1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chinh sach dao tao va su dung quan lai thoi Le ThanhTong va y nghia doi voi cong tac can bo hien nay

108 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 117,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triều đình do Lê Thánh Tông đứng đầu, một mặt kiên trì kế thừa đường lối độc lập dân tộc của các bậc tiền bối, một mặt phát triển mạnh mẽ mục tiêu xây dựng Nhà nước phong kiến Trung ươn[r]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi xã hội phân chia thành giai cấp và cùng với nó là sự xuất hiện củaNhà nước thì chính trị và con người chính trị cũng ra đời Con người chính trị

có vai trò rất to lớn, là nhân tố quyết định sự vận động và phát triển của chínhtrị nói riêng, của toàn xã hội nói chung Nếu quyền lực chính trị được xác lậptrên thực tế thông qua bộ máy nhà nước hay tổ chức chính quyền nhà nước –cái quan trọng nhất trong chính trị - thì Nhà nước đó hoạt động như thế nào,

có thực hiện được các chức năng của nó hay không lại phụ thuộc rất nhiềuvào những chủ thể nắm quyền lực chính trị Ở Việt Nam, dưới các triều đạiphong kiến dân tộc theo mô hình Nho giáo, vua – quan là chủ thể quyền lựcchi phối toàn bộ sự hoạt động xã hội Bộ máy quyền lực nhà nước đó do vuađứng đầu và bên dưới là đội ngũ quan lại các cấp mà ngày nay trong đời sốngchính trị nước ta chính là đội ngũ cán bộ, công chức

Lịch sử Việt Nam là quá trình đấu tranh lâu dài, gắn liền giữa dựngnước và giữ nước, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai và giặc ngoại xâm.Bởi thế, việc tập hợp lực lượng, xây dựng sức mạnh đoàn kết dân tộc luônđược đặt lên hàng đầu Để giải quyết thành công các nhiệm vụ đó, Nhà nướcphong kiến Việt Nam nhất là trong các giai đoạn phục hưng và phát triểnmạnh mẽ của dân tộc đều coi trọng việc đào tạo, sử dụng đội ngũ quan lạinhằm tăng cường sức mạnh của Nhà nước cũng như đảm bảo hiệu quả và hiệulực của chính quyền các cấp

Vào nửa cuối thế kỷ XV, vương triều Lê Thánh Tông (1460-1497) đãđạt được những thành tựu rực rỡ trong xây dựng và phát triển đất nước, đượcxem là đỉnh cao sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Với thời gian

38 năm trị vì, Lê Thánh Tông đã đưa nước Đại Việt trở thành một quốc giahùng cường trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ cả về mặt kinh tế, chính

Trang 2

trị và văn hoá – xã hội Nhà nước Đại Việt được củng cố vững chắc, thốngnhất theo mô hình nhà nước quân chủ trung ương tập quyền và thực hiện việccai trị đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Gắn liền với việc xây dựng,củng cố thể chế chính trị quân chủ trung ương tập quyền tuyệt đối theo hệ tưtưởng Nho giáo, Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm xây dựng con người chínhtrị, trọng tâm là vấn đề đào tạo và sử dụng quan lại Vì vậy, đội ngũ quan chứctriều đình cũng như quan lại địa phương đã được tăng cường về số lượng, nângcao chất lượng cả về trình độ, đạo đức và năng lực, đáp ứng kịp thời đòi hỏi sựphát triển của đất nước Chính sách đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê ThánhTông trở thành “khuôn phép”, hay “chế độ” như các sử gia phong kiến đã đánhgiá để các triều đại sau đó noi theo, xem như mẫu mực cho việc tổ chức và xâydựng bộ máy nhà nước vững mạnh Dưới góc nhìn của chính trị học ngày nay,

có thể nói triều đại Lê Thánh Tông đã có nhận thức đúng đắn về mối quan hệgiữa con người chính trị và thể chế chính trị, thấy được vai trò quyết định củađội ngũ quan lại cũng như của việc dùng người trong hoạt động chính trị vì đó là

“cội gốc để tiến lên trị bình”, đồng thời cũng là “thềm bậc để đi đến hoạ loạn”như lời nhà Vua nói với thượng thư các bộ vào năm 1643 [48, tr.399]

Từ khi thành lập, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, coi

đó là “nhân tố quyết định mọi thành bại của cách mạng” trong hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cũng như trong giai đoạn đổi mới,xây dựng và phát triển đất nước hiện nay Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, công táccán bộ càng trở nên quan trọng, là “khâu then chốt” của công tác xây dựngđảng Bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được, đội ngũ cán bộ và công táccán bộ hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi của đấtnước trong giai đoạn phát triển mới

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu chính sách dùng người trong chính trịdưới thời Lê Thánh Tông thể hiện sự kế thừa và phát huy những tiềm năng

Trang 3

vốn có của dân tộc trong kho tàng tư tưởng chính trị Việt Nam truyền thống,góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh đảm bảo cho công

cuộc đổi mới thành công Chính vì thế, tác giả chọn đề tài “Chính sách đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và ý nghĩa đối với công tác cán bộ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chính trị học.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ trước tới nay, nhiều công trình nghiên cứu về sử học, văn học, triếthọc, chính trị học, lịch sử tư tưởng, văn hoá, giáo dục Việt Nam của nhiều tácgiả trong nước được công bố Trong các công trình đó, dưới góc độ tiếp cậnkhác nhau của các khoa học cụ thể, một số tác giả đề cập đến vấn đề đào tạo

và sử dụng đội ngũ quan lại cũng như việc dùng người trong chính trị của cácnhà nước phong kiến Việt Nam trong lịch sử Có thể dẫn ra một số công trìnhnghiên cứu của các tác giả sau đây

Bàn về con người chính trị Việt Nam, nổi bật là công trình nghiên cứu

Con người chính trị Việt Nam - Truyền thống và hiện đại của một nhóm tác

giả của Viện Chính trị học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh do GS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Nhà xuất bản Chínhtrị quốc gia, năm 2009 Tác phẩm đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản vềcon người chính trị cũng như thực tiễn con người chính trị Việt Nam trongtruyền thống và thời hiện đại, đồng thời xác định những yêu cầu mới đối vớicon người chính trị Việt Nam hiện nay

Trong cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8

-1945 do Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1996,

các tác giả đã phân tích cụ thể về nội dung, phương pháp và kết quả đạt đượctrong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở nước ta từ thế kỷ X đến năm 1945, trong đónhấn mạnh những đóng góp tích cực của nền giáo dục Nho học vào việc đàotạo đội ngũ quan lại cho các triều đại phong kiến dân tộc

Về vấn đề sử dụng nhân tài, cuốn Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử của GS Phan Hữu Dật (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị

Trang 4

quốc gia, năm 1994 và cuốn Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và

sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam của Phạm Hồng Tung, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, năm 2008 đã khái quát nhận thức của ông cha ta về vai tròcủa người tài cũng như những kinh nghiệm, biện pháp thu hút, sử dụng hiềntài trong lịch sử Việt Nam, chủ yếu dưới thời phong kiến

Triều đại Lê Sơ, nhất là thời Lê Thánh Tông là giai đoạn phát triển tiêubiểu trong lịch sử Việt Nam truyền thống Lê Thánh Tông là một trong những

vị vua anh minh trị vì lâu, có nhiều đóng góp về mặt tư tưởng chính trị cũng

như trong thực tiễn cai trị đất nước Cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập I do

PGS.TS Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1993,

đã dành riêng một chương bàn về thế giới quan, tư tưởng chính trị - xã hội vàđường lối trị nước của Lê Thánh Tông

Năm 2002, trong cuốn Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam

từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, PGS.TS Nguyễn Hoài Văn đã đi sâu phân

tích những đóng góp của Lê Thánh Tông trong việc vận dụng, phát triển Nhogiáo thành hệ tư tưởng chính trị chính thống, sử dụng nó trong việc cai trị đấtnước, đào tạo và xây dựng đội ngũ quan lại đáp ứng yêu cầu của sự phát triểnđất nước nửa cuối thế kỷ XV

Trước đó, tại Hội thảo kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông

do Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (thuộc Đại học quốc gia HàNội) tổ chức năm 1997, đã có nhiều tác giả bàn về đường lối trị nước và cácchính sách thời Lê Thánh Tông trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá –

xã hội và an ninh - quốc phòng Trong đó có một số chuyên đề đáng chú ý

như: Về đường lối trị nước của Lê Thánh Tông của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ; Suy nghĩ về cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông của GS.TS Trương Hữu Quýnh; Vua Lê Thánh Tông và pháp luật của TS Bùi Xuân Đính; Cải cách quan lại địa phương dưới thời Lê Thánh Tông của Nguyễn

Hoàng Anh;… Cũng trong năm 1997, Nghiên cứu sinh Đặng Kim Ngọc đã

bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử với đề tài Chế độ

Trang 5

đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê Sơ (1428-1527), trong đó có một số

kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này thời Lê Thánh Tông

Trong những năm gần đây, trên các tạp chí nghiên cứu cũng đã công bốmột số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đào tạo, tuyển chọn

và sử dụng quan lại như Tuyển chọn quan lại dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh: Di sản kế thừa và tham khảo của Bùi Huy Khiên trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 144 năm 2008 ; Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở nước ta thời kỳ trung đại của TS Đỗ Minh Cương trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9 năm 2006; Ông cha ta sử dụng hiền tài của Lê Văn Huân trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 2+3 năm 2008; Tuyển chọn và sử dụng quan chức: Cách làm của ông cha ta của Bùi Xuân Đính trên Báo Tiền phong số 40 năm 2009 …

Các công trình, ấn phẩm nói trên đề cập đến con người chính trị ViệtNam hoặc vấn đề đào tạo, sử dụng đội ngũ quan lại trong lịch sử Việt Namtruyền thống nói chung, hoặc phân tích về tư tưởng chính trị hay một số khíacạnh có liên quan đến việc đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tôngnhưng chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử học, văn học, triết học, lịch sử tưtưởng và văn hoá, giáo dục Việc sử dụng con người chính trị với tư cách làmột hoạt động cơ bản và quan trọng trong thực thi quyền lực chính trị đãđược các nhà khoa học quan tâm nhưng chưa nhiều Chính sách đào tạo và sửdụng quan lại thời Lê Thánh Tông dưới góc nhìn chính trị học vẫn còn làkhoảng trống cần được nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diệnhơn Tuy nhiên, những công trình khoa học của các học giả, các nhà nghiêncứu kể trên là rất quý báu để tác giả luận văn có điều kiện kế thừa, đồng thờivừa có thể tự hệ thống và khám phá độc lập trong nghiên cứu riêng của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ chính sách đào tạo và sử dụng quan lại dướithời Lê Thánh Tông Từ đó rút ra ý nghĩa và bài học lịch sử thông qua liên hệvới thực tiễn công tác cán bộ hiện nay

Trang 6

- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở hình thành chính sách đào tạo và sử dụngquan lại thời Lê Thánh Tông

+ Trình bày một cách có hệ thống những chính sách, biện pháp thực hiện

và kết quả đạt được trong việc đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông

+ Rút ra ý nghĩa thực tiễn cũng như mối liên hệ biện chứng giữa truyềnthống và hiện đại của tư duy chính trị Việt Nam nhằm đáp ứng những yêu cầucủa công cuộc đổi mới hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách đào tạo và sử dụng quan lạithời Lê Thánh Tông thông qua những tư liệu lịch sử gốc như các văn bảnchiếu, chỉ, lệnh dụ của Lê Thánh Tông được ghi chép trong các bộ chính sử,

các bộ luật, các bộ sách lịch sử chính yếu như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Quốc triều hình luật, Lê triều quan chế… cũng

như lời nói, việc làm của Lê Thánh Tông trong lãnh đạo, quản lý đất nước đểphân tích, đánh giá và hệ thống hoá về chính sách đào tạo và sử dụng quan lạithời kỳ này

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vào giai đoạn lịch sử Việt Nam thế kỷ

XV dưới triều Lê Sơ, trong đó đi sâu vào nửa cuối thế kỷ XV - thời kỳ trị vìcủa Lê Thánh Tông (1460-1497)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về chính trị và con người chính trị Luận văn cũng dựa trên cácquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vàcông tác cán bộ

Trang 7

Trên cơ sở đó, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử - logíc,đồng thời kết hợp nhiều phương pháp khác như: phương pháp phân tích - tổnghợp, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, khái quát hoá.

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Là luận văn thạc sỹ Chính trị học đầu tiên nghiên cứu về chính sáchđào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông Luận văn góp phần trình bàymột cách có hệ thống, nhiều phương diện và đầy đủ hơn về chính sách đào tạo

và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông dưới góc độ của khoa học chính trị,đồng thời nêu lên những giá trị lịch sử cũng như ý nghĩa của chính sách nàyđối với công tác cán bộ hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa họccho việc hệ thống, đánh giá những giá trị tiêu biểu trong đường lối trị nướccũng như làm sâu sắc thêm tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông - một nhàlãnh đạo Nhà nước xuất sắc và nhà hoạt động tư tưởng, văn hoá, giáo dục lớncủa Việt Nam nửa cuối thế kỷ XV

- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,giảng dạy về lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và khoa học chính trị nói chung

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 8 tiết

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO

VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI THỜI LÊ THÁNH TÔNG

1.1 BỐI CẢNH VIỆT NAM THẾ KỶ XV VÀ SỰ LÊN NGÔI CỦA LÊ THÁNH TÔNG

1.1.1 Về kinh tế - xã hội

Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược do nhà Hồ tiến hànhthất bại nhanh chóng vào năm 1407, Đại Việt rơi vào ách đô hộ tàn bạo củaquân xâm lược nhà Minh liên tục suốt hai mươi năm Nền sản xuất bị tàn phánghiêm trọng, thiên tai, mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra Vì vậy, sau khigiành được quyền tự chủ, Lê Thái Tổ - vị vua đầu tiên của vương triều Lê Sơ– đã thi hành các biện pháp khôi phục sản xuất nông nghiệp, giải quyết một sốvấn đề an sinh xã hội Sau đó, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông tiếp tục chínhsách xây dựng đất nước, trọng tâm là lĩnh vực kinh tế Cuộc sống tương đốithanh bình được người dân khi ấy truyền tụng: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông.Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn” [34, tr.215] Đến thời Lê ThánhTông, kinh tế Đại Việt phát triển mạnh mẽ, vững chắc, góp phần bảo đảm đờisống nhân dân và duy trì sự ổn định xã hội

Nông nghiệp, với vai trò nền tảng kinh tế của xã hội phong kiến, Nhà

nước Lê Sơ chủ trương “trọng nông”, nhất là thời Lê Thánh Tông với nhiềubiện pháp như khôi phục và mở rộng diện tích đất nông nghiệp, chăm lo đêđiều, xây dựng các công trình thuỷ lợi, bảo vệ mùa màng, bảo vệ sức lao độngnông nghiệp, khai khẩn ruộng hoang vùng ven biển và đất trung du, lập đồnđiền, phát triển các nghề trồng dâu nuôi tằm… Điểm nổi bật trên lĩnh vực kinh tế

là thi hành chính sách mới về ruộng đất với chế độ lộc điền và chế độ quân điềnđược Nhà nước xây dựng thành quy chế pháp lý chặt chẽ đã có tác dụng tíchcực làm phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy sức sản xuất của

xã hội, kích thích sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp

Trang 9

Khác hẳn với các triều Lý - Trần, nhà Lê thực hiện chính sách lộc điền,đem ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước ban cấp cho tầng lớp quanlại cao cấp Chế độ lộc điền được thi hành ngay từ những triều vua đầu tiêncủa nhà Lê, nhưng chưa trở thành quy chế Đến thời Lê Thánh Tông mớiđược quy định và ban hành thống nhất trong cả nước vào năm 1477 Theo đó,người được cấp là “những quan lại cao cấp từ thân vương đến tòng tứ phẩm

và những người thân thuộc gần gũi nhà Vua, các nữ quan thân cận trongtriều” và “quan lại từ tứ phẩm trở lên thường nắm giữ các trọng chức trongtriều hay đứng đầu các khu vực hành chính” [27, tr.20] Chế độ lộc điền làđặc quyền của tầng lớp cao nhất trong giai cấp thống trị, bao gồm hai phần:một phần nhỏ là Nhà nước cấp vĩnh viễn, người được cấp có toàn quyền sởhữu gọi là ruộng đất thế nghiệp; còn phần lớn lộc điền thuộc loại ban cấp tạmthời, người được cấp chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng trong một đời, trong

đó có quyền phát canh thu tô, sau khi người được cấp lộc điền chết ba nămphải trả lại cho Nhà nước Bằng chế độ lộc điền, Nhà nước đã hạn chế và điđến thủ tiêu nền kinh tế điền trang thái ấp, thúc đẩy phát triển giai cấp địachủ, đánh dấu một bước tiến trong quá trình hình thành và xác lập chế độphong kiến Việt Nam

Chế độ quân điền được thực hiện ngay sau khi hoàn thành công cuộcgiải phóng đất nước, khi chính quyền đã được củng cố và Nhà nước đã điềutra xong tài sản ruộng đất trong toàn quốc Vào năm 1477, Lê Thánh Tông đãhoàn chỉnh chế độ quân điền và năm 1481 được thực hiện theo nguyên tắcthống nhất trên quy mô cả nước Đây là chế độ chia cấp định kỳ ruộng đấtcông của làng xã cho các hộ nông dân cứ sáu năm một lần Đối tượng đượccấp quân điền là “tất cả mọi người trong xã từ quan viên cho đến hạng thấpnhất của bậc thang xã hội phong kiến như người cô quả, tàn tật, vợ con người

bị tội lưu, tội đồ đều được chia ruộng đất” [27, tr.35] Phần ruộng đất chia chomỗi người nhiều hay ít phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ và phụ thuộc vào

Trang 10

số ruộng đất công của mỗi xã Người được cấp quân điền phải nộp tô cho Nhànước với mức nhẹ hơn các loại ruộng đất khác

Như vậy, để thực hiện quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà vua,nhà Lê đã thông qua đơn vị làng, xã thay mặt Nhà nước quản lý đất đai, tiếnhành thu tô thuế cho Nhà nước, biến giai cấp nông dân thành tá điền củamình Đây là một loại quyền rất đặc trưng của các nhà nước phương Đông, là

“sở hữu kiểu châu Á” như Mác nói Chính sách quân điền của nhà Lê Sơ mộtmặt xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, mặt khác phần nào cũng đápứng được lợi ích của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân Trong xã hội phongkiến, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, bằng phép quân điền, nhà Lê đảm bảocho người nông dân số ruộng đất tối thiểu để cày cấy, đảm bảo cuộc sống.Phép quân điền đã góp phần củng cố nền kinh tế tiểu nông, khôi phục và pháttriển sản xuất nông nghiệp Đây là yếu tố tương đối tiến bộ của chính sáchkinh tế dưới thời Lê Sơ, góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa các lợi íchtrong xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước

Ở thế kỷ XV, thủ công nghiệp được tạo điều kiện mở rộng và khởi sắc.

Nhiều nghề thủ công truyền thống như dệt vải, tơ lụa, làm giấy, làm gốm, đanlát,… khá phổ biến trong các gia đình nông dân Trong các làng xã ngày càng

có nhiều làng thủ công nổi tiếng như nghề gốm (Bát Tràng), nhuộm (HuêCầu), nung vôi (Yên Thế)… Ở thành thị, thợ thủ công được tổ chức thànhtừng phường chuyên môn như Thăng Long có 36 phố phường với những cơ

sở sản xuất thủ công nổi tiếng (phường Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm, ThụyChương dệt lụa, Hàng Đào nhuộm điều…) Bộ phận thủ công của Nhà nướcbao gồm những xưởng thủ công chuyên đúc tiền, đóng thuyền, sản xuất vũkhí, làm đồ dùng cho các vua quan Các hoạt động khai thác mỏ sắt, đồng,vàng, bạc cũng được mở rộng

Trên cơ sở nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc buôn bán

cũng được đẩy mạnh Các chợ địa phương phát triển, nhà Lê Sơ còn ban

Trang 11

hành “lệ họp chợ”, quy định việc chia chợ cũ thành các chợ mới và thốngnhất các đơn vị đo lường để tiện việc trao đổi hàng hóa trong vùng Tình

hình ngoại thương không được phát triển như nội thương do những chính

sách “ức thương” như Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương, hạn chế vàkiểm soát chặt chẽ các thuyền buôn và thương nhân nước ngoài Nhiều cơquan kiểm soát ngoại thương mọc lên khắp các cửa biển dọc miền duyênhải Thuyền buôn nước ngoài chỉ được cập bến ở một số địa điểm đã quyđịnh như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội Thống (Nghệ An), HộiTriều (Thanh Hóa) và một số địa điểm trên đất liền thuộc các tỉnh LạngSơn, Tuyên Quang, Hà Tây Việc buôn bán giữa người trong nước với

người nước ngoài cũng bị kiểm soát chặt chẽ Theo sách Đại Việt Sử ký toàn thư, vào những năm Quang Thuận đời Lê Thánh Tông, “thuyền đi

biển của nước Xiêm La đến trang Vân Đồn dâng biểu văn khắc trên lá vàng

và dâng sản vật địa phương, vua khước từ không nhận” [48, tr.427] Sở dĩtriều Lê Sơ thi hành một chính sách “bế quan toả cảng” nghiêm ngặt là vìđất nước mới trải qua hàng chục năm đấu tranh gian khổ chống ngoại xâm

để giành độc lập nên rất cảnh giác đề phòng âm mưu dò xét và xâm lượccủa người nước ngoài

1.1.2 Về văn hoá, tư tưởng

Cùng với những bước phát triển về kinh tế - xã hội, nền văn hóa, tưtưởng của nước Đại Việt thế kỷ XV cũng phát triển mạnh mẽ và giành đượcnhiều thành tựu rực rỡ

Nho giáo có vị trí quan trọng ngay từ thời Lý với việc bắt đầu thi cử

Nho học, lập Văn Miếu, và đến thời Lê Sơ thì phát triển đến đỉnh cao Cáctriều đại phong kiến sử dụng triệt để Nho giáo với tư cách là một học thuyếtchính trị có nội dung đề cao vai trò, quyền lực của vua, tuyệt đối hóa “trungquân”, chủ trương “lễ trị” làm vũ khí tư tưởng quan trọng nhất để thực hiện

sự thống trị giai cấp của mình

Trang 12

Lê Thánh Tông (1442-1497) là một nhà nho học uyên bác do được tiếpthu Nho học từ nhỏ nên sau khi lên ngôi, từ những bài học kinh nghiệm lịch

sử của các triều đại trước và của các bậc cha ông để lại, Lê Thánh Tông chủtrương và kiên quyết dùng Nho giáo để thống nhất về mặt tư tưởng trongphạm vi cả nước, đưa nó lên địa vị độc tôn và ngự trị trong các thể chế củaNhà nước Các nhà nghiên cứu cho rằng Nho giáo thời Lê Thánh Tông làTống Nho, hay là “sự vận dụng Tống Nho vào thực tế xã hội Việt Nam trêntinh thần dân tộc sáng tạo” [44, tr.18-19] Đó là kết hợp giữa những biện phápdùng lễ giáo để nêu quy phạm và răn dạy với việc dùng lễ giáo để trừng trịnhững người chống đối Đường lối chung này vẫn nằm trong khuôn khổ lễ trịcủa hệ tư tưởng Nho giáo chính thống, hay Nho giáo thời Lê Thánh Tôngkhông còn đậm yếu tố “nhân” như thời Nguyễn Trãi mà chủ yếu là yếu tố

“lễ”, được các nho sĩ làng xã tiếp thu và truyền tải vào đời sống

Giai cấp phong kiến chắt lọc lấy những yếu tố có lợi trong Nho giáo,vận dụng vào đường lối trị nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam thế kỷ XV

để tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật, điều chỉnh các mốiquan hệ xã hội phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng Với tư cách là hệ tưtưởng thống trị tuyệt đối trong xã hội, Nho giáo đã góp phần tích cực củng cốNhà nước phong kiến Trung ương tập quyền thống nhất của một quốc gia tiểunông nghiệp, tạo ra trật tự kỷ cương xã hội

Cùng với Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo xâm nhập vào nước ta từ

thời Bắc thuộc và cùng tồn tại từ thế kỷ X đến thế kỷ XV được gọi là hiệntượng “tam giáo đồng nguyên” Thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển mạnh mẽ

và trở thành quốc giáo nhưng đến thế kỷ XV thì suy yếu Sở dĩ Lê ThánhTông hạn chế Phật giáo, Đạo giáo vì ông cho rằng giáo lý của hai đạo này hếtthảy đều “mê lừa dân”, “che lấp nhân nghĩa”, cái hại của nó không thể kể xiết

mà lòng người rất ham, rất tin, trong khi đạo của Thánh nhân (tức Nho giáo),lớn thì tam cương, ngũ thường, nhỏ thì tiết văn độ số đều thiết dụng trong

Trang 13

cuộc sống thường ngày Mặc dù bị hạn chế, nhưng Phật giáo và Đạo giáo vẫntồn tại ở mức đáng kể, có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá tinh thần,không chỉ trong dân gian mà cả trong một bộ phận quan lại, thậm chí cả trongđời sống cung đình

Giáo dục Nho học do Nhà nước phong kiến quản lý bắt đầu xuất hiện

từ cuối thế kỷ XI khác hẳn nền giáo dục của nhà chùa đã tác động trực tiếp đếnsinh hoạt văn hóa, tư tưởng của nhân dân, đến sự hình thành đội ngũ trí thức dântộc và quan lại cũng như ảnh hưởng đến thế giới quan, phong cách tư duy vànhững quy phạm chính trị và đạo đức của con người Trong thế kỷ XV, giáo dục

và thi cử Nho học tiếp tục được mở rộng và không ngừng phát triển

Hoạt động văn hóa - nghệ thuật diễn ra sôi nổi Văn học rất phong phú

về thể loại với nội dung xoay quanh những vấn đề của đạo Nho và đề cập đếnđời sống hiện thực, phản ánh tinh thần dân tộc Các ngành nghệ thuật sânkhấu ca vũ nhạc cũng có nhiều bước tiến bộ, đã xuất hiện những loại hình cakịch như hát ả đào, hát chèo, hát tuồng, Bên cạnh nền văn hóa cung đìnhcòn tồn tại một nền văn hóa dân gian rất đa dạng và phong phú, phục vụ đờisống tinh thần của tầng lớp lao động Ở các địa phương, các lễ hội truyềnthống thể hiện tinh thần thượng võ như bơi thuyền, đánh vật, đấu gậy, cướpcù rất thịnh hành Các lễ hội thường xuyên gắn liền với việc nêu cao truyềnthống đánh giặc giữ nước và suy tôn các vị anh hùng dân tộc, những người đã

hy sinh vì sự nghiệp chống ngoại xâm

Những thành tựu văn hóa rực rỡ luôn gắn liền với sự vận động và phát

triển của tư tưởng Việt Nam, nhất là tư tưởng chính trị Thông qua hai đại

diện tiêu biểu là Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông, tư tưởng chính trị Việt Namthế kỷ XV đã tỏ ra phong phú và đạt tới một trình độ cao; nó không vượt rangoài giới hạn của những vấn đề mà thực tiễn đất nước đòi hỏi và là một tấmgương phản ánh khá rõ những nét cơ bản của sinh hoạt chính trị - xã hội trongthời kỳ này

Trang 14

1.1.3 Lê Thánh Tông lên ngôi

Thế kỷ XV với nhiều biến cố chính trị phức tạp, đánh dấu sự hìnhthành và những bước phát triển quan trọng đối với Nhà nước phong kiến thời

Lê Sơ Vào năm 1428, sau khi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhàMinh thắng lợi, Lê Lợi - lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lên ngôi vua,tức Lê Thái Tổ, vương triều nhà Lê (Lê Sơ) được thiết lập Thời kỳ này, nhà

Lê ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh cũng như ổn định trật tự xã hội vàcủng cố chính quyền Sau khi Lê Thái Tổ qua đời năm 1428, Lê Thái Tông và

Lê Nhân Tông lần lượt kế nghiệp đều lên ngôi khi còn rất ít tuổi (10 và 2 tuổi)nên mọi quyết sách trong triều đều nằm trong tay các đại thần và hoàng tháihậu nhiếp chính Tình hình chính trị - xã hội ngày càng rối ren, trong nướcliên tục đối mặt với thiên tai, nhiều nơi mất mùa, nạn đói kém xảy ra liênmiên Tình trạng tham ô, tham nhũng, nhận hối lộ, hạch sách nhân dân ngàycàng diễn ra phổ biến, pháp luật không được thực thi nghiêm minh, nhân dân

bị nhiều oan sai, điêu đứng, tất cả những điều đó đã làm cho đất nước lâm vàokhủng hoảng nghiêm trọng

Năm 1459, Lê Nghi Dân - con trưởng của vua Lê Thái Tông - tập hợpbăng đảng giết hại Lê Nhân Tông - người em cùng cha của mình và tự lập làmvua, “tin dùng bọn gian nịnh, giết hại bề tôi cũ, pháp chế của tổ tông thay đổihết thảy, người oán trời giận” [48, tr.388] Cuộc chính biến cung đình cànglàm cho những bất cập của chế độ bộc lộ sâu sắc Triều đình nhà Lê tỏ ra lúngtúng, bất lực trước đòi hỏi của đời sống chính trị - xã hội đã có những chuyểnbiến tích cực về nhiều mặt sau hơn 30 năm phát triển đất nước trong hoà bình

Trước tình hình thực tiễn đó, năm 1460 một số quan đại thần trungthành với nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã tiến hành một cuộcđảo chính nổi binh giết bọn tay chân của Nghi Dân rồi “giáng Nghi Dânxuống tước hầu” [48, tr.388] Con thứ tư của Thái Tông là Bình NguyênVương Lê Tư Thành vừa tròn 18 tuổi được quần thần đưa lên làm vua tức vua

Trang 15

Lê Thánh Tông Ông là vị vua đã góp phần quan trọng nhất trong việc củng

cố chế độ quân chủ quan liêu tập quyền trung ương Trong thời Lê ThánhTông, bộ máy nhà nước quân chủ trung ương đã phát triển tới mức cao nhấtcủa nó, các chế độ, qui chế về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dụcđều được hoàn chỉnh, làm mẫu mực cho các triều đại phong kiến sau này LêThánh Tông đã được các nhà sử gia phong kiến khen là “vua sáng lập chế độ,văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùngtài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơnđược” [48, tr.387]

Lê Thánh Tông không chỉ là nhà chính trị, vị vua anh minh mà còn lànhà văn hoá, nhà tư tưởng lỗi lạc, học vấn uyên bác và có khả năng về nhiềumặt Ngoài việc hiểu đường lối và phương pháp trị nước, ông còn am hiểuthiên văn, địa lý, lịch sử, văn học Thông qua hoạt động thực tiễn của mình,ông còn sáng tác thơ văn, tự mình chế định ra các loại chiếu, chế, cáo và cácvăn kiện về pháp luật, giáo dục, quân sự, ngoại giao… Tác phẩm của ông

được tập hợp lại trong các bộ Thiên nam dư hạ tập, Hồng Đức quốc âm thi tập… không những cho thấy tài năng, trình độ của ông về các mặt nói trên, mà

còn cho thấy những quan niệm, những tư tưởng của ông về xã hội, về nhân sinh.Trong đó, những quan niệm, những tư tưởng chính trị của ông được thể hiện ravới nhiều nét đặc sắc và có giá trị Tuy mang nặng dấu ấn của Nho giáo, khôngngoài mục đích tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế song nó đã đáp ứngđược một số yêu cầu dân sinh dân chủ của nhân dân, tạo được một số tiền đề chođất nước phát triển và ý thức tự cường dân tộc được đề cao

Lê Thánh Tông lên ngôi vua đã mở ra một giai đoạn phát triển mới củalịch sử dân tộc, ông đã dựa vào những điều kiện mới của đất nước để tiếnhành hàng loạt chính sách lớn, quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, quân

sự, văn hoá, giáo dục Ông đã thực hiện được một bước chuyển quan trọng có

ý nghĩa tiến bộ lịch sử - từ chế độ quân chủ quý tộc sang chế độ quân chủ

Trang 16

quan liêu theo mô hình Nho giáo tuyệt đối - một bước phát triển mới về thểchế Đồng thời, Lê Thánh Tông đã tiến hành đổi mới đất nước, hoàn thànhviệc hội nhập Việt Nam với sự lựa chọn mô hình nhà Minh của Trung Quốc,được xem là tiên tiến nhất lúc ấy Với hai niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), Lê Thánh Tông là vị vua ở ngôi lâu nhất ởthời Lê Sơ, đã đưa đất nước Đại Việt ở nửa cuối thế kỷ XV vào thế ổn định,

có kỷ cương, luật pháp và phát triển mạnh mẽ, toàn diện về mọi mặt, đạt trình

độ ngang bằng với các quốc gia Âu - Á lúc bấy giờ, được coi là “cực thịnh”không chỉ trong hơn một trăm năm của triều đại Lê Sơ mà còn là đỉnh cao sựphát triển của chế độ phong kiến Việt Nam

1.2 QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ, XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN THỜI LÊ THÁNH TÔNG

1.2.1 Cải tổ bộ máy nhà nước ở Trung ương

Thế kỷ XV, sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi, tinh thần độclập và ý chí tự lập tự cường được nâng cao là tiền đề chính trị cho sự củng cốvững chắc nền thống nhất quốc gia và phát triển chế độ trung ương tập quyềntheo hướng quân chủ chuyên chế trên nguyên tắc “tôn quân quyền” Dưới cáctriều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, bộ máy nhà nước về cơbản vẫn phỏng theo tổ chức chính quyền các triều đại trước, còn mang nặng

“hơi hướng” của thể chế quân chủ quý tộc nhà Trần, của việc trọng đãi cácquý tộc hoàng tộc và các “khai quốc công thần” Nhận thấy những hạn chế,bất cập của mô hình này như tình trạng phân tán, thiếu tập trung quyền lựcnên ngay từ khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã sớm tiến hành công cuộc cải tổ

bộ máy nhà nước và được đẩy mạnh vào năm 1471 thông qua việc hiệu định

Hoàng triều quan chế với nguyên tắc “đất đai bờ cõi so với ngày trước càng

lớn hơn nhiều lắm, không thể không thi quyền chế tác, hiểu hết mọi đạo biếnthông” [43, tr.12] Đó thực chất là một cuộc cải cách chính trị, tổ chức lạithiết chế nhà nước quân chủ tập quyền một cách có quy củ, hệ thống nhằm tập

Trang 17

trung quyền lực vào tay hoàng đế, giảm bớt các cơ quan trung gian rườm rà,tăng cường hệ thống giám sát, hạn chế sự tham chính của quý tộc hoàng tộc,loại trừ khả năng lộng quyền của triều thần ở trung ương và tệ nạn tập trungquyền hành của các quan lại ở địa phương

Tăng cường quyền lực và làm cho bộ máy nhà nước ở trung ương trởnên thực quyền là mục tiêu quan trọng nhất trong khâu cải cách hành chính vìchính quyền trung ương là cơ quan đầu não của đất nước trong việc hoạchđịnh và triển khai việc tổ chức thực hiện đường lối chính trị Để thực hiệnmục tiêu đó, Lê Thánh Tông bãi bỏ các chức quan Tam tư (Tư đồ, Tư mã, Tưkhông), Tướng quốc, Đại hành khiển, Tả hữu bộc xạ… và những cơ quantrung gian giữa vua và các cơ quan thừa hành như Thượng thư sảnh, Trungthư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện Vua trực tiếp nắm quyền chỉ đạo, giảiquyết mọi công việc quan trọng của Nhà nước cũng như mối liên hệ với các

cơ quan thừa hành cùng sự giúp đỡ của các đại thần trọng chức là tứ Thái(Thái sư, Thái uý, Thái phó, Thái bảo), tứ Thiếu (Thiếu sư, Thiếu uý, Thiếuphó, Thiếu bảo) và các đại học sĩ… Những đại thần này không hình thành cơquan tư vấn mà chỉ là những người đáng tin cẩn làm việc riêng rẽ, góp ý kiếncho nhà vua Vua thực sự trở thành nguyên thủ quốc gia, nhân vật số một cóquyền lực tuyệt đối trong việc thực thi quyền lực nhà nước, có đặc quyền vềkhen thưởng và xử phạt không những đối với quan lại, dân chúng mà còn cóquyền sắc phong, lập đền thờ cho các công thần, phúc thần hoặc tước sắcphong và triệt phá đền thờ đối với hung thần, gian thần

Cơ quan hành chính Trung ương giúp vua bảo đảm an ninh quốc gia,cai trị quân dân là sáu bộ (gồm Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công,

Bộ Hộ) với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng là phụ trách về các mặt hoạt độngcủa Nhà nước như “gọi lính, lấy quân là việc của Đốc phủ mà thể thống tấtphải do bộ Binh; chi ra, thu vào là chức của bộ Hộ ” [43, tr.13] Thượng thư

là người đứng đầu Bộ, giúp việc có các chức Tả, Hữu thị lang Mỗi bộ lập ra

Trang 18

các Thanh lại ty chuyên trách một số công việc nhất định và một cơ quanthường trực là Tư vụ sảnh Ngoài ra, còn có các cơ quan chuyên môn thừahành những công việc do bộ giao cho là sáu tự (Hồng lô tự, Thượng bảo tự,Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự) chuyên đảm bảo một sốcông việc đặc biệt, chủ yếu là chuyên trách các hoạt động thuộc về hành pháp

ở trung ương và một số cơ quan chuyên môn về văn hoá, giáo dục không lệthuộc vào sáu bộ như Hàn lâm viện, Quốc sử viện

Để kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật trong thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, Lê Thánh Tông cho lập ra 6 khoatương ứng với 6 bộ (gồm Khoa Lại, Khoa Hộ, Khoa Lễ, Khoa Binh, KhoaHình và Khoa Công) và Ngự sử đài Ngự sử đài do Đô Ngự sử đứng đầu là cơquan có quyền kiểm soát toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước ởTrung ương và địa phương, có quyền đàn hặc (vạch rõ tội lỗi, vi phạm của cácquan từ bá quan đến hoàng thân, hoàng tử), quyền can gián nhà vua, quyềntấu trình trực tiếp với nhà vua Ngoài ra Ngự sử đài còn có quyền bàn bạcchính sự đương thời và duyệt xét án

Để nâng cao hiệu lực quản lý, Lê Thánh Tông rất chú trọng thiết lậpquy chế tổ chức hoạt động và mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước

Ở cấp Trung ương, các bộ thực hiện nguyên tắc “Lục bộ tương thông” nhằmphối hợp điều hành công vụ hoặc trực ban tại Triều đình, làm cho công việcquản lý nhà nước trở thành một chính thể thống nhất và được giải quyếtnhanh, gọn, hiệu quả Lê Thánh Tông hợp lý việc phân tán quyền lực giữa các

cơ quan giúp việc trong triều, chẳng hạn như không lập ra các quan tư phápđộc lập mà chỉ quy định những vụ án ở Trung ương phải qua các quan như Đềlĩnh, Phủ doãn, ở ngoài đạo phải qua các Thừa ty và Hiến ty rồi chuyển lên

Bộ Hình, những án bị kêu ca, khiếu nại chuyển lên Ngự sử đài duyệt lại Hơnnữa, việc tổ chức mạng lưới sáu khoa kiểm tra, giám sát việc thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của sáu bộ lần đầu tiên được thực hiện dưới triều Lê Nếu như

Trang 19

ở các triều vua Lê trước Lê Thánh Tông, Ngự sử đài và tất cả các quan lại đềuđược quyền dâng sớ đàn hặc bất cứ một viên quan nào hoặc một cơ quan nào

đó trong triều thì đến thời vua Lê Thánh Tông, ông đã bãi bỏ lệnh đó và giaohẳn cho sáu khoa chịu trách nhiệm này Trong các buổi chầu, nhà Vua đòi hỏi

sự có mặt của các văn võ đại thần, các viên quan phụ trách các bộ, khoa,Thượng bảo tự, Thông chính sứ ty, Đông các, Ngự sử, Sử quan, nghĩa là cốgắng tận dụng sự góp ý của tất cả những người có chức trách

Dưới thời Lê Thánh Tông, bộ máy nhà nước ở Trung ương đã được xâydựng theo hướng tinh gọn, hiệu quả và tập trung toàn bộ quyền lực nhà nướcvào trong tay nhà vua Cùng với cải tổ về mặt tổ chức, Lê Thánh Tông đã sửađổi quy chế công chức, nếu như trước đó việc bổ nhiệm quan lại phần nhiềulấy “quan to, tước cao” thì đến đời vua Lê Thánh Tông đặt quan đều là “lương

ít, trật thấp” Mặc dù, số lượng quan lại được đặt ra so với trước có tăng rấtnhiều về số lượng nhưng tiền lương chi tiêu so với trước kia không tăng Nhờ

đó, “kẻ ăn hại đã không có, trách nhiệm lại quy đến nơi Để cho lớn nhỏ cùngràng buộc nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau Uy quyền không giả mà lẽnước lại khó lay” [43, tr.13-14]

1.2.2 Xây dựng bộ máy hành chính thống nhất ở các cấp

Để tăng cường sự điều hành của Triều đình đối với chính quyền địaphương, năm 1466, Lê Thánh Tông xoá bỏ 5 đạo và 24 lộ của thời Trần, đồngthời “đặt ra mười hai đạo thừa tuyên” Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá,Thiên Tường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hoá, TuyênQuang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô; đổi lộ làm phủ, đổi trấnlàm châu [48, tr.411]; sau đó đặt thừa tuyên Quảng Nam, tổng cộng là mười

ba đạo Khi tổ chức lại chế độ cai trị ở cấp đạo, Lê Thánh Tông không đặt ramột chức quan có quyền hành quá to đứng đầu cấp đạo như trước mà phân lập

quyền lực nhà nước ở địa phương thành ba phạm vi: thứ nhất, quyền quản lý

hành chính, dân sự, thuế khoá giao cho Tuyên chính sứ ty, đứng đầu là chức

Trang 20

Tuyên chính sứ, sau đó đổi thành Thừa ty đứng đầu là chức Thừa chính sứ;

thứ hai, quyền chỉ huy quân đội được giao cho Đô ty do Tổng binh phụ trách; đến năm 1471, Lê Thánh Tông đặt thêm ty thứ ba ở mỗi đạo là Hiến sát sứ ty do

chức Hiến sát sứ đứng đầu Năm 1473, quy định rõ chức trách “Hiến sát sứ vàHiến sát phó chuyên giữ các các chức vụ tâu bày, xét hỏi, tâu hặc hoặc khám xét,xét kiện, hội đồng, đối chiếu, soát lại, xét công tội, đi tuần hành… cả thảy 32điều” [48, tr.463] Hàng năm, Hiến sát sứ phải đi kinh lý xứ mình để thăm hỏicuộc sống của nhân dân, kiểm tra hoạt động của các quan lại địa phương, phủ,huyện, xã Tất nhiên, những công việc như khuyến khích sản xuất, khám xét việckiện tụng, chỉ đạo công việc của các thuộc lại… cả hai ty Thừa, Hiến đều phảichăm lo Theo quy định năm 1471, nếu ở địa phương có tai biến nhưng Thừa ty,Hiến ty phủ, huyện không đến xem xét ngay mà “chây lười để quá hạn, ta sẽ sai

vệ sĩ vệ Cẩm y đi điều tra, nếu thấy vẫn còn việc lợi nên làm, mối hại nên bỏ màcác ngươi chưa nói tới thì quan phủ, huyện phải bãi chức, sung quân ở QuảngNam, quan Thừa ty bị phải giáng chức” [48, tr.457] Ngoài Hiến ty, Lê ThánhTông còn đặt 13 cai đạo giám sát ngự sử chuyên theo dõi, kiểm tra hoạt độngcủa quan lại địa phương Như vậy, mỗi ty có phần quyền hạn riêng của mìnhđồng thời phải chịu trách nhiệm trước cấp trên của mình ở Trung ương Cácchức quan ở ty Hiến sát cùng với 13 giám sát ngự sử là những người theo dõi,giám sát hoạt động của quan lại các ty, các phủ, huyện Năm 1489, khi dụ Ngự

sử đài và Giám sát ngự sử 13 đạo, Lê Thánh Tông quy định “nếu là ba ty bênngoài trị lý dân chúng, khi phát hiện quan lại tham ô, hoặc có đơn khống tố vềkiện tụng oan ức, cùng tất cả việc riêng tư xảy ra trong phủ, huyện, châu thì dophân ty các đạo xét xử thi hành” [48, tr.506]

Dưới đạo, Lê Thánh Tông chia thành các phủ, dưới phủ là huyện ởđồng bằng và châu ở miền núi Đứng đầu phủ có Tri phủ, Đồng tri phủ; Trihuyện và Huyện thừa cai quản mỗi huyện; ở châu (vùng dân tộc thiểu số) cóTri châu do các tù trưởng đảm nhiệm Riêng phủ Trung đô thì đặt viên Phủ doãn

Trang 21

đứng đầu, giúp việc có Thiếu doãn và Thị trung Đơn vị quản lý hành chính cơ

sở là cấp xã được phân thành ba loại là đại xã, trung xã, tiểu xã căn cứ vào số hộdân Năm 1466, Lê Thánh Tông đổi chức xã quan thành xã trưởng là nhữngngười đứng đầu cấp xã giúp các đơn vị hành chính cấp trên nắm quyền quản lýruộng đất, thu thuế và quản lý hành chính ở địa phương Đầu năm 1490, LêThánh Tông ban hành thể lệ tách xã cũ, lập xã mới theo nguyên tắc, tiểu xã có từ

100 đến 299 hộ, trung xã có từ 300 đến 490 hộ, đại xã có trên 500 hộ; những đại

xã quá số quy định 100 hộ (tức là có khoảng 600 hộ trở lên) thì tách số hộ này ralập thành một tiểu xã mới Cũng vào năm 1490, khi xác định bản đồ toàn quốc,dưới 13 đạo thừa tuyên có “52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường,

6851 xã, 332 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường” [48, tr.507]

Các chức quan từ cấp huyện trở lên đều do Nhà nước bổ nhiệm Điềukiện và thủ tục bổ nhiệm được quy định rõ ràng và có văn bản Riêng chức xãtrưởng, tuy do dân bầu nhưng phải được sự duỵêt y của quan phủ, huyện Xãlớn (đại xã) được cử 3 xã trưởng, xã vừa (trung xã) cử 2 xã trưởng còn xã nhỏ(tiểu xã) cử 1 xã trưởng

Công tác thanh tra, giám sát được Triều đình đặc biệt chú trọng vì việccai trị của quan lại các cấp, nhất là ở địa phương có liên quan trực tiếp đếncuộc sống của nhân dân Sử cũ ghi lại 22 lần (trong vòng 25 năm) nhà Vuaban các sắc dụ nói về trách nhiệm của các quan ty thừa, hiến phủ, huyện, 13giám sát ngự sử Cùng với việc tăng cường hiệu lực hoạt động của bộ máychính quyền các cấp, Lê Thánh Tông còn ban hành hàng loạt các lệnh chỉ về

sổ hộ tịch, về kiểm tra dân số, ruộng đất… Đó là những biện pháp nhằm tăngcường quyền lực của chính quyền trung ương đối với các địa phương để nắmđược tình hình thực tế về mọi mặt diễn ra ở cơ sở

1.2.3 Đề cao vai trò của pháp luật trong trị nước

Hoạt động lập pháp nhằm duy trì trật tự xã hội và kỷ cương phép nướcđược xem là công việc hệ trọng nhất của các bậc vua chúa cho nên sau khi lênngôi, Lê Thái Tổ đã chú ý ngay đến việc xây dựng pháp luật, đề ra một số luật

Trang 22

về kiện tụng và phân chia ruộng đất công làng xã Thời Lê Thái Tông, Nhànước xây dựng thêm một số quy tắc xét xử các vụ kiện tụng và một số điềuluật nghiêm cấm hối lộ Thời Lê Nhân Tông liên tiếp ban hành nhiều điều luật

về quyền thừa kế ruộng đất, về bảo vệ quyền lợi của quan lại, quân lính vàviệc bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến Đến thời Lê Thánh Tông, đi đôi với việccủng cố bộ máy nhà nước, Triều đình rất coi trọng tới việc xây dựng thể chếpháp luật để cai trị đất nước và quản lý xã hội Năm 1464, khi biếm chứcBinh bộ Tả thị lang Nguyễn Đình Mỹ vì mắc tội tham tang, Lê Thánh Tôngnêu rõ: “Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi đều phảitheo” [48, tr.401] Năm 1471, nhân hiệu định Hoàng triều quan chế, thực chất

là cuộc cải tổ chính trị, sắp xếp lại một cách có hệ thống bộ máy nhà nướcquân chủ tập quyền, Vua dụ các quan và trăm họ phải “thành thói quen theođạo giữ phép; không có lỗi trái nghĩa phạm hình” [43, tr.14] Trong sắc dụquan lại cả nước vào năm 1474, Vua lại khẳng định “đặt luật để trừ kẻ gian,sao dung được bọn coi thường pháp luật” [48, tr.463]

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị của giai cấpphong kiến, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và có hiệu lực trên

cơ sở của pháp luật Để tập trung cao độ quyền lực nhà nước vào tay nhà vua,đơn giản hoá các cơ quan hành chính, phục dịch, Lê Thánh Tông đã đề caoluật pháp, lấy luật pháp làm chuẩn để giải quyết các vấn đề có ảnh hưởng đếntrật tự xã hội và an ninh quốc gia Có thể thấy pháp luật được ban hành dướitriều vua Lê Thánh Tông khá hoàn thiện về hình thức và nội dung, đỉnh cao là

Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức (năm 1483), gồm có

721 điều, chia làm sáu quyển, 16 chương Về cơ bản, Bộ luật này là luật hình,như tên gọi của nó, nhưng thực chất, lại là một bộ luật tổng hợp nhiều ngànhluật, điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng trong các lĩnh vực chính trị,kinh tế, hôn nhân và gia đình cũng như các quan hệ xã hội cơ bản khác Bộluật biểu hiện rõ nét tính chất giai cấp và quyền lực của nhà nước phong kiến đốivới nhân dân, nhưng cũng là bộ luật tiến bộ nhất trong lịch sử phong kiến Việt

Trang 23

Nam, “mang đậm nét sáng tạo và tinh thần thực tiễn của giai cấp phong kiếntrong giai đoạn đi lên của nó” [34, tr.203] Đây là thành tựu có giá trị đặc biệtquan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam, là đỉnh cao so với những thành tựu

pháp luật không chỉ của các triều đại trước đó mà còn đối với cả bộ Hoàng Việt

luật lệ được biên soạn vào đầu triều Nguyễn sau này như Phan Huy Chú nhận

xét: “Hình luật đời Hồng Đức các thời đều tuân theo, dùng làm phép sẵn, dùcác điều mục lặt vặt có thêm bớt, nhưng đại cương chế độ bao giờ cũng vẫn theo

đó, thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân” [5, tr.94]

Thời Lê Thánh Tông, với hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, lấy

Quốc triều hình luật làm xương sống, đã xác lập được một trật tự pháp luật cần

thiết và đầy hiệu lực để củng cố và bảo vệ trật tự nhà nước, trật tự xã hội của chế

độ phong kiến tập quyền; gắn tăng cường kỷ cương, phép nước với bảo đảm andân, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của đất nước Nhờ có cácvăn bản pháp luật phù hợp với lợi ích của đông đảo quần chúng, Nhà nước đã xâydựng được uy thế chính trị lớn Với thái độ kiên quyết, thực hiện nghiêm pháp luật

từ trên xuống, đã dần tạo lập được thói quen tôn trọng pháp luật, sống theo phápluật và mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Sử thần Ngô Sĩ Liên, ngườiđương thời biên soạn lịch sử gian đoạn này, đã kê cứu được một số lượng lớn các

vụ phạm pháp trong khoảng thời gian 10 năm dưới niên hiệu Quang Thuận 1469) mà phần lớn đều liên quan đến những quan chức cao cấp trong triều và LêThánh Tông đã xử rất nặng Trong gần 3 thập kỷ sau đó dưới niên hiệu Hồng Đức(1470-1497), số lượng các triều thần và các quan chức trọng trách trong kinh cũngnhư ở các địa phương phạm pháp giảm hẳn Các vụ việc mà nhà Vua phải trựctiếp xử hoặc giao cho Pháp ty là không đáng kể Trọng tâm các sắc dụ chuyểnsang các lĩnh vực khác như giáo hoá, răn dạy đạo đức Nho giáo, tăng cường côngtác khuyến nông, chỉnh đốn chế độ thi cử, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh ởcác châu xa và biên giới Có thể nói, mục tiêu chấn chỉnh lại kỷ cương phép nước,trước hết là trong triều đình mà Lê Thánh Tông đề ra, đã được thực hiện

Trang 24

(1460-Tóm lại, trong buổi đầu chính quyền nhà Lê về cơ bản vẫn phỏng theo

tổ chức chính quyền của các triều đại trước Trải qua nhiều lần sửa đổi và chấnchỉnh, đến thời Lê Thánh Tông, thông qua cuộc cải cách được đẩy mạnh năm

1471 và Quốc triều hình luật ban hành năm 1483, bộ máy nhà nước phong kiếntrung ương tập quyền đã đạt đến giai đoạn phát triển cao nhất của mô hình Nhogiáo Hệ thống các cơ quan trong bộ máy quyền lực nhà nước được “xếp đặtphân minh, phân công rõ ràng, không dẫm đạp lên nhau” [17, tr.449] Ngoài việclập ra các cơ điều hành là sáu bộ, sáu tự, Lê Thánh Tông còn lập ra một mạnglưới các cơ quan kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các

tổ chức, cá nhân nắm quyền lực là sáu khoa và Ngự sử đài

Cả bộ máy triều đình đều đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của nhà vua,khuynh hướng tăng cường sự chi phối của Triều đình và hạn chế quyền lực địaphương được thể hiện rõ nét, coi trọng sự phân chia và kiểm soát lẫn nhau giữa

hệ thống hành chính, quân sự, tư pháp và giám sát Nhờ đó mà Lê Thánh Tông

đã thâu tóm được quyền hành, tạo ra một hệ thống hành chính phù hợp với trình

độ phát triển kinh tế - xã hội và dân trí đương thời Để đáp ứng yêu cầu vận hànhcủa bộ máy nhà nước sau cải cách gắn liền với thực thi theo pháp luật, việc quản

lý xã hội đòi hỏi phải có một đội ngũ quan lại có kiến thức, có văn hoá, hiểu biết

về pháp luật, có phẩm chất đạo đức… Đó chính là những tiêu chuẩn của quan lạinhà nước mà Lê Thánh Tông muốn hướng tới

1.3 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ QUAN LẠI

1.3.1 Chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại theo những tiêu chí cụ thể

1.3.1.1 Có văn hoá, tri thức cai trị theo tư tưởng Nho giáo

Nền văn hoá Đại Việt thế kỷ XV phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiềuthành tựu rực rỡ, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và tư tưởng Thời kỳ này,Nho giáo được tạo điều kiện củng cố và vươn lên thành hệ tư tưởng thống trị

Trang 25

xã hội, kéo theo sự phát triển của nền giáo dục khoa cử Nho giáo Bản thân

Lê Thánh Tông từ nhỏ đã chăm chỉ học hành, lo lập thân bằng con đườngnghiên bút, “sớm khuya không lúc nào rời sách vở”, dành toàn bộ tâm sức choviệc nắm được “sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền” [48, tr.388], vốn có tưchất thông minh lại “đặc biệt siêng năng” nên đã sớm trở thành nhà nho uyênthâm trước khi trở thành hoàng đế, “các tập kinh, sử, các sách lịch, toán,những việc thánh thần, không có việc gì không bao quát tinh thông” [48,tr.519] Là người tiếp thu Nho giáo một cách cơ bản từ nhỏ nên sau khi lênngôi vua, từ những bài học kinh nghiệm lịch sử của các triều trước và của cácbậc cha ông để lại, Lê Thánh Tông chủ trương và kiên quyết dùng Nho giáo

để thống nhất về mặt tư tưởng trong phạm vi cả nước, đưa nó lên địa vị độctôn và ngự trị trong các thể chế của Nhà nước Ông triệt để khai thác ở Nhogiáo những nhân tố cần thiết để ổn định tình hình chính trị lúc bấy giờ, thểhiện rõ nét ở các bài văn sách đình đối - một hình thức thi đặc biệt bằng sự

“đối thoại” giữa vua và “sĩ tử” về các vấn đề tư tưởng và những vấn đề chínhtrị - xã hội quan trọng nhất của đất nước Văn sách đình đối của Bảng nhãnNguyễn Đức Trinh (khoa thi năm Quý Mùi 1463) đã làm rõ chủ trương của

Lê Thánh Tông trong vấn đề dùng Nho thuật để cai trị thiên hạ: “Điều cốt yếucủa việc trị nước là ở làm sáng tỏ nền thánh học, lấy đó làm gốc cho việcchính nhân tâm trừ tà thuyết” [38, tr.7] Văn sách đình đối của Trạng nguyên

Vũ Kiệt (khoa thi năm Nhâm Thìn 1472) khẳng định: “Nho thuật không đượccoi trọng thì giáo hoá không được sáng sủa, nhân tài không phát triển, khônglấy gì để dựng cương thường muôn thuở, khơi dẫn nguyên khí của quốc gia”[39, tr.9] Văn sách đình đối của Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu (khoa thi năm

Ất Mùi 1475) nêu cụ thể thêm: “Trị nước lấy Nho thuật làm đầu, trí trị lấy dùngNho làm gốc Phàm đạo đức, nhân, nghĩa, lễ, nhạc, hành chính đều là Nho thuậtcả” [40, tr.1] và “Nho thuật có ích cho quốc gia dựng mực thước cho dân, mởnền thái bình cho muôn đời Công dụng lớn như vậy thì phàm bậc trị thiên hạquốc gia, ai có thể bỏ mà không dùng?” [40, tr.4]

Trang 26

Thể chế chính trị nào cũng cần xây dựng được đội ngũ để duy trì quyềnlực của giai cấp thống trị Do đó, cùng với việc cải cách hành chính, củng cố

và đổi mới bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên hệ tư tưởngNho giáo, Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ quanlại với tư cách là chủ thể vận hành bộ máy đó Muốn thế, những người đượcgiao nhiệm vụ này phải có kiến thức về cai trị theo tư tưởng chính trị Nhogiáo Lê Thánh Tông đặt ra những quy định nghiêm ngặt, đòi hỏi cao về họcvấn, người làm quan phải có tri thức và chủ trương lấy trình độ học vấn làm

cơ sở để tuyển chọn quan lại Vì vậy, họ phải được đào tạo cơ bản, học hànhđầy đủ thông qua giáo dục và thi cử Nho học để từng bước tri thức hoá, vănhoá hoá đội ngũ quan lại Đã qua rồi thời các quan “mù tịt, dốt đặc, xiểmnịnh”, thời đại mới với một bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức khoahọc và phân minh hơn từng bước được thiết lập sẽ cần đến một đội ngũ quanlại tương xứng “có học thức vững chắc và trung thành với dòng họ bằng trítuệ và đạo đức trong công việc” [44, tr.100]

1.3.1.2 Hiểu biết pháp luật và có ý thức chấp hành pháp luật

Song song với việc ban hành các văn bản luật, xác lập lòng tin yêu củadân chúng với nhà cầm quyền, Lê Thánh Tông chủ trương xây dựng đội ngũquan lại - những người thay mặt vua và được giao cho việc thi hành pháp luậttức là nhiệm vụ cai trị đất nước phải thông thạo pháp luật Ông cho rằng,những người nắm pháp luật, thường là những người cầm cân nảy mực, vì vậybản thân họ phải có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nhất định để vận dụngpháp luật cho đúng Đồng thời họ phải tuân thủ chặt chẽ những thể chế,những quy định của pháp luật thì mới đảm bảo cho pháp luật có giá trị tối caotrong hoạt động của Nhà nước Điều đó sẽ ngăn chặn được sự lạm quyền, sửdụng quyền lực một cách tuỳ tiện ở các cấp chính quyền, nhằm làm trongsạch, vững mạnh bộ máy nhà nước Thực tế, Triều đình đã xử lý rất nghiêmkhắc đối với những hành vi phạm pháp của quan lại, bất kể họ ở cương vị nào

Trang 27

trong bộ máy nhà nước, từ các quan có hàm từ chánh nhất phẩm (quan đạithần) trở xuống cả ở trong Kinh đô và ngoài các đạo thừa tuyên với các hìnhthức từ quở trách, cách chức, bãi chức đến xử phạt như: đánh trượng Điện tiềnkinh lịch Cao Bá Tường và đày ra châu ngoài vì “bọn quan kiểm điểm Lê ThọVực, Lê Bô, Phạm Văn Hiến coi giữ quân lính, bắt làm việc riêng và thả về đểlấy tiền mà Bá Tường không biết nêu ra để hặc tội”, thu lại quân quyền củaTây quân đô đốc Lê Thiệt vì “con Thiệt là Bá Đạt đang giữa ban ngày phóngngựa ra phố, dung túng gia nô đánh người”, bắt Giám sát ngự sử Quản CôngThiêm do “dung túng kẻ đưa hối lộ là Hán Tông Nghiệp” hay Phó Tổng binhtrấn thủ Bắc Bình là Lê Lục và Đồng Tổng tri Nguyễn Lương “giữ trấn mình mà

để cho giặc cướp đốt quan ải” nên bị đày ra châu xa [48, tr.427, 413, 416, 423]

Quan lại có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp củangười dân đều bị trừng phạt nghiêm khắc và được quy định cụ thể trong Quốc

triều hình luật Theo đó, tại Điều 185, quan lại làm công vụ sách nhiễu dân bị tội xuy đến biếm một tư; Điều 632 quy định: “Các quan cai quản quân dân các

hạt, vô cớ mà đi đến những làng, xã trong hạt, hay là cho vợ cả vợ lẽ, ngườinhà đi lại, mượn việc mua bán làm cớ, để quấy nhiễu nhân dân, lấy của biếu

xén, thì xử tội biếm hay bãi chức” hoặc theo các điều 636, 638, 639, nếu quan

lại tự tiện bắt dân phục dịch, hoặc vay mượn của dân hay cho dân vay để lấylãi cao, hoặc tự tiện lấy của dân để làm việc riêng thì đều phải bồi thường vàchịu hình phạt theo pháp luật [49, tr.87, 215-217] Năm 1467, Lê Thánh Tông

đã bãi chức Tây quân đô đốc Lê Thiệt vì cấp dưới sai đi tuần ngoài biên giới

đã “doạ nạt lấy bạc của dân” [48, tr.423]

Trong thi hành pháp luật, Lê Thánh Tông không để cho tình cảm riêng

tư chen vào Hình bộ thượng thư Trần Phong là nho thần kỳ cựu trong triều vàtừng là thầy dạy của Lê Thánh Tông còn Lê Bô là một trong số những ngườitham gia vụ chính biến giết Nghi Dân nhưng Lê Thánh Tông đều không vì thế

mà châm trước Năm 1468, Vua dụ các quan trong triều rằng: “Xem Trần

Trang 28

Phong xin cho Lê Bô phạm pháp bị tội kình (tội phải thích chữ vào mặt) đượcchuộc tội, như thế là người giàu có nhiều của hối lộ thì được miễn tội, cònngười nghèo thì vô cớ mà bị trị tội, là cả gan vi phạm phép tắc của tổ tông lập

ra để trừng trị kẻ ngoan cố không biết răn chừa" và có sắc chỉ cho Pháp tykhông được nương nhẹ, phải xử công bằng các viên quan nội thần NguyễnThư, Chu Đức Đại, Dương Minh Phong, Ngô Ất, Phan Tông Trinh “đều làngười hầu cận, quen thói ăn hối lộ, pháp ty giữ công bằng, tội đáng phải xửtử’” [48, tr.435]

1.3.1.3 Tận trung với vua và triều đình, tận tuỵ với công việc được giao

Là bề tôi, quan lại phải tận trung với vua, tận trung với triều đình trongmối quan hệ hàng đầu là “vua - tôi” theo tư tưởng chính trị Nho giáo Vì thế,ngay sau khi lên ngôi, nhằm “răn đe kẻ bất trung”, Lê Thánh Tông đã định tộinặng đối với Lê Đắc Ninh vì “giữ cấm binh không biết bảo vệ xã tắc” lại giúp

kẻ phản nghịch giết vua Nhân Tông và Thái hậu; ba năm sau giết Thái uý LêLăng vì tội “ngầm mưu làm phản” và đến năm 1485, Trần Phong bị kết tội

“mang lòng bất trung”, “phản quốc” [48, tr.389, 397, 498] Quốc triều hình

luật đã thể hiện rõ nét nguyên tắc bảo vệ và củng cố vương quyền, chế độ

quân chủ quan liêu, trật tự “đẳng cấp” phong kiến, mọi hành vi xâm phạm đếnlợi ích, sự an toàn và sự “bình yên” của vua và hoàng tộc, của thể chế đều bịtrừng trị nghiêm khắc Trong “thập ác” (mười tội nặng phải chết) thì có 5 tộixâm phạm đến vua và hoàng tộc Nguyên tắc này cũng là tư tưởng chỉ đạoxuyên suốt toàn bộ Bộ luật nhất là ở các chương Vi chế, Vệ cấm

Đối với quan lại, trung với vua không chỉ là “một lòng tôn kính thờvua”, không được bất kính, xâm phạm đến danh dự, quyền lợi của Triều đình,

mà còn thể hiện ở việc trung thành với đường lối trị nước của nhà vua, mộtlòng một dạ dốc sức phò vua, giúp vua trị nước bằng những hành động cụ thể,thể hiện ở sự chuyên cần, trung thực, “hết lòng trung tín, hết sức tận tâm” khithực thi nhiệm vụ của mình Năm 1465, Quốc Tử Giám tế tửu kiêm Văn minh

Trang 29

điện đại học sĩ Nguyễn Bá Ký được Lê Thánh Tông khen ngợi là “giữ mìnhchính trực”, “lúc thoi thóp rồi mà lòng trung vẫn mãi chưa thôi” [48, tr.407].Trước đó, năm 1464, nhà Vua có sắc dụ Hình Bộ tả thị lang Nguyễn Mậu

“ngươi chăm lo việc nước… thực đáng khen ngợi lắm” và biểu dương Thiêm

đô ngự sử Nguyễn Thiện “hết lòng thành lo việc nước, kính cẩn chăm lo chứcnhiệm, nhiều lần dâng lời hay” [48, tr.402-403] Vua muốn quan lại là trungquân, còn bản thân thì đối xử công bằng, chân tình, không vì tình riêng mà lẫnlộn, sao nhãng công việc Lê Thánh Tông nói với Nguyễn Cự Đạo (Thượng thư

Bộ Hộ): “Về mặt thần hạ, ngươi với ta là người tri kỷ, là bạn học thức Về mặtvua tôi, ta với ngươi là duyên cá nước, là hội gió mây Ngươi hãy hết lòng hợpsức, gắng gỏi lo báo đền ơn nước, chí công vô tư, để cho dứt hẳn tệ hối lộ” [48,tr.435] Lê Thánh Tông ưa dùng người thẳng thắn, tâm huyết, trung thành nên đãkhen ngợi, dặn dò Lê Cảnh Huy: “Ngươi đã hết lòng can ngăn nói thẳng, chỉ ralỗi lầm của trẫm, dẫu nửa được nửa hỏng, nhưng phương cứu tệ, giúp đời xuấtphát từ lòng trung quân ái quốc, đã liền dòng liền trang rồi Từ nay về sau,… bànluận ở triều đình cho trắng đen sáng tỏ” [48, tr.401]

Trong Quốc triều hình luật có nhiều quy định đòi hỏi sự siêng năng của

đội ngũ quan lại và đưa ra những hình phạt nghiêm khắc đối với quan lạikhông chuyên cần với công việc được giao như: “Các quan đang tại chức mà

trễ nhác việc công thì bị phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức” (Điều 199),

hay ở Điều 222 “Những quan chức được sai làm việc công, thấy việc nặng nề

khó khăn mà nói dối là đau ốm để khỏi phải đi thì bị biếm hay bị đồ; nếu là việc quân khẩn cấp mà trốn tránh thì xử tội lưu hay tội chết” [49, tr.91, 96].

Theo sắc chỉ năm 1479 thì “các quan viên lười biếng, bỉ ổi, đê tiện, yếu hèn,nếu là con cháu công thần thì bãi chức bắt về làm dân, nếu là con cháu thườngdân thì bãi chức sung quân” [48, tr.473] Năm 1491, Lê Thánh Tông định lệ

“Quan lại ở Hình bộ người nào mắc tội lười biếng, gian tham, buông tuồng,phóng túng thì làm bản tâu lên theo luật mà trị tội” [48, tr.510] Ngoài ra, để

Trang 30

khuyến khích, động viên sự làm việc chăm chỉ của quan lại, Điều 3 của Quốc triều hình luật nêu rõ “nghị cần, là những người cần cù, chăm chỉ” thuộc một

trong tám đối tượng được xem xét giảm hình phạt khi những người này phạmtội [49, tr.38]

Triều đình luôn nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm của quan lại đối vớicông việc được giao Năm 1484, nhà Vua có sắc chỉ “hai ty Thừa, Hiến ralệnh cho các quan Hà đê, Khuyến nông các phủ, huyện, châu phải nghĩ kếchống đói cho dân… không được vứt bỏ chức trách của mình, coi thường đau

khổ của dân” khi đề điều bị vỡ, ngập mất lúa mùa [48, tr.491] Quốc triều hình luật, tại Điều 284 đã nhấn mạnh trách nhiệm quan lại chăm lo cuộc sống

của dân “nếu không biết làm việc lợi, trừ việc hại, để dân trăm họ phải phiêubạt đi nơi khác, hộ khẩu bị hao hụt và có trộm cướp tụ họp ở trong hạt, thì xử

tội bãi chức hay tội đồ”, Điều 220 nêu rõ khi có chiếu lệnh của Triều đình ban

xuống thì các quan ty phải có trách nhiệm sao lục niêm yết ra để biểu thị choquân dân biết rõ đức ý của vua, nếu “coi thường chiếu lệnh ấy là lời hão thì bị

phạt, bị biếm hay bị bãi chức” hoặc Điều 294 quy định về việc chăm sóc

những người “đau ốm mà không ai nuôi nấng”, lang thang cơ nhỡ [49, tr.95,

113, 116] Đại Việt sử ký toàn thư ghi, năm 1467, Triều đình đã “giáng chức

bọn Thừa tuyên sứ các xứ Bắc đạo Lê Công Khác, mỗi người một bậc vìtrong xứ có nhiều sâu cắn lúa mà không biết tâu lên trước, chỉ ngồi nhìn taihại đối với dân” [48, tr.430]

1.3.1.4 Tấm gương sáng về đạo đức

Trong chế độ quân chủ, quan lại được coi là bậc “phụ mẫu chi dân”(cha mẹ dân) Hơn nữa, với nguyên tắc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiênhạ” trong tư tưởng Nho giáo đòi hỏi họ phải là tấm gương sáng về đạo đứccho dân chúng noi theo Lê Thánh Tông có thái độ nghiêm khắc đối với một

số người tuy có công tích, đỗ đạt nhưng xu nịnh, nói bừa hoặc kiêu căng,thiếu nhân cách Năm 1469, khi biết quan chỉ huy Phạm Phổ định nhờ vảngười khác đưa con gái vào trong cung để lo “củng cố quyền vị”, Vua dụ các

Trang 31

quan trong triều rằng Phạm Phổ là “tặc thần của nhà nước”, do đó bãi chức[48, tr.437] Trước đó hai năm, quan Chỉ huy sứ vệ Vũ Lâm là Lê Tông Vĩnhcũng bị cách chức vì khai man lý lịch để được hưởng tập ấm [48, tr.418].

Quan thanh liêm sẽ đảm bảo cho bộ máy nhà nước luôn trong sạch Vìthế, Lê Thánh Tông yêu cầu quan lại phải liêm khiết, công bằng Năm 1460,nhà Vua chê Thái bảo Lê Lăng “người nào mình không bằng lòng thì đẩyxuống đất đen, người nào chiều ý mình thì nâng niu trên gối”, khuyên “nênthận trọng từ đầu đến cuối, phải thanh liêm công bằng” [48, tr.393] Quốc triều hình luật mặc dù bị hạn chế bởi quan điểm giai cấp phong kiến nhưng

cũng đã ấn định phẩm chất liêm khiết của quan lại thể hiện trong rất nhiềuđiều luật mà ở đó bao gồm những biện pháp trừng trị quan lại có hành vi lợidụng chức vụ của mình để mưu lợi ích riêng như Điều 224 quy định: “những

vị quan coi việc chở đồ vật công mà chở lẫn đồ vật riêng để buôn bán thì xử

tội đồ” hoặc theo Điều 138 thì “quan ty làm trái luật mà ăn hối lộ” thì bị xử tội biếm hay bãi chức, có thể bị xử tội đồ hay lưu thậm chí là xử tội chém tùy

theo mức độ nặng nhẹ [49, tr.74, 96] Bộ luật cũng có các Điều 300, 370 quyđịnh cấm và phạt việc “quan ty ở trấn ngoài cùng các tướng hiệu, mà tự tiệnthu tiền của quân dân để làm lễ vật cung phụng lên vua” hay “các nhà quyềnquý chiếm đoạt nhà cửa ruộng đất ao đầm của lương dân” từ tội biếm trở lên[49, tr.upload.123doc.net, 135] Năm 1466, Lê Thánh Tông có lệnh “cấm cácquan chuyển đổi đi nơi khác không được dỡ lấy các thứ đồ dùng ở công sở”,đến năm 1489 nhà Vua lại ra sắc chỉ: “Nếu là ba ty bên ngoài trị lý dân chúng,khi phát hiện quan lại tham ô, hoặc có đơn khống tố về kiện tụng oan ức cùngtất cả việc riêng tư xảy ra trong phủ, huyện, châu thì cho phân ty các đạo xét

xử thi hành” [48, tr.410, 506] Trong thực tế, có nhiều trường hợp quan lạitham nhũng, hối lộ, lãng phí của công bị Triều đình trừng phạt như hạ ngụcviên Ngoại lang Hoàng Văn Biền đồng thời phạt tiền 50 quan, Hữu thị lang

bộ Công là Trịnh Công Đán bị phạt tiền 30 quan vì cớ hai ông này “bỏ phơimưa nắng những gỗ, lạt của công” và bãi chức quan của Trấn điện phó tướng

Trang 32

quân Lê Hán Đình vì “trước đó Hán Đình làm Chuyển vận, khi tại chức tham

ô, sợ dân kiện, tâu xin nghỉ dưỡng bệnh” [48, tr.415-416] Năm 1467, theo lờihặc tâu, nhà Vua chuẩn y giao cho Pháp ty theo luật trị tội bọn Hình bộ ĐỗTông Nam “làm quan ăn hối lộ”, cho Binh bộ thượng thư Nguyễn Vĩnh Tích

“chơi không” vì “năm trước đã nhận bạc đút lót”, nay lại “xin bậy bổng lộccho một viên Tổng tri” [48, tr.420, 423]

Ngoài quan hệ “vua – tôi” được đặt lên hàng đầu theo nguyên tắc “tônquân quyền”, triều đình thời Lê Thánh Tông đòi hỏi đội ngũ quan lại phải chútrọng tu dưỡng các chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng Nho giáo, từ quan hệ vợchồng, đến anh em, bạn hữu Nhiều viên quan bị xử phạt do không giữ trònnghĩa vợ chồng, như Thượng thư bộ Binh Nguyên Đình Mỹ bị cách chứcxuống làm Binh bộ Tả thị lang năm 1464 vì mắc tội tham tang, đến năm 1470lại bị giáng từ quan tam phẩm xuống tòng tứ phẩm vì chỉ lo “củng cố quyềnvị”, “bán chác lời nói” [48, tr.401, 440] Năm 1467, theo lời tâu hặc củaLương Thế Vinh, vua giao cho Pháp ty trị tội theo luật Trấn điện tướng quân BùiHuấn “đương lúc còn tang vợ mà đi lấy con gái của người về hàng bạn hữu” làviệc làm có “quan hệ tới phong hoá, làm rối loạn nhân luân” [48, tr.418] Trước

đó, năm 1465, Trần Phong bị đổi ra làm Tuyên chính sứ Tây đạo khi “bớimóc hết cái xấu” định làm hại Trần Cẩn là em Trần Phong, “nhân luân bạihoại không gì tệ bằng thế” [48, tr.406]

Bản thân Lê Thánh Tông là một tấm gương sáng về đạo đức trong lịch

sử phong kiến Việt Nam Vua sống tình nghĩa, siêng năng lo toan công việctriều đình, đọc sách, sáng tác thơ văn… mà không sa vào hưởng lạc như nhiều

vị vua trẻ khác Chính Lê Thánh Tông đã hủy án, minh oan cho Nguyễn Trãisau vụ án “Lệ chi viên”, cho sưu tập lại thơ văn và lập bia ca ngợi đạo đứccủa Nguyễn Trãi: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Tấm lòng Ức Traisáng tựa sao Khuê) Đây không chỉ phản ánh đạo đức trong sáng của LêThánh Tông mà còn là công lao to lớn đối với nền văn hóa dân tộc

Trang 33

1.3.2 Khắc phục những bất cập trong đào tạo và sử dụng quan lại trước thời Lê Thánh Tông

Trước Lê Thánh Tông, các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê NhânTông đều có những chủ trương, biện pháp chăm lo việc đào tạo và sử dụng quanlại nhưng kết quả đạt được chưa nhiều và còn nhiều bất cập Việc đào tạo quanlại chưa đi vào nền nếp, quy củ, đối tượng và nội dung đào tạo còn nhiều hạnchế Với nhận thức “muốn có được nhân tài, trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, màphép chọn lựa kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu” [48, tr.319], năm 1434, Lê TháiTông định thể lệ khoa thi, kỳ thi “hẹn tới năm Thiệu Bình thứ 5 (1438) thì thihương ở các đạo, đến năm thứ 6 (1439) thì thi hội ở Đô sảnh đường Từ đó vềsau, cứ 3 năm một khoa thi, đặt làm thường lệ Ai thi đỗ đều cho là tiến sĩ xuấtthân theo thứ bậc khác nhau” [4, tr.155], nhưng phải đến 8 năm sau mới thựchiện được (năm 1442, nhà Lê Sơ mở khoa thi tiến sĩ đầu tiên)

Mô hình bộ máy cai trị đất nước lúc đầu thời Lê Sơ là phỏng theo chế

độ thời Trần nhưng đưa vào mô hình đó là tầng lớp quan lại khác hẳn Nhà Lê

Sơ xuất thân từ nguồn gốc bình dân mà trở thành quốc chủ, không thể sẵn cóđội ngũ quý tộc như nhà Trần mà xây dựng sự nghiệp dựa trên lực lượng củacuộc kháng chiến mang tính nhân dân rộng rãi, đó chính là những người đã từ

“bốn phương manh lệ”, “dựng gậy làm cờ” mà theo về “Lam Sơn tụ nghĩa”

Vì thế, gần như tự nhiên và tất yếu, những người có công trong cuộc khángchiến lâu dài và gian khổ vốn xuất thân phần lớn là từ nông dân đã đượctuyển dụng và bổ nhiệm vào đội ngũ quan lại các cấp khi triều đình Lê Sơđược thiết lập sau chiến tranh, nhất là các vị trí quyền lực chủ chốt ở triềuđình Như vậy, “trọng thị công thần” được xem là tiêu chí tuyển dụng và bổnhiệm quan trọng nhất như Phan Huy Chú nhận xét:

Nhà Lê, lúc đầu, đặc tiến lấy tả hữu tướng quốc, kiểm hiệubình chương quân quốc trọng sự, đại tư đồ, tư không, tư mã, tưkhâu, thái phó, thái bảo, thái uý, thiếu phó, thiếu bảo, thiếu uý, tảhữu bộc xạ, hữu bật, thượng thư lệnh, đặc tiến khai phủ nghi đồng

Trang 34

tam ty, tham dự triều chính, làm trọng chức của các đại thần văn võ,trao cho các thân thuộc của nhà vua và bầy tôi có công [3, tr.448].Cùng với các tướng lĩnh nghĩa quân Lam Sơn từ bốn phương tụ hội vàcác “công thần khai quốc” có công trong chiến tranh giải phóng dân tộc, Nhànước còn sử dụng các trí thức cũ với phương châm “cầu hiền” để quản lý đấtnước, đáp ứng được một số yêu cầu nhất định trong thời kỳ đầu của triều đại

Lê Sơ Nhưng khi bước sang thời kỳ mới thì việc sử dụng đội ngũ quan lại đó

đã không còn phù hợp, bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục Vấn đềđặt ra ngay dưới triều vua Lê Thái Tổ (1428-1433) và càng về sau càng nổi rõ

là việc tuyển dụng quan lại theo tiêu chí “trọng thị công thần” chỉ thoả mãnđược nhu cầu của bộ máy quản lý nhà nước ở cấp cao, còn những chức vụthừa hành, thì vừa không xứng, vừa không hợp với những công thần, nhất làcác đại công thần, nên khuyết chỗ rất nhiều, đặc biệt là thiếu những người amhiểu, thạo việc “văn thư hành chính” Trong khi tình hình thực tế lúc đó thì:

Việc văn giáo lặng lẽ như băng hàn, người hiền từ phải bócánh Bậc túc nho như Lý Tử Tấn, Trình Thuấn Du thì đẩy vào chỗnhàn, phường dốt đặc ồn ào như ong đàn nổi dậy, như chó chuộtnhe răng Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệtđược sáu loại súc vật, Chưởng binh Lê Điên, Lê Luyện, thì mù tịt,chẳng sao hiểu được bốn mùa một năm… Văn giai như Công Soạntuổi gần 80, tể thần như Lê Ê không biết một chữ… Hiền tài làrường cột của triều đình mà sạch không như quét đất Văn chương

là khí vận của nhà nước mà im ắng tựa cỏ khô [48, tr.384-385]

Do việc trọng đãi các công thần mà hầu hết là những người “thiếu học”hay “ít học”, giao cho họ nắm giữ mọi việc quân quốc trọng sự, cho nên đãsinh ra sự đố kỵ giữa những người nắm giữ vận mệnh quốc gia trong triềungày càng tăng Những mâu thuẫn giữa phái “quân sự” và “dân sự” cùng tìnhtrạng lộng hành, tranh quyền, đoạt lợi và sát hại lẫn nhau trong nội bộ tầnglớp quý tộc diễn ra ngày càng gay gắt Hậu quả là những trung thần nhưNguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả… lần lượt bị giết

Trang 35

Đó là chưa kể đến nguy cơ cát cứ mà những vị vua trẻ tuổi như Lê Thái Tông,

Lê Nhân Tông không đủ khả năng kiềm chế Pháp luật không được thực thinghiêm chỉnh, dân bị nhiều oan trái; tệ hưởng thụ, tham ô, nhận hối lộ, diễn rangày càng nhiều, nhất là quan lại cao cấp trong triều Những bất cập của xã hộinhà Lê thời kỳ này được “tổng kết” một cách đầy đủ trong lời chiếu do chínhvua Lê Nhân Tông đọc trong lễ cầu mưa vào mùa hạ năm Kỷ Tỵ (1449) vớinhiều điều trăn trở về sự bất lực của bậc làm vua “có phải trẫm không biết sửdụng nhân tài, những kẻ được dùng đều là loại hèn kém”, “thói chạy chọt ngàymột tệ hại”, “nạn hối lộ công khai”, các quan “không biết yêu thương quân dân,quen thói đục khoét”, các nhà quyền quý “cậy thế ra oai”… [48, tr.370-371]

Việc bố trí, sử dụng quan lại còn nhiều tùy tiện, chưa có quy chế chặtchẽ; tình trạng dung túng cho các quan trong triều lạm dụng quyền lực, viphạm pháp luật khá phổ biến dẫn đến “bán quan mua kiện, ưa giàu ghétnghèo”, “bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao bút được tiến cử” [48, tr.385]

Do phân tán quyền lực dẫn đến tranh giành, chia rẽ thành các phe nhóm đấu

đá lẫn nhau là một trong những nguyên nhân chủ yếu của các chính biến cungđình Nhiều viên quan đứng đầu triều đình không còn khả năng làm việc, giàyếu vẫn tham quyền cố vị, trở thành chướng ngại, thậm chí là “mối họa” cho

sự phát triển xã hội lúc đó Việc giết hại công thần ở các đời vua Thái Tổ,Thái Tông đã làm khuyết đi một mảng quan lại cao cấp là công thần, rồi tuổitác và tháng năm cũng làm mai một dần và mất hẳn đội ngũ này trong khi nhucầu phát triển bộ máy nhà nước ngày càng lớn

Thể chế chính trị cũng như đội ngũ quan lại mà Lê Thái Tổ xây dựng vàđược duy trì trong hơn 30 năm bộc lộ nhiều bất cập và ngày càng không còn phùhợp Nhà nước thời Lê Thánh Tông cần một đội ngũ quan lại mới thay thế cho thế

hệ cũ cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng được yêu cầu của thời cuộcđang đặt ra Điều đó cũng có nghĩa là, thực tiễn đòi hỏi ngày càng nhiều nhân sựtheo kiểu mới với những tiêu chuẩn và cách thức tuyển dụng mới, được đào tạo và

sử dụng một cách hệ thống, chính quy, bài bản và nề nếp

Trang 36

Chương 2 CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI

THỜI LÊ THÁNH TÔNG

2.1 CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO QUAN LẠI

2.1.1 Mục đích đào tạo

2.1.1.1 Chuẩn hoá đội ngũ quan lại về trình độ và bằng cấp

Khái niệm “quan lại” là do hai thuật ngữ “quan” và “lại” hợp thành.Trong thời quân chủ phong kiến, “quan” dùng để chỉ những người giữ mộtchức vụ ít nhiều quan trọng của Nhà nước, có trách nhiệm quản lý một địaphương hay một hoạt động nhất định, lớn hay nhỏ, còn “lại” dùng để chỉ cácnhân viên phục dịch trong các cơ quan nhà nước, có thể là thư ký, kế toán, giữ

sổ sách, thu thuế, chạy giấy, ghi chép… Do đó, “quan lại” là để chỉ nhữngngười làm việc công trong bộ máy chính quyền nhà nước từ Trung ương tớicác địa phương ngày xưa và là những cán bộ, công chức (gọi chung là cán bộ)theo cách quan niệm ngày nay [36, tr.17]

Khi nói đến những người có chức tước trong đội ngũ quan lại, người tathường đề cập đến ba nội dung chính là chức quan, tước vị và phẩm hàm.Chức quan là chức vụ cụ thể của người làm quan, quy định nhiệm vụ màngười đó thi hành ở cương vị mình phụ trách Tước vị là danh hiệu khenthưởng của triều đình, thường tương đương với chức quan nhưng cũng có khitước cao mà chức thấp hoặc ngược lại Phẩm là cấp bậc để phân biệt triều banđược xếp theo chín bậc từ nhất phẩm đến cửu phẩm, mỗi phẩm lại chia ra làmtrật chánh và trật tòng, cộng thành 18 trật Hàm thì có hàm Tản quan là loạichức danh thời cổ được các triều đại sau sử dụng phong cho các quan làmdanh hiệu vinh dự, thực chất không có nhiệm vụ hay quyền gì, còn Huân hàm

là danh hiệu để phong cho những người có công lớn

Có nhiều con đường dẫn đến quan trường trong xã hội Việt Nam truyềnthống, trong đó con đường chủ yếu và phổ biến là khoa cử, nhất là thời Lê Sơ

Trang 37

Vương triều nhà Lê hình thành từ trong khói lửa thời chiến, các đại thần trọngchức trong triều, phần lớn tiến thân bằng con đường binh nghiệp Sau khigiành được độc lập, các triều vua Lê Sơ phải dùng con đường khoa cử cũngnhư việc chọn người có văn học hay những người đỗ đạt qua thi cử Nho họcvào bộ máy Nhà nước là xu hướng tất yếu Do đó, mục đích đào tạo trước hết

là để chuẩn hóa đội ngũ quan lại về mặt tri thức, văn hóa và bằng cấp baogồm cả việc bổ sung bộ phận quan lại mới được đào tạo cơ bản và tri thức hóa(đào tạo lại) những người đang giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước các cấpnhưng chưa đảm bảo yêu cầu về mặt học vấn và bằng cấp

Con đường khoa cử Nho học mở ra từ thời Lý nhưng chưa chú trọngvào việc đào tạo đội ngũ quan lại bằng Nho học và thông qua thi cử Đến thờiTrần, số người tiến thân bằng con đường cử nghiệp nhiều hơn, danh nho đông

đảo hơn các thời trước Những thống kê từ sách Các nhà khoa bảng Việt Nam

cho thấy trong gần 4 thế kỷ tồn tại của hai vương triều này, chỉ tổ chức được

15 khoa thi, lấy đỗ được 60 người Triều Hồ tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng cũng

tổ chức được 3 khoa thi với 15 người đỗ Sang thời Lê, việc mở các khoa thi

để tuyển chọn đội ngũ quan lại mới được chú trọng hơn Trong 32 năm của batriều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông (1428-1459), đã có 9khoa thi với 107 người được nêu tên trên bảng vàng [2] Phải đến thời LêThánh Tông, chế độ khoa cử Nho học mới được mở rộng, phát triển mạnh mẽ

và đi vào nền nếp với theo phương châm coi việc thi cử là hàng đầu để “chọnngười có học”, “chọn kẻ sĩ”, trong đó chủ yếu là chọn người đảm nhiệm côngviệc chính trị, ngoại giao

Sự phát triển của giáo dục, thi cử là điều kiện thuận lợi để Lê ThánhTông lấy trình độ học vấn làm cơ sở để tuyển chọn quan lại Đại đa số giớichức quan liêu trong bộ máy nhà nước xuất thân từ khoa cử, là những người

đỗ đạt qua các kỳ thi nghiêm ngặt, dù họ thuộc thành phần xã hội nào (trừngười thuộc diện cấm thi) Trong nhiều chỉ dụ, lệnh của nhà Vua về việc tiến

cử, bảo cử, tuyển chọn vào các chức vụ, vị trí ở Trung ương cũng như địa

Trang 38

phương, tuỳ vị trí cụ thể mà đặt ra tiêu chuẩn là tiến sĩ hoặc đã thi đỗ một sốkhoa thi nhất định Đối với cấp huyện, "khuyết chức chính quan nếu không cóngười khoa mục thì cho lấy người thi đỗ tam trường mà thuyên bổ” [48, tr.428].Thậm chí đến xã trưởng – tuy không phải là một chức quan triều đình – song việclựa chọn cũng dựa trên tiêu chỉ căn bản là có học, còn “nếu không biết chữ thìcho nghỉ” [3, tr.571] Lê Thánh Tông mong muốn tạo được một đội ngũ quanlại gồm những người ưu tú trong giới trí thức Nho học, được chọn lựa kỹ cànglàm chỗ dựa vững chắc cho triều đình, bởi vậy, trong buổi “lễ ăn thề” vớithượng thư các bộ vào mùa đông năm Quang Thuận thứ 4 (1463), ông dẫn lạilời của Tư Mã Quang: “Người quân tử là cội gốc để tiến lên việc trị bình, kẻtiểu nhân là thềm bậc để đi đến họa loạn”, cho nên: “Ta và các ngươi đã thềvới trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chắm khônglơi” [48, tr.399]

2.1.1.2 Thu hút, bồi dưỡng nhân tài

Thời Lê Thánh Tông, triều đình bỏ chế độ bổ dụng các vương hầu quýtộc vào các trọng trách của triều đình, mà chỉ lấy những người có khả năngthực sự Các thân vương, công hầu được ban cấp bổng lộc rất hậu, nhiều khiquyền lợi của họ lớn hơn so với các quan đại thần trong triều nhưng nếukhông có tài năng, đỗ đạt qua khoa cử Nho học thì cũng không được cử làmquan Cụ thể là, “các con của hoàng tử, thái tử đều được phong tước công chotập trung ở kinh sư, cho ăn lộc vua ban, cho làm ruộng thế nghiệp chứ khôngcho ra cai trị ở phủ lộ” [3, tr.567] Hơn nữa, “người họ vua, các tước công hầubá… cho ruộng tứ, bãi dâu tứ, đầm tứ bằng thực tiền, sau khi chết 3 năm concháu chiếu sổ trả lại vua, không được ẩn dấu chiếm giữ như trước” [44, tr.175].Như vậy, đặc quyền về chính trị không còn, chỉ còn ưu đãi về kinh tế, hơn nữa

ưu đãi này cũng không có tính cha truyền con nối Đây là bước đi mạnh dạnnhằm loại bỏ tầng lớp địa chủ quý tộc nắm giữ quyền lực cả về kinh tế và chínhtrị vốn vẫn là rường cột của các vương triều trước, nhằm loại trừ nguy cơ cát cứ

địa phương Quốc triều hình luật, Điều 139 quy định: “những người ỷ thế nhà

Trang 39

quyền quý để cầu cạnh xin quan tước thì xử tội biếm hoặc đồ” [49, tr.75] Từ

góc độ này, cũng là nhằm ngăn chặn tệ thao túng quyền lực từ tầng lớp vươnghầu

Với chủ trương khuyến khích Nho học và một chế độ giáo dục khoa cử

nề nếp, cùng một lúc, Lê Thánh Tông đạt được hai mục tiêu: thứ nhất, tuyển

chọn được những người ưu tú cho bộ máy của nhà nước, thực hiện chuyển

giao quyền lực từ quý tộc sang quan liêu nho sĩ; thứ hai, đưa Nho giáo thâm

nhập sâu vào đời sống xã hội Do đó, đây là thời kỳ Nhà nước gắn với sự caitrị của các quan văn và tuân theo tư tưởng chính trị Nho giáo Bản thân nhữngngười thành công trong các kỳ thi dân sự mà được tuyển dụng vào bộ máychính quyền, cũng mong muốn xây dựng Nhà nước trong sạch, có kỷ cương

và vững mạnh theo phong cách trí thức của họ Như vậy, trên nền tảng tưtưởng chính trị Nho giáo, chính sách đào tạo thời Lê Thánh Tông nhằm nângcao trình độ văn hóa trong toàn xã hội nói chung, đặc biệt là những ngườiđược giao giữ chức vụ quan trọng trong các cấp chính quyền, bổ sung và đổimới đội ngũ quan lại với trình độ, năng lực ngày càng được nâng lên, thông

đó để phát hiện, đào tạo nhân tài cho đất nước Tư tưởng trọng dụng nhân tàitrở thành một chủ trương lớn, được xây dựng thành chính sách và hiện thực hóabằng những hành động cụ thể vì: “sự nghiệp trị nước lớn lao… không gì cần kíphơn nhân tài”, “trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc … sao có thể đạt tớichính trị phong hoá phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ” [48, tr.492] Vấn đềquan tâm hàng đầu của triều đình trong khoa cử là tìm nhân tài quản lý đất nước

Do đó, các nho sĩ phải đưa ra được kế thuật trị nước an dân và “chính sự đươngthời” trở thành một nội dung quan trọng trong thi cử

Thời Lê Thánh Tông (1460-1497) đã thường xuyên và liên tục tổ chứccác kỳ thi tuyển nhân tài, cung cấp cho bộ máy quan chức nhà nước, đáp ứngđược nhu cầu đòi hỏi của triều đình và xã hội lúc đó Chỉ tính riêng các kỳ thituyển tiến sĩ tới 12 khoa thi (cả thời Lê Sơ là 26 khoa thi) Hầu hết số tiến sĩtuyển chọn qua các kỳ thi này đã tham gia vào bộ máy hành chính nhà nước,

Trang 40

được bổ nhiệm vào các vị trí quyền lực ở Kinh đô và ở các đạo, phủ, huyện đãcho thấy sự thịnh trị của giáo dục khoa cử cũng như vai trò của nó trong đờisống chính trị - xã hội thời đó Việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng gắn bó chặtchẽ với sử dụng nhân tài, nhân tố quyết định đến sự tồn vong và hưng thịnhcủa giang sơn, xã tắc như lời nhận xét của Phan Huy Chú: “Đến đời QuangThuận, Hồng Đức vận nước tươi sáng do khoa mục xuất thân, nhân tài đầydẫy, đủ cung cho nước dùng” [5, tr.5].

2.1.2 Hệ thống đào tạo

2.1.2.1 Hệ thống trường công

Trường công là hệ thống trường do Nhà nước tổ chức và quản lý, baogồm hai cấp Trung ương và địa phương - đó là Quốc Tử Giám và các trườngđặt ở phủ huyện (Nhà học) Năm 1076, Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám, lànhà quốc học đầu tiên của nước ta Năm 1253, Trần Thánh Tông gọi là Quốchọc viện, sau đó nhà Trần còn đổi là Thái học viện, đều ở địa điểm Văn Miếu,

Hà Nội ngày nay Đến thời Lê Sơ, trở lại tên Quốc Tử Giám nhưng trongnhiều văn sách vẫn gọi là nhà Thái học Đây là trường học lớn nhất và duynhất ở Kinh đô, có hai chức năng chính là đào tạo ra tầng lớp nho sĩ để cungcấp cho bộ máy nhà nước, đồng thời quản lý việc dạy học ở các trường địaphương, tức Quốc Tử Giám là cơ quan giáo dục cao nhất trong nước Tế tửu

là chức quan đứng đầu Quốc Tử Giám, có nhiệm vụ phụ trách chung và kiêmchủ tế ở Văn Miếu; cấp phó là chức Tư nghiệp; phụ trách giảng dạy có cácchức Giáo thụ, giúp việc là các Trực giảng và Trợ giáo, lại có các Bác sĩ đisâu vào việc sưu tầm, nghiên cứu giải thích các kinh sách, tư liệu Nhữngngười được nhập học Quốc Tử Giám chia làm hai loại là giám sinh gồm cócon các quan viên đã thi đỗ 4 trường kỳ thi hương và học sinh gồm quân, dân

đã thi đỗ 4 trường kỳ thi hương (loại này tới năm 1483 mới lập ra) Giám sinhhay còn gọi là xá sinh được chia thành 3 loại là Thượng xá sinh học bổng 10quan tiền một tháng, Trung xá sinh 9 tiền và Hạ xá sinh 8 tiền một tháng;được nội trú trong Quốc Tử Giám để chuẩn bị cho kỳ thi hội Học sinh nghe

Ngày đăng: 30/05/2021, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Hán Nôm (1978), Tuyển tập văn bia Hà Nội, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn bia Hà Nội
Tác giả: Ban Hán Nôm
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1978
3. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1992
4. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1992
5. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
6. Đỗ Minh Cương (2006), “Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở nước ta thời kỳ trung đại”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở nước ta thờikỳ trung đại”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Năm: 2006
7. Phan Hữu Dật (chủ biên) (1994), Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương sách dùng người của ông cha tatrong lịch sử
Tác giả: Phan Hữu Dật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
12. Bùi Xuân Đính (2009), “Tuyển chọn và sử dụng quan chức: Cách làm của ông cha ta”, Báo Tiền phong, (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và sử dụng quan chức: Cách làm củaông cha ta”, Báo" Tiền phong
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Năm: 2009
13. Lê Quý Đôn (1977), Toàn tập, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977
14. Lê Quý Đôn (1978), Toàn tập, tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
15. Bùi Xuân Đức (1994), Pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương triều Lê, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ 15-18, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương triềuLê, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ 15-18
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1994
16. Mai Xuân Hải (1992), "Bài văn khuyên chăm học của Lê Thánh Tông", Tạp chí Hán Nôm, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài văn khuyên chăm học của Lê Thánh Tông
Tác giả: Mai Xuân Hải
Năm: 1992
17. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng (2001), Giáo trình lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Việt Nam
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học (2006), Tập bài giảng Chính trị học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Chính trị học
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
19. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học (2005), Đề cương bài giảng Chính trị học (hệ cao học chuyên chính trị học), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đềcương bài giảng Chính trị học (hệ cao học chuyên chính trị học)
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học
Năm: 2005
20. Lê Văn Huân (2008), “Ông cha ta sử dụng hiền tài”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (2+3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông cha ta sử dụng hiền tài”," Tạp chí Xây dựngĐảng
Tác giả: Lê Văn Huân
Năm: 2008
21. Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2009), Con người chính trị Việt Nam - Truyền thống và hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người chính trị Việt Nam -Truyền thống và hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w