Mục đích của đề tài
Giúp giảm lượng CO2 trong không khí gây hiệu ứng nhà kính.
Mục tiêu của đề tài
- Xác định sự tăng sinh khối của một số vườn cây ăn trái và cây tạp trong các quận huyện thuộc thành phố Cần Thơ
- Tính được lượng CO 2 cây hấp thụ mỗi năm ở các quận huyện trên.
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Khái niệm cây ăn quả
Cây ăn quả, hay còn gọi là cây ăn trái ở Nam Bộ, bao gồm các loại cây trồng và quả rừng, cung cấp thực phẩm bổ sung cho chế độ ăn uống Khác với cây lương thực, cây ăn quả là nguồn dinh dưỡng quý giá, giàu khoáng chất và vitamin, đặc biệt là vitamin A và C, cần thiết cho sức khỏe con người Dựa vào nguồn gốc và vùng sinh thái, cây ăn quả được phân loại thành cây ăn quả nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới.
Sơ lƣợc về tình hình phát triển cây ăn quả ở Việt Nam và đồng bằng sông Cửu Long
Việt Nam có nhiều loại cây ăn quả diện tích lớn như chuối, cam, quýt, bưởi, xoài, dứa, sầu riêng, chôm chôm, vải, nhãn và thanh long Diện tích trồng cây ăn quả tại Việt Nam đã tăng đáng kể từ 346 nghìn ha vào năm 1995 lên 767 nghìn ha vào năm 2006, và hiện nay đạt 775 nghìn ha.
Năm 2007, sản lượng xuất khẩu rau quả của Việt Nam ước đạt 300 triệu đô la, với tổng sản lượng khoảng 7 triệu tấn Diện tích trồng chuối đạt 100.000 ha, sản lượng 1,2 triệu tấn; cam quýt có diện tích gần 80.000 ha, sản lượng 523 nghìn tấn Xoài được trồng trên khoảng 75.000 ha, sản lượng đạt 337 nghìn tấn, trong khi nhãn có diện tích trên 70.000 ha với sản lượng 481 nghìn tấn Dứa có diện tích khoảng 40.000 ha, sản lượng ước đạt 400 nghìn tấn, và chôm chôm phát triển ở Nam Bộ với diện tích gần 22.000 ha, sản lượng 358 nghìn tấn Sầu riêng được mở rộng tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với diện tích thu hoạch khoảng 17.000 ha, sản lượng 87 nghìn tấn Thanh long được trồng tập trung tại Bình Thuận, Long An, Tiền Giang với diện tích trên 9.000 ha Ngoài ra, một số loại quả cận nhiệt đới như vải, hồng, mận, táo, lê cũng đã được phát triển ở các tỉnh phía Bắc.
Hình 2.1 Sự phân bố cây ăn quả và thời gian có quả chín (mùa) trong năm ở Việt Nam
2.2.2 Phát triển cây ăn quả ở đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng diện tích gần 4 triệu ha, vùng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 24 – 27 0 C, tổng nhiệt lượng cả năm là 9.700 – 10.000 0 C Các yếu tố như ánh nắng, gió, ẩm độ không khí, bức xạ mặt trời, …mang tính ổn định, thuận lợi để sản xuất cây ăn trái trên bình diện rộng với tổng diện tích trồng cây ăn trái là 175.670 ha, chiếm 50,7 % diện tích cây ăn trái của cả nước Diện tích trồng cây ăn trái ngày càng được mở rộng, dự kiến đến năm 2010 sẽ là 220.000 ha Song song với việc mở rộng diện tích, các chủng loại cây ăn trái ngày một phong phú Ở ĐBSCL, thu nhập của hộ nông dân làm nghề vườn chiếm 30 % (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.3.1 Sinh khối và khả năng hấp thụ cacbon
Sinh khối, bao gồm tất cả chất hữu cơ sống và chết của cây ở trên hoặc dưới mặt đất, được coi là đơn vị đánh giá năng suất của lâm phần (Brown, 1997; Ponce-Hernandez, 2004) Để tính toán khả năng hấp thụ carbon và động thái của quá trình này trong rừng, cần phải dựa vào số liệu sinh khối Do đó, việc điều tra sinh khối cũng đồng nghĩa với việc điều tra khả năng hấp thụ carbon của rừng (Ritson and Sochacki, 2003).
Năng lượng sinh khối (NLSK) được khai thác từ thực vật như gỗ và các phế phẩm nông nghiệp, là nguồn năng lượng cổ xưa nhất mà con người đã sử dụng để nấu chín thức ăn và sưởi ấm Trước khi nhiên liệu hóa thạch trở thành phổ biến vào đầu thế kỷ 20, củi đã là nguồn năng lượng chính trong đời sống con người.
Trong quá trình chuyển hóa như đốt, biomass giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt, trong khi cacbon bị oxy hóa thành cacbon dioxit (CO2), mà cây hấp thụ trong quá trình sinh trưởng Việc sử dụng năng lượng sinh khối thực chất là một quá trình ngược lại với quang hợp.
Trong tự nhiên, sinh khối phân hủy thành các phân tử cơ bản và phát sinh nhiệt lượng Để khai thác năng lượng từ sinh khối, cần thực hiện quá trình chuyển đổi năng lượng nhanh hơn so với tự nhiên Năng lượng từ sinh khối được coi là năng lượng tái tạo, giúp tái sử dụng carbon và giảm lượng khí thải.
CO 2 thải vào môi trường, trái ngược với các dạng nhiên liệu hóa thạch (Twidell,
Sinh khối là nguồn năng lượng tái tạo duy nhất có khả năng sử dụng hiệu quả năng lượng mặt trời và là nguồn carbon tái tạo độc nhất Nó có thể được chế biến thành nhiều dạng nhiên liệu khác nhau như rắn, lỏng và khí, cho phép ứng dụng linh hoạt trong cuộc sống Sinh khối có thể được sử dụng trực tiếp, chẳng hạn như đốt gỗ để tạo nhiệt hoặc nấu nướng, hoặc gián tiếp thông qua các dạng nhiên liệu chuyển đổi như ethanol.
Trong những năm gần đây, sự quan tâm đến công nghệ năng lượng sinh khối (NLSK) và năng lượng tái tạo đã gia tăng mạnh mẽ trên toàn cầu nhằm thay thế nguồn năng lượng hóa thạch Nguyên nhân chính là do nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạn kiệt và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Khác với các công nghệ năng lượng tái tạo khác, công nghệ năng lượng sinh khối không chỉ thay thế năng lượng hóa thạch mà còn giúp xử lý chất thải bằng cách tận dụng các nguồn chất thải để sản xuất năng lượng.
Sinh khối hiện nay là nguồn năng lượng lớn thứ tư trên toàn cầu, chiếm khoảng 14-15% tổng năng lượng tiêu thụ Tại các nước đang phát triển, sinh khối đóng vai trò quan trọng hơn, trung bình góp khoảng 35% vào tổng cung cấp năng lượng.
2.3.2 Hiện trạng năng lƣợng sinh khối của Việt Nam
Năng lượng sinh khối vẫn đóng góp một tỷ lệ lớn trong tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia, chiếm hơn một nửa Dù giá trị tuyệt đối của nó không ngừng gia tăng, nhưng tỷ lệ của năng lượng sinh khối đang giảm dần do sự gia tăng nhanh chóng của năng lượng thương mại.
Bảng 2.1 Năng lượng sinh khối qua các năm
Mặc dù chưa có số liệu mới nhất, ước tính nguồn sinh khối vẫn đóng góp hơn 50% tổng tiêu thụ năng lượng của quốc gia.
Các bảng tiếp theo cho thấy các lĩnh vực sử dụng năng lương sinh khối hiện nay
Bảng 2.2 Các lĩnh vực sử dụng năng lượng
Bảng 2.3 Các thiết bị sử dụng năng lượng
(Nguồn: Instutute of Energy, 2001) Một phần tư sinh khối còn lại được sử dụng trong sản xuất:
- Sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ hầu hết dùng các lò tự thiết kế theo kinh nghiệm, đốt bằng củi hoặc trấu, chủ yếu ở phía Nam
Sản xuất đường tại Việt Nam đang tận dụng bã mía để đồng phát nhiệt và điện ở 43 nhà máy trên toàn quốc, sử dụng trang thiết bị nhập khẩu Viện Cơ điện nông nghiệp vừa nghiên cứu thành công dây chuyền sử dụng phụ phẩm sinh khối để đồng phát điện và nhiệt phục vụ cho quá trình sấy Đến nay, viện đã lắp đặt 7 hệ thống và đang triển khai ứng dụng tại các tỉnh.
Tại Đồng bằng Cửu Long, hiện có hàng vạn máy sấy lúa và nông sản đang hoạt động, chủ yếu do các cơ sở trong nước sản xuất và sử dụng trấu làm nhiên liệu Đặc biệt, dự án Sau thu hoạch do Đan Mạch tài trợ từ năm 2001 đã đặt mục tiêu lắp đặt 7000 máy sấy để nâng cao hiệu quả trong việc bảo quản nông sản.
- Công nghệ cacbon hoá sinh khối sản xuất than củi được ứng dụng ở một số địa phương phía Nam nhưng theo công nghệ truyền thống, hiệu suất thấp
- Một số công nghệ khác như đóng bánh sinh khối, khí hoá trấu hiện ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm (Nguyễn Quang Khải)
2.3.3 Khí cacbonic (CO 2 ) và tỉ lệ phát thải CO 2 ở Việt Nam
Khí cacbonic, còn được biết đến với các tên gọi như than khí, anhiđrít cacbonic, diôxít cacbon hay cacbon điôxít, là một hợp chất khí tồn tại trong khí quyển Trái Đất ở điều kiện bình thường, bao gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử oxy, có công thức hóa học là CO2 Khi ở dạng rắn, khí cacbonic được gọi là băng khô.
Khí cacbonic (CO2) được sinh ra từ nhiều nguồn, bao gồm khí thải từ núi lửa, sản phẩm cháy của hợp chất hữu cơ và hoạt động hô hấp của sinh vật hiếu khí Một số vi sinh vật cũng sản xuất CO2 qua quá trình lên men và hô hấp tế bào Trong quá trình quang hợp, thực vật hấp thụ CO2 và sử dụng carbon cùng oxy để tạo ra cacbohyđrat, đồng thời giải phóng oxy trở lại khí quyển, oxy này được các sinh vật dị dưỡng sử dụng trong hô hấp, tạo thành một chu trình CO2 có mặt trong khí quyển Trái Đất với nồng độ thấp và đóng vai trò là khí gây hiệu ứng nhà kính, là thành phần chính trong chu trình cacbon Tại Việt Nam, ngành nông nghiệp là nguồn phát thải CO2 chủ yếu vào môi trường.
Biểu đồ tỉ lệ phát thải khí cacbonic vào môi trường
Năng lượng Các quá trình công nghiệp Nông nghiệp
Thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp
Hình 2.2 Tỉ lệ phát thải cacbonic vào môi trường
(Nguồn: VP Quốc gia về Biến đổi khí hậu và Bảo vệ tầng Ôzon, 1994
– Trích dẫn: Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006)
2.3.4 Các dạng năng lƣợng sinh học
Năng lượng sinh học, một nguồn năng lượng tái tạo, được sản xuất từ sinh khối dưới dạng nhiên liệu lỏng, khí và rắn, nhiệt lượng, điện năng và hóa chất Từ những ngày đầu của ngành công nghiệp ô tô, nhiên liệu sinh học lỏng đã được sử dụng Vào thế kỷ 19, nhà phát minh người Đức Nikolaus August Otto đã sử dụng ethanol làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong Cùng thời kỳ, Rudolf Diesel, cũng là một nhà sáng chế người Đức, đã phát triển động cơ chạy bằng dầu đậu phụng, trong khi Henry Ford ở Mỹ đã sáng chế xe FORD kiểu.
Từ năm 1903 đến 1926, nhiên liệu từ cây gai (hemp) đã được sử dụng, nhưng sau đó, sự phát triển của dầu hỏa đã dẫn đến việc sử dụng rộng rãi hơn Trong Thế Chiến I, khi dầu hỏa khan hiếm, nhiều phát minh về nhiên liệu sinh học đã được áp dụng để thay thế xăng dầu Tại Đức, xăng được pha trộn với rượu từ khoai tây, gọi là “Reichskraftsprit”, trong khi ở Anh, dầu được kết hợp với rượu ngũ cốc mang tên Discol (National Geographic Magazine, 2007).
Tổng quan về địa phương nghiên cứu – Thành phố Cần Thơ
Cần Thơ, thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, tọa lạc bên bờ phải sông Hậu trong đồng bằng sông Cửu Long Vào ngày 24 tháng 6 năm 2009, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại 1.
2.4.1 Vị trí địa lý – Khí hậu
Cần Thơ, thành phố nằm bên bờ phải sông Hậu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía tây nam, có diện tích nội thành 53 km² và tổng diện tích lên tới 1.389,59 km².
Khí hậu Cần Thơ mang đặc trưng nhiệt đới với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Độ ẩm trung bình đạt 83%, với lượng mưa hàng năm khoảng 1.635 mm và nhiệt độ trung bình là 27°C Khu vực này có hệ thống sông ngòi và kênh rạch phong phú, trong đó các quận huyện đầu nguồn giáp An Giang thường bị ảnh hưởng nặng nề bởi lũ lụt từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch.
Hiện nay, thành phố Cần Thơ có 9 đơn vị hành chính, gồm 5 quận và 4 huyện
- Quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt
- Huyện: Phong Điền, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai
Tổng thu ngân sách năm 2008 của Cần Thơ đạt 3.782,1 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm qua là 15,5% Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2008 đạt 1.444 USD, trong khi tỷ lệ hộ nghèo là 6,04% Cần Thơ đóng vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo và là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng cũng như liên vận quốc tế trong vùng ĐBSCL và cả nước.
Hình 2.4 Bản đồ hành chính TP Cần Thơ
Cần Thơ là vùng nông nghiệp chủ yếu với cây trồng chính là lúa, đạt sản lượng 1.194,7 tấn Mặc dù còn có một số cây hoa màu khác, nhưng sản lượng của chúng không đáng kể.
Cần Thơ đã phát triển nhiều cơ sở hạ tầng phục vụ cho các đối tác nước ngoài, nổi bật là hai khu công nghiệp tại Trà Nóc, quận Bình Thủy Ngoài ra, Trung tâm Công nghệ Phần mềm Cần Thơ (Cantho Software Park - CSP) cũng là một dự án quan trọng được Thành phố đầu tư phát triển.
2.4.4 Tình hình đời sống dân cƣ Ước tính dân số thành phố Cần Thơ năm 2009 là 1.190,2 ngàn người Lao động trong độ tuổi 758,5 ngàn người, trong đó lao động tham gia các ngành kinh tế là 541 ngàn người UBND và các ngành hữu quan của thành phố đã tăng cường các biện pháp hỗ trợ an ninh xã hội, ổn định đời sống nhân dân thông qua việc đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm
Tình hình đời sống dân cư ở nông thôn đã có những cải thiện đáng kể từ năm 2009 nhờ vào sự quan tâm của các chính sách về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế Các tiến bộ trong khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, thủy nông và giao thông nông thôn đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống Ngành nông nghiệp và doanh nghiệp đã hỗ trợ nông dân bằng các giống lúa năng suất cao và chuyển giao công nghệ sản xuất Chương trình “1 phải 5 giảm” và “3 giảm 3 tăng” đã được áp dụng rộng rãi, giúp nông dân sản xuất hàng hóa đạt tiêu chuẩn thị trường và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung thực hiện của đề tài
- Thu thập và khảo sát các thông số đánh giá sinh khối thực vật tại các địa điểm trên địa bàn thành phố Cần Thơ
- Tính sinh khối của thực vật bằng công thức tính Biomass
- Xác định sự biến đổi sinh khối của thực vật được khảo sát so với thời điểm khảo sát trước đây (năm 2009)
- Tính toán lượng CO 2 cây hấp thụ ở các quận huyện trên tại thời điểm nghiên cứu.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: 7 quận huyện của TP Cần Thơ
+ Quận: Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt
+ Huyện: Phong Điền, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ
- Thời gian: từ ngày 29/12/2009 đến ngày 30/04/2010
Phương tiện nghiên cứu
- Compa hoặc dụng cụ đo độ nghiêng
- Dây hoặc cọc làm ranh giới cho mỗi khu vực khảo sát
- Dụng cụ để cắt tỉa bụi rậm
- Máy đo toạ độ GPS
- Máy đo chiều cao bằng tia laser
- Bản đồ toàn vùng khảo sát
- Sổ tay, bút, máy ảnh
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Để xác định sinh khối của cây, cần chọn ô tiêu chuẩn để lấy mẫu, đảm bảo khu vực có hơn 30 cây Các cây được chọn phải có đường kính (C) từ 15 cm trở lên và chiều cao (h) lớn hơn 1,3 m để thiết lập mẫu chính xác.
Vị trí đo: đo đường kính cây tại vị trí cách mặt đất hoặc rễ cây 1.3 mét
Tiến hành đánh số thứ tự của của từng cây và đo các chỉ tiêu (đường vòng, chiều cao của cây)
Để tính sinh khối, cần xác định tên của từng loài cây được đo Đối với những cây có đường kính vòng dưới 15 cm, cần đếm số lượng để thu thập dữ liệu cho các nghiên cứu sau này.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, đề tài đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 10 trong số 50 điểm đã nghiên cứu vào năm 2009 để thu thập số liệu về chiều cao (h) và đường vòng (C) của cây.
Trong cuộc khảo sát năm 2010, 9 trong số 10 điểm được khảo sát là vườn cây ăn trái (bao gồm các điểm 17, 18, 28, 37, 40, 42, 45, 46, 48), trong khi 1 điểm còn lại là vườn cây không ăn trái (điểm 19) Vị trí của các điểm khảo sát này được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng3 1 Phân phối 10 điểm khảo sát trong 7 quận, huyện ở thành phố Cần Thơ
Hình 3.1 Bản đồ vị trí 10 điểm khảo sát ở thành phố Cần Thơ
Để khảo sát lại vào năm 2010, chúng tôi sử dụng số liệu đã điều tra từ năm 2009, bao gồm tên chủ hộ và địa chỉ nhà, cùng với máy GPS để xác định chính xác vị trí đã đo chu vi vòng của cây.
3.4.2 Phương pháp tính toán số liệu
Thiết lập công thức để tính các chỉ số nghiên cứu:
- Sau khi đo được đường kính cây, ta tính được DBH (đường kính chiều cao ngang ngực) của cây bằng công thức sau:
Với: C là đường vòng đo được ngoài thực tế là hệ số 3.14
- Tiếp theo ta sẽ tính được sinh khối cây bằng công thức:
Với: Tree form là nhân tố đại diện = 0.5
BEF (Broadleaf) cây có lá rụng = 1.5 là hệ số 3.14 h là chiều cao của cây
4 )*d(tấn/m 3 )*DBH 2 (m)*h(m)*Treeform*BEF(Broadleaf= 1.5)] d là dung trọng của cây
(mỗi loại cây có dung trọng khác nhau) (Base on FSI, 2008)
- Đối với cành cây thì chúng ta cũng tính sinh khối bằng công thức trên
Tổng sinh khối của cây được tính bằng cách cộng sinh khối của thân cây với sinh khối của tất cả các cành cây.
- Khi tính được tổng sinh khối của cây thì ta tính được lượng cacbon (C) tích lũy của cây :
- Từ đó ta sẽ tính được lượng CO 2 cây hấp thụ là:
Cũng bằng phương pháp trên ta sẽ tính được sinh khối của tất cả các cây trong điểm khảo sát và trong các điểm còn lại
Để tính toán biomass tại một điểm, cần tổng hợp biomass của các cây trong ô khảo sát, bao gồm những cây đủ điều kiện đo đạc Việc này bao gồm cả những cây đã được đo trong năm 2009 và những cây mới lớn.
Tính được sự tăng sinh khối của các vườn cây ăn trái và cây không ăn trái (dựa vào số liệu năm 2009)
- Thời gian khảo sát năm 2009 khoảng 26/02/2009
- Thời gian khảo sát năm 2010 khoảng 22/03/2010
Sinh khối sau một năm: biomass(2010)*365/391
Biomass(tăng) = biomass(sau 1 năm) – biomass(2009)
3.4.3 Phương pháp ước tính sự gia tăng thường niên của trữ lượng cacbon
Bảng 3.2: Công thức ước tính lượng gia tăng thường niên của cacbon tích lũy trong cây
Công thức Tích lũy thường niên (MAI)
Lượng cacbon tích lũy bình quân trong 1 năm
% lượng cacbon tích lũy hàng năm
(%) (MAI/cacbon tăng trung bình)*100
Tích lũy thường niên của cacbon ở Cần Thơ
(tC) MAI*diện tích cây
Tích lũy thường niên của CO2
Phương pháp xác định dung trọng gần đúng của cây trong các điểm khảo sát:
Ta tiến hành thu mẫu từng loài cây, sau đó ta lấy mỗi loại một mẫu có kích thước lớn nhỏ tùy loại cây và có chiều dài 10cm
Đầu tiên, chúng ta cần cân trọng lượng của từng loại cây mẫu để xác định trọng lượng tươi hiện tại Sau đó, các mẫu cây sẽ được đưa vào tủ sấy trong 48 giờ Tiếp theo, chúng ta sẽ hút ẩm và cân lại để biết trọng lượng khô của từng loại cây Cuối cùng, quá trình sấy khô sẽ tiếp tục cho đến khi trọng lượng của cây không còn thay đổi.
Để xác định dung trọng của cây, đầu tiên, lấy một ống đong có thể tích 1 lít nước Sau đó, cho mẫu cây đã sấy khô vào ống đong; thể tích nước tràn ra sẽ được đo và ghi nhận là v Dung trọng của cây được tính theo công thức: dung trọng = v/d*m.
Với: d là dung trọng của loài cây cần xác định m là trọng lượng của mẫu cây (g) v là thể tích (cm 3 )
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu khảo sát về đường kính, chiều cao và dung trọng gần đúng được nhập vào phần mềm MS Excel để tính toán tổng lượng biomass, CO2 và biến động sinh khối của thực vật.
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng các nơi khảo sát
Theo kết quả khảo sát được năm 2010 và kết quả năm 2009 thì hiện trạng số cây của các nơi khảo sát thay đổi
Bảng 4.1 Số lượng cây được khảo sát năm 2010 của 10 điểm ở thành phố Cần Thơ
Nơi khảo sát Số cây
Năm 2009 Năm 2010 Điểm 17 31 31 Điểm 18 30 32 Điểm 19 118 148 Điểm 28 32 32 Điểm 37 28 30 Điểm 40 30 29 Điểm 42 13 16 Điểm 45 32 37 Điểm 46 29 24 Điểm 48 33 29
Kết quả khảo sát năm 2010 cho thấy tại điểm 17 có tổng số 31 cây xoài, với chiều cao trung bình là 5.17m; cây cao nhất đạt 6.3m và cây thấp nhất là 3.41m Vườn này vẫn giữ nguyên hiện trạng từ năm 2009, không có tác động nào từ chủ hộ như đốn hay mé nhánh Chu vi vòng trung bình của các cây là 40.19cm, trong đó chu vi lớn nhất là 58cm và nhỏ nhất là 19cm.
Theo số liệu khảo sát năm 2010, tổng số cây tại điểm này là 32, tăng 2 cây so với năm 2009 Trong đó, cây mít chiếm 56.25% và cây xoài chiếm 43.75% tổng số cây Số cây mít tăng 5 cây do những cây này đã đạt kích cỡ đo đạc, trong khi số cây xoài giảm 3 cây do chủ hộ đốn để lấy gỗ.
Chiều cao trung bình của cây mít là 5.16m, với cây cao nhất đạt 6.78m và cây thấp nhất là 3.41m Trong khi đó, chiều cao trung bình của cây xoài là 4.39m, với chiều cao tối đa 5.66m và tối thiểu 3.53m Về chu vi vòng, mít có chu vi trung bình là 29.89cm, với chu vi lớn nhất là 41cm và nhỏ nhất là 21cm Đối với xoài, chu vi vòng trung bình là 27.71cm, với chu vi lớn nhất 34cm và nhỏ nhất 20cm.
* Điểm khảo sát số 19 Điểm này có tổng số là 148 cây, tăng 30 cây so với năm 2009, trong đó tăng
Trong khu vực khảo sát, cây tràm chiếm ưu thế với 100 cây, tương đương 67.57% tổng số cây, tiếp theo là cây bạch đàn với 47 cây, chiếm 31.76% Cây trâm bầu có số lượng ít nhất, chỉ với 1 cây, chiếm 0.68% Lưu ý rằng một cây bạch đàn đã bị đốn để lấy gỗ.
Hình 4.1 Chiều cao và chu vi vòng của các loài cây ở điểm 19 ở thành phố Cần Thơ
Theo hình 4.1, cây bạch đàn có chiều cao trung bình cao nhất là 14.96m, với chiều cao tối đa đạt 36m và tối thiểu là 5.64m Ngược lại, cây trâm bầu có chiều cao trung bình thấp nhất, chỉ 5.03m Về chu vi vòng, cây bạch đàn cũng đứng đầu với chu vi trung bình 35.22cm, trong khi chu vi lớn nhất đạt 70.2cm và nhỏ nhất là 15cm Cả cây tràm và trâm bầu đều có chu vi vòng trung bình tương đương, khoảng 23cm.
Tăng trưởng sinh khối của 10 điểm khảo sát ở thành phố Cần Thơ
4.2.1 Tăng trưởng sinh khối và cacbon của các điểm khảo sát
Từ các số liệu chiều cao, chu vi vòng của cây sẽ tính được sinh khối của 10 điểm khảo sát qua hai năm 2009 và 2010
Hình 4.7 Tăng trưởng sinh khối qua 10 điểm khảo sát trong hai năm 2009 và 2010 ở thành phố Cần Thơ
Từ hình 4.7 cho thấy sinh khối của 10 điểm khảo sát qua hai năm 2009 và
2010 có sự khác nhau Tổng sinh khối của 10 điểm năm 2009 là19.209tấn, và tổng
Bưởi Dâu Ổi Thanh trà Xoài
C hu v i v òn g (c m ) sinh khối của 10 điểm năm 2010 là 22.469 tấn Sinh khối của mỗi điểm tăng lên và được biểu diễn trong hình 4.8
Hình 4.8 Tăng trưởng sinh khối qua 10 điểm trong 1 năm (2009-2010) ở thành phố
Sự tăng sinh khối ở các điểm khảo sát dao động từ 0.673 tấn/năm đến 1.275 tấn/năm, với điểm 19 ghi nhận tốc độ cao nhất là 1.275 tấn/năm nhờ vào sự phát triển của rừng tràm và bạch đàn Theo nghiên cứu của Lâm Bỉnh Lợi và Nguyễn Văn Thôn (1972), rừng tràm phát triển tốt ở những nơi có điều kiện thoát nước và rửa phèn tốt, và điểm 19 được hưởng lợi từ vị trí giữa đồng ruộng và kênh, giúp rửa phèn thường xuyên Trong khi đó, các vườn cây ăn quả, như vườn nhãn tại điểm 37, có mức tăng trưởng sinh khối chậm hơn, đạt 0.588 tấn/năm, thấp hơn 2.4 lần so với điểm 19, do người dân thường xuyên can thiệp vào cây trồng để phục vụ nhu cầu cá nhân như thu hoạch trái cây và lấy củi.
Tại điểm 46, cây trồng chủ yếu là nhãn, với sinh khối giảm 0.673 tấn/năm Nguyên nhân chính của sự giảm này là do chủ vườn đã đốn hạ 5 cây, bao gồm 4 cây nhãn và 1 cây tràm, trong khi số cây nhãn còn lại trong vườn đều bị chặt đọt.
Từ kết quả tính sinh khối của 10 điểm khảo sát sẽ tính được trữ lượng cacbon của các điểm khảo sát
-1 -0.5 0 0.5 1 1.5 Điểm 17 Điểm 18 Điểm 19 Điểm 28 Điểm 37 Điểm 40 Điểm 42 Điểm 45 Điểm 46 Điểm 48
Tăng trưởng sinh khối (tấn/năm)
Hình 4.9 Sự tăng lượng cacbon tích lũy của 10 điểm khảo sát ở thành phố Cần Thơ
Sự gia tăng lượng cacbon tích lũy ở các điểm khảo sát tỉ lệ thuận với sự gia tăng sinh khối, với cacbon chiếm 1/2 sinh khối của cây Do đó, khối lượng sinh khối là yếu tố quan trọng để xác định lượng cacbon tích lũy trong cây gỗ Điểm 19 ghi nhận lượng cacbon tích lũy cao nhất, trong khi điểm 46 cho thấy sự giảm sút Mỗi loài cây có khả năng hấp thụ và tích lũy cacbon khác nhau, nhưng do ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan, việc xác định khả năng này của từng loài trở nên khó khăn.
4.2.2 Tăng trưởng sinh khối theo từng loại cây
Kết quả đo đạc ở 10 điểm khảo sát sẽ tính được sinh khối của từng loại cây
0.800 Điểm 17 Điểm 18 Điểm 19 Điểm 28 Điểm 37 Điểm 40 Điểm 42 Điểm 45 Điểm 46 Điểm 48 Điểm khảo sát
Hình 4.10 Tăng trưởng sinh khối theo từng loại cây ở 10 điểm khảo sát ở thành phố Cần Thơ
Cây ăn trái tại thành phố Cần Thơ rất đa dạng với hơn 15 loài được khảo sát tại 10 điểm, đạt trung bình 0.169 tấn sinh khối mỗi năm Trong đó, cây gỗ như tràm và bạch đàn có tốc độ tăng trưởng sinh khối nhanh, trong khi xoài và mít là hai loại cây ăn quả phát triển nhanh nhất Các loại cây ăn quả khác như bưởi, cam, cóc, dâu, ổi, thanh trà và vú sữa có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp hơn.
Cây bạch đàn là loài cây có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, đạt 0.897 tấn mỗi năm Với khả năng phát triển vượt trội, nhiều rừng bạch đàn đã tồn tại trên 70-80 năm, cây có thể cao từ 50-60 mét và đường kính trung bình lên đến 1 mét.
2004) Ở điểm khảo sát, cây cao nhất có chiều cao đến 36 m và chu vi vòng 70.2cm
Xoài là loại cây ăn quả có khả năng tăng sinh khối cao nhất, đạt 0.711 tấn/năm Theo nghiên cứu của Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), xoài rất phổ biến ở vùng nhiệt đới, với nhiệt độ lý tưởng từ 24 – 27 độ C, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và canh tác Tuy nhiên, nhiệt độ cao có thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây.
Xoài có khả năng chịu đựng nhiệt độ cao (46°C) và thấp (5-10°C), là loại cây ăn trái nhiệt đới chịu úng tốt nhất Nhờ vào khả năng thích nghi, xoài được trồng rộng rãi ở nhiều địa điểm khác nhau Trong khi đó, cây mít, mặc dù sinh khối tăng 0.629 tấn/năm chỉ sau xoài, cũng là loại cây dễ trồng và thích hợp với khí hậu nóng ẩm, nhưng lại không chịu được ngập nước Nếu được chăm sóc đúng cách, mít mang lại hiệu quả kinh tế cao và được trồng tại một số điểm khảo sát.
Tăng trưởng sinh khối (tấn/năm)
Nhãn, so đũa và gòn đều giảm sinh khối với mức giảm lần lượt là 0.174 tấn/năm, 0.039 tấn/năm và 0.020 tấn/năm, theo kết quả đo được trong năm.
Vào năm 2009, tại điểm 48 có một cây gòn và một cây so đũa, nhưng đến năm 2010, cả hai cây này đã bị đốn do khu vực này được trồng dâu, nhằm tối ưu hóa năng suất thu hoạch Chủ hộ đã loại bỏ các cây không mong muốn trong vườn cây ăn trái Kết quả khảo sát năm 2009 cho thấy nhãn được trồng tại bốn điểm 37, 45, 46.
Năm 2010, chỉ có điểm 37 sinh khối của nhãn tăng trưởng Tại các điểm 45 và 46, người dân đã thực hiện việc cắt tỉa cành và chặt đọt để kích thích cây ra hoa kết trái, nhằm nâng cao năng suất cây nhãn.
Sự tăng sinh khối của các cây ăn quả và các loại cây không lấy quả
Trong 1 năm thì sinh khối của các vườn cây ăn quả và các loại cây không lấy quả đều tăng lên
Bảng4.2 Kết quả tổng sinh khối của các cây không lấy quả ở thành phố Cần Thơ
Theo bảng 4.2, tổng sinh khối của các cây lấy gỗ tăng 1.379 tấn/năm, trong đó bạch đàn có mức tăng nhanh nhất là 0.897 tấn/năm, trong khi gòn có mức tăng thấp nhất là 0.020 tấn/năm.
Loài Sinh khối(tấn/năm)
Bảng 4.3 Kết quả tổng sinh khối của các loại cây ăn quả ở thành phố Cần Thơ
Loài Sinh khối(tấn/năm)
Theo bảng 4.3, tại 9 điểm vườn cây ăn quả, sinh khối tăng trung bình 1.674 tấn mỗi năm Trong đó, xoài có mức tăng nhanh nhất với 0.711 tấn/năm, trong khi nhãn có mức tăng thấp nhất là 0.174 tấn/năm.
4.4 Ƣớc lƣợng trữ lƣợng cacbon gia tăng hàng năm của TP Cần Thơ
Kết quả tính toán lượng carbon từ 10 điểm khảo sát tại thành phố Cần Thơ trong hai năm 2009 và 2010 cho phép ước lượng sự gia tăng lượng carbon hàng năm của các vườn cây ăn quả.
- Tổng diện tích khảo sát: 0.38 ha
- Lượng cacbon của năm 2009 = 8.966 tấn/năm
- Lượng cacbon của năm 2010 = 9.790 tấn/năm
- Cacbon/ha năm 2009 = 23.595 tấn/ha/năm
- Cacbon/ha năm 2010 = 25.762 tấn/ha/năm
- Diện tích cây ăn quả ở thành phố Cần Thơ:15,654 ha
(nguồn :Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn thành phố Cần Thơ, 2009)
Bảng4.4 Kết quả ước tính lượng gia tăng thường niên của cacbon tích lũy trong cây ở 10 điểm khảo sát và thành phố Cần Thơ
Tích lũy thường niên (MAI) 2.167 tC/ha Lượng cacbon tích lũy bình quân trong 1 năm 24.678 tC/ha
% lượng cacbon tích lũy hàng năm 8.78 %
Tích lũy thường niên của cacbon ở Cần Thơ 33,922.22 tC
Tích lũy thường niên của CO 2 124,381.5 tCO 2
Ƣớc lƣợng trữ lƣợng cacbon gia tăng hàng năm của TP Cần Thơ
Kết quả khảo sát cho thấy sinh khối ở các vườn cây ăn quả đều có xu hướng tăng, với các điểm cụ thể như sau: điểm 17 tăng 0.174 tấn/năm, điểm 18 tăng 0.541 tấn/năm, điểm 19 tăng 1.275 tấn/năm, điểm 28 tăng 0.527 tấn/năm, điểm 37 tăng 0.588 tấn/năm, điểm 40 tăng 0.223 tấn/năm, điểm 42 tăng 0.321 tấn/năm, điểm 45 tăng 0.060 tấn/năm, và điểm 48 tăng 0.008 tấn/năm Tuy nhiên, điểm 46 ghi nhận sự giảm sinh khối với mức giảm 0.673 tấn/năm.
Vườn cây ăn quả ở thành phố Cần Thơ có lượng cacbon tích lũy hàng năm đạt 2.167 tC/ha, với lượng cacbon bình quân hàng năm là 24.678 tC/ha Sự gia tăng thường niên của cacbon tại đây là 33.922,22 tC, trong khi lượng CO2 gia tăng hàng năm lên tới 124.381,5 tCO2.
Kết quả từ sự gia tăng hàng năm lượng CO2 mà cây ăn quả hấp thụ sẽ là cơ sở quan trọng để nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của cây rừng, góp phần giảm thiểu đáng kể lượng khí gây hiệu ứng nhà kính.
- Khi đo đạc ngoài thực tế cần đánh dấu và số thứ tự các cây được khảo sát và ghi thật kỹ ngày khảo sát
- Cần xác định tỉ trọng chính xác cho từng loại cây.