; Tr.46], gồm 6 hàng cột ngang, 4 hàng cột dọc Tại Võ chỉ có treo bức hoành phi “Thần võ tiếp tứ lân” và “Nghĩa liệt anh hùng”
Hậu đường 3 gian 2 dĩ, diện tích 9,83 x 5,75 m, 4 hàng cột ngang, 4 hàng cột dọc, vì nóc chồng rường, đầu dư chạm hình rồng Hậu đường đặt 3 hương án, 3 khám thờ, trong khám là 3 ngai, 3 tượng của các vị: Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu và Đào Cam Mộc [18; Tr.47] Phía trước gian chính giữa tạc hình 2 con rồng đá, miệng ngậm ngọc, bờm tóc bay ngược lên phía trước mang phong cách nghệ thuật thời Lý, đường n t tinh xảo nhưng không k m phần uyển chuyển, mềm mại Hai gian bên phía trước có tạc hình mây hóa rồng Giữa sân là một lư hương bằng đồng, 2 bên sân có 2 cặp ngựa bằng đá chầu vào nhau Chính giữa cổng đắp nổi 3 chữ Hán “Võ chỉ môn”
hà Văn chỉ [PL2; H.9; Tr.69]
Cũng giống như nhà Võ chỉ, nhà Văn chỉ có kiến trúc hình chữ Công gồm các công trình: Tiền đường, ống muống và hậu đường Văn chỉ nằm ở bên phải giữa nội thành và ngoại thành Tại tiền đường gian giữa treo bức hoành phi “Minh tâm bảo giám” Hậu đường treo bức hoành phi “Thái Sơn bắc đẩu”, phía trong cùng là 2 khám thờ, bên trong là tượng của Lý Đạo Thành và Tô Hiến Thành ngồi trên ngai Hai bên khám là hai tượng quan hầu, tay cầm kiếm chắp trước ngực Giữa sân là lư hương đồng, 2 bên là 2 đôi ngựa chầu vào nhau Cổng tam môn, kiến trúc theo lối chồng diêm 2 tầng 8
mái, cửa cuốn tò vò, mái cuốn, trên có chữ Hán: “Văn chỉ môn” [PL2; H.10; Tr.69]
*Khu nội thành:
gũ ong môn
Còn gọi là Năm cửa rồng, có kết cấu đặc biệt, được xây dựng bằng gỗ
Trang 20Lim, mái lợp ngói mũi hài Cổng Ngũ long môn có diện tích 60m2, gồm 3 gian, gian giữa (cổng chính rộng 3m, 2 gian bên 2m, cổng cuốn tò vò, dạ tàu cao 2,7m, bốn mái có tàu đao cong, nền lát đá xanh [18; Tr.48] Tại gian cổng chính giữa lắp cánh cửa chạm rồng cuốn [PL2; H.11; Tr.70], phía trên xà nóc trang trí một bức chạm rồng mây Trên bờ nóc ở giữa đắp nổi hình rồng Hai bên gian cổng chính có đặt hai pho tượng đá, còn gọi là cấm vệ quân [PL2; H.12; Tr.70] Ở bậc tam cấp gắn hai đôi rồng và mây đá đặt trên tảng đá xanh với hình tượng rồng bay lên [PL2; H.13; Tr.70] Tại Ngũ long môn có treo bức hoành phi “Lý Triều Bát Đế”
Qua cổng Ngũ long môn là sân Rồng Ngay sát cổng về phía bên phải xây miếu thờ thổ thần và giếng đá còn gọi là giếng ngọc) [PL2; H.14; Tr.70] Hai bên sân rồng, bên phải là nhà khách 7 gian, bên trái là nhà trưng bày những hình ảnh và hiện vật lưu niệm liên quan đến Đền Đô, cùng 7 gian, làm bằng gỗ xoan
hà thờ Mẫu
Chính là “Vương Mẫu Từ” gồm 3 gian, diện tích 100m2, ở trong thờ các vị hoàng thái hậu của triều Lý: Lê Thị mẹ của Lý Thái Tông, Mai Kim Thiên mẹ của Lý Thánh Tông, Lê Thị Linh Nhân mẹ của Lý Nhân Tông, Đỗ Thị mẹ của Lý Thần Tông, Lê Thị mẹ Lý Anh Tông, Đỗ Thị mẹ của Lý Cao Tông, Đàm Thị mẹ Lý Huệ Tông [18; Tr.51] Riêng Minh Đức hoàng thái hậu Phạm Thị, mẹ sinh Lý Thái Tổ thờ ở chùa Cổ Pháp Ứng Thiên Tâm – Chùa Dận) Nhà thờ Mẫu được xây dựng lại năm 1992, kinh phí do gia đình Đại tá Cựu chiến binh Nguyễn Huy Cận, người con Đình Bảng Công Đức
Tiếp đến, ở hai bên sân rồng là nhà tế nam và nhà tế nữ Sân rồng lát gạch đá xanh, hai bên đường dẫn lên nhà phương đình là 4 cặp lư hương bằng đồng lớn đối xứng nhau [PL2; H.15; Tr.71], trước tam cấp có lư hương thạch long lớn làm bằng đồng, hai bên đặt cây đèn đồng Tiếp đến là đôi voi thờ tạc bằng đá nằm phủ phục hai bên sân
Trang 21hà hương đình
Kiến trúc theo lối chồng diêm 2 tầng 8 mái, 8 đao cong, gồm 3 gian hình vuông Nhà được làm bằng hệ thống gỗ lim vững chắc kết cấu 4 hàng cột chân Kết cấu và trang trí kiến trúc nhà phương đình chủ yếu tập trung trên các con rường, quá giang và bảy hiên Tại bẩy hiên, chạm rồng với thân hình uốn khúc, chân nắm chặt vào đầu bẩy Trong nhà Phương đình có treo bức
hoành phi “Bát di p trùng quang” và “Tham tán thi n địa” có hương án bày
các đồ thờ tự, 2 bên hương án là tượng hai tướng Đá Rãi là hai anh em sinh đôi Lý Hải và Lý Khoáng từng phục vụ triều đình và có công cùng vua đi dẹp loạn, giữ yên xã tắc Trên mái thượng nhà Phương đình nối với mái hạ là phần
cổ diêm, có đắp đôi rồng chầu mặt trời [PL2; H.16; Tr.71] Bờ nóc mái thượng gắn đôi chim phượng chầu mặt trời
hà Tiền tế
Qua nhà Phương đình đến nhà Tiền tế Nhà Tiền tế có treo bức hoành
phi sơn son thếp vàng nổi bật 4 chữ lớn “C háp Tri u ơ” có nghĩa là đất
Cổ Pháp là nơi mở đầu dựng cơ nghiệp triều Lý và nhiều hoành phi câu đối có
ý nghĩa sâu sắc Bộ khung nhà cũng hoàn toàn bằng gỗ lim, kết cấu vì lòng thuyền, thượng tam hạ tứ kẻ truyền hai bên Hai đầu tường xây bít đốc, cửa bức bàn che luồn suốt bảy gian mặt tiền
Nhà Tiền tế xây dựng lại theo kiểu tiền hiên, hậu bẩy, tòa nhà 7 gian này có hình đồ chữ nhật với 6 hàng chân cột, mỗi hàng bao gồm 8 cột, tổng số
