Văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là nguồn lực sáng tạo, trí tuệ tài năng và đạo đức của mỗi con ngƣời, là trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại. Lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Nhờ có nền tảng văn hoá nên nhân dân ta đã xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo để chinh phục đƣợc thiên tai và bảo vệ độc lập của đất nƣớc, bảo tồn nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay trong bối cảnh của công nghiệp hoá và hiện đại hoá, quá trình hội nhập và phát triển. Một mặt phát triển kinh tế của đất nƣớc, đời sống nhân dân ngày càng đƣợc cải thiện. Nhƣng bên cạnh đó nền văn hoá dân tộc có nguy cơ ngày một bị mai một. Chính vì vậy quản lý nhà nƣớc về văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hoá của dân tộc. Vì quản lý nhà nƣớc về văn hoá góp phần định hƣớng, điều chỉnh sự phát triển của văn hoá quốc gia theo mục tiêu chung, giúp thực hiện hoá các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Đƣợc mệnh danh là một Việt Nam thu nhỏ, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh hội tụ đƣợc nền văn hoá của các vùng miền. Điều này vừa tạo nên sự đa dạng và phong phú của nền văn hoá nhƣng cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nƣớc về văn hoá. Chính vì vậy đã ảnh hƣởng nhiều đến việc bảo tồn và phát huy nền văn hoá giàu bản sắc trên địa bàn thị xã. Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá tại Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài khoá luận của mình. Qua khoá luận tìm hiểu về thực trạng quản lý nhà nƣớc về văn hoá của Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh từ đó
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ VĂN HOÁ TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Người hướng dẫn : THS GIANG THỊ NGỌC
Sinh viên thực hiện : NGÔ THỊ HƯƠNG LAN
Mã số sinh viên : 1405QLNA034
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khoá luận” Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá tại Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” là nghiên cứu của tôi thực hiện trong suốt thời gian qua
Tôi xin chịu trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin trong khoá luận này
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình khảo sát, thu thập tài liệu và xử lý thông tin để thực
hiện khoá luận” Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá tại
Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” tôi đã nhận nhiều
sự giúp đỡ từ thầy cô và một số cán bộ, công chức làm việc tại Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Nhân đây tôi xin cảm
ơn đến các thầy cô, đặc biệt là cô Giang Thị Ngọc bởi cô là người hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này
Mặc dù rất cố gắng và tâm huyết với khoá luận này nhưng với thời gian nghiên cứu còn ngắn và trình độ nghiên cứu còn hạn hẹp với những hiểu biết còn mang tính lý thuyết nên không thể tránh khỏi những sơ xuất và thiếu sót
Vì thế tôi rất mong nhận được lời đóng góp quý báu của các thầy các cô để tôi hoàn thành tốt hơn trong những nghiên cứu sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Giải thích chữ viết tắt
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục tiêu nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của khóa luận 4
8 Bố cục 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HOÁ 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Văn hóa 6
1.1.2 Quản lý nhà nước về văn hóa 7
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa 8
1.3 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về văn hóa 9
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa 10
1.4.1 Định hướng của Đảng và chính sách Nhà nước về công tác quản lý nhà nước về văn hóa 10
1.4.1.1 Định hướng của Đảng về công tác quản lý nhà nước về văn hoá 10
1.4.1.2 Hệ thống chính sách về quản lý nhà nước về văn hoá 12
1.4.2 Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa 15
1.4.4 Huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực để thực hiện công tác quản lý nhà nước về văn hóa 18
1.4.5 Hợp tác quốc tế về văn hóa 18
1.5 Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa 19
1.6 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hoá 21
Trang 6Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ VĂN HOÁ CỦA PHÕNG VĂN HOÁ VÀ THÔNG TIN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 24
2.1 Khái quát chung về thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 24
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 24
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
2.1.3 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng 25
2.2 Khái quát về UBND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 25
2.2.1 Các phòng, ban chức năng 25
2.2.2 Các đơn vị hành chính 27
2.3 Khái quát chung về phòng Văn hoá và Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 27
2.3.1 Trụ sở của Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 27
2.3.2 Địa vị pháp lý 27
2.3.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn 28
2.3.1.1 Chức năng 28
2.3.1.1 Nhiệm vụ và quyền hạn 28
2.3.1.2 Chế độ hội họp 31
2.3.1.3 Quản lý tài chính, tài sản 32
2.4 Chỉ đạo của tỉnh Quảng Ninh, thị xã Quảng Yên về công tác quản lý nhà nước về văn hóa 33
2.5 Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 34
2.5.1 Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa của thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 34
1.2.5.1 Bộ máy 34
2.5.1.2 Cơ cấu tổ chức và phân công nhiệm vụ 34
2.5.1.3 Chất lượng của nguồn nhân sự 36
Trang 72.5.2 Việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về văn hoá của thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 37
2.6 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa của Phòng Văn hóa Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 38
2.6.1 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa đối với hoạt động lễ hội của phòng Văn hoá và Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 38
2.6.1.1 Giới thiệu các lễ hội ở thị xã Quảng Yên 38
2.6.1.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hoá với hoạt động lễ hội của Phòng VH & TT thị xã Quảng Yên 40
2.6.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa đối với hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của phòng Văn hoá và Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 41
2.6.2.1 Giới thiệu về đời sống văn hoá cơ sở 41
2.6.2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hoá với hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Phòng VH& TT thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 43
2.6.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa đối với hoạt động tuyên truyền, văn hoá, văn nghệ của phòng Văn hoá và Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 45
Tiếu kết Chương 2 48
Chương 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HOÁ CỦA PHÕNG VĂN HOÁ VÀ THÔNG TIN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 49
3.1 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về về văn hóa thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 49
3.1.1 Những kết quả đạt được 49
3.1.2 Những yếu kém, hạn chế 51
3.1.3 Nguyên nhân 53
Trang 83.2 Một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý nhà nước về văn hoá đối với thị xã Quảng Yên, tỉnh 54
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và Uỷ ban nhân dân thị xã trong nâng cao chất lượng của Phòng 54
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước văn hóa 55
3.2.3 Hoàn thiện cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng Phòng Văn hóa và Thông tin 55
3.3.4 Xây dựng và hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cho công chức làm việc tại Phòng 56
3.3.5 Tăng cường công tác thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động văn hóa 57
3.3.6 Phát huy vai trò của cộng đồng, tăng cường tính tự quản 58
3.3.7 Tăng cường công tác mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa 59
3.3 Đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của Phòng Văn hoá và Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 59
3.3.1 Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên 59
3.3.2 Đối với Phòng Văn hoá và Thông tin 60
3.3.3 Đối với người dân 61
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là nguồn lực sáng tạo, trí tuệ tài năng và đạo đức của mỗi con người, là trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Nhờ có nền tảng văn hoá nên nhân dân ta đã xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo để chinh phục được thiên tai
và bảo vệ độc lập của đất nước, bảo tồn nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Ngày nay trong bối cảnh của công nghiệp hoá và hiện đại hoá, quá trình hội nhập và phát triển Một mặt phát triển kinh tế của đất nước, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Nhưng bên cạnh đó nền văn hoá dân tộc có nguy cơ ngày một bị mai một Chính vì vậy quản lý nhà nước
về văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hoá của dân tộc Vì quản lý nhà nước về văn hoá góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hoá quốc gia theo mục tiêu chung,
giúp thực hiện hoá các chính sách của Đảng và Nhà nước
Được mệnh danh là một Việt Nam thu nhỏ, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh hội tụ được nền văn hoá của các vùng miền Điều này vừa tạo nên sự đa dạng và phong phú của nền văn hoá nhưng cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về văn hoá Chính vì vậy đã ảnh hưởng nhiều đến việc bảo tồn và phát huy nền văn hoá giàu bản sắc trên địa bàn thị xã Với những lý do trên, tôi quyết
định chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá tại
Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài khoá
luận của mình Qua khoá luận tìm hiểu về thực trạng quản lý nhà nước về văn hoá của Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh từ đó
Trang 10đưa ra một số kiến nghị để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về văn hoá của Uỷ ban
2 Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây có rất nhiều cuốn sách, bài báo hay những
đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu cũng như khoá luận tốt nghiệp về thực trạng và đề cập một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hoá Có thể kể đến những công trình nghiên cứu như sau:
- “Quản lý hoạt động văn hóa” Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Hy, Hoàng
Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên (1998), Nxb Văn hóa – Thông tin,
Hà Nội Nhóm tác giả đã nêu những vấn đề chủ yếu về quản lý văn hoá như: Các chính sách quản lý văn hoá, quản lý hoạt động văn hóa, nội dung quản lý hoạt động văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay
- “ Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn
hóa ở Việt Nam” , Nguyễn Văn Tình (2009), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
Trong tác phẩm đã đề cập đến những khái niệm về văn hóa, quản lý văn hoá
và quản lý nhà nước về văn hóa Bên cạnh đó, tác phẩm còn giới thiệu những chính sách về văn hóa của các quốc gia trên thế giới, tình hình xây dựng và hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý Nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái
Nguyên” của Bùi Quốc Chiều (2011), Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà
Nội Qua luận văn đã nêu ra được thực trạng công tác quản lý nhà nước trên địa bàn và đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước trên địa bàn
- Luận văn thạc sĩ “ Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện
Từ Liêm, thành phố Hà Nội” của Trần Thị An (2012), Trường Đại học Văn
hóa Hà Nội, Hà Nội Qua luận văn đã tìm hiểu về công tác quản lý nhà nước
về văn hoá trên địa bàn huyện, từ đó tìm hiểu thực tragnj cũng như đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý văn hoá của huyện nói riêng
Trang 11cũng như thành phố Hà Nội nói chung
Qua các tài liệu trên sẽ góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về văn hóa Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn tồn tại một khoảng trống trong vấn đề nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hoá Đặc biệt, từ góc độ của khoa học pháp lý, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và xuất phát từ thực tiễn
về yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá Bên cạnh đó trên đó, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quản lý văn hoá trên địa bàn Đây cũng chính là
một trong những lý do để tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá tại Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ” nhằm cung cấp tư liệu thực tế cho hoạt động nghiên cứu về công tác
quản lý nhà nước về văn hoá ở thị xã nói chung và phòng Văn hoá và Thông tin thị xã nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý nhà nước
về văn hoá tại Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu trên địa
bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước trong năm 2016 - 2017
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, nhận xét đánh giá về thực trạng quản lý Nhà nước về văn hoá của Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh năm 2016 - 2017, từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước về văn hoá tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về văn hóa
- Đánh giá kết quả quản lý nhà nước về văn hoá tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về về văn hoá tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về văn hoá tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập phân tích tài liệu
Phương pháp tổng hợp tài liệu
Phương pháp khảo sát thực địa: Qua quá trình kiến tập tại Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, tôi đã tìm hiểu hoạt động của Phòng đánh giá sơ bộ thực trạng công tác quản lý văn hoá của Phòng
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của cán bộ làm việc tại Phòng Văn hoá và Thông tin thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
7 Những đóng góp của khóa luận
Sau khi khoá luận hoàn thiện sẽ có những đóng góp sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về quản lý nhà nước về văn hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Qua tìm hiểu thực trạng, tiến hành phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong thực hiên công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Từ những đánh giá trên, đề xuất một số giải pháp đề xuất nhằm nâng
Trang 13cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu khác về về văn hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh…
8 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục
khoá luận chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của công tác quản lý nhà nước về văn hoá Chương 2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hoá của Phòng Văn hoá và Thông tin Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hoá của Phòng Văn hoá và Thông tin, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HOÁ 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về văn hoá Trong Tiếng Việt,văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng,thì văn hóa bao gồm tất cả,từ những sản phẩm tinh vi,hiện đại,cho đến tín ngưỡng,phong tục,lối sống
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản
Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra quan niệm về văn hóa:” Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử -văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội”
Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thì định nghĩa về văn hoá ’’Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Trang 151.1.2 Quản lý nhà nước về văn hóa
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng thực chất của quản lý nhà nước về văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành của nhà nước, mục đích là làm cho văn hóa phát triển theo hướng vì sự phát triển bền vững của con người và xã hội Vậy có thể hiểu: Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta được thực hiện thông qua ba cơ quan trong bộ máy nhà nước: Cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp và cơ quan hành pháp Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về văn hóa được thể hiện trong hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành các hoạt động văn hóa, được thể hiện bởi hệ thống bộ máy các
cơ quan hành pháp
Quản lý văn hóa là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân.)
Quản lý nhà nước về văn hóa là việc thông qua những giải pháp về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch của nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần, quản lý những hoạt động văn hóa, tạo thành các giá trị văn hóa mới và quản lý con người, nhằm đưa văn hóa phát triển đúng hướng theo chủ trương của Đảng, mặt khác đảm bảo quyền tự do, dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa, xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc
Trang 16Như vậy hoạt quản lý nhà nước về văn hoá chính là sự quản lý của các cơ quan có nhiệm vụ về quản lý văn hoá nhằm xây dựng và phát triển văn hoá của đất nước theo một mục tiêu nhất định
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng và Nhà nước đã có những quan điểm mới về vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý văn hóa trên địa bàn thị xã Quảng Yên đòi hỏi các cấp, các ngành phải quán triệt quan điểm của Đảng về sự gắn kết giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế, phát triển con người và xã hội trong giai đoạn mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Qua mỗi kì đại hội, Đảng đưa ra những quan điểm để định hướng xây dựng và phát triển văn hoá Đây là cơ sở quan trọng để định hướng công tác quản lý văn hoá đạt hiệu quả cao
Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã đưa ra 5 quan điểm về xây dựng và phát triển văn hoá
1 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh
tế, chính trị, xã hội
2 Trong bối cảnh hội nhấp quốc tế đòi hỏi nước ta phải xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
3 Phát triển văn hóa chính là sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Xây dựng và phát triển văn hoá chính là xây dựng và phát triển con người Để thực hiện điều này cần chăm
lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo
4 Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Gia đình và cộng đồng góp một vai trò quan trọng
Trang 17trong xây dựng môi trường văn hoá Bên cạnh đó cần phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa
5 Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
1.3 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về văn hóa
Văn hoá Việt Nam là toàn bộ sáng tạo của con người tích lũy lại trong hơn bốn nghìn năm văn hiến và những thăng trầm của lịch sử để hình thành lên giá trị và chuẩn mực xã hội, được biểu hiện thông qua kho tàng văn hoá đồ sộ Chúng ta luôn luôn tự hào về nền văn hóa Việt Nam được xây dựng bằng trí tuệ và tâm hồn biết bao thế hệ, tự hào về truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, quật cường, tinh thần cao cả, tình nghĩa nhân hậu thủy chung Chính vì vậy mà công tác quản lý nhà nước về văn hoá có vai trò quan trọng trong giữ gìn và xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc của dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hoá chính là bảo vệ nền văn hoá của dân tộc Hiện nay xu thế hội nhập và phát triển, nền văn hoá của nước ta có nguy cơ bị mai một Trước tình hình này công tác quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong bảo vệ nền văn hoá của dân tộc Bảo vệ kho tàng văn hoá được đúc kết qua bao thế hệ, hình thành nên nền văn hoá rất riêng của Việt Nam
Công tác quản lý nhà nước về văn hoá góp phần làm cho nền văn hoá phát triển đúng định đướng đã đề ra Đó là xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất và đa dạng trong nền văn hoá chung của dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hoá chính là phát huy nội lực sáng tạo của nhân dân Trong đó chú trọng các nhân tố văn hóa tích cực nhằm phát huy tính năng động, tính độc đáo của năng lực sáng tạo của các cá nhân trong
Trang 18xu hướng phát triển văn hóa chung thúc đẩy quá trình xã hội hóa văn hóa, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
Công tác quản lý nhà nước về văn hoá là thực hiên nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, quản lý ,giải quyết các vi phạm, tội phạm liên quan tới văn hóa để xây dựng một nền văn hoá phát triển
Như vậy quản lý nhà nước về văn hoá có vai trò quan trọng trong xây dựng và định hướng nền văn hoá góp phần gìn giữ gìn nền văn hoá của đất nước
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa 1.4.1 Định hướng của Đảng và chính sách Nhà nước về công tác quản lý nhà nước về văn hóa
1.4.1.1 Định hướng của Đảng về công tác quản lý nhà nước về văn hoá
Vì mục tiêu xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Văn kiện Đại hội XII đã khái quát định hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hoá và con người Việt Nam
Một là, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển” Nhiệm vụ này đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận văn hoá của Đảng, chỉ rõ quan hệ biện chứng giữa văn hoá với con người, thực sự coi phát triển toàn diện con người không chỉ là khâu trung tâm của phát triển văn hoá mà còn là một mục tiêu của chiến lược phát triển tổng thể về kinh tế – xã hội
Trang 19Hai là, “Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Văn kiện cũng chỉ rõ những giải pháp cụ thể: Thực hiện chiến lược phát triển gia đình; xây dựng mỗi trường học thực sự là một trung tâm văn hoá giáo dục, rèn luyện con người; xây dựng nếp sống văn hoá tiến bộ, văn minh; nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hoá, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”
Ba là, “Xây dựng văn hoá trong chính trị và kinh tế” Đây là nhiệm
vụ mới, liên quan đến tư duy của Đảng về đặt văn hoá ngang tầm với kinh
tế và chính trị, thể hiện nhận thức đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá với kinh tế và chính trị Về xây dựng văn hoá trong chính trị, Văn kiện đã chỉ ra cần chú trọng chăm lo xây dựng văn hoá trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể Bên cạnh đó thường xuyên quan tâm xây dựng văn hoá trong kinh tế, xây dựng văn hoá doanh nghiệp
Bốn là, “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá” Văn kiện nhấn mạnh: “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hoá mới, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu văn hoá dân tộc” Cần xây dựng cơ chế giải quyết hợp lý, hài hoà giữa bảo tồn, phát huy
di sản văn hoá với phát triển kinh tế – xã hội
Năm là, “Làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản” Báo chí, xuất bản cũng là một lĩnh vực của văn hoá, hơn nữa lại là lĩnh vực mang tính dẫn dắt về hệ tư tưởng Văn kiện nhấn mạnh: “Các cơ quan truyền thông phải thực đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa
vụ công dân, góp phần xây dựng văn hoá và con người Việt Nam”
Sáu là, “Phát triển công nghiệp văn hoá đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hoá” Đây là nhiệm vụ mới và
Trang 20biện pháp đề ra là: Khuyến khích đầu tư để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ văn hoá; Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp văn hoá thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển
Bảy là, “Chủ động hội nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” Văn kiện chỉ rõ: “Cần chủ động mở rộng hợp tác văn hoá với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hoá đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hoá đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới, làm phong phú thêm văn hoá dân tộc”
Tám là, “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá” Đây là quan điểm cơ bản khẳng định vai trò của thể chế chính trị đối với sự phát triển của nền văn hoá Về sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá vừa phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự
do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục sự buông lỏng hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo”
Bên cạnh đó Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã đưa ra 5 quan điểm về xây dựng và phát triển văn hoá Đây là văn kiện có vai trò quan trọng trong định hướng sự phát triển về văn hoá của nước ta góp phần cho công tác quản lý nhà nước về văn hoá đạt hiệu quả cao
1.4.1.2 Hệ thống chính sách về quản lý nhà nước về văn hoá
Chính sách về văn hóa là sự thể chế hóa của Nhà nước về các quan điểm, giải pháp giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động văn hóa, tác động lên các cộng đồng văn hóa, cộng đồng dân cư chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu, phương hướng phát triển văn hóa, giữ vững và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân
Trang 21loại của Đảng và hệ thống pháp luật, chương trình văn hóa của Nhà nước
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy trong lĩnh vực văn hóa và quản
lý nhà nước văn hóa ở Việt Nam đang dần hoàn thiện, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Điều này góp phần tạo thuận lợi để công tác quản lý nhà nước về văn hoá đạt hiệu lực và hiệu quả cao góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc của dân tộc
Hiện nay, nước ta ban hành hệ thống các chính sách về văn hóa: Chính sách đầu tư cho việc sưu tầm, nghiên cứu, giữ gìn, phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nghệ thuật thế giới;
Chính sách tài trợ biểu diễn nghệ thuật tại những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn để giữ gìn và truyền bá các loại hình nghệ thuật, nhất là nghệ thuật dân gian mang đậm bản sắc của dân tộc
Chính sách tài trợ, đặt hàng sáng tác, dàn dựng và biểu diễn tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao, tác phẩm nghệ thuật phục vụ thiếu niên, nhi đồng;
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng tài năng nghệ thuật trẻ, tiến hành tuyển chọn và đào tạo những người có tài năng và nhiệt huyết để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho những hoạt động nghệ thuật
Nội dung bao quát của các chính sách đó là: Thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp văn hoá, văn học, nghệ thuật; quy định các biện pháp
để bảo tồn, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hoá, khuyến khích phát triển tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật Bên cạnh đó, tiến hành hoạt động tuyên truyền, chống việc truyền bá tư tưởng và sản phẩm văn hoá độc hại, bài trừ mê tín, hủ tục; không ngừng xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội
Trang 22Những chính sách Nhà nước về văn hoá đã được thể hiện trong các luật và các chương trình mục tiêu, chiến lược phát triển văn hoá của đất nước Cụ thể là những văn bản quy phạm pháp luật sau:
Luật quy định tổ chức bộ máy quản lý văn hóa đối với các cơ quan
có nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hoá( các Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân): Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 và mới đây nhất là Luật
tổ chức Chính phủ năm 2015 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 đucợ thay thế bằng Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 được thay thế bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009 Luật quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa ở nước ta
Luật về bảo hộ bản quyền tác giả được quy định trong Hiến pháp,
Bộ luật Dân sự, Luật Hành chính, Bộ luật Hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các luật chuyên ngành báo chí, xuất bản, điện ảnh, di sản, quảng cáo, hải quan cùng các Chỉ thị, Nghị định và các Thông tư có liên quan
Luật Quảng cáo năm 2012 quy định về hoạt động quảng cáo; quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo; quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo
Luật xuất bản năm 2012 quy định cụ thể các hoạt động liên quan đến xuất bản của các cá nhân, cơ quan, tổ chức của nước ta
Luật Điện ảnh nước năm 2009
Pháp lệnh thư viện năm 2000 quy định những hoạt động liên quan đến thư viện
Bên cạnh đó một số chương trình mục tiêu và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”: Chương trình mục tiêu quốc gia về
Trang 23văn hóa, giai đoạn 2012-2015; Chương trình mục tiêu bảo tồn và tôn tạo di tích danh thắng; Chương trình mục tiêu chấn hưng điện ảnh; Chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở; Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; một số chương trình liên quan: Chương trình 135; Chương trình xoá đói giảm nghèo; Chương trình xây dựng nông thôn mới…
Những chính sách này có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hoá thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước về công tác quản
Trang 24Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch thực hiện công tác quản lý nhà nước
về văn hoá trên phạm vi cả nước
Chính quyền địa phương với cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa:
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Phòng văn hóa thông tin thuộc cấp huyện thực hiện chức năng quản lý về văn hóa trên địa bàn
Trang 25Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan tham mưu về quản lý nhà nước về văn hoá thuộc UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn Phòng gồm có 4,5 người trong đó có 1 Trưởng phòng, không quá 3 phó phòng (theo quy định) và nhân viên hành chính
Ở cấp xã thì có 1 biên chế công chức văn hoá xã hội
Hiện nay bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hoá đang dần được hoàn thiện nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về văn hoá
Trang 261.4.4 Huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực để thực hiện công tác quản lý nhà nước về văn hóa
Công tác quản lý nhà nước về văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy nước ta huy động mọi nguồn lực để thực hiện công tác quản lý nhà nước về văn hoá Nước ta sử dụng nhiều nguồn lực để thực hiện công tác quản lý nhà nước
về văn hoá: Nguồn lực tài chính để xây dựng các chính sách đầu tư đào tạo
và bồi dưỡng cho cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
về văn hoá, xây dựng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận để đáp ứng yêu cầu của công việc Sử dụng, phân bổ nguồn nhân lực hợp lý tránh lãng phí nguồn nhân lực, sử dụng đúng người đúng việc Bên cạnh đó ứng dụng khoa học- kỹ thuật trang thiết bị hiện đại trong thực hiện nhiệm vụ Mặt khác cần có sự quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đó để công tác quản lý nhà nước về văn hoá đạt hiệu quả cao góp phần giữ gìn và xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc của dân tộc
1.4.5 Hợp tác quốc tế về văn hóa
Ngay từ khi thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề văn hoá cũng như việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời với việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta cũng rất quan tâm việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Bởi vì, hoạt động hợp tác quốc tế về văn hoá là một tất yếu của mỗi quốc gia, dân tộc
Trên thực tế, hoạt động hợp tác về văn hoá đã tác động tích cực đến đường lối chính trị đối ngoại, hợp tác quốc tế của đất nước Các hoạt động văn hóa Việt Nam ở nước ngoài không chỉ có ý nghĩa trực tiếp đối với những người Việt Nam ở xa Tổ quốc, mà còn là một kênh thông tin quảng
bá, làm lan tỏa hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với bạn bè
Trang 27quốc tế Giao lưu, hợp tác văn hóa cũng chính là quá trình tiếp xúc, trao đổi, tiếp biến, dung nạp, nâng cao các giá trị văn hóa, sản phẩm văn hóa, trình độ sáng tạo, mức độ thụ hưởng đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Từ đó, tăng cường sự hiểu biết của những nền văn hóa với những đặc thù văn hóa Việt Nam riêng; khẳng định sự độc đáo của văn hóa Việt Nam trong môi trường, quy mô văn hóa rộng hơn, mang tính nhân loại, quốc tế Từ sự giao lưu, tương tác văn hóa này, vị thế đất nước Việt Nam được nâng cao Điển hình cho sự thành công này là năm 2013, Việt Nam đã trở thành thành viên Hội đồng Di sản thế giới của Liên hiệp quốc (UNESCO) Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết: Đến bây giờ thì Việt Nam là quốc gia được bạn bè quốc tế đánh giá rất hiệu quả trong các hoạt động của UNESCO như đóng niên liễm, tham vấn, hợp tác, tổ chức các hoạt động văn hóa, hội nghị của UNESCO Tôi cho là vai trò, vị thế của Việt Nam ngày càng được củng cố trên trường quốc tế dẫn đến việc tiếng nói của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế, trong
đó có UNESCO ngày càng có ý nghĩa hơn
Hợp tác quốc tế về văn hoá góp phần duy trì giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; trở thành thành
tố nổi bật trong ngoại giao văn hóa và quan hệ quốc tế của Việt Nam Hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hoá giúp đạt các mục tiêu mà chính sách văn hoá mà Việt Nam đã đặt ra, đó là tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêm những giá trị văn hoá truyền thống của đất nước Hợp tác về văn hoá còn là nền tảng để mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác.Thông qua các hoạt động văn hoá đối ngoại, bạn bè thế giới hiểu biết hơn về đất nước, con người và văn hoá Việt Nam, qua đó nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế
1.5 Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa
Quản lý nhà nước về văn hoá tập trung vào 6 nội dung sau:
Trang 28Xây dựng thể chế văn hóa Để phát triển văn hóa, điều quan trọng nhất là phải cải cách thể chế văn hóa mà trước hết là đổi mới về tư tưởng, quan niệm phát triển văn hóa; kết hợp giữa phát triển sự nghiệp văn hóa công ích với phát triển các ngành kinh doanh văn hóa, đổi mới các thể chế văn hóa với đổi mới chính bản thân văn hóa, bảo đảm hài hòa với phát triển kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội; giải phóng sức sản xuất văn hóa nhằm tạo động lực cho sự phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện phát triển hài hòa giữa xây dựng văn hóa với xây dựng kinh
tế, chính trị, xã hội
Hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách về văn hóa Chính sách văn hóa mà ta hướng tới là một chính sách văn hóa hiện thực hóa được những tư tưởng cơ bản trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa, thực chất là ý chí, quan điểm và định hướng, tạo điều kiện cơ bản để quản
lý văn hóa của đất nước với tư cách là phương tiện hiệu quả để thiết lập cuộc sống tốt đẹp đồng thời với việc phát triển một nền sản xuất và thị trường văn hóa lành mạnh Điều này đòi hỏi việc hoạch định các chính sách phải phù hợp với tình hình thực tế, có như vậy hoạt động tổ chức và thực thi mới đạt hiệu quả cao
Tổ chức và hoàn thiện bộ máy thực hiện nhiệm vụ quản lý văn hóa từ trung ương đến địa phương Cấp trung ương Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trên phạm vi cả nước Cấp địa phương bao gồm Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân cấp huyện, phòng Văn hóa Thông thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn Việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá góp phần quan trọng để công tác quản lý nhà nước về văn hoá đạt hiệu quả cao
Trang 29Đầu tư tài chính cho văn hóa thể hiện ở tăng ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa Nhà nước thực hiện đầu tư cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, tuyên truyền, báo chí, phục vụ chính trị Đầu tư ngân sách để xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị để thực hiện nhiệm
vụ, xây dựng trung tâm văn hoá, khu vui chơi giải trí, tăng ngân sách để tu
bổ và bảo tồn các di sản văn hoá, xây dựng các chương trình để phát triển văn hoá
Hợp tác quốc tế về văn hoá giúp đạt các mục tiêu mà chính sách văn hoá mà Việt Nam đã đặt ra, đó là tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêm những giá trị văn hoá truyền thống của đất nước Hợp tác về văn hoá còn là nền tảng để mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác.Thông qua các hoạt động văn hoá đối ngoại, bạn bè thế giới hiểu biết hơn về đất nước, con người và văn hoá Việt Nam, qua đó nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế
Thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa là nội dung cần thiết cho công tác quản lý nhà nước không chỉ riêng lĩnh vực văn hóa Thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa để nhà nước điều tiết, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến văn hóa Điều này góp phần phát huy những giá trị văn hóa cần gìn giữ đồng thời cũng phát hiện và ngăn chặn những vấn đề, những sự kiện văn hóa gây tác động xấu Việc xử lý kịp thời những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong công tác văn hóa cũng chính là góp phần làm lành mạnh hóa các hoạt động văn hóa, trong đó có hoạt động quản lý văn hóa
1.6 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hoá
Quản lý văn hóa là một lĩnh vực rộng và phức tạp, vì vậy, kinh nghiệm quản lý văn hóa ở các địa phương rất cần thiết và bổ ích Vấn đề đặt ra là từ những kinh nghiệm đó cần được nghiên cứu, lựa chọn phù hợp nhất với tình hình cụ thể của từng địa phương Trên cơ sở đó, tôi lựa chọn
Trang 30kinh nghiệm của một địa phương về quản lý nhà nước về văn hoá để ứng dụng thực tế vào thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Thứ nhất, cần tìm hiểu và xác định tình hình thực tế văn hoá ở địa phương để từ đó có phương án để giải quyết về xây dựng và bảo tồn loại hình văn hoá Từ đó trong quá trình hoạch định chính sách phải phù hợp với tình hình của địa phương và có khả năng thực thi đạt hiệu quả cao
Thứ hai, để công tác quản lý nhà nước về văn hoá đạt hiệu quả cao phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ Chính vì vậy, địa phương càn có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức không những về trình độ chuyên môn mà còn cả năng lực lãnh đạo, giải quyết và
xử lý tình huống có liên quan bởi quản lý nhà nước về văn hoá là một lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền thông qua các buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ, họp thôn, tổ, sinh hoạt của các chi hội, tuyên truyền miệng, qua hệ thống truyền thanh cơ
sở, hệ thống panô, áp phích, hội thi tìm hiểu kiến thức pháp luật, qua khai thác, sử dụng tủ sách pháp luật cơ sở, các buổi tọa đàm, tuyên truyền lưu động góp phần làm cho người dân nhận thức rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của văn hóa trong xây dựng cộng đồng
Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về văn hoá đặc biệt
là công tác quản lý và tổ chức lễ hội, ý thức thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia lễ hội của người dân Bên cạnh đó, địa phương cần tiến hành thanh tra, kiểm tra cơ sở kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa để phát hiện sa phạm và nhanh chóng giải quyết
Trang 31Tiểu kết chương 1
Quản lý nhà nước về văn hóa là những vấn đề lý luận và thực tiễn rất phong phú, đa dạng, nhiều mặt, bao gồm nhiều nội dung như khác nhau Trong hệ thống quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta hiện nay, quản lý văn hóa cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với văn hóa cấp huyện, trước hết cần phải nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là phải có sự khảo sát, đánh giá thực trạng văn hóa các cơ sở Thị
xã Quảng Yên có lịch sử văn hóa lâu đời, nơi lưu giữ những dấu ấn của quá trình hình thành và phát triển trong tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam Trong bối cảnh đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay, cần phải có sự tăng cường về công tác quản lý nhà nước về văn hóa của cả hệ thống chính trị trong việc vận hành thể chế, cũng như các thiết chế văn hóa, nhằm nâng cao hiệu lực, chất lượng quản lý văn hóa trên địa bàn thị xã Kết quả nghiên cứu về phương diện lý luận ở Chương 1 là tiền đề quan trọng để khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý văn hóa trên địa bàn thị xã Quảng Yên trong thời gian qua, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ VĂN HOÁ CỦA PHÕNG VĂN HOÁ VÀ THÔNG TIN THỊ XÃ
QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Khái quát chung về thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Thị xã Quảng Yên là đơn vị hành chính ven biển nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 314,2km2 Phía bắc giáp thành phố Uông
Bí và huyện Hoành Bồ, phía nam giáp đảo Cát Hải (thành phố Hải Phòng) và cửa Nam Triệu, phía đông giáp thành phố Hạ Long và vịnh Hạ Long, phía tây giáp huyện Thủy Nguyên (thành phố Hải Phòng) Sông Chanh chia thị xã Quảng Yên thành 02 vùng rõ rệt, vùng Hà Bắc gồm 11 xã, phường nằm bên tả ngạn sông, vùng Hà Nam gồm 8 xã, phường còn lại nằm bên hữu ngạn sông Vùng Hà Nam là đảo Hà Nam được bao bọc bằng 34km đê biển cao 5,5m vì địa hình thấp hơn mực nước biển
Thị xã Quảng Yên có diện tích đất là 31.919,34 km2, chiếm 5,3% diện tích toàn tỉnh Đất đai phần lớn được tạo thành bởi phù sa bồi (sông, biển) pha hỗn hợp với trầm tích biển và chịu ảnh hưởng của biển với mức độ khác nhau Thị xã Quảng Yên có đặc trưng khí hậu của vùng ven biển Miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh nhưng nằm ven biển nên
ôn hoà hơn, thuận lợi cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp và phát triển du lịch
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Về điều kiện kinh tế, Thị xã Quảng Yên có vị trí nằm trong vùng Kinh
tế trọng điểm Bắc bộ, trên tuyến Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và nằm ở giữa hai thành phố lớn là Hạ Long và Hải Phòng nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội, giao lưu thương mại cũng như quốc phòng an ninh
Từ nay đến năm 2020- 2030 thị xã sẽ phát triển cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch mạnh theo cơ cấu dịch vụ - công nghiệp, xây dựng - nông
Trang 33nghiệp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của thị xã chia thành các vùng và mỗi vùng lại có những định hướng riêng Dân số của thị xã năm 2017
có 145.992 người Mật độ dân số bình quân 425 người/km2 và phân bố không đều
2.1.3 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Về giao thông, Thị xã Quảng Yên là địa bàn có hệ thống giao thông khá đa dạng gồm: đường bộ, đường sắt và đường sông pha biển Về giao thông đường bộ, thị xã có 504,2 km đường bộ (Quốc lộ: 7 km, Tỉnh lộ: 26
km, Huyện lộ: 54,9 km và 416,3 km đường liên xã) Những năm qua mạng lưới giao thông đường bộ đã được đầu tư tu bổ và nâng cấp đạt tiêu chuẩn Hiện tại thị xã đang đầu từ hệ thống điện để vừa phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân thị xã Đến năm 2020 thị xã sẽ tiếp tục đầu tư, chuẩn
bị công suất và mạng truyền tải tới các khu vực thị xã Quảng Yên, các khu công nghiệp - đô thị mới Nâng công suất trạm 110kV Chợ Rộc lên (40+25) MVA – 110/35/22kV
2.2 Khái quát về UBND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên có trụ sở: Số 18, đường Trần Hưng
Đạo, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.2.1 Các phòng, ban chức năng
Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Trang 36của Sở Văn hoá và Thể thao, Sở du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông
2.3.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
2.3.1.1 Chức năng
Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về: báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại và hạ tầng thông tin trên địa bàn (việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, thế thao và
du lịch của Phòng Văn hóa và Thông tin do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ hướng dẫn)
lý nhà nước được giao
2 Trình chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã dự thảo các văn bản về lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông thụôc thầm quyền ban hành của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã
3 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt hướng dẫn, thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, hoạt động phát triển sự nghiệp văn hoá, thể thao và du lịch; chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa thể dục thể thao; phòng, chống bao lực trong gia đình; thông tin và truyền thông
Trang 374 Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn thị xã thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ; phong trào luyện tập thể dục, thể thao; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng gia đình văn hóa, ấp- khóm văn hóa, đơn vị văn hóa; xây dựng phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”; xây dựng phong trào “Xây dựng nếp sống văn minh đô thị”; bảo vệ các di tích lịch sử, văn hoá danh lam thắng cảnh, bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn thị xã
5 Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Trung tâm văn hoá, thể thao, các thiết chế văn hoá thông tin cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hoá, thể dục, thể thao, du lịch, điểm vui chơi công cộng thuộc phạm vi quản lý của Phòng trên địa bàn thị xã
6 Giúp Uỷ ban nhân dân thị xã quản lý nhà nứơc đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, hướng dẫn và kiểm tra hoạt động các hội và
tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc các lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông theo quy định của pháp luật
7 Giúp Uỷ ban nhân dân thị xã thẩm định, đăng ký, cấp các giấy phép thuộc các lĩnh vực về văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông theo quy định của pháp luật và theo phân công, phân cấp của UBND thị xã
8 Giúp Uỷ ban nhân dân thị xã trong việc tổ chức công tác bảo vệ an toàn, an ninh thông tin trong các hoạt động bưu chính, chuyển phát, viễn thông, công nghệ thông tin, internet, phát thanh
9 Chịu trách nhiệm theo dõi và tổ chức thực hiện các chương trình,
dự án về ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thị xã theo sự phân công của Ủy ban nhân dân thị xã