1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện mường khương tỉnh lào cai

87 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU (9)
  • PHẦN 2. NỘI DUNG (14)
  • Chương 1. LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (14)
    • 1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (14)
    • 1.2. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới (16)
      • 1.2.1. Quan điểm của Đảng (16)
      • 1.2.2. Chính sách của Nhà nước (17)
    • 1.3. Vai trò, ý nghĩa của công tác xây dựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (18)
      • 1.3.1. Đối với công tác xây dựng nông thôn mới (18)
      • 1.3.2. Đối với quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (19)
    • 1.4. Đặc trưng, nguyên tắc của xây dựng nông thôn mới (19)
      • 1.4.1. Đặc trưng của xây dựng nông thôn mới (19)
      • 1.4.2. Nguyên tắc của xây dựng nông thôn mới (20)
    • 1.5. Nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới (21)
    • 1.6. Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (24)
      • 1.6.1. Hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách (24)
      • 1.6.2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới (25)
      • 1.6.3. Tổ chức chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới (26)
      • 1.6.4. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực (28)
      • 1.6.5. Tổ chức thực hiện thi đua, khen thưởng (28)
      • 1.6.6. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý (29)
    • 1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (29)
    • 2.1. Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai (34)
      • 2.1.1. Kết quả thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới (34)
      • 2.1.2. Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về huyện nông thôn mới 27 2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai (35)
      • 2.2.1. Sự tham gia của các chủ thể trong xây dựng nông thôn mới (38)
      • 2.2.2. Công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện (40)
      • 2.2.3. Công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn (41)
      • 2.2.4. Công tác phát triển sản xuất, ngành nghề nâng cao thu nhập cho người dân (43)
      • 2.2.5. Đánh giá chung (45)
    • 2.3. Những nhân tố tác động đối với quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai (52)
      • 2.3.1. Điều kiện kinh tế-xã hội, tự nhiên và cơ sở hạ tầng (52)
      • 2.3.2. Nhận thức của người dân (53)
      • 2.3.3. Chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị-xã hội (54)
      • 2.3.4. Ảnh hưởng của các chương trình, dự án (54)
      • 2.3.5. Ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật (54)
      • 2.3.6. Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức (55)
      • 2.3.7. Khả năng về nguồn lực ngân sách nhà nước (55)
  • Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI (34)
    • 3.1. Quan điểm, mục tiêu (57)
      • 3.1.1. Quan điểm (57)
      • 3.1.2. Mục tiêu (58)
      • 3.2.1. Củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý về xây dựng nông thôn mới (59)
      • 3.2.2. Nâng cao đội ngũ cán bộ, công chức tham gia chỉ đạo, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (60)
      • 3.2.3. Đẩy mạnh đổi mới hình thức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (62)
      • 3.2.4. Tăng cường phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, bảo vệ môi trường nông thôn (65)
      • 3.2.5. Tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện (68)
    • 3.3. Kiến nghị đối với huyện Mường Khương (70)
  • PHẦN 3. KẾT LUẬN (72)

Nội dung

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn (NNNDNT) có vị trí và tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNHHĐH); là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội (KTXH) bền vững của nước ta. Ngày 0582008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số: 26NQTW về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Triển khai Nghị quyết số: 26NQTW, Chính phủ và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều văn bản, trong đó có Quyết định số: 1980QĐTTg ngày 17102016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu trí quốc gia về xã nông thôn mới (NTM) giai đoạn 20162020. Trên cơ sở đó, một số văn bản tiếp theo được ban hành như Quyết định số: 193QĐTTg phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Quyết định số: 1600QĐTTg ngày 1682016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20162020; Thông tư số: 052017TTBNNPTNT ngày 0132017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20162020; Thông tư số: 412013BNNPTNT ngày 04102013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Chính vì vậy thực hiện thành công Chương trình sẽ không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội chung trong cả nước. Thời gian qua CTMTQG xây dựng nông thôn mới (XDNTM) trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã được cấp ủy, chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở triển khai nghiêm túc, kịp thời, huy động được cả hệ thống chính trị cơ sở

NỘI DUNG

LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Quản lý nhà nước là thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau Theo nghĩa rộng, nó được định nghĩa là sự chỉ huy và điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Trong khi đó, theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là quá trình tổ chức và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được các mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ trong quản lý nhà nước.

Quản lý nhà nước là một hình thức quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực và sử dụng pháp luật cùng chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Hoạt động này do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.

"Nông thôn" là khái niệm phổ biến với nội hàm phong phú, được định nghĩa trong Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới là khu vực không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, và được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã.

Theo Nghị quyết 26, nông thôn mới được định nghĩa là khu vực nông thôn với hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý và tổ chức sản xuất hiệu quả Điều này bao gồm việc gắn kết nông nghiệp với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp, dịch vụ và đô thị theo quy hoạch Đồng thời, xã hội nông thôn cần ổn định và giàu bản sắc văn hóa dân tộc.

LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Quản lý nhà nước là thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau Theo nghĩa rộng, nó được định nghĩa là sự chỉ huy và điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Trong khi đó, theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là quá trình tổ chức và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được các mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ quản lý nhà nước.

Quản lý nhà nước là một hình thức quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực và sử dụng pháp luật cùng chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân và tổ chức trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý này nhằm phục vụ nhân dân, đồng thời duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.

"Nông thôn" là khái niệm phổ biến với ý nghĩa rộng Theo Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới, nông thôn được định nghĩa là khu vực không nằm trong nội thành hay nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, và được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã.

Nông thôn mới theo Nghị quyết 26 được định nghĩa là khu vực nông thôn với hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý và tổ chức sản xuất hiệu quả Điều này gắn liền với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp, dịch vụ và đô thị theo quy hoạch Ngoài ra, xã hội nông thôn cần ổn định và giàu bản sắc văn hóa dân tộc.

Xây dựng nông thôn mới là khái niệm chưa hoàn thiện, bao gồm những đặc điểm và cấu trúc tạo thành một tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu hiện tại, hướng tới một mô hình nông thôn tiên tiến hơn so với trước đây, với dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, và hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hiện nay, nhiều học giả đang nghiên cứu về nông thôn, nhưng vẫn chưa có khái niệm đầy đủ về "quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới" Thuật ngữ này có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của nhà nước trong việc ban hành quy chế và chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xây dựng nông thôn mới Mục tiêu của quản lý này là góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho từng địa phương và toàn quốc.

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng là sự thực hiện thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong khi nghĩa hẹp tập trung vào hoạt động quản lý của cơ quan hành pháp (Chính phủ) nhằm điều hành XDNTM.

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (NTM) thể hiện sự tác động chủ quan của các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể và cá nhân có trách nhiệm đối với các thành phần tham gia, nhằm đạt được mục tiêu phục vụ nhân dân và phát triển quê hương, đất nước Điều này không chỉ nâng cao nhận thức và tư duy của người dân mà còn góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng.

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là việc nhà nước thực hiện vai trò của mình thông qua hoạch định chiến lược và xây dựng các chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Mục tiêu là tạo ra nông thôn phát triển toàn diện với hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, làng xã văn minh và sạch đẹp Sản xuất nông thôn cần phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Nâng cao dân trí, bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, giữ vững an ninh trật tự và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Căn cứ Nghị quyết số: 26/NQ-TW thì bao gồm các quan điểm sau:

NNNDNT đóng vai trò chiến lược trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh và quốc phòng Đồng thời, NNNDNT còn giúp gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.

Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn (NNNDNT) cần được giải quyết đồng bộ, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu trong công cuộc phát triển quốc gia Trong mối quan hệ chặt chẽ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân đóng vai trò chủ thể trong việc phát triển và xây dựng nông thôn mới, kết hợp với việc phát triển các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và đô thị.

9 theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt

Phát triển nông nghiệp và nông thôn cần dựa vào cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng và lĩnh vực Điều này nhằm giải phóng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, bao gồm lao động, đất đai, rừng và biển Cần khai thác tốt các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, đồng thời phát huy nội lực và tăng cường đầu tư từ nhà nước cũng như xã hội Việc ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao dân trí cho nông dân là rất quan trọng.

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn (NNNDNT) là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội, trong đó cần khơi dậy tinh thần yêu nước và tự lực của nông dân Việc xây dựng một xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận và dân chủ, cùng với đời sống văn hóa phong phú và bản sắc dân tộc, sẽ tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, từ đó nâng cao đời sống của nông dân.

1.2.2 Chính sách của Nhà nước

Phong trào xây dựng nông thôn mới (XDNTM) đã có sự phát triển mạnh mẽ, lan tỏa rộng rãi đến tất cả các địa phương trên cả nước Điều này diễn ra sau khi Chính phủ tổ chức hội nghị toàn quốc về XDNTM và phát động phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới".

Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP vào ngày 28/10/2008, cùng với Quyết định số 193/QĐ-TTg nhằm phê duyệt công trình và rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Đặc biệt, Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 đã phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho giai đoạn 2016-2020, tiếp theo là Quyết định số 1730/QĐ-TTg ngày 05/9/2016 về việc triển khai các hoạt động liên quan.

10 hành kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020

Các bộ ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành nhiều thông tư liên bộ và hướng dẫn triển khai thực hiện các tiêu chí về nông thôn mới Đặc biệt, bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chí cụ thể đã được ban hành, cung cấp hướng dẫn chi tiết cho các địa phương Thông tư liên tịch cũng quy định quy trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

Các địa phương đã thành lập ban chỉ đạo từ cấp tỉnh đến xã để thảo luận và ra Nghị quyết của cấp ủy, xây dựng đề án cụ thể cho việc xây dựng nông thôn mới (XDNTM) Mục tiêu chính là xác định rõ nội dung và yêu cầu của XDNTM, tập trung vào việc chỉ đạo thực hiện quy hoạch nông thôn mới một cách hiệu quả.

Vai trò, ý nghĩa của công tác xây dựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.3.1 Đối với công tác xây dựng nông thôn mới

Nông thôn mới là quá trình phát triển liên tục từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, bắt đầu từ một phong trào và đạt được thành công với danh hiệu Khi trở thành nông thôn mới, địa phương sẽ khởi đầu cho một quá trình phát triển mới.

Nông thôn mới (NTM) được hiểu là sự phát triển, thể hiện sự chuyển mình từ cái cũ đến cái mới, với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống Quá trình này không chỉ dừng lại ở giai đoạn hiện tại mà còn mở ra khả năng tiến bộ hơn trong tương lai, phản ánh sự phát triển liên tục và bền vững của khu vực nông thôn.

Chương trình Nông thôn mới (NTM) là một danh hiệu cao quý dành cho các địa phương đạt được 19 tiêu chí cụ thể Danh hiệu này được trao tặng cho những cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc trong việc xây dựng và phát triển nông thôn, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) là một quá trình phát triển có hệ thống, diễn ra theo từng bước cụ thể Mỗi bước trong quá trình này được thực hiện theo thứ tự, bắt đầu từ bước 1 và tiếp tục đến bước 2, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho nông thôn.

Khi NTM trở thành một phong trào, nó thu hút sự tham gia đông đảo của người dân Sự phát triển nông thôn mới ở một địa phương sẽ kích thích các địa phương khác cùng tham gia, tạo ra một phong trào thi đua sôi nổi giữa các vùng miền.

1.3.2 Đối với quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế NTM ngày càng trở nên thiết thực và hiệu quả, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đồng bộ và có giá trị pháp lý cao, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng NTM cũng được củng cố, góp phần đảm bảo định hướng lớn của Đảng Qua đó, hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng NTM đã trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân và ổn định an ninh xã hội tại nhiều địa phương.

Đặc trưng, nguyên tắc của xây dựng nông thôn mới

1.4.1 Đặc trưng của xây dựng nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM”, đặc trưng của NTM thời kỳ CNH-HĐH, giai đoạn 2010-2020, bao gồm:

- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao

- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy

- An ninh tốt, quản lý dân chủ

- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao [19, 3]

1.4.2 Nguyên tắc của xây dựng nông thôn mới

Trong XDNTM, cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Nội dung XDNTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí về xã NTM theo Quyết định số: 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ

Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là điều quan trọng, trong khi Nhà nước đóng vai trò định hướng và ban hành các chính sách hỗ trợ Cần thiết có cơ chế đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện cho cộng đồng Các hoạt động cụ thể sẽ được người dân ở xóm, xã bàn bạc dân chủ, quyết định và tổ chức thực hiện một cách hiệu quả.

Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia cùng với những chương trình hỗ trợ có mục tiêu, chúng ta cần tích hợp các dự án khác đang được triển khai tại khu vực nông thôn.

Để thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới (CTMTQG NTM), cần gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương Điều này bao gồm việc có quy hoạch cụ thể và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Công khai và minh bạch trong quản lý nguồn lực là rất quan trọng; cần tăng cường phân cấp và trao quyền cho cấp xã trong việc quản lý và thực hiện các dự án của Chương trình Điều này giúp phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, đồng thời thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá.

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội, trong đó cấp ủy đảng và chính quyền giữ vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo và điều hành quy trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch cũng như tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) cũng đóng góp tích cực vào quá trình này.

13 và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM [1].

Nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Chương trình MTQG về XDNTM là một chương trình tổng thể gồm 11 nội dung với 19 tiêu chí sau:

Chương trình MTQG về XDNTM là một chương trình tổng thể gồm 11 nội dung với 19 chỉ tiêu sau:

- Nội dung 1: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Nhằm đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí Quốc gia NTM, bao gồm 2 nội dung, đó là:

+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường là rất quan trọng, bao gồm việc phát triển các khu dân cư mới và cải tạo các khu dân cư hiện có tại xã.

- Nội dung 2: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

Mục tiêu nhằm đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Bao gồm các nội dung:

+ Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã;

+ Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã;

+ Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã;

+ Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã;

+ Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã;

+ Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã;

+ Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ

- Nội dung 3: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

Mục tiêu nhằm đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM, cụ thể:

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;

+ Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;

+ Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;

+ Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;

Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa khu vực này Việc này không chỉ giúp giải quyết việc làm mà còn góp phần chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu lao động nông thôn, tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho cộng đồng.

- Nội dung 4: Giảm nghèo và an sinh xã hội

Mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM bao gồm việc tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo và thực hiện các chương trình an sinh xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đã được triển khai hiệu quả tại 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, nhằm đạt được các tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM).