có 48 cột Các cột được tạo tác kiểu thức “Cột đòng đòng” Trang trí kiến trúc đơn giản, chủ yếu chạm khắc trên bẩy và kẻ mái, chủ đề trang trí chủ yếu là vân mây xoắn, hoa lá cách điệu và rồng, khá đơn và mang n t chắc khỏe
Gian giữa nhà Tiền tế là tượng hai ông áo đen – cấm vệ quân triều Lý được tạc rất sống động Hai bên gần cửa ra vào có đôi ngựa hồng thờ và ngựa
bạch thờ Bên phải cạnh bức hoành phi “C háp Tri u ơ” là bức cuốn thư
“Chiếu Dời Đô” của Lý Công Uẩn năm 1010 có 214 chữ ứng với 214 năm 8
Trang 22đức vua thờ ở Đền Đô đã trị vì đất nước, rồi đến bức ảnh hổ lớn “Hoàng long
linh hiện” và “Tiếng vọng cội nguồn” Bên trái “Cổ Pháp Triệu Cơ” có bức
cuốn thư khắc bài thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt rồi đến bức ảnh khổ lớn “Bát đế du vân” và “Lửa thiêng Đền Đô”
Mái nhà lợp ngói mũi hài, các tàu mái uốn cong thành hình rồng, bắt gặp độ cong của tàu mái trên tạo thành rồng chầu mặt nguyệt Chính giữa bờ nóc của hai tòa nhà hình tượng mặt trăng tròn nổi đang tỏa sáng, hai bên là đôi rồng uốn khúc đang chầu vào mặt trăng trung tâm Ở các đầu bờ nóc là hoa văn mây cuốn cách điệu
vị vua triều Lý ngồi trong ngai, trước tượng đặt bài vị còn lại từ thời Lê
1.2.4 Lễ hội Đền Đô
Phần lễ
Lễ khai hội là phần rất quan trọng, lễ bắt đầu của sự may mắn cho cả cộng đồng, cho nên mọi hành vi, lời ăn, tiếng nói đều được tuân thủ một cách
Trang 23nghiêm ngặt Trong nghi thức tế lễ có lễ “T c Yết” - đây là nghi thức rước Lý Thánh Mẫu Minh Vào hội, ngay từ chiều ngày 14, bắt đầu bằng lễ “T c Yết”
rước ngai bài vị của Lý Thánh Mẫu từ chùa Cổ Pháp Chùa Dận) về Đền Đô
để tế lễ, nhằm tri ân công đức của người đã sinh thành ra Lý Thái Tổ Ngày
15 chính hội, đám rước ngai bài vị của Lý Thánh Mẫu từ chùa Cổ Pháp về Đền Đô được bắt đầu từ sáng sớm: Đi đầu là một lá cờ lớn mang dòng chữ
“Đại Vi t” và tám cờ đại mang chữ “ ý” Tiếp theo rất tượng là con Rồng
lớn dài hàng chục m t do 40 thanh niên múa và các đoàn nghi trượng như: cờ người, gươm vàng, 3 ông “Thế Tướng” đi đứng uy nghi hùng dũng [PL2; H.17; Tr.72], siêu đao bát bửu, trống, chiêng, nhạc tế dân tộc Trung tâm đám rước là kiệu của Lý Thánh Mẫu và kiệu của các vua nhà Lý: Lý Thái Tổ,
Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông,
Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và được sắp xếp đội hình cờ, quạt, ngựa, kiệu, trống chiêng như nhau; đặc biệt là đoàn đại biểu của các làng xã kết chạ với Đình Bảng, có quan hệ với triều Lý Sau cùng đám rước là hàng vạn du khách thập phương cuồn cuộn đổ về tham dự lễ hội Đám rước lễ hội Đền Đô rợp trời với cờ, quạt, kiệu, tàn, lọng, rồng, lân, người, cùng âm thanh của trống, chiêng, đàn, nhị, sênh, phách rộn rã, náo nhiệt một khoảng trời [7; Tr.235]
Khi đám rước về đến đền Đô thì tập trung tại sân rồng và đội múa rồng
bắt đầu bằng lễ “Rồng phục”: Một con rồng to lớn dài hàng chục m t do 40
thanh niên khoẻ mạnh múa bay lượn ẩn hiện trong không trung là biểu tượng của “Vương quyền” và “Thần quyền” đã được nhà Lý hết sức coi trọng [PL2;
H.18; Tr.72] Tiếp đến là cuộc “Đại tế” đó là thời khắc thiêng liêng nhất của
cuộc rước tế Đại tế do Chủ tế và Quan viên tế thực hiện Tế lễ được diễn ra một cách long trọng, tôn nghiêm, nhằm mục đích tôn vinh đối với các bậc
“Minh Vương” nhà Lý đã có nhiều công lao to lớn với dân với nước, cầu mong sự phù trì cho quốc thái dân an Sau cùng là các đoàn đại biểu và quý khách thập phương vào đền thành tâm lễ bái Trong những ngày lễ hội Đền
Trang 24Đô, sau phần lễ là phần hội với các trò vui chơi dân gian giải trí lành mạnh như: tuồng, chèo, quan họ, đu cây, đấu vật, thi làm bánh, thi thổi cơm, thả chim cờ tướng đã thu hút hàn ngàn vạn người từ khắp mọi miền đến với lễ hội
Phần hội
Ở lễ hội đền Đô có các hoạt động, như đấu vật, chơi cờ người, hát quan
họ, hội thơ, chơi đu, thả chim bồ câu, chơi chọi gà, thi nấu cơm niêu đất [PL2; H.19; Tr.73] Đấu vật là một trò chơi thượng võ trong lễ hội Đấu vật có thể coi là một hoạt động bằng sức lực là chủ yếu, tuy nhiên trong đó còn hàm chứa cả sự kh o l o tinh khôn Đây cũng là một hình thức thi tài dành cho nam giới Hội đấu vật ở hội đền Đô hội tụ được nhiều đô vật ở các tỉnh phía Bắc Các đô vật gặp nhau với những trận đấu hăng say, quyết liệt, nhưng không thô bạo, mà rất uyển chuyển, kể cả khi “vào miếng”, “đấu miếng” và “phá miếng” [PL2; H.20; Tr.73] Trong các lễ hội ở xứ Bắc, cờ tướng luôn là một trò chơi phổ biến Ở đền Đô cũng không ngoại lệ và là trò chơi được lưu tâm gọi là cờ người Cờ người có gốc từ cờ tướng, vẫn những bước đi, thể thức chơi giống nhau, nhưng khác nhau ở chỗ quân cờ do con người đóng, thay thế quân cờ gỗ, những người đóng làm quân cờ mặc quần áo, đội mũ, đi hia được may bằng vải đẹp Trong ngày hội, cuộc đấu cờ thường thu hút được những người lớn tuổi Cờ tướng trong lễ hội đền Đô có nhiều n t độc đáo, nó không chỉ là trò chơi giải trí đơn thuần, mà còn có thể nói là sự tổng hợp của lý trí, mưu lược, [7; Tr.237]
1.3 Các giá trị của khu di tích lịch sử đền Đô
* Giá trị lịch sử
Đền Đô là chứng tích vật chất, nơi bảo lưu những tài liệu lịch sử phản ánh về làng Cổ Pháp xưa và Đình Bảng ngày nay, đồng thời là đất tôn miếu, đất phát tích tôn thờ các vị vua triều Lý lập nền văn minh Đại Việt Mở đầu vương triều là Lý Thái Tổ tên húy là Công Uẩn, người làng Cổ Pháp
Trang 25Ngoài việc tôn thờ Tám vị vua triều Lý ở Đền Đô và khu lăng mộ các
vị vua triều Lý Sơn lăng cấm địa , nơi yên nghỉ vĩnh hằng của các vị tiên vương và hoàng tộc nhà Lý - di tích còn là vật chứng, chứng minh cho một vương triều có công dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, đặt quốc hiệu là Đại Việt - quốc gia phong kiến độc lập dân tộc được xác lập và củng cố vững chắc trên cơ sở kinh tế là quốc hữu và phân phát ruộng đất nông nghiệp, có những bước phát triển quan trọng Các nghề thủ công như: làm đồ gốm, chạm đá đạt đến trình độ tinh xảo, những tinh hoa và giá trị của nền văn hóa nghệ thuật
cổ truyền của dân tộc được thừa kế và phát huy mạnh mẽ, ý thức bảo vệ nền độc lập dân tộc cao
Có thể nhận định: Từ khi Lý Thái Tổ lên ngôi và rời Đô từ Hoa Lư về Thăng Long 1010 , từ đó trải qua 9 đời vua Lý truyền ngôi được 216 năm Các vị vua đã có công bảo vệ, giữ gìn và mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước, xây dựng thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của cả nước, đưa nước Đại Việt chuyển mình sang một giai đoạn mới - giai đoạn phong kiến độc lập tự chủ và cường thịnh vào thế kỷ XI - XII Phía Bắc giảng hòa với quân nhà Tống, phía Nam bình định với Chiêm Thành Vạn Tượng Thế nước thật vững vàng, để lại nhiều di sản văn hóa quý trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc
Mặt khác: khu di tích lưu niệm nhà Lý còn là nơi bảo lưu giá trị văn hóa phi vật thể: tín ngưỡng thờ cúng, lễ hội, phong tục, tập quán rất có giá trị cho công tác nghiên cứu lịch sử và bảo tàng
Khu lăng mộ các vị vua triều Lý còn là di chỉ khảo cổ đặc biệt quan trọng cần được bảo tồn khẩn cấp để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
* Giá trị văn hóa
Khu di tích lăng mộ và đền Đô thờ các vị vua Lý có giá trị văn hóa vô cùng to lớn bao gồm trong đó là giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Trang 26Đối với giá trị văn hóa vật thể: Đền Đô có hệ thống các di vật gỗ chạm phong phú như: hương án, đại tự, câu đối, khám, kiệu và tượng thờ đã tôn thêm vẻ đẹp của kiến trúc ngôi Đền Các di vật này được chạm khắc tinh xảo các đề tài trang trí truyền thống: rồng mây, hoa lá, văn triện Đây là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện tài hoa, tinh tế của cha ông ta trong nghệ thuật tạo tác đã thổi hồn cho di tích
Đặc biệt là di tích còn bảo lưu được khối lượng các di vật, hiện vật phong phú về chủng loại, đa dạng về loại hình như: hệ thống sắc phong, cuốn thần tích - thần sắc có niên đại từ thời Lê và trải dài tới thời Nguyễn là những
di vật quý, là nguồn sử liệu hiện vật gốc góp phần tìm hiểu về lịch sử các vị vua nhà Lý và lịch sử ngôi Đền cũng như vùng đất Đình Bảng trong truyền thống và hiện đại
Đối với giá trị văn hóa phi vật thể: Giá trị tiêu biểu chính là lễ hội đền
Đô Đây là ngày mà cộng đồng tổ chức tưởng niệm công lao to lớn của các vị vua Lý đối với đất nước Ngày nay lễ hội tại di tích được diễn ra trang trọng, lành mạnh, tiết kiệm nhưng vẫn đầy đủ những nghi thức của một lễ hội cổ truyền và mang những sắc thái riêng của xứ Kinh Bắc Hội đền Đô được mở
ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng ba âm lịch Trong lễ hội có lệ cúng bánh và thường tổ chức tế lễ, đấu cờ, hát quan họ và tổ chức các trò chơi dân gian, lễ hội thể hiện tình đoàn kết cộng đồng làng xã, thu hút đông đảo mọi người dân tham dự Song hành với việc tế lễ dâng hương phần lễ ở trong Đền, bên ngoài khu vui chơi phần hội cũng diễn ra nhiều trò chơi dân giantruyền thống trong tiếng vỗ tay, hò reo cổ vũ của hàng ngàn khán giả hâm mộ Như vậy, lễ hội đền Đô đã thể hiện sự hào khí, quật cường, n t đẹp văn hóa tôn vinh một triều đại phong kiến huy hoàng trong lịch sử, giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc cũng như tình đoàn kết của cư dân Đình Bảng
Trang 27Tiểu kết
Trong chương 1, tôi đã trình bày cơ sở lý luận về các khái niệm di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn, tu bổ di tích lịch sử Đây là cơ sở giúp ích cho việc triển khai vấn đề nghiên cứu ở chương 2 Trên cơ sở lý thuyết và những vấn đề chung về di tích lịch sử văn hóa, ở chương 1 đã giới thiệu khái lược về Đình Bảng và Đền Đô thờ các vị vua triều Lý Nơi đây bảo tồn, giữ gìn các giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu về nhà Lý, đó là không gian văn hóa, đặc điểm kiến trúc Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn để tôi tìm hiểu thực trạng các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị tại khu di tích lịch sử văn hóa mà tôi sẽ triển khai cụ thể trong chương 2 của Khóa luận
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ 2.1 Các chủ thể quản lý di tích đền Đô
Thực hiện Lu t Di sản văn hóa và Quyết định số 242/2014/QĐ -
UBND ngày 11 tháng 6 năm 2014 của UBND tỉnh Bắc Ninh Quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh việc quản lý di tích được phân cấp quy định:
UBND tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm chỉ đạo hoạt động về quản lý di
sản văn hóa như: Xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị
di tích; kiểm kê, nghiên cứu đối với di tích và toàn bộ cổ vật của di tích; chỉ đạo và cấp ph p cho các hoạt động bảo vệ, phát huy giá tị di tích, tiến hành kiểm tra, thành tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về di tích
UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chịu trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị
di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong địa bàn quản lý; Thực hiện chế
độ báo cáo định kỳ, đột xuất với UBND tỉnh Bắc Ninh về tình hình quản lý về
di tích, di vật cổ vật, bảo vật quốc gia trong phạm vi địa giới hành chính quản lý; Tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phậm về
di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo thẩm quyền
Các UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thành lập Ban quản lý
di tích cấp xã để bảo vệ, phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa; phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; kiến nghị việc xếp hạng di tích; thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm theo quy định
* Ban quản ý di tích tỉnh Bắc Ninh
Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa,
Trang 29UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định 1002/QĐ - UBND, ngày 31 tháng
7 năm 2007 về việc thành lập Ban Quản ý di tích tỉnh Bắc Ninh Theo quyết
định, Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh), chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Văn hóa, Thông tin; có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh có chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch
sử văn hóa
Ban quản ý di tích tỉnh Bắc Ninh có nhiệm vụ: Xây dựng quy hoạch
phát triển, kế hoạch hoạt động dài hàn và ngắn hạn của Ban Quản lý di tích tỉnh; Tổ chức điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và lập hồ sơ di tích, di sản văn hóa phi vật thể thuộc địa bản tỉnh; Hướng dẫn, thẩm định và lập hồ sơ các di tich trên địa bản tỉnh đề nghị cấp có thẩm quyền xếp hạng; Hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, bảo vật tại các di tích cách mạng trên địa bàn tỉnh; Tham gia hướng dẫn các hoạt động bảo vệ
di tích, việc thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong việc khai thác và phát huy giá trị di tích theo phân cấp của UBND tỉnh; Hướng dẫn và giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ đối với Ban Quản lý di tích cơ sở; Tổ chức, phối hợp
tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, thăm dò, khai quật khảo cổ nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý di tích tỉnh
và của Sở; Hướng dẫn các hoạt động và dịch vụ về văn hóa du lịch phù hợp với từng di tích; tham mưu với cấp có thẩm quyền trong việc thu lệ phí, hướng dẫn thu lệ phí tham quan và các lệ phí khác tại điểm di tích theo quy định của pháp luật [PL6; STT5; Tr.109]
* hòng văn hóa thông tin thị xã Từ Sơn
Phòng Văn hoá và Thông tin Thị xã Từ Sơn là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Từ Sơn có chức năng tham mưu, giúp UBND thị xã quản
lý nhà nước về: văn hoá – thông tin trong đó có các di sản văn hóa Phòng
Trang 30Văn hóa và Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND thị xã; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông
Nhiệm vụ của phòng Văn hóa Thông tin Thị xã Từ Sơn:
- Phòng có nhiệm vụ hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn thị xã xây dựng nếp sống văn minh trong việc tổ chức lễ hội
- Phòng có trách nhiệm bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
- Phòng cũng có nhiệm vụ thẩm định và trình cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích lịch sử văn hóa theo quy định của pháp luật
* Ban quản ý di tích lịch sử văn hóa phường Đình Bảng
BQL di tích lịch sử văn hóa phường Đình Bảng được thành lập theo quyết định số 01/QĐ-UBND năm 2018 của UBND phường Đình Bảng BQL
2.2 Công tác quản lý di tích Đền Đô
2.2.1 Thành p Ban quản ý di tích Đền Đô
Mô hình quản lý di tích ở địa phương là có sự kết hợp giữa chính quyền
và cộng đồng của người dân Việc chịu trách nhiệm trước các cơ quan các cấp, trước pháp luật về sự an toàn của di tích, di vật, cổ vật thuộc về trưởng ban Sự tham gia của các hội người cao tuổi, hội cựu chiến bính, phụ nữ, đoàn thanh niên là đại diện của cộng đồng nhân dân đảm nhiệm, việc quản lý di
Trang 31tích Vai trò tham gia vào di tích của họ được thể hiện ở tất cả các khâu từ chăm nom, bảo vệ di tích, giữ gìn cảnh quan môi trường, tiến hành những tu sửa nhỏ, đến các công việc như lên kế hoạch, lập nội dung và tổ chức lễ hội, cúng tế các ngày tuần sóc vọng, quản lý các nguồn thu - chi, giữ an ninh trật
tự, trông giữ xe máy, xe đạp, tô tô cho du khách Đặc biệt, họ có trách nhiệm bảo vệ, giám sát các di sản tại địa phương mình
Theo Quyết định số 01- QĐ/MTTQ của UBMTTQ phường Đình Bảng ngày 03 tháng 01 năm 2012 về việc công nhận thành viên BQL di tích đền Đô
và Quyết định số 147/QĐ-UBND của UBND phường Đình Bảng ngày 31 tháng 12 năm 2014 về việc Phê chuẩn kết quả bầu thành viên BQL di tích lịch
sử văn hóa đền Đô phường Đình Bảng BQL di tích đền Đô là mô hình mang tính chất cộng đồng tự quản tiêu biểu về quản lý di tích có hiệu quả BQL di tích đền Đô trực thuộc BQL di tích phường Đình Bảng, hoạt động theo nhiệm
kỳ 3 năm Tham gia vào BQL đền có 75 cụ đại diện của 16 khu phố trong phường [PL3; Tr.79] Tiêu chuẩn để lựa chọn những người này là những người có sức khỏe, có tài đức, tâm huyết, là các gia đình nề nếp, không có con cháu vướng vào tệ nạn xã hội
Sau khi bầu được BQL di tích, những người trong BQL di tích sẽ họp
và tiến hành bầu bằng phiếu kín và thành lập ra Ban thường trực gồm 07 nhân
sự, yêu cầu phải là những người có sức khỏe, nhiệt tình, chí công vô tư, ngoại giao tốt và chữ viết đẹp [PL4; Tr.82] Sau đó từ 07 người này, hội nghị lại tiến hành bỏ phiếu kín bầu trưởng ban, 2 phó ban
BQL di tích đền Đô hoạt động khá độc lập, hiệu quả và khoa học Bộ phận thường trực đóng vai trò quan trọng chủ chốt trong BQL di tích và luôn
cử trưởng hoặc phó ban túc trực hàng ngày tại đền để xử ly mọi vấn đề liên quan đến di tích Nguyễn Thị Thu Hường trong nghiên cứu về đền Đô cho
biết: “ gày thường BQ di tích sẽ ph n công cho 6 người chia àm 2 ca, mõi
ca 3 người trông nom đền a sáng ắt đầu từ 7h đến 12h, ca chiều từ 11h45
Trang 32đến khi hết khách tham quan thường đến 19h Vào ngày r m, mồng một và ễ hội xu n, do ư ng khách tham quan đông hơn n n BQ di tích ph n công cho 15 người chia ra àm 3 ca hững ngày này nhà đền sẽ phục vụ cơm cho
BQ đ đảm bảo s c khỏe và tiết ki m thời gian đi ại” [5; Tr.33]
Qua đây ta thấy, hoạt động của BQL di tích đền Đô về cơ bản là trực thuộc BQL di tích phường Đình Bảng Chức năng và nhiệm vụ do BQL di tích phường nêu rõ trong Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 15 tháng 9 năm
2015 của UBND phường Đình Bảng [PL2; H.21; Tr.74]
2.2.2 Trách nhi m của BQL di tích Đền Đô
Trách nhiệm của BQL di tích đền Đô cũng được thực hiện theo Quy chế quản lý di tích lịch sử văn hóa phường Đình Bảng Ban quản lý đền Đô phải tham gia xây dựng và thực hiện các chương trình kế hoạch, hoạt động, điều hành và khai thác giá trị của di tích mà mình đang tham gia; Bảo vệ giữ gìn toàn bộ di tích về cảnh quan, môi trường, đất đai, kiến trúc, điêu khắc, cổ vật ; Chịu trách nhiệm trực tiếp khi để di tích bị xâm phạm, hủy hoại như: xâm lấn về đất đai, mất mát thất lạc cổ vật của di tích, làm giả mạo cổ vật, hoạt động mê tín dị đoan trong di tích ; Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm hủy hoại đến di tích và báo cáo kịp thời cho BQL di tích phường khi di tích có nguy cơ bị xâm phạm, hủy hoại, lấn chiếm, mất cắp cổ vật, hoạt động mê tín dị đoan; Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đến thăm quan, nghiên cứu, du lịch, tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội hợp pháp tại di tích; Tích cực học tập để am hiểu nắm rõ lịch sử về di tích, đồng thời cùng với thường trực BQL làm tốt công tác tôn tạo, bảo tồn, khai thác, sử dụng có hiệu quả điểm di tích mình quản lý BQL hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ, tinh thần chủ động sáng tạo của các thành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao [23; Tr.6]
Trách nhiệm của ông Nguyễn Thế Phú - trưởng BQL di tích đền Đô:
Trang 331/Ngoài trách nhiệm chung theo quy chế thì Trưởng BQL chịu trách nhiệm trước BQL di tích phường về mọi mặt hoạt động trong công tác quản lý di tích do mình phụ trách Đồng thời tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của BQL di tích phường Đình Bảng về quy hoạch, trùng tu, xây dựng, tôn tạo, bảo tồn, khai thác sử dụng theo Luật di sản văn hóa và quy định của địa phương; 2/Về quản lý tài chính: Quản lý chặt chẽ công tác thu chi tài chính tại điểm di tích do mình phụ trách; Công tác thu chi phải thực hiện đúng quy chế
và hướng dẫn của BQL di tích phường; Thực hiện việc điều tiết về tài chính, được ph p duyệt chi thường xuyên tại di tích theo quy chế; Mức tối đa không quá 10.000.000 Mười triệu đồng ; Duyệt chi cho công tác xây dựng, sửa chữa, nâng cấp các hạng mục công trình hoặc mua sắm tài sản phục vụ di tích đến 50.000.000đ Năm mươi triệu đồng sau khi báo cáo Chủ tịch UBND phường hoặc đã thông qua thành nghị quyết của BQL di tích phường về kế hoạch đầu tư, mua sắm [23; Tr.9]
Trách nhiệm của 2 phó ban là ông Nguyễn Thạc Kim và ông Nguyễn Hữu Tường: Ngoài các trách nhiệm chung thực hiện trong quy chế, còn thực hiện nhiệm vụ do trưởng ban phân công hoặc phân công phụ trách Phó ban 1: phụ trách về công việc tu bổ, trùng tu xây dựng di tích Phó ban 2: phụ trách
về nội bộ, quan hệ ngoại giao, phân công và chấm công trực tại di tích [23; Tr.7]
Quyền và trách nhiệm của các thành viên trong BQL di tích: 1/Bàn và quyết định các chương trình, kế hoạch về công tác quản lý, khai thác giá trị của di tích mình quản lý, điều hành; 2/Hưởng chế độ bồi dưỡng theo ca trực đối với các thành viên; hàng tháng đối với trưởng, phó ban và các chế độ khác theo quy định của địa phương; 3/Được giao lưu kinh nghiệm quản lý tại các điểm di tích khác trong và ngoài địa phương, đi thăm quan học tập kinh nghiệm hoặc nghỉ dưỡng mỗi nhiệm kỳ 2 lần, mỗi lần không quá 3 ngày [23; Tr.7]
Trang 34Ban thường trực gồm có 7 người thường xuyên có mặt tại di tích, làm việc tập thể, bàn bạc công việc để cá nhân thực hiện hàng ngày BQL DT đền
Đô hoạt động theo phương châm: “Đoàn kết, công khai và minh bạch, nhất là minh bạch về tài chính” Các thành viên của BQL DT làm việc với tinh thần
“cơm nhà, việc Đền” hoàn toàn từ tâm mỗi người [PL4; Tr.82]
12 tổ công đức: Mỗi tổ gồm có 5 người, 1 tổ trưởng và 4 thành viên, các thành viên được lựa chọn từ 12 khu phố và chia 12 tổ, phân công thay phiên nhau trực 3 ca trực/ngày Các thành viên trong 12 tổ này lấy 1 thành viên ra phụ trách nội điện, trồng cây, ban tế
Tổ bảo vệ gồm 08 thành viên phụ trách công tác trông giữ xe ngoài cổng ra vào bãi xe và cổng vào Đền, đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực đền
Đô [PL2; H.22; Tr.74]
Tổ thuyết minh tuyên truyền gồm: 04 thành viên, do các khu phố lực chọn và giới thiệu lên, BQL di tích xem x t và tiếp nhận Theo tiêu chí BQL đặt ra, nhân sự được chọn vào ban tuyên truyền phải là những người am hiểu
về lịch sử đền Đô, có trình độ nhất định và có khả năng ăn nói đảm nhận nhiệm vụ đón tiếp, giới thiệu và hướng dẫn khách tham quan, phục vụ nghi lễ dâng hương của các đoàn khách tới thăm quan Tổ tuyên truyền đóng vai trò như hướng dẫn viên du lịch tại quần thể di tích [PL2; H.23; Tr.75]
Tổ vệ sinh môi trường gồm: 03 thành viên, đảm bảo công tác vệ sinh trong khu vực của Đền, mỗi người được phân công công việc cụ thể, từng khu vực [PL2; H.24; Tr.75]
Tổ tài chính kế toán: Do 02 thành viên từ trong ban thường trực phụ trách Thực hiện chuyên môn kế toán thủ quỹ thu - chi tại nhà Đền, làm tổng hợp theo định kỳ hàng tháng báo cáo cho trưởng BQL di tích và báo cáo lên BQL di tích phường với một con số chính xác
BQL di tích sẽ họp giao ban toàn thể vào đầu tháng, có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương, nội dung bao gồm các công việc như thông
Trang 35qua tài chính, đánh giá hiệu quả công việc của tháng trước, bàn và thống nhất
kế hoạch hoạt động của tháng tiếp theo Mô hình BQL di tích đền Đô được vận hành quy củ, hiệu quả, tạo được sự uy tín đối với chính quyền địa phương
và du khách tới thăm quan Do vậy, cách thức tổ chức và quản lý đền Đô đã đem lại hiệu quả cụ thể, quảng bá và thu hút ngày càng nhiều hơn du khách tham quan trong và ngoài nước
2.3 Xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị tại khu di tích đền Đô và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
2.3.1 X y d ng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị tại khu di tích đền
Đô
Việc xây dựng các đề án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa đền Đô phải đảm bảo quy hoạch tổng thể lâu dài, bao gồm tu sửa, khôi phục, tạo dựng lại di tích, cảnh quan môi trường văn hóa, vừa phải xây dựng mới cơ sở hạ tầng, các công trình văn hóa mới, các cơ sở dịch vụ, để không những đáp ứng nhu cầu của mọi người tới viếng thăm, tham quan, mà còn phải khai thác và phát triểm tiềm năng văn hóa du lịch và giao lưu trao đổi kinh tế văn hóa, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong những năm qua, nhân dân Đình Bảng đã đóng góp phần lớn tiền của, công sức, đồng thời đã có những biện pháp tổ chức, huy động có hiệu quả sự hảo tâm công đức của nhân dân, du khách thập phương vào việc tu sửa, tôn tạo di tích Qua đó thấy
rõ được vai trò chỉ đạo của các cấp chính quyền và của BQL di tích
Từ năm 2012 - 2017, thị xã Từ Sơn luôn là một trong những đơn vị của tỉnh Bắc Ninh có tốc độ phát triển mạnh mẽ, có nhiều dự án xây dựng, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đặc biệt là phát triển nông thôn với
19 tiêu chí đặt ra của Đảng và Nhà nước Vì vậy, BQL di tích đã coi việc lập quy hoạch tổng thể và bảo tồn khu di tích đã xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt theo quy định tại Luật Di sản văn hóa và Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê
Trang 36duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là việc làm cấp thiết
Hiện nay, khu di tích đã được quy hoạch thành gồm 03 khu vực:
- Khu vực 1 là khu trung tâm gồm đền Đô các vua nhà Lý, nhà văn chỉ, nhà võ chỉ và các công trình kiến trúc được xây dựng thêm bao gồm: Nhà thủy đình, hồ nước, nhà trưng bày bổ sung, các vườn tượng, nhà khách, hội trường, nhà sửa lễ, nhà bếp, nhà vệ sinh
- Khu vực 2 là khu vực bao quanh khu trung tâm đó là khu vực phát triển hệ sinh thái đặc thù tạo không gian cảnh quan cho di tích [PL2; H.25; Tr.76]
- Khu vực 3 là khu vực tiếp giáp với khu dân cư và khu sinh thái cây xanh phục vụ đời sống văn hóa cộng đồng Trong tương lai, khu vực 3 sẽ là nơi diễn ra các sinh hoạt của cộng đồng [PL2; H.26; Tr.76]
Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị đền Đô được Ban quản lý di tích khắc họa rất rõ ràng
- Kế hoạch tổ chức nghiên cứu, khảo sát kiểm kê kiến trúc di tích;
- Lập hồ sơ khoa học cho các hiện vật, đồ thờ trong di tích;
- Kế hoạch tổ chức khảo sát hiện trạng kỹ thuật tại khu di tích tiến tới lập dự án bảo quản, tu bổ và tôn tạo;
- Kế hoạch tuyên truyền quảng bá về hình ảnh của khu di tích;
- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thuyết minh ở khu
Trang 372.3.2 Ban hành các văn ản quy phạm pháp u t
Trong những năm gần đây, lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhiều chủ trương chính sách cùng các văn bản pháp quy về lĩnh vực này được ban hành Xuất phát từ đặc điểm và tình hình thực tế, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành ra một số văn bản phục vụ hoạt động quản
lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng
Ngày 6 tháng 10 năm 2008, UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định 143/2008/QĐ - UBND về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Bắc Ninh Quy chế gốm 5 chương 31 điều, đây là văn bản quan trọng giúp các nhà quản lý di tích có công cụ pháp lý tiến hành các hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh
Ngày 11 tháng 6 năm 2014, UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định
số 242/2014/QĐ - UBND về việc ban hành Quy định về quản lý di tích, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Nội dung của Quy định gồm 5 chương 32 điều, là cơ sở, tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý di tích,
di vật, cổ vật ở Bắc Ninh có nhiều thuận lợi
Ngoài các văn bản trên, tỉnh Bắc Ninh còn bản hành một số các văn bản liên quan đến công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn như: Quyết định 90/2011/QĐ - UBND ngày 4 tháng 8 năm 2011 Quy định chế độ thù lao đối với người trông coi, bảo vệ di tích lịch sử cách mạng Để phù hợp với điều kiện tình hình mới, ngày 22 tháng 8 năm 2014, UBND tỉnh ban hành Quy định chế độ thù lao đối với người trông coi, bảo vệ di tích lịch sử cách mạng xếp hạng Quốc gia và di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu trên địa bàn tỉnh
Để quản lý tốt di tích lịch sử văn hóa, Ban Quản lý di tích tỉnh có những văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cho các Phòng Văn hóa, Thông tin, các Ban Quản lý di tích địa phương như thông báo số 42/HD - BQLDT, ngày 24/4/2012 hướng dẫn một số nội dung về việc xây dựng hồ sơ xếp hạng di
Trang 38tích và tổ chức lễ đón bằng xếp hạng di tích
Những văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh góp phần to lớn vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.4 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích
và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm phát huy giá trị di tích đền
Đô
2.4.1 T ch c tuy n truyền, ph biến, giáo dục pháp u t về di tích
Đây là mục đích của việc bảo vệ, tu sửa và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, là góp phần vào việc nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân và xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nhìn chung, Đảng, chính quyền và nhân dân Đình Bảng đã có nhiều việc làm, nhiều hoạt động phong phú và có hiệu quả trong việc sử dụng, tuyên truyền, phát huy tác dụng của di tích Trong đó, đóng vai trò lớn là các cụ trong Mặt trận Tổ quốc phường, Ban quản lý di tích đền Đô và góp phần không nhỏ là những việc làm và công sức đóng góp của Nhà giáo nhân dân – Anh hùng lao động Nguyễn Đức Thìn
Qua thực tế công tác tổ chức và quản lý di sản văn hóa nói chung và quản lý di tích nói riêng cho thấy, hoạt động tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ DSVH là việc làm có ý nghĩa quan trọng Ngoài việc giáo dục ý thức cho công chúng về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo tồn DSVH được xác định là bảo tồn bản sắc văn hóa tại cộng đồng địa phương và tiếp thu có chọn lọc các yếu tố văn hóa ngoại sinh Tuyên truyền luật pháp và giúp cho người dân hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân
và cộng đồng trong việc bảo vệ DSVH Nắm rõ những mục tiêu, nguyên tắc
đã nêu ra trong Lu t di sản văn hóa, hướng cho người dân làm đúng, không vi
phạm pháp luật
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tư liệu của đền thì thấy việc
Trang 39tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ở khu di tích đền
Đô được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như BQL di tích đã tổ chức lớp tập huấn cho toàn thể thành viên hiện đang công tác tại khu di tích
về nghiệp vụ hướng dẫn, về công tác tổ chức lễ hội, hoạt động bảo tồn, bảo tàng Hay là việc phòng VH TT thị xã Từ Sơn đã tổ chức các lớp tập huấn
nhỏ, phổ biến về Lu t di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung năm 2009 và các văn
bản dưới Luật cho các đối tượng trực tiếp trông coi di tích, các thủ từ trông nom đền Đô để hiểu trách nhiệm và tuân thủ những nguyên tắc đã được nêu ra trong các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước BQL di tích đã cử toàn bộ cán bộ thuyết minh tham gia các lớp tập huấn này để bổ sung kiến thức chuyên môn và kiến thức quản lý về di tích và lễ hội, góp phần phục vụ tốt hơn công việc của các thành viên trong tiểu BQL di tích
BQL di tích đền Đô còn tổ chức giới thiệu, tuyên truyền về pháp luật bảo vệ di tích, tín ngưỡng, lễ hội tại khu di tích qua nhiều kênh thông tin khác nhau như:
Tuyên truyền hàng ngày qua hệ thống Đài Truyền thanh của BQL di tích và hệ thống loa phát thanh của thị xã Từ Sơn, của phường Đình Bảng về công tác quản lý, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa để nâng cao ý thức của cộng đồng Chuyên mục đã giới thiệu về những hoạt động cụ thể như: Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của khu di tích; các giá trị tiêu biểu của khu di tích; các hoạt động tu bổ, phục hồi, tôn tạo trong khu di tích; các hoạt động sai phạm làm ảnh hưởng đến khu di tích trong quá tình tổ chức và quản lý [14; Tr.56] Những thông tin trên giúp cho người dân hiểu rõ hơn về di tích, nhân vật tưởng niệm, tín ngưỡng, lễ hội và hoạt động tổ chức và quản lý tại khu di tích đền Đô, đặc biệt là những quy định về vi phạm pháp luật để họ biết và thực thi ngày càng hoàn thiện hơn trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị tại khu di tích lịch sử gắn với triều đại nhà Lý Nhìn chung, công tác tuyên truyền càng có hiệu quả cao
Trang 40Vào mỗi dịp lễ hội, cộng đồng cư dân tham dự rất đông, vì vậy, BQL di tích đã sử dụng triệt để hệ thống phát thanh/loa đài ở đền Đô để tuyên truyền các nội dung như: giới thiệu di tích và lễ hội; các văn bản pháp luật về DSVH vật thể và DSVH phi vật thể
Tổ chức nói chuyện trong các buổi sinh hoạt tập thể, các chương trình văn nghệ, sau đó đã mở nhiều cuộc vận động tuyên truyền sâu rộng, quán triệt pháp luật về bảo vệ di tích lịch sử văn hóa đến các tổ chức đoàn thể, xã hội như: Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi [PL2; H.27; Tr.77], trong đó Hội Người cao tuổi là tổ chức có vai trò khá quan trọng trong việc tuyên truyền bảo vệ di tích và tổ chức lễ hội Các thành viên của Hội là những người có uy tín trong làng, trong từng gia đình, thường tham gia tích cực vào tổ bảo vệ di tích và tham gia tổ chức lễ hội tại khu di tích Quá trình hoạt động, tuyên truyền đó nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức về giá trị của DSVH Từ đó khơi dậy ý thức trách nhiệm của cộng đồng sinh sống xung quanh khu di tích đối với việc bảo vệ, giữ gìn DSVH của quê hương
Lễ hội đền Đô là một lễ hội lớn không chỉ của thị xã Từ Sơn mà còn là một trong các lễ hội có quy mô lớn của tỉnh Bắc Ninh Do vậy, thị xã rất quan tâm đến việc tổ chức và quản lý lễ hội tại lễ hội này Việc tuyên truyền Luật DSVH và Quy chế tổ chức lễ hội là yêu cầu bắt buộc, hoạt động này được đánh giá là một hình thức tuyên truyền có hiệu quả cao Ý thức của người dân trong việc bảo vệ di tích đã có chuyển biến tốt, nhiều hộ gia đình đã tự giác không bán vàng mã ngay trước cửa đường vào khu di tích; cá nhân và cộng đồng đã có những giám sát và thông báo kịp thời về mọi trường hợp vi phạm tại khu di tích với BQL di tích phường Đình Bảng và thị xã Từ Sơn
Ngoài ra, BQL di tích đền Đô còn phối hợp tổ chức nhiều hoạt động nhằm tuyên truyền các giá trị văn hóa của đền Đô đến với du khách thập phương và nhân dân trong vùng BQL đã cùng với trường THCS Đình Bảng
tổ chức cho học sinh hoạt động “Tìm hiểu Cội nguồn quê hương” [PL2; H.28;