Công cuộc cải cách hành chính (CCHC) đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm và thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước nhằm thay đổi cơ chế vận hành của nó theo yêu cầu quản lý đất nước trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Mục tiêu cải cách hành chính là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và hướng tới một Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Nội dung cải cách hành chính được tiến hành tương đối toàn diện, thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu như: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức,cải cách thủ tục hành chính, cải cách tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính. Cải cách thủ tục hành chính là một phần nhiệm vụ cải cách thể chế hành chính, do vậy vấn đề cải cách thủ tục hành chính được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm và lựa chọn trở thành khâu đột phá. Thủ tục hành chính (TTHC) không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn liên quan trực tiếp đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản đều phải thông qua TTHC do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước định và trực tiếp giải quyết. Nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác CCHC, các Nghị quyết của Đại hội Đảng khóa VII và VIII, đặc biệt là Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành TW Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính Nhà nước”. Ngày 04051994, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 38NQCP về cải cách một bước thủ tục hành chính mà mục tiêu
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI UBND PHƯỜNG ĐỨC GIANG, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Người hướng dẫn : THS HOÀNG THỊ THÚY VÂN
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN HOÀNG HỒNG
Mã số sinh viên : 1405QLNB029
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài khóa luận này là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Sinh viên
Nguyễn Hoàng Hồng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự chỉ bảo tận tình, những lời khuyên chân thành của cô hướng dẫn là Ths.Hoàng Thị Thúy Vân Góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận này còn có sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Hành chính học , Thư viện của trường Đại học Nội Vụ Hà Nội cũng như tập thể lãnh đạo, các anh chị cán bộ công chức của phòng Nội vụ quận Long Biên, Ủy ban nhân dân phường Đức Giang đã giúp tôi trong việc thu thập
số liệu, tìm hiểu thực tế để phục vụ cho bài khóa luận của mình
Nhân đây, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Hoàng Thị Thúy Vân , các thầy cô Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, tập thể các anh chị cán bộ, công chức trung tâm một cửa Ủy ban Nhân dân phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này./
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Hoàng Hồng
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” 8
1.1 Các khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 8
1.1.2 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính 9
1.1.3 Khái niệm cơ chế một cửa 13
1.2 Nguyên tắc, quy trình của cơ chế “một cửa” 13
1.2.1 Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa” 13
1.2.2 Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa” 15
1.3 Các cơ quan áp dụng cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết công việc cho người dân 18
1.4 Vai trò của công tác cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” 21
1.5 Cơ sở pháp lý cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 25
1.6 Nội dung cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế 1 cửa 26
1.7 Yếu tố tác động đến hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” CỦA UBND PHƯỜNG ĐỨC GIANG, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Khái quát về UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 31
2.1.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 31
2.1.2 Vị trí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 32
2.2 Giới thiệu về bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 35
2.2.1 Vị trí chức năng nhiệm vụ của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 35
Trang 62.2.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ công chức tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 36 2.2.3 Quy trình giải quyết công việc của bộ phận “một cửa” tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 38
2.3 Nội dung cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 39
2.3.1 Cơ sở pháp lý triển khai thực hiện cải cách TTHC theo cơ chế 1 cửa tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 40 2.3.2 Công tác tổ chức và hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại UBND Phường Đức Giang quận Long Biên thành phố Hà Nội 44 2.3.3.Trách nhiệm của người đứng đầu UBND phường trong chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ CCHC nhà nước tại UBND phường Đức Giang quận Long Biên, thành phố Hà Nội 45 2.3.4 Đội ngũ cán bộ công chức tại bộ phận một cửa của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, Thành phồ Hà Nội 47 2.3.5 Cơ sở vật chất phục vụ cho việc giải quyết công việc của bộ phận một cửa 48 2.3.6 Đơn giản hóa, nâng cao chất lượng thủ tục hành chính, tăng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 50 2.3.7 Thực hiện công khai, minh bạch và thống nhất tính chi phí mà cá nhân phải bỏ ra khi thực hiện các TTHC tại bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 54 2.3.8 Thực hiện tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân về việc giải quyết TTHC 57 2.3.9 Kết quả giải quyết công việc của bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 59
2.4 Đánh giá công tác TTHC theo cơ chế một cửa tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 60
2.4.1 Kết quả đạt được 60
Trang 72.4.2 Hạn chế 62
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 64
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND PHƯỜNG ĐỨC GIANG, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67
3.1 Giải pháp 67
3.1.1 Về công tác xây dựng quy trình, quy định 67
Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính 68
3.1.2 Về công tác cán bộ 69
3.1.3 Về kinh phí, cơ sở vật chất 72
3.1.4 Tuyên truyền, vận động và công khai hóa các hoạt động của bộ phận “một cửa” 74
3.1.5 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện cơ chế một cửa 75
3.1.6 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính 77
3.2 Một số kiến nghị 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Công cuộc cải cách hành chính (CCHC) đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm và thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước nhằm thay đổi cơ chế vận hành của nó theo yêu cầu quản lý đất nước trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Mục tiêu cải cách hành chính là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và hướng tới một Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Nội dung cải cách hành chính được tiến hành tương đối toàn diện, thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu như: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức,cải cách thủ tục hành chính, cải cách tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính
Cải cách thủ tục hành chính là một phần nhiệm vụ cải cách thể chế hành chính, do vậy vấn đề cải cách thủ tục hành chính được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm và lựa chọn trở thành khâu đột phá Thủ tục hành chính (TTHC) không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn liên quan trực tiếp đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với nhà nước Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản đều phải thông qua TTHC do các
cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước định và trực tiếp giải quyết Nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác CCHC, các Nghị quyết của Đại hội Đảng khóa VII và VIII, đặc biệt là Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành TW Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính Nhà nước” Ngày 04/05/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 38/NQ-CP về cải cách một bước thủ tục hành chính mà mục tiêu
Trang 9quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của tổ chức, công dân, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp Đáp ứng đòi hỏi thiết yếu của cuộc sống từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường XHCN và phù hợp với tiến trình hội nhập, xu hướng toàn cầu hóa đang diễn
ra mạnh mẽ trên thế giới Sau một thời gian thực hiện và trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện Nghị quyết 38/NQ-CP, ngày 17/09/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010” với mục tiêu cơ bản là:
“Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân” và ngày 04/09/2003 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Tiếp theo đó ngày 22/06/2007, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính ở địa phương Và Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Trước yêu cầu phát triển sâu nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, yêu cầu hội nhập mạnh mẽ và toàn diện, CCHC đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn và là công việc hết sức bức thiết, quan trọng đối với tất cả các cơ quan trong bộ máy hành chính Nhà nước Kết quả của CCHC giúp cho công việc được thực hiện đúng, chuẩn mực và là sự mong đợi của mọi tổ chức, công dân đối với nền hành chính hiện nay Đồng thời, sự hài lòng của tổ chức, công dân đối với nền hành chính hiện nay Đồng thời, sự hài lòng của tổ chức, công dân ngày càng tăng và người dân sẽ không còn
Trang 10“ngại” mỗi khi phải đến các cơ quan hành chính liên hệ giải quyết các TTHC, đây là mục tiêu mà nền HCNN đang hướng tới
Vì vậy việc nghiên cứu về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính và rút ra tổng kết cho địa phương là rất cần thiết Chính vì những lý do
đó mà tôi chọn đề tài: Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội với
mong muốn hoàn thiện kiến thức ở trường, áp dụng có hiệu quả vào công tác quản lý hành chính, đóng góp ý kiến để nâng cao chất lượng mô hình “một cửa” đang được thực hiện tại phường, nơi tôi đang sinh sống Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm của bản thân chưa nhiều, nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô
ở Đại học Nội vụ và lãnh đạo, cán bộ, công chức làm việc tại UBND phường Đức Giang cùng các bạn để bài khóa luận thêm hoàn thiện
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở nước ta đã và đang được quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau thông qua các đề tài khoa học, sách chuyên khảo, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, tham luận tại các hội thảo của các nhà lý luận, nhà khoa học, nhà quản lý
Trong cuốn “Thủ tục hành chính – Lý luận và thực tiễn”, Nxb CTQG,
2001, PGS.TSKH Nguyễn Văn Thâm và TS Võ Kim Sơn đã đề cập tới các yêu cầu của quá trình cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn tới (Chương V) trong đó có yêu cầu về việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng một cửa tiến tới một dấu
Năm 2001, trong cuốn “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam”, Nxb CTQG, HN, do TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên cũng đã đề cập tới việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa trong phần IV- Kiến nghị các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính
Trang 11Vấn đề này cũng được đề cập trong cuốn “ Cải cách nền hành chính Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” bao gồm bài viết của nhiều tác giả liên quan tới nội dung cải cách nền hành chính do Nxb CTQG phát hành năm
2009, tác giả Martin Painter,Hà Hoàng Hợp, Chu Quang Khởi đã khảo sát việc thực hiện mô hình một cửa tại nước ta, chỉ ra kết quả, lợi ích, hạn chế, nguyên nhân thành công và những sáng kiến, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn trong thời gian tới (chương V)
Ngoài ra, đây cũng là vấn đề được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu làm luận văn như:
+ Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thắm, HVHC Quốc gia, năm 2008:
“Đánh giá hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa cấp phường qua thực tiễn ở Quận Hoàng Mai- TP Hà Nội”;
+ Luận văn thạc sĩ Đào Thị Nga, HVHC Quốc gia, năm 2012: “Hiệu quả hoạt động của cải cách hành chính theo mô hình một cửa ở cấp xã qua đánh giá của người dân (từ thực tế tỉnh Lai Châu)” ,
+ Luận văn thạc sĩ Quản lý công Mai Đức Khánh, HVHC Quốc gia, năm 2014 “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình”;
+ Luận văn thạc sĩ Quản lý công của Nguyễn Quang Minh, HVHC Quốc gia, năm 2015: “ Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa từ thực tiễn tỉnh Thái Bình”;
Nhìn chung các công trình, các đề tài khoa học trên đã đề cập cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính nói chung hoặc cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa ở những lĩnh vực chuyên ngành cụ thể; có công trình đề cập đến cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa một dấu của cấp tỉnh, có công trình nghiên cứu ở quy mô cấp huyện và cũng có công trình nghiên cứu của cấp xã Mỗi đề tài đều đã đưa ra hướng nghiên cứu khác nhau, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện lý luận
Trang 12và thực tiễn về cơ chế một cửa tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội Tuy vậy, các công trình khoa học trên đây sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu đề tài của luận văn.Trên cơ sở kế thừa và hệ thống hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý luận văn này tập trung phân tích cơ sở lý luận, đánh giá khái quát thực tiễn cải cách TTHC theo cơ chế một cửa tại UBND phường Đức Giang, từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu để tiếp tục thực hiện tốt hơn cơ chế này, hướng đến việc triển khai thực hiện mô hình một cửa liên thông, một cửa hiện đại góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Thủ tục hành chính được lựa chọn là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể CCHC nhà nước Tuy đã có nhiều nghiên cứu tổng thể nhưng cho đến nay chưa có nhiều công trình chuyên sâu nghiên cứu vấn đề cải cách thủ tục hành chính, cơ chế “một cửa” tại UBND cấp xã, phường - nơi bộ máy chính quyền trực tiếp giải quyết các nhu cầu của công dân, tổ chức Vì vậy tôi chọn đề tài này nhằm tìm hiểu một cách tương đối toàn diện, hệ thống lý luận chung về cải cách TTHC và cải cách TTHC theo
cơ chế 1 cửa, cụ thể công tác cải cách TTHC theo cơ ché 1 cửa tại địa bàn phường Đức Giang thuộc quận Long Biên thành phố Hà Nội Đề tài đưa ra các nhận định, giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện hơn nữa cải cách thủ tục hành chính cấp địa phương
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 đến năm 2017
5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận về thủ tục hành chính và việc thực hiện cải cách TTHC theo cơ chế một cửa tại UBND phường Đức Giang thuộc quận Long Biên thành phố Hà Nội, đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm cải tiến quy trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận về TTHC và cải cách TTHC, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa Nghiên cứu, phân tích các văn bản, các quy định làm cơ sở cho việc cải cách TTHC phường thuộc quận Long Biên Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng cải cách TTHC tại chính quyền cấp phường, đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác cải cách TTHC tại UBND phường Đức Giang quận Long Biên thành phố
Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở những kiến thức đã được học trong nhà trường thông qua sự giảng dạy của thầy, cô giáo và những kiến thức tìm hiểu ngoài thực tế của công cuộc cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đồng thời được sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn, tôi dã sử dụng một số phương pháp để thực hiện nghiên cứu viết bài khóa luận như sau:
- Phương pháp tìm hiểu tư liệu;
- Phương pháp lịch sử;
Trang 14- Phương pháp dự báo;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp thống kê - đánh giá
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
Chương 2: Thực trạng cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC theo cơ chế một cửa tại UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Để giải quyết một công việc nhất định đều cần có những thủ tục phù hợp Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất
Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm việc công
Hoạt động quản lý Nhà nước được thể hiện qua các chính sách quản lý Nhà nước đó là những quy phạm pháp lý để hướng dẫn hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý hoạt động của con người Để cụ thể hóa những quy phạm pháp lý này, thủ tục là loại kế hoạch quy định trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc Khoa học pháp lý gọi
đó là những quy phạm thủ tục, quy phạm này gồm các bộ phận: Thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ tục hành chính
Thủ tục lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật Thủ tục tố tụng
tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Còn thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động HCNN
Thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định về trình tự
về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy Nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan HCNN trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân
TTHC được đặt ra để các cơ quan Nhà nước có thể thực hiện mọi hình thức hoạt động cần thiết của mình trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động viên chức, trình tự lập quy,
Trang 16áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền của chủ thể và xử lý vi phạm, trình
tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính, Đó chính là các quy tắc phải tuân thủ theo trong quá trình ra các quyết định hành chính của các cơ quan quản lý Nhà nước
TTHC là một bộ phận chế định của Luật hành chính Nói cách khác, TTHC là một loại hình quy phạm mang tính công cụ để giúp các cơ quan Nhà nước có điều kiện thực hiện chức năng của mình
TTHC do các cơ quan Nhà nước ban hành để thực thi Hiến pháp và pháp luật nhằm thực hiện chức năng quản lý của nền HCNN và hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng thời các cơ quan HCNN có trách nhiệm thực thi các thủ tục đó
Trước đây khi chưa triển khai cơ chế “một cửa” công dân, tổ chức phải
đi lại nhiều lần, đến một hoặc nhiều cơ quan để liên hệ giải quyết công việc của mình Nay với cơ chế “một cửa” công dân, tổ chức chỉ phải đến liên hệ tại một bộ phận, việc phối hợp giải quyết công việc của công dân, tổ chức thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính, ngày 08/6/2010 của Chính phủ, thủ tục hành chính
được quy định theo hướng giải thích từ ngữ như sau: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”
1.1.2 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính
Theo nghĩa chung nhất, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định
Cải cách hành chính có thể được hiểu như là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và
Trang 17phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước Cải cách TTHC là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân Cải cách thủ tục được coi là khâu đột ph trong cải cách nền HCNN, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động
Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 04/05/1994 của Chính phủ “về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và
tổ chức” đã chỉ rõ những nguyên nhân cơ bản thủ tục hành chính ở nước ta trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước XHCN còn bộc lộ những nhược điểm sau: Trước hết là TTHC chồng chéo do nhiều ngành, nhiều cấp quy định, vừa thiếu tính đồng bộ, vừa rườm rà phức tạp, thường xuất phát từ yêu cầu thuận tiện của cơ quan có trách nhiệm giải quyết công việc mà chưa quan tâm đầy đủ đến nguyện vọng của nhân dân Nhiều cơ quan nhà nước chưa chấp hành đúng các quy định về việc tiếp nhận và giải quyết các công việc hoặc “đùn đẩy trách nhiệm” giải quyết công việc giữa các cơ quan, cuối cùng công việc không ai giải quyết; Thậm chí cán bộ, công chức có biểu hiện tùy tiện, cửa quyền, sách nhiễu, tự đưa ra các thủ tục, các khoản phí, lệ phí không đúng thâm quyền hoặc thu phí, lệ phí quá mức quy định; Không niêm yết công khai rõ cho dân biết về các TTHC, biểu mẫu hồ sơ, thời gian giải quyết; Không bố trí cán bộ đủ trình độ và phẩm chất đạo đức làm công việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ Không ít công chức nhà nước khi tiếp nhận và giải quyết công việc của dân có thái độ thiếu tôn trọng, cửa quyền, ban ơn, thậm chí sách nhiễu đòi hối lộ Tình trạng giải quyết công việc như vậy không những làm mất nhiều thời gian, sức lực, tiền bạc của cơ quan, đơn vị và của nhân dân mà còn là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn tham nhũng phát triển, làm
Trang 18mất lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước Từ những yếu kém của TTHC
đã gây lên nhiều hiện tượng tiêu cực, vì vậy cải cách TTHC chính là một đòi hỏi bức xúc, đáp ứng yêu cầu chính đáng của nhân dân Đây cũng là một nội dung quan trọng của cải cách một bước nền hành chính quốc gia
Trong chiến lược cải cách TTHC, mục tiêu cải cách TTHC được xác định rất cụ thể và yêu cầu của cải cách TTHC là phải đạt được chuyển biến căn bản trong quan hệ về thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với công dân và tổ chức trong việc tiếp nhận, giải quyết công việc Đứng trước những yêu cầu đó, trong giai đoạn hiện nay các mục tiêu của cải cách TTHC được xác định: “Phát hiện và xóa
bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính thiếu đồng bộ, chồng chéo, rườm rà, phức tạp đã và đang gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lý cộng việc giữa các
cơ quan nhà nước với nhau và giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân; Xây dựng và hoàn thiện các TTHC theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho nhân dân, đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết các công việc hành chính.”
Chính vì vậy, cải cách TTHC là yêu cầu bức thiết của các tổ chức, công dân và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình cải cách HCNN Trong tiến trình phát triển và hội nhập, cải cách TTHC có một vai trò đặc biệt quan trọng Nếu thủ tục hành chính nói riêng, nền hành chính nói chung không được cải cách hay chậm cải cách thì sẽ là một rào cản kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta Nghị quyết số 38/NQ-CP của Chính phủ
là khâu đột phá trong cải cách nền HCNN đã phát huy tác dụng và đạt được những kết quả nhất định trong thời gian qua Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, TTHC cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa
Để thực hiện nhiệm vụ này, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/09/2001 phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 trong đó, nội dung cải
Trang 19cách TTHC được đặt ra với mục tiêu cơ bản: “Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính Loại bỏ những rườm rà, chồng chéo dễ
bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm dịch, giám định.” Những mục tiêu cơ bản trên của TTHC vừa là mục tiêu trước mắt, vừa là mục tiêu lâu dài bởi việc ban hành và thực hiện nghiêm túc hệ thống TTHC đồng
bộ, sát với thực tế cuộc sống, đáp ứng được yêu cầu của người dân điều kiện
cơ bản để người dân tin tưởng bộ máy chính quyền, tạo cho hoạt động quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả và tránh những hiện tượng tiêu cực
Trên tinh thần đó, những năm qua công tác cải cách TTHC trở thành nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong chương trình công tác của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương
Tóm lại, cải cách hành chính, trong đó cải cách TTHC được xác định là khâu đột phá và là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua Trong tiến trình phát triển và hội nhập, TTHC ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng, những yêu cầu mới sẽ tiếp tục đặt ra cho cải cách TTHC, những thách thức mới cần phải vượt qua, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, nếu vượt qua những thách thức đó, cải cách TTHC sẽ góp phần tích cực phát triển đất nước và hội nhập thành công Một giải pháp đã được nêu ra và được Chính phủ chỉ đạo trong thời gian qua là thực hiện thí điểm mô hình “một cửa” trong việc giải quyết các công việc của
tổ chức, công dân là một minh chứng điển hình
Cải cách thủ tục hành chính có thể được hiểu là cải cách các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong mối quan hệ với quyền lợi và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chức và trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước Cải
Trang 20cách TTHC nhằm xây dựng và thực thi TTHC theo những chuẩn mực nhất định, đơn giản gọn nhẹ và hoạt động theo đúng quy trình phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
1.1.3 Khái niệm cơ chế một cửa
Căn cứ theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ
về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có thể hiểu cơ chế một cửa như sau:
“Một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả chỉ thông qua một đầu mối là “Bộ phận tiếp nhận và trả lại kết quả” tại cơ quan hành chính nhà nước
“Bộ phận tiếp nhận và trả lại kết quả” là đầu mối tập trung hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức để chuyển đến các cơ quan chuyên môn hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận, trả kết quả cho các cá nhân, tổ chức
1.2 Nguyên tắc, quy trình của cơ chế “một cửa”
1.2.1 Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”
Việc tuân thủ các nguyên tắc này khi thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” là rất cần thiết và không thể thiếu nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất, chính xác, có hiệu quả cơ chế “một cửa” tại tất cả các cơ quan hành chính nhà nước Các nguyên tắc đó là:
Thứ nhất, thủ tục hành chính đơn giản,rõ ràng, đúng pháp luật
Cần phải nhận ra rằng mọi sự trở ngại phát sinh đều bắt nguồn từ TTHC do chính cơ quan nhà nước đặt ra, cơ chế “một cửa” ra đời cũng xuất phát từ thực tế là TTHC của nước ta còn quá nhiều bất cập, rườm rà Do đó, muốn cơ chế “một cửa” đạt được hiệu quả cao, các cơ quan hành chính nhà
Trang 21nước cần phải tiến hành ra soát, đơn giản hóa các TTHC và việc triển khai áp dụng đúng theo quy định của pháp luật TTHC càng đơn giản càng tiết kiệm được chi phí cho tổ chức, công dân, giúp cho bộ máy hoạt động hiệu quả hơn Theo nguyên tắc này, TTHC thực hiện theo cơ chế “một cửa” phải rõ ràng về nội dung, đảm bảo mọi người dân đều có thể hiểu được mỗi trình tự, mỗi khâu đều phải chặt chẽ, không xảy ra tình trạng mập mờ, chồng chéo và phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự pháp luật
Thứ hai, công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ,
hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân
Nguyên tắc này đảm bảo mọi TTHC thực hiện theo cơ chế “một cửa” đều được công khai cho mọi người biết để tuân thủ Cần công khai các loại hồ
sơ giấy tờ mà công dân, tổ chức phải nộp, các nội dung phải điền trong hồ sơ,
số tiền phải nộp phí, lệ phí, thời gian giải quyết của từng loại công việc Việc công khai phải được phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, phải niêm yết tại trụ sở của từng cơ quan, đơn vị, làm đúng sẽ hạn chế được tình trạng “nhiễu” nhằm mưu đồ lợi ích riêng của cán bộ, công chức khi thực hiện chức trách
Thứ ba, việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan trong bộ máy công
quyền nhằm giải quyết công việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước
Sự phối hợp giữa các cơ quan HCNN là một hoạt động cần thiết xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước và tính thống nhất của hệ thống Phối hợp ở đây được hiểu là cách thức, phuơng thức theo đó các cơ quan và những người
có trách nhiệm cùng nhau tiến hành giải quyết công việc theo một trình tự thủ tục nhất định
Tổ chức, công dân khi cần giải quyết công việc chỉ nộp hồ sơ và nhận kết quả tại cùng một nơi Nếu vấn đề có liên quan đến nhiều cơ quan, bộ phận thì sẽ do một cơ quan, bộ phận đứng ra chủ trì phối hợp với các cơ quan, bộ
Trang 22phận khác để giải quyết Do đó, giữa các bộ phận chuyên môn trong một cơ quan hành chính Nhà nước phải có sự phối hợp chặt chẽ về trách nhiệm giải quyết, thời gian giải quyết để đảm bảo kết quả phải được trả đúng hẹn cho công dân, tổ chức
Thứ tư, cán bộ, công chức nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả
Tất cả thủ tục giải quyết theo cơ chế “một cửa” đều được tiếp nhận và trả tại bộ phận này và đặt tại trụ sở cơ quan hành chính Công dân, tổ chức không phải đến trực tiếp các bộ phận chuyên môn, giảm khó khăn cho họ và tránh cách hiện tượng tiêu cực xảy ra khi thực hiện nộp hồ sơ tại bộ phận chuyên môn
Thứ năm, bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng
thời gian cho tổ chức, công dân
Đây cũng là yêu cầu của cải cách TTHC Giải quyết công việc nhanh chóng đòi hỏi phải tính toán thời gian cần thiết, hợp lý của quy trình thủ tục
và phải được công khai thực hiện Với tinh thần giải quyết công việc nhanh nhất, tránh tình trạng “ngâm” hồ sơ, kéo dài thời gian xử lý Bên cạnh đó, cần
tổ chức các nơi giao dịch “một cửa” sao cho thuận tiện, đảm bảo các phương tiện làm việc, thái độ phục vụ phải niềm nở, thân thiện, tận tình hướng dẫn khi nhân dân yêu cầu
1.2.2 Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”
Trước đây, tổ chức, công dân phải đi làm nhiều lần, đến một hoặc nhiều
cơ quan để liên hệ giải quyết công việc của mình Nay với cơ chế “một cửa”,
tổ chức và công dân chỉ phải đến liên hệ tại một nơi, việc phối hợp và giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước Quy trình của cơ chế một cửa bao gồm:
Trang 231 Tiếp nhận hồ sơ
a) Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến;
b) Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ:
Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể theo mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này;
c) Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ theo mẫu số
02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này và phần mềm điện tử (nếu có); lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này;
d) Trường hợp công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được phân công giải quyết hồ sơ thì nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có):
Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức;
Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định
và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức
2 Chuyển hồ sơ
a) Sau khi tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này, công chức lập Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này;
Trang 24b) Chuyển hồ sơ và Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ được chuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
3 Giải quyết hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan, tổ chức phân công cán bộ, công chức giải quyết như sau:
a) Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
b) Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức báo cáo người có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại cơ quan giải quyết;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức
đã giải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ;
c) Các hồ sơ quy định tại Điểm a, b Khoản này sau khi thẩm định không đủ điều kiện giải quyết, công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại
hồ sơ và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do không giải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong Sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định;
d) Các hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và văn bản xin lỗi cá nhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả
Trang 254 Trả kết quả giải quyết hồ sơ
Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập vào Sổ theo dõi hồ
sơ và phần mềm điện tử (nếu có) và thực hiện như sau:
a) Các hồ sơ đã giải quyết xong: Trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức và thu phí, lệ phí (nếu có); trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng
ký nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu có) và cước phí được thực hiện qua dịch vụ bưu chính; nếu thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 thì việc trả kết quả và thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định;
b) Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết
hồ sơ và văn bản xin lỗi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của công chức khi tiếp nhận hồ sơ);
c) Đối với hồ sơ không giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để trả lại hồ sơ kèm theo thông báo không giải quyết hồ sơ;
d) Đối với hồ sơ quá hạn giải quyết: Thông báo thời hạn trả kết quả lần sau và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn giải quyết cho cá nhân, tổ chức;
đ) Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để
cá nhân, tổ chức nhận kết quả;
e) Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
1.3 Các cơ quan áp dụng cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết công việc cho người dân
Phạm vi áp dụng
Theo quyết định 09/2015/QĐ-TTg thì phạm vi áp dụng cơ chế 1 cửa
bao gồm các cơ quan như sau:
Trang 26Văn phòng ủy ban nhân dân, các sở và các cơ quan tương đương thuộc
ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn;
Các cơ quan tổ chức và quản lý hệ thống dọc đặt tại địa phương của các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Trách nhiệm triển khai thực hiện thủ tục hành chính
Trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Công bố thủ tục hành chính về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ; giao nhiệm vụ hoặc ủy quyền cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực thuộc hướng dẫn thực hiện thủ tục giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức và công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị
Chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan quy định, hướng dẫn các địa phương thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực quy định tại Khoản 2 Điều 5 Quy chế này để áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước
Chỉ đạo các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông và phối hợp với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong triển khai Quy chế này
Quy định việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông đối với các đơn vị trực thuộc có nhiều giao dịch với cá nhân, tổ chức
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh
Công bố thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
Trang 27Ban hành Quyết định về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; quy định việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các đơn
vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn có liên quan đến
Trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chế độ hỗ trợ và công tác phí đối với công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các cấp; quyết định mức thu đối với khoản thu về phí, lệ phí có trong danh mục thuộc thẩm quyền được phép ban hành của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Định kỳ 6 tháng, hàng năm kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông thuộc phạm vi quản lý
Trách nhiệm của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
Ủy ban nhân dân cấp huyện
Bố trí và phân công công chức có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Căn cứ vào tình hình cụ thể, ban hành Quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc trách nhiệm quản lý
Trang 28Công khai các quy định, thủ tục hành chính đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng theo quy định; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để tạo thuận lợi cho việc giám sát
Tập huấn về nghiệp vụ và cách giao tiếp với cá nhân, tổ chức trong quá trình giải quyết công việc đối với đội ngũ công chức làm việc ở Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả
Thông tin, tuyên truyền để cá nhân, tổ chức biết về hoạt động của cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương
1.4 Vai trò của công tác cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa”
Cơ chế một cửa thực chất là sự đổi mới cách thức,phương thức thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết công việc giữa cơ quan nhà nước với
công dân
Trước khi triển khai cơ chế một cửa, công dân khi muốn thực hiện một thủ tục hành chính phải tự đi đến nhiều bộ phận, nhiều cơ quan để hoàn thành các khâu của thủ tục Thủ tục rườm rà, phức tạp, đặc biệt là thiếu công khai khiến người dân gặp rất nhiều khó khăn Cán bộ công chức thì tỏ ra cửa quyền, nhũng nhiễu, làm khó người dân nhằm đạt lợi ích riêng, khiến cho người dân có tâm lý ngại đến cơ quan công quyền
Khi áp dụng cơ chế một cửa tại các địa phương, cá nhân công dân hay
tổ chức khi muốn thực hiện thủ tục hành chính chỉ cần tìm hiểu hồ sơ, mang đầy đủ giấy tờ theo quy định đến nộp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ
sơ hành chính, nhận phiếu hẹn với mức lệ phí và thời gian giải quyết quy định
rõ ràng.Có thể thấy, bản chất của cơ chế một cửa là đổi mới về cách thức,phương thức thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết công việc giữa cơ quan nhà nước với công dân, giảm mọi sự phức tạp, phiền hà cho nhân dân, vừa tạo thuận tiện cho cá nhân tổ chức yêu cầu đề nghị giải quyết
Trang 29công việc; vừa có tác dụng ngăn chặn tệ cửa quyền, sách nhiễu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ công chức nhà nước
Cơ chế một cửa đổi mới về mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân: phục vụ nhân dân, coi nhân dân là khách hàng
Cùng với sự phát triển kinh tế và tiến trình dân chủ hoá đời sống xã hội,
ý thức công dân ngày càng cao do đó đòi hỏi của dân chúng đối với Nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công cũng ngày càng cao hơn Nhà nước không còn là một quyền lực đứng trên nhân dân, mà có trách nhiệm phục vụ nhân dân Sự phục vụ của Nhà nước được thể hiện bằng các hoạt động cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức và công dân
Các dịch vụ hành chính công xuất phát từ yêu cầu của quản lý nhà nước
và được tiến hành nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước Mặc dù những hoạt động này phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, đòi hỏi của tổ chức, công dân nhưng đây không phải là nhu cầu tự thân của họ mà nó phát sinh do phải đáp ứng các quy định có tính bắt buộc của nhà nước Do đó, việc cung cấp các dịch vụ hành chính công phải được hiểu như là các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước liên quan cần thực hiện nhằm đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản cho các tổ chức và công dân, mà kết quả của quá trình làm việc ấy, là các loại giấy tờ hành chính Chính vì vậy, họ cần được tôn trọng và được đối xử như là những “khách hàng” của cơ quan hành chính nhà nước
Đối với cán bộ công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính cho người dân
Thông qua sự chỉ đạo sâu sát, kiên quyết của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của cơ quan hành chính, về rà soát, đơn giản hóa và công khai các thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa với chất lượng tốt hơn đã nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính, bằng các việc làm cụ thể ở các bộ, ngành và chính quyền địa
Trang 30phương các cấp đã khẳng định sự chuyển biến căn bản trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp
Thực hiện cơ chế một cửa đã góp phần tăng cường năng lực, trách nhiệm của cán bộ công chức và cơ quan nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ hành chính, cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ công chức hành chính nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Việc rà soát, công khai thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, phù hợp thực tiễn giúp cán bộ công chức dễ dàng trong giải quyết công việc, tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết thủ tục hành chính Việc ứng dụng công nghệ thông tin đảm bảo giải quyết công việc nhanh, gọn, khoa học, thuận tiện, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cho cá nhân, tổ chức
Giải quyết công việc theo quy định rõ ràng, minh bạchgiảm đáng kể nạn cửa quyền, nhũng nhiều dân của cán bộ công chức
Đối với cơ quan giải quyết thủ tục hành chính
Trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, nhà nước ta đã không ngừng cải cách nhằm nâng cao kỷ cương hành chính cũng như chất lượng phục vụ Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung, thống nhất, quyết liệt trong hành động, kiên quyết đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, xây dựng bộ máy trong sạch, liêm chính, kiến tạo phát triển, gắn bó với nhân dân, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp; phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, chấp hành pháp luật; nâng cao chất lượng của công tác hành chính, chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng của một số bộ phận cán bộ công chức,góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế xã hội đất nước
Trang 31Cơ chế một cửa chính là cơ chế giúp thực hiện chức năng cầu nối giữa nhà nước và người dân, góp phần xây dựng hệ thống chính quyền phục vụ nhân dân, “của nhân dân”, “do nhân dân” và “vì nhân dân”
Thực hiện triển khai cơ chế một cửa, các cơ quan áp dụng phải sắp xếp
tổ chức bộ máy hợp lý, tinh gọn; lựa chọn cán bộ công chức làm việc đủ tiêu chí về chuyên môn nghiệp vụ, tác phong thái độ làm việc; đạo đức, lối sống
cá nhân,… để hoạt động có hiệu quả nhất Mối quan hệ giữa các bộ phận chuyên môn cũng ngày càng thắt chặt; các phòng ban có điều kiện tập trung
và chủ động giải quyết công việc thuộc thẩm quyền chuyên môn nghiệp vụ Tăng cường chuyên môn hóa hoạt động của các bộ phận, đơn vị; nâng cao trách nhiệm làm việc của từng cán bộ công chứctrong cơ quan hành chính nhà nước, góp phần xây dựng văn hóa công sở hành chính nhằm thực hiện thành công mục tiêu cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam
Đối với cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính
Việc chỉ cần đi đến nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một đầu mối duy nhất
là Bộ phận một cửa chính là bước đổi mới căn bản, mang lại rất nhiều sự thuận tiện cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính Giảm việc
đi lại của người dân, doanh nghiệp, giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính, số hồ sơ hành chính giải quyết đúng hẹn đạt tỷ lệ cao, công khai, minh bạch, bình đẳng, tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư, tổ chức và doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực
Bộ phận một cửangày càng hiện đại hóa với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, người dân có thể kiểm tra được quá trình giải quyết thủ tục tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cách thuận tiện, đơn giản qua hệ thống phần mềm tra cứu thủ tục và thời gian giải quyết hồ sơ Đồng thời, đảm bảo cho mỗi người dân có thể tham gia vào hoạt động giám sát và quản lý hành chính nhà nước
Trang 32Thực hiện cơ chế một cửa đã cơ bản thay đổi bộ mặt của cơ quan hành chính các cấp, nâng cao chất lượng hiện đại hóa công sở hành chính theo chủ trương của Chính phủ.Việc công khai, minh bạch thủ tục; quy định rõ trách nhiệm cán bộ công chức; ứng dụng công nghệ thông tin giúp nâng cao vai trò giám sát, quản lý của nhân dân đối với cơ quan nhà nước, giữa lãnh đạo với cán bộ công chức thuộc quyền, thể hiện rõ bản chất của công tác cải cách thủ tục hành chính
1.5 Cơ sở pháp lý cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13;
- Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
- Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/ 02/ 2008 của Chính phủ về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính;
- Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính;
- Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020;
- Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13/6/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủban hành
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020;
- Nghị định 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của các cơ
quan nhà nước;
- Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
Trang 33- Quyết định số 225/2016/QĐ-TTg ngày 04 tháng 02 năm 2016 phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai doạn 2016-2020
1.6 Nội dung cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế 1 cửa
Tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước trong công tác cải cách thủ tục hành chính
Bảo đảm đội ngũ cán bộ công chức tại bộ phận một cửa đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức để giải quyết công việc cho người dân
Hoàn thiện các yêu cầu điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc giải quyết công việc của bộ phận một cửa
Đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính tăng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính
Thực hiện công khai, minh bạch và thống nhất tính chi phí mà cá nhân phải bỏ ra khi thực hiện các TTHC tại bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả
Thực hiện tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân về việc giải quyết TTHC để nâng cao chất lượng các quy định hành chính
1.7 Yếu tố tác động đến hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
Yếu tố con người
Con người là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình thực hiện cơ chế Do vậy, phải có sự bảo đảm về số lượng và
chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện cơ chế
- Công chức thực thi công vụ: những người trực tiếp thực hiện trình tự,
thủ tục và giải quyết công việc cho người dân, tổ chức theo cơ chế một cửa Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần thái độ, đạo đức công vụ của họ sẽ
là những yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của cơ chế một cửa Về năng lực chuyên môn, cán bộ công chức phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải
Trang 34được đào tạo bài bản về chuyên môn ở các lĩnh vực đó, đồng thời phải có kiến thức pháp luật vững vàng để xử lý các tình huống pháp lý xảy ra trong khi thực hiện các thủ tục hành chính
+ Về kỹ năng hoạt động: Cán bộ, công chức làm việc trong Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nếu thiếu các kỹ năng cụ thể thì sẽ không hoàn thành tốt công việc của mình, do đó bảo đảm đội ngũ này phải có các kỹ năng giao tiếp hành chính với công dân, tổ chức; kỹ năng lưu trữ hồ sơ; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin,
+ Về mặt đạo đức công vụ: Đòi hỏi bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện cơ chế phải có ý thức phấn đấu hoàn thành công việc ở mức tốt nhất
có thể được; tinh thần thái độ phục vụ nhân dân; tinh thần đồng đội và sự nhiệt tình phối hợp công tác với đồng nghiệp trong cơ quan và các cơ quan liên quan khác,
+ Về tư tưởng, nhận thức: Đòi hỏi đội ngũ CB, CC trực tiếp làm việc tại Bộ phận một cửa phải nhận thức đúng đắn về mục tiêu của việc thực hiện
cơ chế, những chuẩn mực yêu cầu đối với CB, CC thực hiện thủ tục hành chính, cần thay đổi thói quen, nếp nghĩ "dân cần nhưng quan không vội", nhận thức đúng vị trí mình là người phục vụ trong mối quan hệ hành chính với công dân, tổ chức Do vậy, cần phải có sự lựa chọn, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức cho phù hợp với yêu cầu của việc thực hiện cơ chế Cần đầu tư vào công tác nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ công chức và có chính sách khuyến khích, đánh giá cán bộ, công chức một cách khoa học để khai thác được những ưu điểm của họ nhằm tránh tình trạng có "tâm lý thêm thù lao để bôi trơn" khi thực hiện qui trình thủ tục hành chính với công dân, tổ chức
- Công chức lãnh đạo: mức độ quyết tâm, quan tâm sâu sát trong chỉ
đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, đánh giá khen thưởng, kỷ luật sẽ là yếu
tố tác động đến hiệu quả cơ chế một cửa Do đó, để nâng cao hiệu quả cơ chế
Trang 35một cửa cần phân định rành mạch trách nhiệm cá nhân, tập thể, tăng cường vai trò, trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chống quan liêu, hành chính hóa
- Người dân: là đối tượng “được phục vụ”, được thụ hưởng dịch vụ thì
vấn đề nhận thức, hiểu biết pháp luật và thói quen, tâm lý là những yếu tố tác động đến chất lượng của cơ chế một cửa Người dân có nhận thức, hiểu biết tốt về sự cần thiết của việc cải cách thủ tục hành chính, nắm được các quy định pháp luật về vấn đề giải quyết thì họ sẽ phối hợp tốt với các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết công việc của mình Bên cạnh đó, họ sẽ giám sát hoạt động cũng như chất lượng giải quyết công việc cho người dân của đội ngũ công chức, góp phần ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước
Chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật
Những điều kiện pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện cơ chế bao gồm:
sự hoàn thiện của hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật thực định về thủ tục hành chính trong các lĩnh vực áp dụng cơ chế; sự hoàn thiện của các văn bản qui phạm pháp luật điều chỉnh về xây dựng cơ chế và thực hiện cơ chế một cửa nói chung và tại UBND cấp xã nói riêng
Sự hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành qui định các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực cụ thể như đất đai, xây dựng, chứng thực, hộ tịch, chế độ chính sách, sẽ có vai trò to lớn bảo đảm điều kiện cho việc xây dựng cơ chế Nếu hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực này không thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo nhau, qui định thủ tục hành chính rườm
rà, nhiều loại, nhiều giấy tờ không cần thiết thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện cơ chế
Đồng thời, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật còn thể hiện thông qua việc ban hành các văn bản điều chỉnh về qui trình, cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan hành chính; trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cơ
Trang 36chế Đây chính là cơ sở, tiền đề cho UBND các cấp ban hành các văn bản chi tiết hóa, các chương trình kế hoạch và biện pháp cụ thể để triển khai cơ chế tại địa phương, cơ quan mình theo các mục tiêu trong từng giai đoạn thời gian
Nếu các văn bản được xây dựng đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý sẽ tạo
cơ sở pháp lý chặt chẽ, thống nhất cho việc áp dụng giải quyết công việc cho các tổ chức, công dân được nhanh chóng, chính xác Do đó, để thực hiện tốt
cơ chế một cửa cần rà soát và điều chỉnh lại các quy định về thủ tục hành chính theo hướng loại bỏ bớt những thủ tục không cần thiết, không phù hợp giảm phiền hà cho người dân
Cơ chế chính sách
+ Chế độ chính sách đối với công chức làm việc tại bộ phận một cửa gồm chính sách về tiền lương, phụ cấp, đãi ngộ vật chất và tinh thần khác Chính sách tiền lượng và chế độ đãi ngộ hợp lý sẽ đảm bảo cho công chức làm công tác gại bộ phận này yên tâm gắn bó, tận tâm, tận lực với công việc được giao Đồng thời điều đó có tác động tích cực tới đạo đức nghề nghiệp của công chức, là một giải pháp nhằm hạn chế những hành vi tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức nhà nước
+ Công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức thực hiện công việc tại bộ phận một cửa: Nếu được tập huấn thường xuyên về các kiến thức quản
lý nhà nước, văn bản pháp luật, kỹ năng hành chính, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phối hợp làm việc đồng thời được giáo dục về ý thức trách nhiệm trong công việc thì họ sẽ phục vụ nhân dân tốt hơn
Trang 37việc rộng dãi, thoáng mát, tiện lợi, các thủ tục hành chính được niêm yết công khai, dễ thấy, dễ tìm, tra cứu thì giúp cho các tổ chức, công dân khi đến làm việc với các cơ quan không bị lúng túng, cảm thấy thoải mái, thuận tiện
- Ứng dụng công nghệ thông tin: hệ thống máy tính nối mạng, phần mềm ứng dụng (quản lý hồ sơ, tra cứu hồ sơ, ) hệ thống lấy số thứ tự tự động giúp
và tạo điều kiện cho công chức, tổ chức và công dân giải quyết công việc quản
lý, theo dõi hồ sơ thuận lợi, chính xác, nhanh chóng và hiệu quả hơn
- Trang thiết bị văn phòng, phục vụ hoạt động: bàn ghế, tủ hồ sơ, thẻ đeo công chức, máy tính, máy in, máy photocopy, kinh phí duy trì hoạt động văn phòng, điện thoại, internet Đây là những điều kiện trang thiết bị cần thiết nhằm hỗ trợ cho hoạt động phục vụ nhân dân được tốt hơn
- Trang thiết bị phục vụ cho người dân, tổ chức như quạt điện, điều hòa, bàn ghế ngồi chờ cho người dân đợi giải quyết công việc, nước uống khi được quan tâm đầu tư sẽ đem đến sự hài lòng của người dân, từ đó
sẽ hỗ trợ cho hoạt động giải quyết công việc của công chức đối với thủ tục hành chính mà người dân có nhu cầu giải quyết
Đồng thời cần bảo đảm điều kiện về kinh phí thực hiện cơ chế một cửa Địa phương cần có kế hoạch chi ngân sách để đầu tư cho việc thực hiện cơ chế một cửa tại cấp mình Nếu không có sự bảo đảm về kinh phí, về trụ sở làm việc, các phương tiện và trang thiết bị làm việc tối thiểu thì cơ chế vận hành sẽ không thông suốt, thống nhất được
Các yếu tố khác
+ Công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước: Nếu hoạt động này được thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa
+ Công tác kiêm tra, giám sát: làm tốt công tác này sẽ đảm bảo kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động công
vụ của cán bộ, công chức Đồng thời, thực hiện tốt việc giám sát sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” CỦA UBND PHƯỜNG ĐỨC GIANG,
QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
2.1.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
UBND phường Đức Giang nằm trong phố Hoa Lâm, là một phố thuộc quận Long Biên, Hà Nội Phố Hoa Lâm dài 900m, rộng 6-7m, từ ngõ 170 Ngô Gia Tự đến khu đô thị mới Việt Hưng Phố trước là đất của phường Việt Hưng, huyện Gia Lâm trước đây, nay thuộc phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
2.1.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
Đức Giang ngày nay có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - chính trị -
an ninh quốc phòng và là điểm nút giao thông nối các tỉnh Đông Bắc, phía Bắc với thủ đô Hà Nội Sau khi thị trấn Đức Giang được thành lập, ngày 13/10/1982, Đảng bộ thị trấn Đức Giang ra đời có 106 đồng chí Sau khi Đảng bộ được thành lập, BCH đã lãnh đạo chính quyền tập trung vào công tác tổ chức, quản lý các khối dân cư nhằm từng bước ổn định đời sống nhân dân và các ban ngành, đoàn thể: MTTQ, đoàn thanh niên, hội LHPN đã lần lượt được thành lập từ thị trấn tới các khối dân cư
Ngày 6/11/2003, thủ tướng Chính phủ ban hành nghị định 132/2003/NĐ –
CP về việc thành lập quận Long Biên, thị trấn Đức Giang trở thành phường Đức Giang thuộc quận Long Biên Đây là sự kiện có ý nghĩa to lớn đánh dấu thời kỳ phát triển mới của phường Đức Giang Sau Đại hội lần thứ VIII (2005 - 2010), toàn Đảng, toàn dân phường Đức Giang đã phát huy danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa bền vững, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân, xây dựng phường Đức
Trang 39Giang văn minh, giàu đẹp Trong giai đoạn này, Đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo công tác giải phóng mặt bằng có tới 1.500 hộ dân liên quan đến công việc này Năm 2009 thu ngân sách đạt 24,3 tỷ đồng, tăng bình quân 24%/năm;
có 40 công trình xây dựng hậ tầng đô thị, văn hóa xã hội với tổng số tiền trên 95tỷ 660 triệu đồng Các tuyến ngõ phố được bê tông hóa 100% Quy chế dân chủ ở cơ sở được đảm bảo; 86,7% số hộ dân đạt trên chuẩn gia đình văn hóa, 18
tổ dân phố đạt tổ dân phố văn hóa cấp quận
2.1.2 Vị trí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
2.1.2.1 Vị trí chức năng
UBND phường Đức Giang là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp phường, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Chính phủ, văn bản của UBND quận Long Biên
và UBND thành phố Hà Nội
UBND phường có chức năng: Quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật, tổ chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật, nghị quyết của cấp trên, Hội đồng nhân dân cùng cấp
Đối với Hội đồng nhân dân cùng cấp, UBND phường có nhiệm vụ cùng HĐND chuẩn bị các kỳ họp, chấp hành các nghị quyết của HĐND phường Quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương
Chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND phường
2.1.2.2 Nhiệm vụ quyền hạn
1 Đồng chí Lương Hồng Điệp: Chủ tịch UBND phường
Phụ trách chung, chỉ đạo điều hành toàn diện các hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND phường theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015;
Tổ chức thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết
và các văn bản chỉ đạo của Đảng ủy, HĐND phường Cùng tập thể UBND
Trang 40phường chịu trách nhiệm trước Quận ủy, HĐND, UBND quận, Đảng ủy và HĐND phường về hoạt động của UBND phường
Trực tiếp chỉ đạo các lĩnh vực công tác sau:
2 Đồng chí Nguyễn Thị Thuần: Phó chủ tịch UBND phường – phụ trách khối văn hóa – xã hội, TDTT và các lĩnh vực xã hội khác
Giúp việc Chủ tịch UBND phường, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND phường, Đảng uỷ - HĐND phường trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của khối mình phụ trách Giúp Chủ tịch UBND phường phụ trách công tác Văn phòng, đảm bảo các hoạt động của HĐND, UBND Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 122 Luật Tổ chức chính quyền địa phương
3 Đồng chí Phạm Văn Quang: Phó chủ tịch UBND phường – phụ trách khối xây dựng – đô thị, khoa học công nghệ, nhà đất và tài nguyên môi trường
Giúp việc cho Chủ tịch UBND phường, chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND phường, Đảng uỷ - HĐND phường trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động trong phạm vi được phân công, thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 122 Luật Tổ chức chính quyền địa phương Cụ thể:
Phụ trách và chỉ đạo công tác địa chính nhà đất, quản lý trật tự xây dựng, quản lý trật tự đô thị, tài nguyên môi trường, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn Đảm bảo trật tự an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy
Trưởng các ban chỉ đạo: Ban chỉ đạo xây dựng tuyến phố văn minh đô thị; Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn;
Tham gia vào công tác đền bù, giải phóng mặt bằng;
Trực tiếp theo dõi và chỉ đạo các bộ phận: Địa chính – Nhà đất – Đô thị, quản lý trật tự xây dựng và cán bộ hiệp quản của Xí nghiệp kinh doanh nhà Long Biên
Cùng với đội ngũ nhân sự là công chức và lao động hợp đồng giúp việc cho UBND phường, gồm:
Đồng chí Nguyễn Cao Nguyệt: Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự phường
Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Nhung- Công chức Văn phòng – thống kê: Công chức Tư pháp - Hộ tịch: Đồng chí Nguyễn Thị Trang