- Nội dung 5: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

Mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Bao gồm các nội dung:

+ Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

+ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

+ Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

- Nội dung 6: Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Theo đó tiếp tục thực hiện CTMTQG về giáo dục và đào tạo

- Nội dung 7: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM, bằng việc tiếp tục thực hiện CTMTQG trong lĩnh vực về y tế

- Nội dung 8: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

Mục tiêu chính là đáp ứng tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Cụ thể, chúng ta sẽ tiếp tục triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia về văn hóa, đồng thời thực hiện công tác thông tin và truyền thông nông thôn, nhằm đảm bảo các yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.

- Nội dung 9: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Mục tiêu là đạt tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho cư dân, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng, đồng thời thực hiện các yêu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái tại địa phương.

- Nội dung 10: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 Bao gồm các công việc:

+ Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị là cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới Việc này giúp nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển cộng đồng, đồng thời tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và người dân.

Chính sách khuyến khích và thu hút cán bộ trẻ đã qua đào tạo, đáp ứng đủ tiêu chuẩn làm việc tại các xã, đặc biệt là những khu vực sâu, xa và khó khăn, nhằm nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tại những vùng này.

- Nội dung 11: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

Mục tiêu chính là đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM, bao gồm việc ban hành nội quy và quy ước tại các làng xóm nhằm đảm bảo trật tự, an ninh; đồng thời phòng, chống các tệ nạn xã hội và xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.

Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ cùng chính sách là cần thiết để hỗ trợ lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, đáp ứng yêu cầu trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.6.1 Hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách

Hoạch định chiến lược đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, đặc biệt trong xây dựng nông thôn mới (XDNTM) Đây là quá trình mà nhà nước xác định các mục tiêu, nội dung và giải pháp cho Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM, bao gồm các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là bước khởi đầu quan trọng trong nhiệm vụ phát triển nông thôn Nó bao gồm quy hoạch không gian phát triển, sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đồng thời, quy hoạch còn hướng tới phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo tiêu chuẩn mới, cùng với việc phát triển và chỉnh trang các khu dân cư hiện có, bảo tồn bản sắc văn hóa Quy hoạch NTM là điều kiện tiên quyết, tạo cơ sở cho việc đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn.

Để thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM), công tác lập quy hoạch cần được chú trọng đặc biệt Quy hoạch hợp lý giúp tạo sự thống nhất giữa phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng, sử dụng đất, đồng thời gắn liền với quy hoạch phát triển vùng, ngành và địa phương, từ đó trở thành công cụ quản lý XDNTM theo hướng văn minh và hiện đại.

Kế hoạch là công cụ quản lý hiệu quả, được áp dụng rộng rãi trong việc xây dựng nông thôn mới (NTM) tại nhiều địa phương Chương trình Chương trình Mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) xây dựng NTM đã được triển khai trên toàn quốc, mang lại nhiều thành tựu quan trọng và góp phần thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn Việt Nam.

Chính sách xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là một tập hợp các chủ trương và hành động của Chính phủ nhằm thúc đẩy sự phát triển nông thôn Chính sách này tác động đến việc cung cấp các yếu tố đầu vào như đất đai, lao động, vốn và cơ sở hạ tầng Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đến giá đầu vào và đầu ra trong nông thôn, cũng như thay đổi tổ chức, bao gồm cả thị trường đầu vào và đầu ra Cuối cùng, chính sách còn chú trọng vào việc chuyển giao công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.6.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) bao gồm các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền và quy trình nhất định Những văn bản này chứa đựng các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và được Nhà nước đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến XDNTM.

Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là vô cùng cần thiết, nhằm thể chế hóa và đảm bảo thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách đã đề ra.

Thông qua hệ thống văn bản NTM, nhà nước có khả năng điều chỉnh các vấn đề thực tiễn trong công tác xây dựng nông thôn mới, đồng thời cập nhật và điều chỉnh kịp thời để phù hợp với tình hình và yêu cầu mới, từ đó nâng cao hiệu lực quản lý và điều hành.

Đảng và Nhà nước đã chú trọng xây dựng hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến xây dựng nông thôn mới (XDNTM) để hướng dẫn các địa phương thực hiện Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia đã được triển khai, tập trung chủ yếu vào khu vực nông thôn, bao gồm các chương trình như ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, kiên cố hóa kênh mương, phát triển điện nông thôn và xóa đói giảm nghèo.

1.6.3 Tổ chức chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới a Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa là con đường tất yếu để Việt Nam thoát khỏi tình trạng lạc hậu và trở thành quốc gia văn minh, hiện đại Để đạt được mục tiêu này, cần tăng tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ trong GDP, đồng thời giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Các giải pháp bao gồm: nâng cao tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, chuyển sang sản xuất sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao, cải thiện chất lượng chăn nuôi, xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung và điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông nghiệp phù hợp với lợi thế tự nhiên và kinh tế của từng vùng.

Để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cần tăng cường trồng trọt và chăn nuôi, đồng thời phát triển dịch vụ đi kèm Việc áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, vào sản xuất là rất quan trọng Cần xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao và khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào ngành công nghiệp bảo quản và chế biến nông, lâm, thủy sản Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn cũng cần được tăng cường để hỗ trợ phát triển bền vững.

Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng là động lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) và là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội cũng như tăng trưởng kinh tế bền vững Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, cần tập trung vào việc phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng nông thôn, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn hiện nay là thiếu vốn đầu tư từ Nhà nước, trong khi cần tăng tỷ lệ đầu tư cho phát triển hạ tầng nông thôn một cách đồng bộ và hiệu quả Do đó, cần khuyến khích các thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng nông thôn, đồng thời đổi mới cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng.

Chính sách thu hồi đất và đấu giá quyền sử dụng đất cần được áp dụng hợp lý để tạo nguồn vốn hỗ trợ cho xây dựng hạ tầng Đồng thời, quản lý các vấn đề xã hội, an ninh và trật tự tại khu vực nông thôn là rất quan trọng Điều này bao gồm việc phát triển giáo dục và đào tạo với chất lượng toàn diện, chú trọng đến công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân thông qua Bảo hiểm y tế toàn dân, thực hiện các tiêu chí về văn hóa xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường và xây dựng một cộng đồng bền vững.

20 môi trường nông thôn ổn định về chính trị, an toàn về trật tự xã hội; tạo thuận lợi cho KT-XH địa phương phát triển ổn định

1.6.4 Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực Đây là nội dung quan trọng để huy động, sử dụng nguồn lực vật chất và tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể trong XDNTM Việc xác định nguồn lực và cơ chế huy động nguồn lực tài chính cho XDNTM đòi hỏi phải bao quát tương đối đầy đủ các nguồn lực trong xã hội Các hình thức và chính sách huy động phải đa dạng, linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả huy động Đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực có hạn, nhu cầu vốn để thực hiện rất lớn, do vậy, nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư thông qua các chính sách huy động nguồn lực và lồng ghép các nguồn vốn là yêu cầu cấp thiết Do vậy, đòi hỏi trong quản lý nhà nước về XDNTM phải có cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn thông qua: Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn lực của địa phương Kêu gọi sự đóng góp của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác [16]

1.6.5 Tổ chức thực hiện thi đua, khen thưởng

Thực hiện Quyết định số: 1730/QĐ-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Quá trình xây dựng nông thôn mới thường bị ảnh hưởng bởi các nhân tố đó là:

Điều kiện tự nhiên là một yếu tố đặc thù cần được chú trọng trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) Những đặc điểm như địa hình (miền núi, đồng bằng, đô thị), tài nguyên và địa thế đặc biệt, cũng như điều kiện xã hội thuận lợi cho phát triển du lịch và công nghiệp, tạo ra những đối tượng quản lý đặc thù Việc nhận diện và khai thác những yếu tố này sẽ giúp xây dựng các nội dung quản lý phù hợp hơn cho từng địa phương.

Điều kiện kinh tế và xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý xây dựng nông thôn mới (XDNTM) Sự đa dạng xã hội dẫn đến khác biệt về nhu cầu và sở thích đối với hàng hóa dịch vụ công, do ảnh hưởng từ mức thu nhập, văn hóa, xã hội và chủng tộc Những yếu tố như dân tộc, tôn giáo, trình độ dân trí và tình hình chính trị cũng góp phần tạo ra sự khác biệt này Khi có sự khác biệt, việc quản lý XDNTM cần phải phù hợp để đạt hiệu quả cao hơn, cho thấy rằng yếu tố kinh tế và xã hội có tác động lớn đến quản lý XDNTM tại địa phương.

Bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các chính sách và hoạt động liên quan đến khu vực nông thôn Việc XDNTM là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó chính quyền các cấp giữ vai trò quyết định Tổ chức bộ máy quản lý phù hợp không chỉ nâng cao chất lượng quản lý mà còn hạn chế sai phạm Quy trình quản lý khoa học và rõ ràng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả XDNTM tại địa phương.

Thứ tư, cơ chế chính sách và pháp luật của Nhà nước đối với vấn đề

Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới (XDNTM) Hệ thống pháp luật và các chính sách liên quan có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý XDNTM tại địa phương Môi trường pháp lý cần được xây dựng một cách khoa học và kịp thời để nâng cao tính chặt chẽ và hiệu quả trong quản lý XDNTM Việc phân công rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, địa phương là cần thiết để tránh lãng phí nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Sự tôn trọng và thể chế hóa trách nhiệm thành Luật sẽ giúp các cá nhân và cơ quan hiểu rõ phạm vi công việc của mình, từ đó tạo điều kiện cho quá trình quản lý diễn ra suôn sẻ, minh bạch và trách nhiệm giải trình cao, góp phần nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước về XDNTM.

Năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cơ sở, đặc biệt là trưởng BCĐ trong xây dựng nông thôn mới (XDNTM), đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước Năng lực này bao gồm việc đề ra chiến lược hiệu quả, xây dựng kế hoạch triển khai rõ ràng và hợp lý, cũng như tạo ra cơ cấu tổ chức hiệu quả với sự phân định trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng giữa các cá nhân và bộ phận Quản lý tốt không chỉ ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước chung mà còn đặc biệt quan trọng đối với XDNTM ở từng địa phương.

Việc quản lý xây dựng nông thôn mới (XDNTM) sẽ không hiệu quả nếu 24 người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý và các chiến lược không phù hợp với thực tế Điều này dễ dẫn đến tình trạng hình thức, phân bổ nguồn lực không hợp lý, gây thất thoát và lãng phí ngân sách Hệ quả là không thể thúc đẩy sự phát triển và thay đổi của nông thôn, cũng như không đảm bảo các vấn đề sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Khả năng về nguồn lực ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2016-2020 cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới phụ thuộc vào việc phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho các bộ, ngành và địa phương, tuân thủ quy định của Luật đầu tư công và Luật ngân sách nhà nước Kế hoạch thu ngân sách được xây dựng dựa trên thực tế thu ngân sách các năm trước và dự báo tăng thu trong năm, do đó chi ngân sách cho xây dựng nông thôn mới không được vượt quá thu ngân sách dành cho đầu tư Các địa phương có nguồn thu lớn có thể chủ động lập dự toán chi ngân sách, trong khi các xã đặc biệt khó khăn và xã nghèo vẫn phụ thuộc vào ngân sách trung ương để đầu tư cơ sở hạ tầng.

Bài viết này trình bày các lý luận quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, nhấn mạnh tầm quan trọng của các đối tượng được phân tích Đồng thời, tác giả khái quát các nội dung liên quan đến công tác xây dựng nông thôn mới, cung cấp cơ sở quý giá cho nghiên cứu và phát triển đề tài tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai Ở chương tiếp theo, tác giả sẽ thực hiện khảo sát thực tế về tình hình quản lý nhà nước trong giai đoạn 2010-2015 và 2016-2020, chỉ ra những khó khăn và thuận lợi trong công tác này, đồng thời tận dụng cơ hội để vượt qua thách thức, từ đó nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới, đáp ứng nguyện vọng của người dân.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

2.1.1 Kết quả thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới

Theo Báo cáo Tổng kết thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018 của BCĐ huyện Mường Khương, sự lãnh đạo quyết liệt của cấp ủy Đảng và chính quyền từ huyện đến cơ sở, cùng với sự đồng thuận của nhân dân, đã góp phần quan trọng vào thành công của chương trình Sự quan tâm của Tỉnh ủy, các sở, ngành, đoàn thể, cùng với sự ủng hộ từ doanh nghiệp và cá nhân, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng nông thôn mới trong huyện.

Trong năm 2017, huyện đã cải tạo gần 90 km đường giao thông nông thôn và xây dựng hàng trăm công trình như nhà vệ sinh, chuồng nuôi nhốt gia súc, cùng 26 nhà văn hóa thôn Các tổ chức và cá nhân đã ủng hộ 3.750 triệu đồng tiền mặt, hiến 12.720 m² đất và đóng góp 8.585 công lao động, góp phần nâng tổng số tiêu chí nông thôn mới hoàn thành lên 25 tiêu chí, đạt 173/304 lượt tiêu chí, trung bình 10,8 tiêu chí/xã Huyện đã hoàn thành 3/5 thôn kiểu mẫu, duy trì 3 xã đạt chuẩn NTM, trong đó có 3 xã đạt 19 tiêu chí (Bản Lầu, Bản Xen, Lùng Vai), 3 xã đạt từ 11-16 tiêu chí (Thanh Bình, thị trấn Mường Khương, Pha Long) và 10 xã đạt từ 7-9 tiêu chí (Nậm Chảy, Tung Trung Phố, Tả Ngài Chồ, Dìn Chin, Tả Gia Khâu, Nấm Lư, Lùng Khấu Nhin, Cao Sơn, La Pan Tẩn, Tả Thàng).

Hạ tầng thiết yếu được đầu tư mạnh mẽ, với hơn 90% đường giao thông nông thôn được cứng hóa và hệ thống thủy lợi, kênh mương được nâng cấp, kiên cố hóa Hệ thống điện lưới và viễn thông đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Mạng lưới chợ được nâng cấp, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và kinh doanh Công tác bảo vệ môi trường có nhiều chuyển biến tích cực Giáo dục và đào tạo được chú trọng, tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 99%, với hơn 80% học sinh tiếp tục học lên Phong trào xây dựng gia đình văn hóa và thôn văn hóa phát triển mạnh, với 127/209 thôn đạt tiêu chuẩn văn hóa Y tế và chăm sóc sức khỏe cũng được quan tâm, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 99% Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 25%, và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 37,36% An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được duy trì ổn định, với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đạt kết quả tốt Hệ thống chính trị vững mạnh, hoạt động hiệu quả, và công tác thi đua khen thưởng trong xây dựng nông thôn mới được chú trọng thực hiện.

2.1.2 Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về huyện nông thôn mới

Theo đó, từ giai đoạn 2010-2015 đến nay, BCĐ đã nghiêm túc chỉ đạo các chính quyền XDNTM và kết quả như sau:

- Về Quy hoạch (TC số 1): Chưa đạt, trong đó:

+ Quy hoạch chung: Đã có quy hoạch chung của toàn huyện Tuy nhiên, thị trấn Mường Khương và xã Bản Xen chưa quy hoạch chi tiết 3 điểm dân cư

Quy hoạch chi tiết trung tâm huyện đang trong giai đoạn xây dựng, với dự kiến mở rộng từ thôn Xóm Chợ 2 đến ngã ba Na Đẩy và thôn Dê Chú Thàng, đồng thời đã hoàn thiện Hồ Mường Khương.

+ Quy hoạch 01 điểm dân cư tập trung chưa xây dựng quy hoạch chi tiết (Dự kiến thôn Phố Cũ 2)

Về giao thông, huyện hiện chưa đạt yêu cầu với 6/16 xã và thị trấn chưa hoàn thành tiêu chí Các xã chưa đạt bao gồm Thanh Bình, Tung Trung Phố, Tả Ngài Chồ, Nấm Lư, Cao Sơn và La Pan Tẩn.

- Về Thủy lợi (TC số 3): Đạt

Toàn huyện đã kiên cố hóa 395 km kênh mương trong tổng số 553 km, đạt tỷ lệ 72% Các công trình này được bảo dưỡng thường xuyên, đảm bảo khả năng tưới tiêu cho 90% diện tích canh tác lúa nước Tất cả 16 xã, thị trấn trong huyện đều đạt tiêu chí 100%.

- Về Điện (TC số 4): Chưa đạt Nguyên nhân: Tại xã Nấm Lư còn 4 thôn chưa có điện lưới quốc gia, mục tiêu là trong năm 2018 hoàn thiện [18]

- Về Y tế - Văn hóa - Giáo dục (TC số 5): Chưa đạt: Nguyên nhân: Các

Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện hiện chưa đạt tiêu chuẩn, dẫn đến các hoạt động văn hóa và thể thao kết nối với các xã chưa hiệu quả và chủ yếu mang tính hình thức Tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn chỉ khoảng 20%.

Sản xuất nông nghiệp tại huyện vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn, mặc dù đã thực hiện nhiều giải pháp chuyển dịch cơ cấu sản xuất Tỷ lệ hộ nghèo hiện tại là 37,36%, với 4.937 hộ nghèo trong tổng số 13.213 hộ, trong khi đó, số hộ cận nghèo chiếm 18% với 2.452 hộ.

- Về Môi trường (TC số 7): Chưa đạt Nguyên nhân: nhiều xã trên địa bàn chưa đạt TC này: Pha Long, La Pan Tẩn, Cao Sơn, [7], [9], [15]

- Về An ninh, trật tự xã hội (TC số 8): Chưa đạt Nguyên nhân: xã

Lùng Khấu Nhin chưa đạt TC này Mục tiêu hoàn thiện trong năm 2018

Ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Mường Khương đã được kiện toàn và hoạt động theo đúng quy định, đảm bảo hiệu quả trong việc thực hiện chỉ đạo xây dựng NTM.

Qua khảo sát đánh giá sự hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới tại huyện Mường Khương, cho thấy đa số người dân có đánh giá tích cực về 17 nội dung công tác Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề người dân chưa hài lòng, đặc biệt là trong các lĩnh vực quy hoạch, môi trường, an ninh trật tự, cải cách thủ tục hành chính, và công tác tuyên truyền Trong đó, quy hoạch và môi trường là hai vấn đề được nhấn mạnh nhiều nhất Bên cạnh đó, người dân đánh giá cao các tiêu chí như chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe, và sự tham gia ý kiến của họ trong việc triển khai các công trình phục vụ đời sống Đặc biệt, công tác nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe được huyện quan tâm, phù hợp với quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước.

Đảng bộ và nhân dân huyện luôn đoàn kết, tích cực tham gia các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới Trong những năm tới, Ban Chỉ đạo huyện sẽ nỗ lực phấn đấu để đạt tiêu chí "huyện đạt chuẩn nông thôn mới".

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

2.2.1 Sự tham gia của các chủ thể trong xây dựng nông thôn mới a Sự tham gia của người dân về chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mường Khương

Sự tham gia đóng góp và ủng hộ của người dân là yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo sự thành công của Chương trình xây dựng NTM

Bảng 2.1 trình bày kết quả điều tra về sự tham gia của các hộ gia đình vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai Kết quả cho thấy mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động này, phản ánh sự quan tâm và trách nhiệm của cộng đồng đối với sự phát triển nông thôn.

1 Thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Quản lý XDNTM ở các xã 200 95 5

2 Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn 200 90 10

Đề xuất ý kiến cho đề án xây dựng NTM bao gồm việc lựa chọn những công việc ưu tiên thực hiện trước và quyết định mức độ đóng góp cho các công trình công cộng.

5 Giám sát đánh giá tình hình thực hiện các công trình xây dựng 200 85 15

(Nguồn: Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM và GNBV huyện Mường Khương)

Sự tham gia của hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Mường Khương chiếm ưu thế, thể hiện qua phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm và kiểm tra" Công tác tuyên truyền đã nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về mục đích của Chương trình, với nội lực cộng đồng là yếu tố chủ chốt Tuy nhiên, hoạt động lựa chọn ưu tiên công việc của Ban Chỉ đạo vẫn chưa được người dân đánh giá cao, cần có sự thay đổi trong tương lai Để thành công trong xây dựng nông thôn mới, cán bộ xã và cán bộ thôn cần tích cực tuyên truyền, vận động người dân tham gia lao động sản xuất và phát triển kinh tế, điều này đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu triển khai Chương trình.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

Ngày đăng: 30/05/2021, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. UBND xã Pha Long (2017), Báo cáo số: 448/BC-UBND ngày 29/11/2017 của UBND xã Pha Long về Kết quả thực hiện các tiêu chí“Thôn nông thôn mới” năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thôn nông thôn mới
Tác giả: UBND xã Pha Long
Năm: 2017
17. Nguyễn Văn Tuấn (2012), Vấn đề phát huy sự tham gia của người dân cho Chương trình xây dựng NTM - Bài học kinh nghiệm từ thí điểm Thụy Hương (Chương Mỹ, Hà Nội), Tạp chí khoa học và lâm nghiệp, số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học và lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 2012
18. Hồng Minh (2016), Xây dựng nông thôn mới ở Lào Cai, Công báo Lào CaiTài liệu, sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công báo Lào Cai
Tác giả: Hồng Minh
Năm: 2016
20. Lý Thị Bé Luyễn (2015), Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Lý Thị Bé Luyễn
Năm: 2015
21. Nguyễn Hữu Hải (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Học viện hành chính quốc gia.Các website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2010
1. Ban Chấp hành Trung ương (2008), Nghị quyết số: 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
3. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số: 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu trí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Khác
4. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số: 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Khác
5. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số: 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ về về việc ban hành tiêu chí huyện nông thôn mới và quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.Văn bản hành chính thông thường Khác
6. Ban Chỉ đạo Chương trình XDNTM&GNBV huyện Mường Khương (2017), Báo cáo số: 15/BC-BCĐ ngày 04/01/2018 của Ban Chỉ đạo về Tổng kết thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2017, phương hướng nhiệm vụ năm 2018 của BCĐ xây dựng NTM huyện Mường Khương Khác
8. UBND xã Bản Lầu (2017), Báo cáo số: 36/BC-UBND ngày 27/12/2017 của UBND xã Bản Lầu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2017, những nhiệm vụ chủ yếu năm 2018 Khác
9. UBND xã La Pan Tẩn (2017), Báo cáo số: 21/BC-UBND ngày 02 tháng 01 năm 2018 của UBND xã La Pan Tẩn về việc đánh giá công nhận tiêu chí xã NTM hoàn thành năm 2017 Khác
10. UBND xã Lùng Vai (2015), Báo cáo số: 15/BC-UBND ngày 05/01/2015 của UBND xã Lùng Vai về Kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015 Khác
11. UBND xã Thanh Bình (2016), Báo cáo số: 11/BC-UBND ngày 07/01/2016 của UBND xã Thanh Bình tổng kết Kết quả thực hiện xây dựng Nông thôn mới 7 tháng đầu năm 2016, triển khai nhiệm vụ 5 tháng cuối năm Khác
12. UBND xã Nấm Lư (2015), Báo cáo số: 14/BC-UBND ngày 21/11/2015 của UBND xã Nấm Lư về Kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và Kế hoạch thực hiện Chương trình giai đoạn 2016-2020 Khác
13. UBND xã Tả Gia Khâu (2017), Báo cáo số: 22/BC-UBND ngày 28/12/2017 của UBND xã Tả Gia Khâu Kết quả thực hiện tiêu chí xã nông thôn mới đến hết năm 2017 Khác
14. UBND xã Dìn Chin (2017), Báo cáo số: 08/BC-UBND ngày 20/12/2017 của UBND xã Dìn Chin về Kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 Khác
15. UBND xã Cao Sơn (2017), Báo cáo số: 19/BC-UBND ngày 11/12/2017 của UBND xã Cao Sơn tổng kết thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới năm 2017, nhiệm vụ năm 2018.Tạp chí Khác
16. Đoàn Phạm Hà Trang (2011), Xây dựng nông thôn mới: Vấn đề quy hoạch và huy động các nguồn tài chính, Tạp chí cộng sản Khác
19. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2017), Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới cấp xã Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm