1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc đối tượng liên kết địa chính phục vụ cho công tác quản lý đất đai

99 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dữ liệu tọa độ chính xác này kết hợp với các hồ sơ địa chính cũ có thể nâng cao độchính xác không gian trong hệ thống GIS bằng cách sử dụng các công cụthích hợp Công cụ "Cadastral Ed

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

======&======

NGUYỄN DUY HOÀNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC ĐỐI TƯỢNG LIÊN KẾT ĐỊA CHÍNH

PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Chuyên ngành: Kỹ thuật Trắc địa

Mã số: 60.52.85

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN THÙY DƯƠNG

Hà Nội, tháng 11 - 2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

_

NGUYỄN DUY HOÀNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC ĐỐI TƯỢNG LIÊN KẾT ĐỊA CHÍNH

PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

HÀ NỘI -2010

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

MỞ ĐẦU 4

LỜI CẢM ƠN 7

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ SURVEY ANALYST – CADASTRAL EDITOR 8

1.1 Tổng quan về Survey Analyst - Cadastral Editor 9

1.1.1 Liên kết địa chính (Cadastral Fabric) 9

1.1.2 Job liên kết địa chính 11

1.1.3 Tạo thửa 11

1.1.4 Thửa liên kết địa chính 12

1.1.5 Bình sai liên kết địa chính 12

1.1.6 Hiệu chỉnh các lớp đối tượng GIS phù hợp với liên kết địa chính 14 1.2 Lớp liên kết địa chính 14

1.3 Tổng quan về biên tập liên kết địa chính 15

CHƯƠNG 2 – KHÁI NIỆM LIÊN KẾT ĐỊA CHÍNH 20

2.1 Job kết cấu địa chính 20

2.3 Lịch sử thửa đất trong kết cấu địa chính 26

CHƯƠNG 3 - CẤU TRÚC DỮ LIỆU DCEL 29

3.1 Khái niệm DCEL 29

3.2 Tổng quan 30

3.3 Những đối tượng trong DCEL 32

3.3.1 Đối tượng đỉnh (Vertex) 32

3.3.2 Đối tượng nửa cạnh (HalfEdge) 33

3.3.3 Đối tương mặt (Face) 34

3.4 Nhận xét 34

CHƯƠNG 4 - THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH QUÁN LÝ ĐỊA CHÍNH 52

4.1 Thiết kế chương trình 52

4.1.1 Sơ đồ đường đi dữ liệu (Data Flow Diagram) 52

4.1.2 Sơ đồ thiết kế bảng trong cơ sở dữ liệu (Table Design) 53

Trang 6

4.1.3 Thiết kế lớp (class) trong chương trình Visual C# 53

4.2 Thiết kế giao diện chức năng 54

4.2.1 Chức năng đăng nhập sử dụng 54

4.2.2 Chức năng quản lý tài khoản người dùng 56

4.2.3 Chức năng thay đổi mật khẩu người dùng 57

4.2.4 Chức năng quản lý sổ mục kê 58

4.2.5 Chức năng tạo cơ sở dữ liệu mới 59

4.2.6 Chức năng nhập bản đồ 60

4.2.7 Chức năng chỉnh lý bản đồ thửa đất, bao gồm: 62

A Tạo thửa đất 62

B Chia thửa đất 64

C Nhập thửa đất 68

D Xóa bỏ thửa đất 71

E Quản lý thông tin hình học của thửa đất 73

F Quản lý thông tin thuộc tính của thửa đất 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 78

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2010TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Duy Hoàng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, nhà ở và mở rộng mạng lưới giao thông là môt như cầu cấp thiết Chính các nhu cầu đó đã làm cho đất đai luôn luôn biến động Việc theo dõi và cập nhật những biến động đất đai của các cơ quan chức năng là rất khó khăn

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã cho phép cập nhật và xử lý các vấn đề biến động đất đai một cách nhanh chóng,

có hiệu quả và chính xác Việc hoàn thiện hệ thống này luôn được các cơ quan quản lý đất đai quan tâm và tìm cách giải quyết sao cho đạt hiệu quả và chính xác nhất

Phần mềm ArcGIS của hãng ESRI® ra đời và các ứng dụng của nó được

xây dựng và phát triển ngày càng mạnh mẽ, hoàn thiện hơn trong lĩnh vực quản lý địa chính cập nhật biến động đất đai Trong đó có cung cấp tiện ích

cập nhật biến động đất Cadastral Editor với đối tượng quản lý chính là

Cadastral Fabric hay Liên kết địa chính Tuy nhiên, việc can thiệp vào các

chức năng của đối tượng là hạn chế vì các chức năng đã được đóng gói Nhằm

từng bước nghiên cứu tìm hiểu khả năng và mở rộng các chức năng của Liên

kết địa chính, giúp tăng tính chủ động cho công tác quản lý đối với ngành

quản lý địa chính của nước ta Tác giả đã đề xuất nghiên cứu đề tài “Nghiên

cứu cấu trúc đối tượng Liên kết địa chính phục vụ công tác quản lý đất đai”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng phần mềm sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính dựa trên đối tượng Liên kết địa chính, quản lý cập nhật hồ sơ địa chính với các chức năng sau:

+ Lưu thông tin hồ sơ kỹ thuật thửa đất

Trang 9

4 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu cấu trúc và cơ chế hoạt động của đối tượng Liên kết địa chính phục vụ quản lý, cập nhật và biến động hồ sơ kỹ thuật thửa đất trong hồ

sơ địa chính

Nghiên cứu các đối tượng cơ sở bên trong Liên kết địa chính bao gồm:

 Các đoạn ranh thửa, lưu và bảo toàn các kích thước ranh giới

 Các đỉnh thửa, với các tọa độ x, y, z

 Các đường bao thửa, xác định bởi các đoạn ranh thửa

 Các đỉnh nằm trên ranh thửa, là các đỉnh góc thửa nằm trên ranh giới của các thửa liền kề

 Các bản đồ (bảng), lưu giữ các thông tin về hồ sơ đo đạc

 Các trích Liên kết địa chính (job Liên kết địa chính), theo dõi các cập nhật liên kết địa chính

Mô hình hóa thửa đất trong Liên kết địa chính

Kích thước, hình dạng hình học và các thuộc tính thửa đất

Mô hình hóa các mối quan hệ thửa đất

Số liệu đo, tọa độ và độ chính xác trong Liên kết địa chính

Các trích Liên kết địa chính và việc khóa biên tập

Lịch sử thửa đất trong Liên kết địa chính

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu các chức năng cơ bản của module Cadastral Editor trong phần mềm ArcGIS

- Nghiên cứu cấu trúc và phương pháp hoạt động của đối tượng Liên kết địa chính

- Xây dựng phần mềm mô phỏng cấu trúc của Liên kết địa chính

- Ứng dụng công tác quản lý đất đai

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Giúp cho việc chuẩn hóa dữ liệu Trên cơ sở nghiên cứu các tính năng của Liên kết địa chính, đây sẽ là cơ sở nghiên cứu đế xây dựng những tiện ích cập nhật biến động đất đai trong điều kiện Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu góp phần tăng tính chủ động trong công tác quản lý đất đai, không phụ thuộc phần lớn vào các phần mềm nước ngoài chưa có tính tiện dụng với công tác quản lý đất đai của nước ta

7 Cấu trúc của luận văn

Các nội dung và kết quả nghiên cứu chủ yếu của luận văn được trình bày trong 4 chương gồm 84 trang với 46 hình minh họa

Trang 11

Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học - TS Trần Thùy Dương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡtrong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tác giả xin cảm ơn các thầy, cô trong khoa Trắc địa, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất, các bạn đồng nghiệp và đặc biệt là các thầy, cô trong Bộ môn Địa chính đã tạo điều kiện giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tác giả hoàn thiện bản luận văn này.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SURVEY ANALYST – CADASTRAL EDITOR

ArcGIS là dòng sản phẩm hỗ trợ trong hệ thống thông tin địa lý (GIS) của ESRI® Các phiên bản ban đầu là ArcInfo, được cài đặt trên hệ điều hành MS-DOS Ngày nay các sản phẩm này được phát triển lên nhiều phiên bản cao cấp chạy trên các hệ điều hành khác nhau như: Windows, Unix…

ArcGIS có nhiều dòng sản phẩm khác nhau như: ArcGIS gồm ArcInfo, ArcEditor, ArcCatalog; ArcIMS dùng để đưa dữ liệu GIS lên web; ArcPad dùng cho các thiết bị Mobile; ArcSDE dùng làm cầu nối truy xuất vào các hệquản trị cơ sở dữ liệu; ArcExplore dùng truy cập nguồn dữ liệu trên web; ArcGIS Server hỗ trợ các chức năng bên phía Server cũng như triển khai các ứng dụng qua mạng

ArcGIS hỗ trợ nhiều phần mở rộng gọi là các Extension, mỗi Extension

hỗ trợ một số chức năng chuyên biệt như: phân tích không gian (Spatial Analyst), phân tích 3D (3D Analyst), phân tích mạng (Network Analyst), xử

lý dữ liệu v.v ArcGIS hỗ trợ đọc được nhiều định dạng dữ liệu khác nhau (khoảng 300 định dạng) như shapefile, geodatabase, AutoCad, Raster, Coverage,…

Ngày nay ArcGIS được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng của Hệthông tin địa lý như quản lý môi trường, đất đai, xã hội, kinh tế…

Dòng phần mềm ArcGIS du nhập vào Việt Nam từ những năm 1990, sau các phần mềm về GIS khác như MapInfo hay Geomedia Tuy nhiên, do tính năng mạnh mẽ và nhiều công cụ hỗ trợ trên ArcGIS được bắt đầu sử dụng nhiều ở Việt Nam, đặc biệt với các hệ thống GIS lớn

ArcGIS Survey Analyst là một phần mềm mở rộng cung cấp cho các

nhà đo đạc và chuyên gia GIS với các công cụ để tạo và duy trì dữ liệu đo đạc

và địa chính trong ArcGIS Với ứng dụng này, các nhà đo đạc có thể tập trung

Trang 13

xác định, xử lý và quản lý dữ liệu của họ Chuyên gia GIS sử dụng ArcGIS Survey Analyst để quản lý và liên tục nâng cao độ chính xác của dữ liệu với các phương pháp đo đạc sẵn có.

ArcGIS Survey Analyst 9.3 giới thiệu một đối tượng quản lý địa chính mới gọi là Cadastral Fabric hay Liên kết địa chính và một module làm việc mới có tên Cadastral Editor

1.1 Tổng quan về Survey Analyst - Cadastral Editor

Các thủ tục trong "Survey Analyst extension for ArcGIS" cung cấp một tập hợp các công cụ để duy trì các hồ sơ địa chính Nhiều hệ thống thông tin địa lý sử dụng các hồ sơ địa chính để xây dựng bản đồ nền cho tất cả các lớp trong GIS Thửa đất và các CSDL địa chính được xây dựng bởi tọa độ và dữliệu từ các hồ sơ đo đạc Các công nghệ mới, ví dụ như GPS, cung cấp dữ liệu tọa độ chính xác và được ứng dụng rộng rãi hơn so với trước đây Các dữ liệu tọa độ chính xác này kết hợp với các hồ sơ địa chính cũ có thể nâng cao độchính xác không gian trong hệ thống GIS bằng cách sử dụng các công cụthích hợp

Công cụ "Cadastral Editor" trong "Survey Analyst extension" cung cấp một sơ đồ đơn giản và mô hình dữ liệu để tạo và quản lý hiệu quả các dữ liệu thửa đất Hơn nữa, "Cadastral Editor" còn cung cấp các công cụ để nâng cao

độ chính xác vị trí không gian của dữ liệu thửa đất và các lớp chồng phủ GIS liên quan

1.1.1 Liên kết địa chính (Cadastral Fabric)

Các bộ dữ liệu thửa đất được coi như là các kết cấu địa chính trong Cadastral Editor

Trang 14

Hình 1.1 Mô hình dữ liệu kết cấu địa chínhMột kết cấu địa chính là một bề mặt liên tục của các thửa đất liên thông, hoặc là một mạng lưới các ranh giới thửa đất mà topology được xác định trên

cơ sở các điểm góc thửa chung

Hình 1.2 Tính liên thông của kết cấu địa chínhCác kết cấu địa chính được tạo ra và duy trì bằng việc sử dụng số liệu

đo đạc như các trích đo hoặc bản đồ Các công cụ biên tập kết cấu địa chính, như tạo thửa theo biên, rất thuận tiện cho việc tạo các thửa đất bằng dữ liệu

đo ranh thửa

Trang 15

1.1.2 Job liên kết địa chính

Kết cấu địa chính hỗ trợ cho một job hiệu chỉnh, ở đó các chỉnh sửa và cập nhật tới thửa đất được hiệu chỉnh và quản lý bằng các job kết cấu địa chính

Hình 1.3 Tạo một job kết cấu địa chính

1.1.3 Tạo thửa

Trong một job kết cấu địa chính, dữ liệu của một thửa đất mới có thểđược nhập trực tiếp từ dữ liệu đo đạc theo một hệ tọa độ giả định Các thửa đất mới sau đó sẽ được kết nối với kết cấu địa chính bằng quá trình kết nối tương tác

Hình 1.4 Kết nối thửa đất

Trang 16

Các dữ liệu đo đạc được lưu cùng với các thửa đất trong kết cấu địa chính sao cho có thể dễ dàng theo dõi các thửa đất từ các dữ liệu đo đạc gốc

Một kết cấu địa chính có thể được tạo từ dữ liệu nhập trực tiếp, trích

đo dạng số hay việc truyền dữ liệu từ các bộ dữ liệu thửa đất-GIS đã có

1.1.4 Thửa liên kết địa chính

Kết cấu địa chính được xây dựng theo những nguyên tắc của một hệ tọa

độ địa chính Các thửa đất được xác định bởi một tập hợp các đoạn thẳng ranh giới, mỗi đoạn có điểm "đầu" và điểm "cuối" Các điểm này cũng là các góc đỉnh thửa và có một điểm chung cho các góc đỉnh thừa liền kề

Hình 1.5 Thửa kết cấu địa chính

1.1.5 Bình sai liên kết địa chính

Các điểm khống chế được đưa vào kết cấu địa chính để tham chiếu địa

lý cho toàn bộ mạng lưới, cung cấp một phép tham chiếu chính xác tới bề mặt trái đất

Trang 17

Hình 1.6 Các điểm khống chếMột thủ tục bình sai sẽ xử lý các kích thước biên của kết cấu địa chính đồng thời với các điểm khống chế để tăng độ chính xác của các góc đỉnh thửa

đã có

Hình 1.7 Bình sai

Kết cấu địa chính sẽ lưu và theo dõi lịch sử thửa đất bằng cách giữ lại các thửa đất cũ, các thửa này đã bị thay thế bằng các thửa từ dữ liệu đo mới Một kết cấu địa chính có thể được trình bày và hiển thị tại thời điểm hiện thời hoặc thời điểm lưu (thời điểm pháp lý)

Trang 18

1.1.6 Hiệu chỉnh các lớp đối tượng GIS phù hợp với liên kết địa chính

Nhiều khi, các lớp GIS được xây dựng có liên quan tới các ranh giới thửa, ví dụ: các đường và các vùng quy hoạch Vì kết cấu địa chính đã được bình sai, các lớp chồng phủ GIS đang tham chiếu tới kết cấu địa chính đó có thể không phù hợp với các ranh thửa đã hiệu chỉnh Các độ lệch thu được sau bình sai giữa tọa độ đỉnh thửa mới và cũ được lưu và theo dõi trong CSDL địa

lý của Cadastral Editor Các độ lệch này có thể được sử dụng như các vectơ

để hiệu chỉnh các lớp đối tượng chồng phủ GIS, giống như phép xử lý co giãn bản đồ, đưa các đối tượng này phù hợp với kết cấu địa chính đã hiệu chỉnh

1.2 Lớp liên kết địa chính

Kết cấu địa chính sẽ được thêm vào ArcMap dưới dạng một lớp tổ hợp (composite group layer) Một lớp tổ hợp bao gồm một tập hợp các lớp con liên quan Nó tương tự như một lớp nhóm chuẩn, nhưng thay vào đó, các lớp con là các thành phần của một lớp tổ hợp và có liên quan lẫn nhau Các lớp con trong một lớp tổ hợp kết cấu địa chính biểu diễn các đối tượng tạo nên một thửa đất trong kết cấu địa chính đó Lớp kết cấu địa chính này bao gồm các lớp con sau:

Trang 19

Các lớp con có thể được truy vấn và ký hiệu hóa như các lớp đối tượng thông thường nhưng chỉ có thể biên tập bằng các công cụ biên tập kết cấu địa chính.

1.3 Tổng quan về biên tập liên kết địa chính

Một kết cấu địa chính được biên tập bởi một tập hợp các công cụ biên tập kết cấu địa chính Các thửa đất được chọn để chỉnh sửa và được mở trong một job kết cấu địa chính để biên tập

a Chọn các thửa b Mở một job liên kết địa chính

Hình 1.8 Mở một liên kết địa chính

Các job kết cấu địa chính được tạo tự động, hoặc có thể được tạo thủcông và tùy theo ý với tiêu đề, mô tả, Các công cụ biên tập kết cấu địa chính cung cấp các chức năng sau:

 Tạo các thửa mới sử dụng pp nhập từng cạnh

 Tạo và chỉnh sửa các thửa sử dụng phép dựng hình

 Bản số hóa các thửa đất

 Thêm điểm không chế

 Bảo trì kết cấu địa chính, VD: thêm các đoạn nối

 Bình sai kết cấu địa chính

Môi trường biên tập kết cấu địa chính sẽ được xây dựng để phù hợp với

dữ liệu nhập từ hồ sơ đo đạc hoặc bản đồ Các thửa đất được tạo ra và biên

Trang 20

tập trong hệ tọa độ giả định, chỉ cần các kích thước Các thửa mới hoặc hiện chỉnh có thể được kết nối với kết cấu địa chính theo một quy trình kết nối tương tác, các điểm góc thửa được đối chiếu với các điểm tương ứng trong kết cấu địa chính.

Các công cụ biên tập kết cấu địa chính

Tạo thửa

 Nhập từng cạnh : Nhập từng cạnh là phương pháp chủ đạo đểbiên tập và lưu các thửa mới Đối với một thửa trên bản đồ, các kích thước của từng cạnh được nhập theo thứ tự các cạnh tạo thành một đa giác khép kín

Trang 21

Sao chép thửa rất hiệu quả ở khu vực có một số lượng lớn các thửa đất giống nhau.

Tạo thửa bằng dựng hình

Các thửa đất đã có có thể được chỉnh sửa (tách thửa) và các thửa mới được tạo ra từ tập hợp các đoạn thẳng bằng dựng hình Các đoạn mới dựng được tạo ra bằng cả công cụ có trong Biên tập kết cấu địa chính lẫn dán (paste) vào môi trường dựng hình từ các nguồn dữ liệu bên ngoài Biên tập kết cấu địa chính.Việc sử dụng các đoạn dựng hình để phát sinh ra các thửa đất mới sẽ giải quyết việc tạo một số lượng lớn các nhóm và các khu thửa đất

Biên tập kết cấu địa chính cung cấp tập hợp các công cụ dựng hình sau:

 Breakline : Thêm một điểm theo khoảng cách cho trước tính từđiểm đầu của một đoạn ranh thửa Các đoạn có thể được tạo giữa các điểm mới dựng để chia tách thửa

Hình 1.10 Công cụ Breakline

Trang 22

 Song song (Parallel) : Dựng một đoạn thẳng song song với khoảng offset cho trước sang phải hoặc trái so với cạnh thửa đã chọn.

Hình 1.11 Công cụ dựng đoạn song song (Construct Parallel Line Tool)

 Góc/Độ dài (Angle/Length) : Dựng một đoạn với góc trong cho trước và độ dài tính từ điểm cuối của cạnh thửa đã chọn Công cụAngle/Length hiệu quả khi làm việc với các thửa được lưu với các góc trong thay cho lưu phương vị

Hình 1.12 Công cụ Góc/Độ dài

Trang 23

Xây dựng các thửa từ mạng lưới các đoạn đã dựng

Một khi đã tạo và bổ sung tất cả việc dựng hình để xác định các thửa mới, công cụ Tạo thửa sử dụng phép dựng hình phát sinh các thửa từ các đoạn dựng hình đã có Phương pháp tạo thửa xác định các đoạn dựng hình sẽđược sử dụng như thế nào khi tạo các thửa mới cũng như xác định các thuộc tính nào của thửa sẽ bị thay đổi Ví dụ, một đoạn dựng hình có thể tạo một thửa đất phụ mới hay tách một thửa đã có thành hai thửa mới

Trang 24

CHƯƠNG 2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN KẾT ĐỊA CHÍNH

2.1 Job kết cấu địa chính

Các thửa đất trong kết cấu địa chính được biên tập sử dụng một bộ các công cụ biên tập kết cấu có trong Survey Analyst Cadastral Editor extension Các biên tập cho kết cấu địa chính được mô hình hóa như sự thực thi một luồng các job và các thửa được biên tập trong các job kết cấu địa chính

Job kết cấu địa chính là gì?

Một job kết cấu địa chính là một tập hợp các thửa đất, được trích ra từmột kết cấu địa chính nhằm mục đích để chỉnh sửa và bình sai Khi các thửa đất được chọn và tách ra để biên tập, một job sẽ được tự động tạo ra theo mặc định Các job còn có thể được tạo thủ công và tùy biến các tiêu đề, người thực hiện, mô tả và trạng thái Các job được tạo thủ công được gọi là các job kết cấu có gắn tên

Hình 2.1 - Tạo một job

Việc biên tập trong một job được thực hiện bên trong một phiên biên tập thông thường của ArcGIS Các thửa đất được chọn để chỉnh sửa bằng công cụ biên tập thông thường và được đưa vào một job Khi mở một job, các thửa đất được chuyển thành luồng XML trong bộ nhớ và có thể được biên tập bằng các công cụ biên tập kết cấu địa chính Các thửa đất trong một job do đó

sẽ được biên tập bên ngoài CSDL địa lý Công cụ biên tập kết cấu làm việc

Trang 25

với luồng XML, bất cứ một sự chỉnh sửa thửa đất nào đều được ghi vào luồng XML Khi một job được tải lại về kết cấu địa chính, tất cả các chỉnh sửa được tải vào kết cấu địa chính và kết thúc luồng XML Việc lưu hay chấm dứt phiên biên tập thông thường này sẽ ghi các chỉnh sửa sang CSDL địa lý riêng hay phiên bản ArcSDE.

Các job kết cấu địa chính và việc khóa biên tập

Khi một thửa đất được biên tập trong một job, nó yêu cầu phải khóa việc biên tập Khóa biên tập sẽ ngăn các job chồng nhau trong môi trường đa người sử dụng ArcSDE cùng biên tập thửa đất này Một khi job này được tải trở lại kết cấu địa chính, khóa biên tập sẽ được hủy Trong một job được tạo

tự động, các thửa đất lúc đầu không bị khóa; khóa biên tập chỉ có hiệu lực khi thửa đất này được mở để biên tập trong môi trường dựng hình Trong job tựtạo, có gắn tên, các thửa đất có thể được chọn để biên tập và khóa biên tập có hiệu lực ngay sau khi chúng được đưa vào job

Khi một thửa đất bị khóa, khóa sẽ có tác dụng đối với tất cả các thuộc tính thửa đất trừ các thuộc tính tọa độ x,y,z của đối tượng đỉnh thửa Các đỉnh thửa trong một job có thể tham gia vào quá trình bình sai một job phủ trùm bất kỳ nào

 Chỉnh sửa các thuộc tính thửa đất—Khóa biên tập có hiệu lực

 Tạo thửa mới dựa trên các thửa đã có (tách, gộp thửa)—Khóa biên tập có hiệu lực cho các thửa đã có

 Thêm các điểm khống chế—Không khóa

 Bình sai (chỉ thay đổi tọa độ)—Không khóa

 Các thửa chưa được kết nối—Khóa biên tập có hiệu lực cho các thửa chưa kết nối

Các loại job và việc phân phiên bản.

Một kết cấu địa chính có thể được tạo trong CSDL địa lý tệp, CSDL địa

lý riêng hay một CSDL địa lý ArcSDE Một CSDL địa lý tệp lưu các bộ dữ

Trang 26

liệu trong một thư mục folder chứa các tệp trong máy tính của bạn, một CSDL địa lý riêng lưu dữ liệu trong CSDL của Microsoft Access (.mdb), còn CSDL địa lý ArcSDE lưu dữ liệu trong một CSDL quan hệ có chức năng truy cập và biên tập đa người dùng (Oracle, Microsoft SQL Server, IBM DB2).

Một CSDL ArcSDE có thể được phân biệt theo phiên bản Việc phân phiên bản cho phép truy cập và biên tập đa người dùng trên cùng một dữ liệu trong CSDL mà không cần khóa hay sao chép dữ liệu

Mỗi CSDL địa lý ArcSDE có gắn một phiên bản mặc định (gọi là DEFAULT), phiên bản này luôn tồn tại và không thể xóa được Phiên bảnmặc định biểu diễn trạng thái cập nhật gần nhất của CSDL Trong môi trường

đa người dùng, một phiên bản con, mới của CSDL (hay snapshot) có thể được tạo ra từ phiên bản mặc định để hỗ trợ cho các chỉnh sửa đồng thời của người

sử dụng Sau khi kết thúc các chỉnh sửa, các phiên bản con sẽ được làm tương thích với phiên bản mặc định trong CSDL Nhờ quá trình làm tương thích, phiên bản con sẽ thu được bất kỳ một sự cập nhật nào sau ngay sau khi các phiên bản con khác được tải vào phiên bản mặc định Một khi các chỉnh sửa chấm dứt trong một phiên bản con, phiên bản này có thể được tải hoặc trộn với phiên bản mặc định Các phiên bản được tạo ra từ các phiên bản, chúng luôn được phát triển ngoài phiên bản mặc định

Các job kết cấu địa chính có thể được tạo ra cả trong kết cấu địa chính thuộc phiên bản mặc định (kết cấu địa chính DEFAULT) lẫn trong kết cấu địa chính thuộc phiên bản con Một kết cấu địa chính hỗ trợ cho việc biên tập các job chỉ trên một mức phiên bản được tạo bởi DEFAULT

Các trạng thái phiên bản

Công cụ biên tập kết cấu địa chính làm việc khác so với công cụ biên tập thông thường trong CSDL địa lý ArcSDE theo phiên bản Đối với mỗi bảng hay lớp đối tượng, có hai bảng phụ: bảng A (Adds) để chèn thêm và cập nhật và bảng D (Deletes) để xóa Mỗi lần bạn cập nhật hay xóa một bản ghi trong phiên bản, các dòng sẽ được thêm vào một hay cả hai bảng này Hơn

Trang 27

nữa một phiên bản bao gồm tất cả các bảng gốc (gọi là các bảng cơ sở) cộng với các thay đổi trong các bảng phụ Mỗi dòng trong các bảng A và D được đánh dấu bằng một chỉ số nguyên gọi là chỉ số (ID) trạng thái, sẽ tham chiếu khi dòng này được thêm vào bảng Trong công cụ biên tập thông thường, mỗi lần phiên bản được biên tập, một trạng thái mới được tạo ra và một dòng mới được thêm vào một hay cả hai bảng phụ Trong công cụ Cadastral Editor, mỗi lần một job được tải và lưu vào công cụ biên tập kết cấu địa chính, một dòng mới được thêm vào một hoặc cả hai bảng phụ để biểu diễn sự thay đổi trong job.

Các cập nhật sau có thể thực hiện đối với một job khi thiết lập tương thích phiên bản của nó:

 Các tọa độ cập nhật của đỉnh thửa (bình sai một job chồng phủ)

 Các thửa đất mới tạo từ một job chồng phủ

 Các điểm mới từ một job chồng phủ

 Các điểm khống chế cập nhật hoặc mới

LƯU Ý: Sẽ không bao giờ xảy ra xung đột với các thửa đất được biên tập trong một job, vì các thửa bị biên tập luôn luôn bị khóa.

2.2 Hiệu chỉnh các lớp đối tượng

Sẽ là rất bình thường khi các lớp đối tượng có mối liên hệ với ranh giới quyền sử dụng đất Ví dụ, các lớp tim đường và rãnh giữ một khoảng cách so

Trang 28

với ranh giới thửa đất, địa giới phải là các ranh giới thửa đất, còn các đường bao nhà phải nằm trong ranh giới thửa đất Vì vậy đây là vấn đề đặc thù khi biên tập các lớp đối tượng có sử dụng các ranh giới thửa đất làm cơ sở đểtham chiếu Ví dụ, các tim đường được dựng cách một độ dài cho trước so với cạnh mặt tiền của một thửa đất

Kết cấu địa chính đóng vai trò hệ tham chiếu cơ sở cho các lớp đối tượng liên quan Khi kết cấu địa chính bị hiệu chỉnh sau bình sai, các tọa độgóc đỉnh thửa có thể bị thay đổi hoặc cập nhật bằng các giá trị mới, gây ra sựkhông nhất quán giữa các thửa đất của kết cấu địa chính với các lớp đối tượng khác Điều quan trọng là khi các lớp đối tượng bị hiệu chỉnh tương tự theo kết cấu địa chính, chúng sẽ giữ được vị trí tương hỗ với nhau

Các chỉnh sửa thửa đất trong một job có thể bao gồm cả việc bình sai các tọa độ Các chỉnh sửa đơn giản nói chung sẽ hiệu chỉnh một nhóm cục bộcác thửa đất, ngược lại một job được tạo ra vì mục đích bình sai sẽ hiệu chỉnh một nhóm các thửa đất có phạm vi lớn hơn Kích thước của vùng bị hiệu chỉnh trong kết cấu địa chính có thể sẽ rất khác nhau

Khi một job sau bình sai được tải trở lại kết cấu địa chính, các tọa độmới của các đỉnh sẽ được so sánh với các tọa độ ban đầu trong kết cấu địa chính Một tập hợp các vector dịch chuyển giữa các tọa độ mới và ban đầu sẽđược tạo ra và chúng được lưu trong một bảng của CSDL địa lý Kết cấu địa chính lưu một hồ sơ theo thứ tự của tất cả các vector dịch chuyển thu được từtất cả các lần bình sai Các vector dịch chuyển được sử dụng để hiệu chỉnh các lớp đối tượng khác, được coi như việc bình sai một lớp đối tượng

Điều quan trọng là phải phân biệt giữa việc hiệu chỉnh các lớp đối tượng và việc bình sai Bình sai hiệu chỉnh các tọa độ trong kết cấu địa chính, chúng tạo ra các vector dịch chuyển Việc hiệu chỉnh đối tượng thì sử dụng các vector dịch chuyển để hiệu chỉnh các lớp đối tượng liên quan Việc hiệu chỉnh lớp đối tượng chỉ được thực hiện sau khi đã bình sai trong kết cấu địa chính

Trang 29

Hình 2.2 - Mô hình hóa các hiệu chỉnh đối tượng

Hiệu chỉnh lớp đối tượng trong kết cấu địa chính được dựa trên tiện ích Hiệu chỉnh không gian (Spatial Adjustment) của ArcGIS Tiện ích Hiệu chỉnh không gian là một tập hợp các công cụ cho phép bạn nắn, xử lý co giãn bản

đồ, ghép biên trong ArcMap Hiệu chỉnh lớp đối tượng trong kết cấu địa chính

sử dụng phép nắn bản đồ, nó là một quá trình hiệu chỉnh các hình của một lớp ban đầu cho trước trong ArcMap thành một lớp đích chính xác hơn Các hình được hiệu chỉnh trong một phép nắn cục bộ, phép nắn này bảo toàn các đoạn thẳng Phép nắn bản đồ đòi hỏi phải có mối liên kết dịch chuyển, đó là những vector được xác định giữa các tọa độ trong các lớp ban đầu và đích Để hiệu chỉnh lớp đối tượng, các vector dịch chuyển được tạo ra sau bình sai kết cấu địa chính sẽ cung cấp các mối liên kết dịch chuyển bằng quá trình xử lý nắn bản đồ

Các vector dịch chuyển sẽ được lưu trong một bảng vector hiệu chỉnh (Fabric_Vectors) khi một job được tải lại về kết cấu địa chính Tất cả các

Trang 30

vector đối với một job đơn đã tải được gắn với một chỉ số ID theo thứ tự, gọi

là mức hiệu chỉnh Mức hiệu chỉnh sắp đặt các hiệu chỉnh đối tượng so với các hiệu chỉnh đối tượng khác trong hệ thống Mỗi mức hiệu chỉnh có một thời điểm tương ứng, con dấu thời gian và ID của job liên quan (lưu trong bảng Fabric_Adjustments) Bảng Fabric_Levels lưu các ID của các lớp đối tượng liên quan, kết cấu địa chính gốc của chúng, và mức hiệu chỉnh gần đây nhất đã thực hiện cho lớp đối tượng

Vì mỗi một tập hợp các vector dịch chuyển liên quan tới một mức hiệu chỉnh, các hiệu chỉnh đối tượng có thể được áp dụng Vì các lớp đối tượng được theo dõi bởi mức hiệu chỉnh sau cùng, các vector dịch chuyển trước đó không bao giờ được áp dụng lại và các tập hợp vector luôn luôn được thực hiện tuần tự và không bị bỏ qua

Hình 2.3 – Mức hiệu chỉnh

2.3 Lịch sử thửa đất trong kết cấu địa chính

Trong nhiều hệ thống địa chính, chuỗi các GCN là quan trọng cho sự

an toàn của người chủ hiện thời nắm giữ GCN đó Đó là bằng chứng có tác dụng bảo đảm Một CSDL địa chính không chỉ cung cấp sự thể hiện chính xác

Trang 31

các ranh giới thửa đất hiện thời mà còn cung cấp hồ sơ biến động các ranh giới thửa đất Ở Mỹ tính hiệu lực của GCN hay các quyền trên thửa đất được dựa trên bằng chứng của các dữ liệu và các hồ sơ đo đạc (chuỗi bằng chứng) Thậm chí ngay ở những nước có sự đảm bảo cho GCN, chuỗi các hồ sơ và

mô tả ranh giới là quan trọng Các trị đo thửa đất mới không thể được thực hiện nếu những người đo đạc không sử dụng các thông tin đo đạc trước đây;

dữ liệu đo đạc và các văn bản trong quá khứ hay các GCN không bao giờ bị

bỏ qua

Lịch sử thửa đất và các lần bình sai

Trong kết cấu địa chính, các thửa đất lịch sử có vai trò quan trọng cho

cả vai trò pháp lý lẫn giá trị của chúng trong các lần bình sai Các thửa đất lịch sử chứa các dữ liệu đo đạc pháp lý, chúng cung cấp các trị đo thừa ngày càng tăng trong bình sai

Bình sai liên tục kết cấu địa chính có nghĩa là các tọa độ đỉnh sẽ thay đổi theo thời gian Các tọa độ đơn giản là các đánh giá tối ưu hiện thời của vịtrí các góc đỉnh thửa Để theo dõi lịch sử thửa đất, mối quan hệ không gian giữa các thửa đất hiện thời và các thửa đất lịch sử phải được giữ lại Bởi vậy, tất cả ranh giới thửa đất, cả hiện thời và lịch sử, sẽ tham gia khi bình sai Các ranh thửa lịch sử sẽ hiệu chỉnh cùng với các ranh thửa hiện thời

Lích sử thửa đất và các bản đồ

Kết cấu địa chính theo dõi lịch sử thửa đất bằng cả thời điểm thành lập bản đồ (thời điểm đo đạc) lẫn thời điểm hệ thống (thời điểm các biến động thửa đất được đưa vào CSDL) Khi một thửa đất đã có trong kết cấu địa chính

bị thay thế bởi các thửa đất xác định trong một bình đồ mới hay số liệu đo mới, thửa đất này và các cạnh của nó trở thành lịch sử Các góc đỉnh thửa không nhất thiết trở thành lịch sử khi thửa đất trở thành lịch sử, bởi vì các thửa đất liền kề có chung đỉnh thửa này có thể vẫn là hiện thời

Kết cấu địa chính lưu hai thời điểm "bắt đầu" (thời điểm pháp lý và thời điểm hệ thống) và hai thời điểm "kết thúc" đối với các thửa đất và các điểm

Trang 32

Thời điểm bắt đầu pháp lý tương ứng với thời điểm tạo bản đồ địa chính còn thời điểm pháp lý cuối cùng tương ứng với thời điểm tạo bản đồ mới thay thế

Các thời điểm hệ thống bắt đầu và kết thúc lần lượt tương ứng với các thời điểm thửa đất được nhập vào và bị thay thế trong hệ thống

Lích sử kết cấu địa chính và việc lưu trữ CSDL

Vì các ranh giới thửa đất lịch sử tham gia trong các lần bình sai kết cấu địa chính, nên lịch sử trong kết cấu địa chính là động Điều này ngược với việc lưu trữ các thông tin tĩnh không được biên tập hay thay đổi mà phải giữ

Đó là lịch sử tĩnh Các hệ thống địa chính và kết cấu địa chính có cả hai kiểu thông tin Các trị đo kích thước đã lưu của thửa đất lịch sử và các hồ sơ liên quan không bao giờ được thay đổi và được coi là tĩnh Tọa độ của các thửa đất này thay đổi khi bình sai và được coi là động

Trang 33

CHƯƠNG 3 CẤU TRÚC DỮ LIỆU DCEL

3.1 Khái niệm DCEL

DCEL là từ viết tắt của Doubly-Connected Edge List – Danh sách cạnh

liên kết kép DCEL là một cấu trúc dữ liệu có hiệu quả khi lưu trữ thông tin vềmột bề mặt topo 2D (Có thể nằm trong không gian 3D) Các bề mặt để biểu diễn thường được coi là tương đương với phân khu (subdivision) phẳng, mặc

dù không phải tất cả bề mặt đều nhất thiết sẽ có thể lưu trữ một phân khu phẳng đúng

Bề mặt (Surface) theo thuật ngữ bao gồm các mặt (polygons), cạnh (ranh giới giữa hai mặt tiếp giáp), và đỉnh (ranh giới giữa hai cạnh kề) Cạnh chỉđược phép chạm vào nhau ở đỉnh, có nghĩa là không bao giờ cạnh chéo nhau Trong mô hình 2D, đây là một phân khu của mặt phẳng: mặt phẳngđược chia thành nhiều phần bởi các cạnh, và mỗi một trong những miếng là một mặt (face)

Một cấu trúc dữ liệu DCEL cho chúng ta một cách để mô tả một khối đa giác theo cách mà có thể dễ dàng tìm thấy hàng xóm của đỉnh, cạnh hoặc mặt

mà không cần tìm kiếm thông qua danh sách dài các đa giác Điều này cho phép chúng ta truy cập thông tin nhanh chóng và rất hữu ích

Trang 34

Hình 3.1 – Doubly Connected Edge List - DCEL

3.2 Tổng quan

Cấu trúc dữ liệu DCEL tập trung vào các khái niệm về các cạnh, nhưng

là một mô hình ít nhiều không trực quan Thay vì trực tiếp thể hiện một cạnh, mỗi cạnh là bao gồm hai "nửa cạnh" (half-edges) Hai nửa cạnh này tạo thànhmột cạnh được cho là "sinh đôi" với cạnh kia, và con trỏ trỏ tới nhau Mỗi nửa cạnh các lưu trữ một con trỏ tới đỉnh gốc (origin) của nó, nhưng không đến đỉnh ngọn (destination) của nó Các điểm ngọn của một nửa cạnh có thể được tìm thấy bằng cách tìm điểm gốc của cạnh sinh đôi với nó Với cách tổ chức,

ta có thể coi tất cả các nửa cạnh đều có hướng, và hướng của nửa cạnh luôn luôn ngược với hướng cạnh sinh đôi của nó

Trang 35

Hình 3.2 – DCEL

Một nửa cạnh có một miền ngoài (outside) chạm vào mặt và một miền trong (inside) chạm vào cạnh sinh đôi với nó Chúng ta có thể tự do lựa chọn miền nào là miền trong, miền nào là miền ngoài, nhưng chúng ta sẽ chọn miền ngoài để được ở bên trái cạnh, hiển thị nửa cạnh từ đầu (lý do sẽ được thấy tại phần sau) Bây giờ chúng ta có thể thấy rằng mỗi cạnh nửa có một mặt duy nhất chạm vào nó Chúng ta sẽ lưu giữ một con trỏ trỏ tới mặt này trong một nửa cạnh

Lưu ý rằng tên Danh sách cạnh liên kết kép không được rõ ràng về nghĩa,

và kém tính mô tả dữ liệu Những cấu trúc dữ liệu giống nhau đôi khi được gọi là một nửa cạnh (Halfedge), cạnh một nửa (Half-Edge) hoặc cấu trúc dữliệu cạnh sinh đôi (twin-edge data structure), tất cả đều là những tên có thể sửdụng tốt Cấu trúc DCEL gốc sử dụng các cạnh định hướng với hai đỉnh trởtới mỗi cạnh, thay vì nửa cạnh, và do đó không phải là hữu ích hay là có hiệu quả Ý tưởng cơ bản là tương tự tuy nhiên, và các cơ cấu hiệu quả hơn giữ lại tên ban đầu.

Trang 36

3.3 Những đối tượng trong DCEL

Cấu trúc dữ liệu DCEL bao gồm ba loại đối tượng; đỉnh, nửa-cạnh, và mặt Những đối tượng này chủ yếu bao gồm các "con trỏ" để trỏ tới các đối tượng khác trong DCEL Đây có thể là kiểu dữ liệu giống như trong ngôn ngữlập trình C/C++ - con trỏ có chứa địa chỉ bộ nhớ của các đối tượng khác, hoặc

có thể được xử lý, chỉ số của mảng, hoặc các loại địa chỉ Tác dụng chủ yếuthiết yếu là chúng cho phép truy cập trực tiếp đến các đối tượng, mà không cần tìm kiếm nhiều Lưu ý rằng mỗi một đối tượng có kích thước cốđịnh Ngay cả đối với mắt lưới bao gồm các hình tam giác, tứ giác và đa giác chung, các đối tượng có cùng một lượng thông tin

Hình 3.3 – DCEL Objects

3.3.1 Đối tượng đỉnh (Vertex)

Một đối tượng Vertex chứa một con trỏ DCEL duy nhất, con trỏ này trỏđến một HalfEdge duy nhất có đối tượng Vertex là điểm gốc của nó Nếu nhiều HalfEdges có cùng đối tượng Vertex là gốc của chúng, thì con trỏ có thể trỏ đến bất kỳ nửa cạnh nào trong số chúng

Trang 37

Hình 3.4 – Đối tượng Vertex

3.3.2 Đối tượng nửa cạnh (HalfEdge)

Các đối tượng nửa cạnh (HalfEdge) chứa một con trỏ tới Đỉnh (Vertex),

có tên là origin (gốc), con trỏ đến mặt có tên là face (mặt), và hai con trỏ đếnHalfEdges, một tên là twin(sinh đôi) và một tên là next (tiếp theo) Gốc của nửa cạnh là đỉnh mà từ đó nửa cạnh bắt đầu Mặt của nửa cạnh là mặt ở phía bên trái của nửa cạnh, trong khi nửa cạnh sinh đôi ở bên phải của nửa cạnh góp phần tạo tạo thành cạnh hoàn chỉnh

Hình 3.5 – Đối tượng HalfEdge

Trang 38

3.3.3 Đối tương mặt (Face)

Một đối tượng mặt (face) có chứa một con trỏ DCEL duy nhất, trỏ đến một đối tượng nửa cạnh (HalfEdge) Nửa cạnh này có thể là cạnh bất kỳ trong

số những cạnh là ranh giới của mặt

Hình 3.6 – Đối tượng Face

3.4 Nhận xét

Danh sách cạnh liên kết kép (Doubly-Connected Edge List) chứa một bản ghi cho mỗi mặt, cạnh và đỉnh của một miền Ngoài thông tin hình học và topo, mỗi một bản ghi còn có thể chứa thông tin bổ sung Thông tin bổ sung này còn được gọi là thông tin thuộc tính (Thông tin hình học và topo được lưu trong một danh sách cạnh liên kết kép phải cho phép chúng ta thực hiện được các thao tác cơ bản nói trên )

Để có thể đi vòng quanh một mặt theo biên ngược chiều kim đồng hồchúng ta lưu một con trỏ cho mỗi cạnh trỏ tới cạnh tiếp theo Để có thể dễdàng đi vòng theo chiều ngược lại chúng ta lưu một con trỏ tới cạnh trước đó

Một cạnh luôn luôn giáp với hai mặt, do đó chúng ta cần hai con trỏcho nó Sẽ rất thuận tiện để hiển thị các phía khác nhau của một cạnh thành hai nửa cạnh riêng biệt, do đó chúng ta sẽ có một nửa cạnh tiếp theo duy nhất

và một nửa cạnh trước đó duy nhất đối với một nửa cạnh Điều đó còn có

Trang 39

nghĩa rằng một nửa cạnh chỉ có giáp với một mặt Hai nửa cạnh mà chúng ta

có đối với một cạnh cho trước được gọi là sinh đôi Việc xác định nửa cạnh tiếp theo của một nửa cạnh cho trước theo chiều đi quanh một mặt ngược chiều kim đồng hồ đem lại tính có hướng của mỗi nửa cạnh: Nó được định hướng là mặt mà nó giáp nằm ở bên trái đối với người đi dọc theo cạnh này Bởi vì nửa cạnh có hướng, chúng ta có thể nói đến điểm đầu và điểm cuối,

anh em sinh đôi của nó Twin(e) sẽ có w là điểm đầu và v là điểm cuối Để tiếp

cận được ranh giới của một mặt chúng ta chỉ lưu một con trỏ trong mặt đó trỏtới một nửa cạnh là biên của nó Xuất phát từ nửa cạnh này, chúng ta có thểbước từ mỗi nửa cạnh tới nửa cạnh tiếp theo và đi vòng quanh mặt này

Những gì chúng ta vừa bàn luận không hoàn toàn đúng cho biên của các lỗ hổng bên trong một mặt: chúng được chuyền ngược chiều kim đồng hồ

do đó mặt sẽ nằm ở bên phải Sẽ là thuận tiện khi hướng của các nửa cạnh đến mặt của chúng luôn nằm về một phía do đó chúng ta sẽ đổi hướng đi đối với các cạnh biên của lỗ hổng thành thuận chiều kim đồng hồ Bây giờ một mặt luôn luôn nằm bên trái của bất kỳ một nửa cạnh biên nào của nó Một hệ quảkhác là các nửa cạnh sinh đôi luôn luôn có hướng ngược nhau Sự xuất hiện các lỗ trong mặt còn có nghĩa là một con trỏ từ một mặt tới một nửa cạnh đó trên biên của một đó là không đủ để đi thăm toàn bộ biên: chúng ta cần một con trỏ tới nửa cạnh trên mỗi biên

Tóm tắt: Danh sách cạnh liên kết kép bao gồm ba loại bản ghi: một cho các đỉnh, một cho các mặt và một cho các nửa cạnh Các bản ghi này sẽ lưu các thông tin hình học và topo sau:

Bản ghi của một đỉnh v sẽ lưu các tọa độ của v ở trường có tên là Coordinates(v) Nó còn lưu một con trỏ IncidentEdge(v) trỏ tới một nửa cạnh

nào đó có v là điểm đầu của cạnh đó

Bản ghi của một mặt lưu một con trỏ OuterComponent(f) trỏ tới một

nửa cạnh nào đó trên biên ngoài của mặt đó Đối với mặt hở con trỏ này là

Trang 40

rỗng nil Nó còn lưu một danh sách InnerComponent(f) , nó chứa cho mỗi lổ

hổng trong mặt một con trỏ tới nửa cạnh nào đó trên biên của lỗ hổng này

Bản ghi nửa cạnh của một nửa cạnh e lưu một con trỏ Origin(e) trỏ tới điểm đầu của nó, một con trỏ Twin(e) trở tới nửa cạnh song sinh và một con trỏ IncidentFace(e) trỏ tới mặt mà nó là biên Chúng ta không cần phải lưu điểm cuối của một cạnh bởi vì nó sẽ thu được Origin(Twin(e)) Điểm đầu được chọn sao cho IncidentFace(e) nằm bên trái so với e theo hướng đi từ điểm đầu tới điểm cuối Bản ghi nửa cạnh còn lưu các con trỏ Next(e) và Prev(e) trỏ tới cạnh trước đó và tới cạnh sau đó đều thuộc biên của mặt IncidentFace(e) Do đó Next(e) là nửa cạnh duy nhất trên biên của IncidentFace(e), nửa cạnh này có điểm đầu và điểm cuối của e, còn Prev(e) là nửa cạnh duy nhất trên biên của IncidentFace(e), có điểm cuối là Orgin(e).

Đối với mỗi một cạnh và một đỉnh cần một dung lượng thông tin không đổi Để lưu một mặt duy lượng lưu trữ có thể phải đòi hỏi nhiều hơn bởi vì

danh sách InnerComponents(f) có thể có nhiều phần tử, bằng số các lỗ hổng

có trong mặt này Vì mỗi nửa cạnh được trỏ đến nhiều nhất là một trong các

tất cả các danh sách InnerComponents(f), chúng ta có thể kết luận rằng dung

lượng lưu trữ là tuyến tính với độ phức tạp của miền

Thông tin được lưu trong danh sách cạnh liên kết là đủ để thực hiện các thao tác cơ bản

3.5 Tổng quan về mô hình topo trong ArcGIS

Nếu ta có các đối tượng liên quan với nhau (nghĩa là chia sẻ vị trí tọa

độ, ranh giới, hay nút chung), các khả năng sử dụng mô hình topo cho CSDL địa lý sẽ giúp bạn quản lý các dữ liệu địa lý tốt hơn

Hầu hết người sử dụng đều hết sức cẩn thận về tính toàn vẹn không gian của dữ liệu đối tượng của họ, và mô hình topo của CSDL địa lý sẽ giúp chúng ta quản lý tính toàn vẹn dữ liệu tốt hơn Sử dụng mô hình topo cung cấp một cơ chế mạnh để tạo nên các phép toán kiểm tra toàn vẹn trên dữ liệu

Ngày đăng: 30/05/2021, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm