Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NÔNG THỊ THƠI SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC SINH
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ THƠI
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ THƠI
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã ngành: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hằng
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hằng Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc
rõ ràng Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những kết quả nghiên cứu trong luận văn này
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn Nông Thị Thơi
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thiện luận văn, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô, sự động viên, ủng hộ của đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc TS Nguyễn Thị Hằng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn;
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo trường Đại học
Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy cô trong Khoa Sinh học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu;
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các giáo viên, học sinh trường THPT Na Rì- tỉnh Bắc Kạn đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn;
Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện đề tài
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn Nông Thị Thơi
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường phổ thông 1
1.2 Xuất phát từ đặc điểm của bài tập tình huống trong dạy học 2
1.3 Xuất phát từ đặc điểm dạy học Sinh học vi sinh vật ở trường THPT 2
1.4 Xuất phát từ thực trạng giáo dục của tỉnh Bắc Kạn 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nội dung nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu về bài tập tình huống 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Những vấn đề chung về bài tập tình huống trong dạy học 10
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.2 Đặc điểm của bài tập tình huống 13
1.3 Dạy học bằng sử dụng bài tập tình huống và năng lực tự học 16
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.1 Dạy học bằng sử dụng bài tập tình huống 16
1.3.2 Năng lực tự học 16
1.4 Thực trạng sử dụng bài tập tình huống trong dạy học tại các trường THPT tỉnh Bắc Kạn 21
1.4.1 Khái quát về điều tra thực trạng 21
1.4.2 Kết quả điều tra thực trạng 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT (SINH HỌC 10 - THPT) 31
2.1 Nội dung dạy học Sinh học vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) 31
2.1.1 Cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 THPT 31
2.1.2 Mục tiêu dạy học Sinh học Vi sinh vật - Sinh học 10 32
2.2 Thiết kế bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật 33
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật 33
2.2.2 Quy trình thiết kế bài tập tình huống 34
2.2.3 Một số bài tập tình huống hướng dẫn tự học trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 THPT được thiết kế 38
2.3 Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật 48
2.3.1 Biện pháp sử dụng bài tập tình huống có hiệu quả 48
2.3.2 Quy trình sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật 49
2.3.3 Ví dụ kế hoạch bài học Sinh học vi sinh vật sử dụng bài tập tình huống 51
2.4 Đánh giá năng lực tự học trong dạy học Sinh học vi sinh vật 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 63
3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm 63
3.2.1 Nội dung thực nghiệm 63
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 63
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 64
3.3.1 Kết quả đánh giá năng lực tự học của học sinh thông qua nhận thức kiến thức Sinh học vi sinh vật 64
3.3.2 Kết quả đánh giá năng lực tự học của học sinh thông qua kĩ năng tự học 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
GV
HS PPDH SHVSV
TN
Bài tập tình huống Đối chứng
Giáo dục và Đào tạo Giáo dục phổ thông Giáo viên
Học sinh Phương pháp dạy học Sinh học vi sinh vật Thực nghiệm
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Yêu cầu cần đạt về năng lực tự học của học sinh 17
Bảng 1.2 Nhận thức của giáo viên về bài tập tình huống và sử dụng bài tập tình huống trong dạy học 23
Bảng 1.3 Thái độ của học sinh đối với các hoạt động dạy học môn Sinh học (%) 27
Bảng 1.4 Ý thức học tập đối với hoạt động học tập của học sinh 28
Bảng 2.1 Mục tiêu dạy học Sinh học vi sinh vật ở trường THPT 32
Bảng 2.2 Một số bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật 38
Bảng 2.3 Các mức độ nhận thức kiến thức Sinh học vi sinh vật 58
Bảng 2.4 Tiêu chí đánh giá các kĩ năng của năng lực tự học 60
Bảng 3.1 Tần suất mức độ nhận thức kiến thức qua các bài kiểm tra 65
Bảng 3.2 Tần suất điểm kiểm tra bài 15 phút (f%) 66
Bảng 3.3 Kiểm định X điểm kiểm tra 15 phút 67
Bảng 3.4 Phân tích phương sai điểm kiểm tra 15 phút 68
Bảng 3.5 Tần suất điểm kiểm tra bài 45 phút (f%) 69
Bảng 3.6 Kiểm định X điểm kiểm tra 45 phút 70
Bảng 3.7 Phân tích phương sai điểm kiểm tra 45 phút 71
Bảng 3.8 Kết quả thực hiện các kĩ năng tự học của năng lực tự học 72
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mức độ sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học tại
trường THPT tỉnh Bắc Kạn 25 Hình 1.2 Mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia học tập môn học sử
dụng bài tập tình huống 26 Hình 1.3 Mức độ sử dụng bài tập tình huống với phát triển năng lực tự học
của học sinh trong dạy học Sinh học tại trường THPT tỉnh Bắc Kạn 26 Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung Sinh học vi sinh vật (Sinh học 10) 31 Hình 2.2 Sơ đồ các bước trong quy trình thiết kế bài tập tình huống 34 Hình 2.3 Sơ đồ các bước sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh
học vi sinh vật nhằm phát triển năng lực tự học 50 Hình 3.1 Biểu đồ tần suất mức độ nhận thức kiến thức qua các bài kiểm tra 65 Hình 3.2 Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra bài 15 phút 66 Hình 3.3 Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra bài 45 phút 69
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường phổ thông
Đổi mới giáo dục ở Việt Nam được xác định theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học, tạo môi trường học tập và rèn luyện, giúp HS phát triển hài hòa thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực,
tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời
Mục tiêu đổi mới được quy định trong Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả GDPT; kết hợp dạy chữ, dạy người
và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi HS” [22]
Nghị quyết số 29 - NQ/TW của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ “Đổi với GDPT, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn [2]
Đổi mới PPDH đã được coi là một nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp phát triển GD&ĐT ở nước ta Xu thế chung của việc đổi mới là sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS; chuyển từ hình thức GV giữ vai trò trung tâm trong giờ học và có nhiệm vụ truyền đạt thông tin cho HS sang hình thức HS giữ vai trò trung tâm, GV tổ chức hoạt động nhận thức của HS qua đó phát huy tích tích cực, độc lập và sáng tạo của HS Dạy học các môn khoa học trong nhà trường cần phải chú ý đến việc nâng cao năng lực, trong đó có năng lực tự học cho HS thông qua các tình huống học tập
cụ thể và có thể áp dụng vào thực tiễn
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2 Xuất phát từ đặc điểm của bài tập tình huống trong dạy học
Trong số các năng lực, năng lực tự học của HS cấp THPT được xác định bởi yêu cầu xác định được nhiệm vụ học tập, biết đặt mục tiêu học tập; Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập, hình thành cách học riêng, lựa chọn nguồn tài liệu phù hợp, ghi chép thông tin bằng cách phù hợp; Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập, suy ngẫm cách học, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác [5] Có nhiều cách để hình thành và phát triển năng lực này, trong đó sử dụng BTTH là một cách có thể có hiệu quả cao
BTTH là những tình huống đã xảy ra trong quá trình dạy học được cấu trúc dưới dạng bài tập Trong dạy học các môn học, những tình huống được đưa ra là tình huống giả định hay tình huống thực đã xảy ra trong thực tiễn dạy học môn học ở trường phổ thông HS giải quyết được những tình huống trên, vừa giúp hình thành kiến thức mới, vừa củng cố và khắc sâu kiến thức Trong rèn luyện kĩ năng dạy học, BTTH vừa là phương tiện, vừa là công cụ, vừa là cầu nối giao tiếp giữa GV và HS Sử dụng BTTH là biện pháp quan trọng để tổ chức HS tự nghiên cứu, gắn việc học lí thuyết với thực hành, giải quyết các tình huống trong thực tiễn
1.3 Xuất phát từ đặc điểm dạy học Sinh học vi sinh vật ở trường THPT
Nội dung sinh học ở trường THPT được xây dựng theo nguyên tắc cấu trúc hệ thống, thể hiện ở chỗ các đối tượng được sắp xếp theo một trình tự nhất định, từ cấp độ tổ chức nhỏ đến cấp độ tổ chức lớn Các kiến thức trong môn Sinh học nói chung và phần SHVSV nói riêng bao gồm các khái niệm có mối liên hệ chặt chẽ được hình thành và phát triển theo một trình tự logic Nội dung SHVSV học đề cập đến các kiểu dinh dưỡng, các ứng dụng quá trình phân giải
và tổng hợp các chất, quá trình sinh trưởng, sinh sản, các ứng dụng của vi sinh vật trong thực tiễn; đồng thời cũng giới thiệu về virus và bệnh truyền nhiễm
Đó là những kiến thức khó và trừu tượng Do vậy, việc thiết kế, đưa ra các
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
BTTH để vừa giảng dạy kiến thức cho HS có hiệu quả vừa nâng cao năng lực học tập cho HS là một vấn đề cần thiết
1.4 Xuất phát từ thực trạng giáo dục của tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc
Bộ Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thành phố (thành phố Bắc Kạn) và 7 huyện (Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pác Nặm) với 122 xã, phường, thị trấn
Trong Hội nghị trực tuyến tổng kết năm học 2017 - 2018, triển khai nhiệm vụ năm học 2018 - 2019, tổ chức sáng 02/8/2018 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các tỉnh, thành phố, Hội nghị đã xác định hiện trạng giáo dục ở các tỉnh, trong đó có Bắc Kạn, vẫn còn tình trạng thiếu trường lớp, tình trạng thừa, thiếu GV cục bộ vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, đổi mới chương trình, sách giáo khoa chưa đạt tiến độ đề ra Bên cạnh đó, Hội nghị cũng xác định, ngành Giáo dục tiếp tục tập trung thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các Nghị quyết về giáo dục đào tạo; Quán triệt địa phương thực hiện tốt Chỉ thị năm học 2018 - 2019 của ngành Giáo dục, ổn định những hoạt động đổi mới của ngành, triển khai thực hiện một số công việc trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, kỷ cương, nền nếp và giải quyết các vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội [33]
Ngày 12/7/2018, UBND tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Quyết định số 1194/QĐ-UBND về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 Kế hoạch nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền giáo dục tỉnh Bắc Kạn có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người Do đó, một trong số những giải pháp đặt
ra là triển khai thực hiện tốt chương trình GD&ĐT hướng tới nâng cao nhận thức và hành động của HS, gia đình, xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giáo dục giữa các vùng, thực hiện đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
của HS theo hướng đánh giá việc hình thành các năng lực, kỹ năng và thái độ tiếp thu kiến thức trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Na Rì là một trong những huyện thuộc vùng có nền kinh tế khó khăn của tỉnh Bắc Kạn nên có nhiều ảnh hưởng tới giáo dục, đào tạo, tới định hướng đổi mới PPDH tại địa phương Tuy nhiên, có một số phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học khá phù hợp với đặc điểm dạy học tại vùng này nhưng chưa được
áp dụng phổ biến Một trong những phương pháp, biện pháp đó là sử dụng BTTH, gắn các vấn đề học tập trong sách vở với thực tiễn
Từ những lí do cơ bản trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng bài tập
tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật cho học sinh THPT huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Thiết kế được BTTH trong dạy học SHVSV phù hợp với điều kiện dạy học của một số trường THPT tỉnh Bắc Kạn
- Thiết kế được kế hoạch dạy học SHVSV sử dụng BTTH và tổ chức dạy học các kế hoạch dạy học đó tại một số trường THPT tỉnh Bắc Kạn
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: BTTH và tổ chức dạy học sử dụng BTTH trong dạy học SHVSV
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học vi sinh vật ở trường THPT.
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng các BTTH trong dạy học SHVSV tại trường THPT Na Rì, tỉnh Bắc Kạn một cách hợp lý sẽ hình thành và phát triển năng lực tự học của HS
Câu hỏi nghiên cứu:
1/ Dựa vào cơ sở nào để thiết kế và sử dụng BTTH trong dạy học SHVSV?
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2/ BTTH và kế hoạch dạy học sử dụng BTTH được xây dựng và tổ chức phù hợp với dạy học SHVSV tại trường THPT Na Rì, tỉnh Bắc Kạn như thế nào?
3/ Sử dụng các BTTH trong dạy học SHVSV tại trường THPT Na Rì, tỉnh Bắc Kạn phát triển được năng lực tự học của HS như thế nào?
5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng BTTH trong dạy học
- Thiết kế BTTH và lập kế hoạch dạy học sử dụng BTTH đã thiết kế trong dạy học SHVSV tại trường THPT Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Thực nghiệm sử dụng BTTH trong dạy học SHVSV tại trường THPT
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước qua các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết liên quan đến đổi mới giáo dục
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học sinh học, tài liệu bồi dưỡng chuyên môn và các tài liệu có liên quan về BTTH, về tự học
- Nghiên cứu các sách tham khảo, giáo trình, luận văn, website liên quan đến thiết kế và sử dụng BTTH để xác định cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu nội dung môn Sinh học 10, phần SHVSV THPT
6.2 Phương pháp chuyên gia
- Tham khảo ý kiến của các giảng viên môn PPDH, các GV THPT về cơ
sở lý luận của BTTH và sử dụng BTTH trong dạy học Sinh học
- Tham khảo ý kiến của các giảng viên và GV THPT môn Sinh học về sử dụng BTTH trong dạy học phần Sinh học VSV để phát triển năng lực tự học
cho HS
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
6.3 Phương pháp điều tra sư phạm
Điều tra thực trạng sử dụng BTTH trong dạy học ở trường THPT tỉnh Bắc Kạn
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sử dụng BTTH trong dạy học phần SHVSV để phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho HS nhằm xác định hiệu quả của kế hoạch dạy học đã đề xuất
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các tham số thống kê để xử lí, phân tích các kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của luận văn
Thiết kế và sử dụng được các BTTH trong dạy học SHVSV phù hợp với thực tiễn dạy học ở trường THPT tỉnh Bắc Kạn nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan nghiên cứu về bài tập tình huống
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới việc thiết kế và sử dụng các tình huống được biết đến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt nó được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực giáo dục
Sử dụng các tình huống trong giảng dạy được biết đến sớm nhất thuộc về lĩnh vực quản trị kinh doanh tại Đại học kinh doanh Havard do Christopher Columbus Langdell (1870) khởi xướng, coi tình huống là phương tiện đột phá khỏi hệ thống đọc, nghe, ghi chép truyền thống của giáo dục kinh viện, có vai trò rõ rệt là sinh viên có thể trao đổi, phản biện, tích cực tham gia vào bài giảng Những năm tiếp theo, các sinh viên tại đây thường xuyên thảo luận về các tình huống trong kinh doanh, do các đại diện doanh nghiệp được nhà trường mời đến để trình bày về thực tiễn quản trị kinh doanh, đưa ra các tình huống yêu cầu sinh viên phải nghiên cứu và đưa ra các giải pháp [dẫn theo 11] PPDH này đã ảnh hưởng tới các trường đại học tại Canada và được nghiên cứu
áp dụng
Năm 1921, Copeland đã ra đời cuốn sách đầu tiên về tình huống Vai trò
to lớn của áp dụng tình huống trong giảng dạy thuộc lĩnh vực quản trị đã lan rộng đến các ngành nghề đào tạo khác như y dược, luật, hàng không,… Khi William Osler áp dụng nghiên cứu tình huống vào đào tạo y khoa đã nhận thấy kết quả đáng khích lệ, chỉ sau hai năm học, sinh viên đã trở nên thuần thục với các kĩ năng trong y học [dẫn theo 11]
Tại Pháp, đầu thế kỉ XX, việc sử dụng tình huống đã được áp dụng nhưng chưa được thuyết phục do phần lớn tình huống là giả định Từ những năm 1960, Gaston de Vilard xây dựng một giáo trình luân lí mà nội dung là những tình huống có thật, trong đó, GV xác định một số vấn đề lí thuyết ngắn
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
gọn, nêu tình huống cụ thể cho HS thảo luận với nhau, cuối cùng GV kết luận Phương pháp này đã gây được tiếng vang lớn trong toàn nước Pháp và sau đó được nghiên cứu, áp dụng trong nhiều ngành học khác nhau
Nghiên cứu sử dụng tình huống trong giáo dục khoa học xã hội được phát triển bởi nhà xã hội học Barney Glasser và Anselm Strauss vào năm 1967
Từ đó, sử dụng tình huống trong đào tạo sư phạm được áp dụng và thể hiện được những tính năng ưu việt Ở các nước phương Tây, các tác giả Grahame Feletti (1997) [30], Gramham Gibbs & Alen Jenkirs (1997) [31], Woods (1994) [32] Các nhà nghiên cứu Liên bang Xô viết và Ba Lan như Machiuxkin (1972), Lecne I.Ia (1977), Kharlamôp I.F (1978), Ôkôn V (2006), … đã nghiên cứu việc sử dụng tình huống trong dạy học nêu vấn đề Theo Ôkôn, sử dụng tình huống trong dạy học nêu vấn đề, bao gồm các hành động như: tổ chức các tình huống có vấn đề; biểu đạt các vấn đề; giúp đỡ HS những điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề; kiểm tra cách giải quyết vấn đề đó; cuối cùng, lãnh đạo quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được [21]
Ở các nước châu Á, sử dụng tình huống trong nhiều lĩnh vực cũng được
áp dụng rộng rãi và cho những hiệu quả nhất định
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Vấn đề dạy học tình huống được giới thiệu trong nhiều tài liệu, bài giảng của nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học ở Việt Nam và đã có nhiều công trình khoa học, bài báo nghiên cứu về BTTH
Phan Thế Song và Lưu Xuân Mới (2000) đã đề cập đến những khái niệm tình huống, nêu năm đặc điểm của tình huống quản lí giáo dục: Tính cụ thể, thực tiễn của tình huống; tính ngẫu nhiên và tính quy luật trong sự xuất hiện tình huống; tính đa dạng phức tạp của tình huống; tính pha trộn và tính lan tỏa của các tình huống Tác giả đã nêu được các bước tiến hành trong xử lí tình huống là: tiếp cận tình huống; phân tích, tổng hợp tìm ra nguyên nhân cốt lõi; tìm biện pháp xử lí; đánh giá kết quả và tổng kết một số bí quyết thành công trong xử lí tình huống [24]
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Vận dụng BTTH được nghiên cứu trong giáo dục từ cấp mầm non [15], giúp cho quá trình giáo dục trở nên sinh động, có hiệu quả đối với trẻ mầm non Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn thiên về việc GV là chủ thể tích cực vận dụng lí luận vào thực tiễn, chưa nêu rõ cách thức trẻ xử lí, vận dụng tình huống như thế nào
Trong dạy học ở trường phổ thông, nhiều nghiên cứu về BTTH được giới thiệu Tác giả Trương Ngọc Bích nghiên cứu cách thức tổ chức cho HS đề xuất
và giải quyết BTTH trong dạy học Ngữ văn, đưa ra hai cách thức: GV đưa ra BTTH, HS thảo luận, trả lời và HS đưa ra BTTH, GV, HS cùng thảo luận, trả lời Trong cả hai cách, GV biết khéo léo tác động, HS được kích thích tư duy sáng tạo để tìm kiếm giải đáp [3] Tác giả Phạm Vũ Nhật Uyên quan tâm đến dạy học tình huống và một số biện pháp sử dụng tình huống trong dạy học hóa học, đã giới thiệu biện pháp lựa chọn, xây dựng hệ thống BTTH có tính khoa học, thiết thực, hấp dẫn; chuẩn bị các câu hỏi dẫn dắt, gợi mở; khai thác tính
“vấn đề” của tình huống một cách khéo léo; khai thác có hiệu quả các thủ pháp
về tâm lí; phát huy tối đa hiệu quả của các phương tiện dạy học [27] Tuy nhiên, tác giả giới thiệu một cách chung chung, chưa có ví dụ cụ thể cho mỗi biện pháp Nâng cao hiệu quả dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học được tác giả Ngô Thị Ngọc Mai sử dụng bài tập thực tiễn, áp dục vào các hoạt động của bài học như xây dựng tình huống vào bài, hình thành kiến thức mới, vận dụng và ứng dụng kiến thức, củng cố, luyện tập, thực hành kiến thức [18] Kết quả nghiên cứu về nguyên tắc, quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực tiễn của tác giả có thể vận dụng ở nhiều môn học khác nhau
Trong dạy học Sinh học, nhiều tác giả cũng đã quan tâm đến việc nghiên cứu áp dụng BTTH trong dạy học bộ môn như Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Lê Đình Trung, Vũ Đức Lưu, Nguyễn Phúc Chỉnh, Lê Thanh Oai, Nguyễn Đình Nhâm, Phan Đức Duy,… Phần lớn các tác giả đều khẳng định sự cần thiết của việc sử dụng BTTH, tình huống có vấn đề,… trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức, phát huy tính sáng tạo, học tập của người học
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong công tác đào tạo cử nhân sư phạm, tác giả Phan Đức Duy quan tâm đến BTTH để rèn luyện kĩ năng dạy học [8] Trong dạy học Sinh học phổ thông, nhiều tác giả đã nghiên cứu vận dụng BTTH để phát triển năng lực giải quyết vấn đề [23], [25] hoặc rèn kĩ năng [9], [13], [19]
Như vậy, nghiên cứu và vận dụng BTTH trong dạy học rất được quan tâm Tuy đã có những nghiên cứu sử dụng BTTH trong dạy học phần SHVSV nhưng các nghiên cứu tập trung vào hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề hoặc rèn luyện kĩ năng cho HS Nghiên cứu vận dụng BTTH trong dạy học SHVSV để hình thành và phát triển năng lực tự học còn hạn chế, cần có những nghiên cứu lí luận và thực tiễn cụ thể
1.2 Những vấn đề chung về bài tập tình huống trong dạy học
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Bài tập
Đã có nhiều quan niệm về bài tập, các quan niệm đó đều xác định bài tập gồm hai yếu tố cơ bản: Những điều kiện (cái đã cho, cái đã biết) và những yêu cầu (cái phải tìm, cái chưa biết); bài tập giúp HS nắm vững tri thức, hình thành
kĩ năng, kĩ xảo tương ứng; bài tập có nhiều dạng khác nhau: câu hỏi, bài toán, tình huống có vấn đề hay yêu cầu hoạt động
Bài tập là các nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho HS thực hiện, được thể hiện dưới dạng câu hỏi, bài toán, tình huống có vấn đề hay yêu cầu hoạt động, buộc HS tìm điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết, qua đó nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng [14] Tuy nhiên, bài tập có thể là một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán hay một bài toán nhận thức,
bài tập là một tập hợp các kiến thức xác định bao gồm những vấn đề đã biết và chưa biết nhưng luôn mâu thuẫn nhau dẫn tới việc phải biến đổi chúng để tìm lời giải Vì thế, bài tập bao gồm các thông tin xác định, những điều kiện và
những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học tìm ra lời giải đáp, qua đó nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết” Theo từ điển Tâm lí học, NXB Khoa học xã hội (2000), “Tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó Trong quan hệ không gian, tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm
mà người đó thực hiện hành động” [dẫn theo 12]
Theo Boehrer, “Tình huống là một câu chuyện, có cốt truyện và nhân vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường
là hành động chưa hoàn chỉnh Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học” [28]
Vương Tất Đạt quan niệm theo logic học “Tình huống là một hệ thống những điều kiện bên trong quan hệ với chủ thể, những điều kiện này tác động
một cách gián tiếp lên tính tích cực của chủ thể đó” [10]
Như vậy, tình huống là sự kiện có thực trong đời sống xã hội, mọi cá nhân và xã hội luôn luôn sống trong các tình huống nhất định, thường xuyên phải đối mặt và chịu sự tác động của nó Để tồn tại và phát triển mỗi cá nhân,
xã hội phải liên tục tìm cách giải quyết những tình huống đó từ những tình huống đơn giản đến những tình huống phức tạp
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Người ta phân biệt tình huống thành 2 dạng chính: tình huống đã xảy ra (là những khả năng đã xảy ra được tích lũy lại trong vốn tri thức của loài người) và tình huống sẽ xảy ra (dự kiến chủ quan)
1.2.1.3 Bài tập tình huống
Nhiều tác giả đã đưa ra ý kiến khác nhau về BTTH:
Theo Nguyễn Như An, “BTTH sư phạm là một dạng bài tập nêu tình huống giả định hay thực tiễn trong quá trình DH - giáo dục, một tình huống khó khăn căng thẳng về trí tuệ, đòi hỏi sinh viên phải nhận thức được và cảm thấy có nhu cầu giải đáp bằng cách huy động vốn tri thức và kinh nghiệm sáng tạo của
họ để giải quyết theo quy trình hợp lí, phù hợp với nguyên tắc, PP và lí luận DH
- giáo dục đúng đắn” [1] Theo khái niệm này, BTTH có những dấu hiệu: BTTH
là một dạng bài tập nêu những tình huống giả định hay tình huống thực tiễn; BTTH là một tình huống khó khăn căng thẳng về trí tuệ, tức là BTTH đó chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, giữa kiến thức lí thuyết với kiến thức thực hành, giữa kiến thức đã học với kiến thức trong tình huống; BTTH phải vừa sức với người học; BTTH phải có tính lí thú đối với người học, khi giải quyết nó phải đem lại những giá trị nhất định cho người học
Theo Nguyễn Đình Chỉnh, “BTTH quản lí giáo dục thường là tình huống thực, cũng có thể là tình huống giả định, mô phỏng nhưng lại rất thực tế, rất thiết thực và sinh động Nó phát sinh và phát triển từ những hoàn cảnh tiêu biểu của quá trình quản lí giáo dục thực do yêu cầu của xã hội đặt ra Trong quá trình học tập, người GV đưa ra những BTTH buộc học viên phải suy nghĩ, tìm kiếm những giải pháp, những con đường thích hợp trong muôn vàn cách thức
mà tình huống đòi hỏi theo một quy trình hợp lí để giải quyết nó” [6] Trong khái niệm này tác giả đề cập đến việc giải quyết BTTH cần thực hiện theo những con đường thích hợp và quy trình hợp lí
Tác giả Phan Đức Duy cho rằng “BTTH dạy học là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình DH, được cấu trúc lại dưới
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dạng bài tập, khi sinh viên giải bài tập ấy vừa có tác dụng củng cố kiến thức, vừa rèn luyện được kĩ năng dạy học cần thiết” [8] Theo tác giả, BTTH có tính
đa dạng và được cấu trúc dưới dạng bài tập có tác dụng củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng DH
Tác giả Nguyễn Đình Nhâm xác định “BTTH dạy học là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình dạy học được cấu trúc dưới dạng bài tập Khi HS giải quyết được những bài tập ấy sẽ vừa có tác dụng củng cố kiến thức vừa rèn được những kĩ năng cần thiết” [19]
Qua phân tích khái niệm BTTH của nhiều tác giả, chúng tôi cho rằng BTTH cần có những đặc trưng sau:
- BTTH là một dạng bài tập có cấu trúc gồm hai phần: Điều kiện (cái đã cho) và phần yêu cầu (cái cần tìm)
- BTTH phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữa lí thuyết với thực tiễn, mâu thuẫn giữa tri thức cũ và tri thức mới
- BTTH phải gây ra nhu cầu nhận thức cho người học, khích thích người học tìm cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra, có hứng thú, mong muốn được giải quyết vấn đề trong tình huống
- BTTH phải có tính phù hợp với khả năng của người học để giải quyết vấn đề mà tình huống đặt ra
1.2.2 Đặc điểm của bài tập tình huống
Tình huống được đưa vào dạy học thường dưới dạng những bài tập
nghiên cứu tình huống (BTTH) Đặc điểm nổi bật của loại bài tập này là xoay
quanh những sự kiện có thật hay gần gũi với thực tế trong đó chứa đựng vấn đề
và mâu thuẫn cần phải được giải quyết (Center for Teaching and Learning of
Stanford University 1994) Một bài tập nghiên cứu tình huống tốt theo John Boehrer and Marty Linsky cần phải trình bày được những vấn đề có tính khiêu khích và tạo được sự thấu cảm Trong một môi trường giáo dục đa dạng, nhiều nhóm học tập làm việc trong các lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt và ở các cấp độ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kinh nghiệm khác nhau có thể được tìm thấy theo đuổi kĩ năng và kiến thức thông qua một tiến trình chung [29] Phương pháp tình huống là một kỹ thuật dạy học trong đó các thành tố chủ yếu của nghiên cứu tình huống được trình bày với những người học với những mục đích minh họa hoặc kinh nghiệm giải quyết vấn đề [16]
1.2.2.1 Vai trò của bài tập tình huống
BTTH góp phần hình thành kiến thức cho HS: Khi giải quyết BTTH, HS
sẽ lĩnh hội và củng cố các khái niệm, các nguyên tắc, các quá trình có tính chất trừu tượng
BTTH góp phần phát triển năng lực tư duy, phát triển tính sáng tạo, khả năng giải quyết các vấn đề của HS
Sử dụng BTTH giúp HS phát triển khả năng tri giác, trong đó quan trọng
là óc quan sát, năng lực ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo Khi tiếp xúc với BTTH, HS phải ghi nhớ các tình tiết có trong BTTH đó, tưởng tượng để đưa ra phỏng đoán mà bài tập yêu cầu
BTTH có tác dụng bồi dưỡng khả năng diễn đạt, trau dồi ngôn ngữ cho
HS, rèn luyện được khả năng làm việc cá nhân, kết hợp với làm việc theo nhóm
để tranh luận, phê phán để thống nhất được cách giải quyết tình huống đặt ra
Trong quá trình giải quyết BTTH, HS hiểu được mục đích của việc giải quyết BTTH qua đó hình thành các kĩ năng, hiểu và biết cách thực hiện các thao tác hành động, luyện tập các thao tác từ chỗ biết làm đến chỗ làm thành thạo, linh hoạt và sáng tạo
BTTH rèn luyện các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa qua hàng loạt các biện pháp logic
BTTH có thể kích thích ở mức cao nhất sự tham gia của HS vào quá trình học tập, phát triển kĩ năng học tập, giải quyết vấn đề, phán đoán, đánh giá, giao tiếp; tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, tính sáng tạo, tiếp cận tình huống dưới nhiều góc độ; cho phép phát hiện ra những giải pháp cho những tình huống phức tạp, chủ động điều chỉnh nhận thức, kĩ năng và hành vi
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2.2 Hạn chế của dạy học bằng bài tập tình huống
- PPDH bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, thái độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động Vì vậy, nếu HS không có những đức tính đó thì hiệu quả dạy học bằng BTTH sẽ không đạt được
- PPDH bằng tình huống tốn nhiều thời gian của người học, người dạy
- PPDH bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp
- Đòi hỏi GV có kiến thức, kinh nghiệm sâu, rộng, có kĩ năng kích thích, phối hợp tốt trong quá trình dẫn dắt, tổ chức thảo luận và giải đáp để giúp HS tiếp cận kiến thức, kĩ năng Đây thật sự là những thách thức lớn đối với GV
trong quá trình ứng dụng phương pháp này
1.2.2.3 Tiêu chuẩn của bài tập tình huống
Để đạt được hiệu quả phát triển năng lực cho HS, BTTH được sử dụng trong dạy học cần đạt được những tiêu chuẩn:
1/ BTTH phải chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm Các
sự kiện trong bài tập gồm 2 yếu tố là các dữ kiện (những điều đã biết) là những thông tin đã cho một cách tường minh và yêu cầu (cái cần tìm) là những thông tin cần phải tìm ra Chẳng hạn, bạn Lan thắc mắc tại sao từ dung dịch gồm sữa đặc, sữa tươi, nước và ít sữa chua, khi đem ủ một thời gian dung dịch dạng lỏng
đã chuyển sang dạng sệt
2/ BTTH phải gây ra nhu cầu nhận thức Những mâu thuẫn trong BTTH
là cái khách quan phải được chuyển thành cái chủ quan bên trong của chủ thể thì sẽ gây ra nhu cầu nhận thức, kích thích chủ thể tìm cách giải quyết Chẳng hạn, ở ví dụ trên, nếu thắc mắc của Lan không nằm trong nhu cầu nhận thức mà Lan muốn biết thì Lan sẽ không đi tìm câu trả lời, nhưng khi mâu thuẫn đó thôi thúc Lan tìm câu giải đáp thì Lan sẽ tìm hiểu cơ sở khoa học và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm sữa chua
3/ BTTH phải phù hợp với trình độ, đối tượng HS Nếu tình huống có hấp dẫn nhưng vượt quá xa so với khả năng của HS thì HS sẽ không sẵn sàng
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giải quyết, còn quá dễ thì sẽ khiến HS thờ ơ Chẳng hạn, sau khi xác định quá trình sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy không liên tục trải qua 4 pha là tiềm phát, lũy thừa, cân bằng và suy vong; GV nêu BTTH để không xảy
ra pha suy vong thì cần phải làm gì? Nếu BTTH này đưa ra trước khi tìm hiểu sinh trưởng trong nuôi cấy không liên tục thì là khó với HS, nếu đưa ra sau khi học xong nuôi cấy liên tục thì sẽ là quá dễ Cả 2 trường hợp này HS đều không được kích thích để trả lời
4/ BTTH phù hợp với chủ đề bài học, có độ dài vừa phải và gần gũi với cuộc sống của HS
5/ Tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp
cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS
1.3 Dạy học bằng sử dụng bài tập tình huống và năng lực tự học
1.3.1 Dạy học bằng sử dụng bài tập tình huống
Mục 1.2.2 đã nêu tình huống được đưa vào dạy học thường dưới dạng những bài tập nghiên cứu tình huống (BTTH) Phương pháp học bằng cách nghiên cứu tình huống (Case study) giống như tìm cách giải quyết một bài toán nhận thức cụ thể Tình huống đưa ra phải là tình huống có vấn đề thực sự, cần chứa đủ thông tin để HS nắm bắt và phân tích, thường có tính thú vị giống như một câu chuyện có yếu tố khám phá mà người viết tạo ra để lôi cuốn sự quan tâm của bạn đọc
Dạy học bằng sử dụng BTTH thực chất là đặt ra cho người học câu hỏi
“Bạn sẽ làm gì trong tình huống này?” Vì vậy, tình huống có tính sư phạm phải có một ngữ cảnh thật; có nội dung thông tin và dữ kiện; có kết thúc mở chứa đựng vấn đề Do đó, dạy học bằng sử dụng BTTH là một trong những biện pháp dạy học tích cực theo hướng hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu cho HS
1.3.2 Năng lực tự học
1.3.2.1 Tự học và năng lực tự học
Vấn đề tự học được quan tâm trong tất cả các bậc học vì tự học và học suốt đời là một trong những chìa khoá giúp con người đáp ứng yêu cầu của một
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thế giới đang thay đổi nhanh chóng Tự học là sự nỗ lực của mỗi cá nhân về tư duy trí tuệ, động cơ tâm lý, ý thức, thái độ, tình cảm, nhằm đạt được mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra [17], [26]
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu, song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân) Năng lực được hình thành và hoàn thiện dần trên cơ sở rèn luyện các kĩ năng
Trong Chương trình GDPT chương trình tổng thể xác định năng lực tự học thuộc năng lực chung, bất kì môn học và hoạt động giáo dục nào, ở cấp học nào cũng cần hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS Yêu cầu cần đạt
về năng lực tự học được mô tả ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Yêu cầu cần đạt về năng lực tự học của học sinh [4]
- Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng
- Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế
- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích,
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên, bạn bè góp ý; chủ động tìm kiếm
sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết
- Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học
Nâng cao năng lực tự học thực chất là hình thành và hoàn thiện hệ thống kĩ năng tự học Khi tiếp xúc với nguồn kiến thức khác nhau, HS cần
có kĩ năng hành động tương ứng HS biết cách tổ chức thu thập, xử lý thông tin, tự kiểm tra, tự điều chỉnh trong quá trình làm việc với các nguồn tri thức nghĩa là đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học Trong quá trình dạy học, năng lực tự học của HS được hình thành và phát triển qua hai dạng chủ yếu:
Dạng 1 Tự học có hướng dẫn trực tiếp của GV (chủ yếu ở trên lớp): GV
giao các nhiệm vụ tự học, yêu cầu và hướng dẫn HS cách học để hoàn thành
các nhiệm vụ
Dạng 2 Tự học không có hướng dẫn trực tiếp của GV (chủ yếu diễn ra ở
ngoài lớp học), GV có thể giao nhiệm vụ hoặc hướng dẫn HS tự thiết kế các nhiệm vụ học tập cho chính mình, HS tự tìm các phương pháp để hoàn thành nhiệm vụ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mỗi dạng đó đều có những ưu, nhược điểm nhất định, do đó cần kết hợp các hình thức đó để quá trình tự học có hiệu quả Trong cả hai dạng trên,
GV giao nhiệm vụ cho HS bằng nhiều hình thức, chúng tôi quan tâm đến sử dụng BTTH
Sử dụng các BTTH đa dạng làm nhiệm vụ hướng dẫn tự học cho HS sẽ khuyến khích HS phát huy tính chủ động, óc sáng tạo, đem đến sự thoải mái, giúp cho sự tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn, HS phát huy được tiềm năng của mình trong việc lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và đánh giá, điều chỉnh kế hoạch học tập của bản thân
1.3.2.2 Kỹ năng tự học
Năng lực tự học được biểu hiện ở kĩ năng tự học Để tự học có kết quả cao, HS phải có những kĩ năng tương ứng Hệ thống kĩ năng tự học, theo chúng tôi bao gồm:
- Kĩ năng lập kế hoạch học tập: Việc lập kế hoạch rõ ràng, cụ thể cái gì
cần được học trước, cái gì sẽ được học sau, không những giúp quản lí và tiết kiệm được thời gian, mà còn giúp hệ thống lại những kiến thức đã học một cách khoa học Do đó, kế hoạch học tập của HS không phải là cứng nhắc, mà là một kim chỉ nam, một phương hướng có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi
để HS hành động nhằm sử dụng quỹ thời gian một cách hợp lý và hiệu quả, sao cho kế hoạch đó phải ở trong tầm với, phù hợp với điều kiện của mình, có như vậy các em mới làm chủ được quỹ thời gian, không bị động trước nhiều nguồn
tư liệu cần phải đọc và các công việc phải hoàn thành theo yêu cầu và sự hướng dẫn của GV
KN này cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học; xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi; thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự ôn tập, kiểm tra
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Đã có khẳng định rằng nếu bỏ ra một giờ để lập kế hoạch, chúng ta sẽ tiết kiệm được ba giờ khi thực hiện nó Bởi khi thời gian học tập cũng như thời gian tự học của mình được lên kế hoạch thì chúng ta sẽ thấy nó trở nên ít rắc rối trong thời gian dài
- Kỹ năng đọc sách: Trong quá trình tự học, đọc sách được coi là khâu
quan trọng đầu tiên giúp HS tiếp thu tri thức và phát triển phương pháp tự học hiệu quả Đọc sách cũng cần xác định mục tiêu cho chính mình như đọc sách gì? liên quan đến chuyên ngành của mình như thế nào? mục đích của việc đọc sách này là gì? chúng có giúp giải quyết vấn đề mình đang tìm kiếm hay không? Tự đặt câu hỏi và xác định mục tiêu sẽ giúp SV hạn chế được vấn đề lan man, tăng sự tập trung cho học tập
KN đọc sách bao gồm nhiều thao tác:
+ Thao tác tra cứu tài liệu;
+ Thao tác chọn sách;
+ Thao tác đọc sách (theo các cách khác nhau như đọc lướt, đọc có suy nghĩ, đọc có hệ thống, đọc có ghi nhớ)
- Kỹ năng ghi chép: KN ghi chép gắn bó chặt chẽ với KN đọc sách Ghi
chép giúp khả năng nhớ những sự kiện đã được nghe hoặc đọc Ghi chép hiệu quả sẽ tiết kiệm thời gian do người học có thể sắp xếp thông tin và nhớ lại chúng khi cần Vậy HS nên ghi chép những gì? Cần ghi bao nhiêu, dưới hình thức nào? Nên ghi chép dưới dạng phác thảo truyền thống, dưới dạng bản tóm tắt hay ghi lại dưới dạng một loạt các lời phát biểu? Dạng nào giúp HS ghi chép tốt nhất?
HS học cách ghi chép nhanh mà vẫn đầy đủ ý, có thể lưu giữ và thể hiện nội dung cốt lõi của tài liệu thông qua một loạt các ký hiệu, biểu tượng, từ khóa, hình vẽ một cách nhanh nhất có thể Những ký hiệu này sẽ giúp HS nhớ được nội dung tài liệu và diễn đạt lại theo cách của mình
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Kỹ năng giải quyết vấn đề: KN giải quyết vấn đề là hoạt động quan
trọng trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của GV, kết hợp với việc vận dụng các kiến thức lý thuyết đã học để giải quyết các bài tập tình huống, điều này có tác dụng trong việc hình thành KN vận dụng tương ứng với những tri thức đã học Từ việc tự học bài, trả lời câu hỏi, làm bài tập của GV, HS có thể
tự thiết kế những loại bài tập thực hành, bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống
- Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học: Tự kiểm tra, đánh giá
trong quá trình học tập, đặc biệt trong quá trình tự học là biện pháp giúp HS hình thành kỹ năng, kỹ xảo từ đó nhận biết rõ ưu khuyết điểm của bản thân nhất là phương pháp học tập để tìm cách khắc phục
Để có kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá HS cần: Xác định được mục tiêu, nội dung bài học; Xác định các nội dung liên quan trong các tài liệu tham khảo; Tái hiện những kiến thức liên quan đã được nghe giảng; Xây dựng dàn ý bài học (hoặc bài thuyết trình); - Làm bài tập theo yêu cầu; Dự kiến các câu hỏi và trả lời; Trình bày trước nhóm (lớp), trao đổi thảo luận với bạn bè; Kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung những nội dung chưa chuẩn
1.4 Thực trạng sử dụng bài tập tình huống trong dạy học tại các trường THPT tỉnh Bắc Kạn
1.4.1 Khái quát về điều tra thực trạng
1.4.1.1 Mục đích và nội dung điều tra
Mục đích: Điều tra thực trạng sử dụng BTTH trong dạy học ở các trường THPT tỉnh Bắc Kạn để có cơ sở thực tiễn đề xuất nội dung và quy trình sử dụng BTTH trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của HS
Nội dung: 1/ Điều tra GV về nhận thức và mức độ sử dụng BTTH trong dạy học; 2/ Điều tra HS về hứng thú, thái độ học tập môn Sinh học
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.4.1.2 Đối tượng điều tra
Tiến hành điều tra 30 GV môn Sinh học và ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và 224 HS của trường THPT Na Rì, tại thời điểm tháng 11 năm 2018
1.4.1.3 Phương pháp điều tra
* Các phương pháp sử dụng điều tra: phiếu hỏi
* Cách tiến hành
Chúng tôi xây dựng phiếu điều tra cho GV và HS Các phiếu điều tra được phát ngẫu nhiên cho các GV Sinh học trong các trường THPT tỉnh Bắc Kạn và ngẫu nhiên cho HS trường THPT Na Rì Đối tượng thực hiện không được gợi ý hay cung cấp các câu hỏi trong phiếu trước thời điểm tiến hành điều tra
1.4.2 Kết quả điều tra thực trạng
Qua kết quả trả lời phiếu điều tra của GV, chúng tôi có nhận xét như sau:
1.4.2.1 Kết quả điều tra sử dụng bài tập tình huống trong dạy học của giáo viên
* Tìm hiểu nhận thức của GV về BTTH và sử dụng BTTH trong dạy học thông qua câu trả lời các câu hỏi 1, 2, 3, 7, 8 trong phiếu điều tra phụ lục 1, chúng tôi thu được kết quả trong bảng 1.2
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.2 Nhận thức của giáo viên về bài tập tình huống
và sử dụng bài tập tình huống trong dạy học
kiến
1 Bài tập tình huống là gì?
- Quá trình học tập của tự bản thân HS qua tiếp xúc trực tiếp
với môi trường gia đình và ngoài xã hội
- Là một dạng bài tập nêu những tình huống giả định hay tình
- Quá trình dạy học, trong đó, HS tiếp xúc trực tiếp với môi
trường thực tiễn để chiếm lĩnh kiến thức bằng vốn kinh
nghiệm bản thân dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV
3 Vai trò của việc sử dụng BTTH trong dạy học là gì?
- Giúp GV nâng cao trình độ
- Tạo hứng thú cho HS trong học tập
- Lấy HS làm trung tâm
- Tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu của HS
70% 86,7% 76,7% 26,7%
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kiến
4 Khi xây dựng BTNT, GV dựa trên những nguyên tắc và quy
trình như thế nào?
- Không có nguyên tắc và quy trình nào, chỉ cần dựa vào nội
dung bài dạy và kinh nghiệm
- Trong khi dạy bài nếu nảy sinh tình huống thì nêu ra cho
HS giải quyết
- Căn cứ vào nội dung dạy học và mục đích đổi mới để xây
dựng BTTH rồi lập kế hoạch dạy học
- Theo các bước đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận
- Theo các bước lên lớp của giáo án truyền thống
- Không vận dụng vì chưa hiểu thế nào là dạy học bằng
BTTH
- Vận dụng lúng túng vì chưa chắc chắn với BTTH và chưa
được trao đổi với các GV khác
80% 16,7%
-
13,3%
Kết quả bảng 1.2 cho thấy, trên 50% GV hiểu gần đúng về BTTH, trên 70% GV đã hiểu rõ về vai trò của BTTH, vai trò của sử dụng BTTH trong dạy học Tuy nhiên, với vai trò tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu của HS chỉ có 26,7% GV lựa chọn Việc thiết kế BTTH và vận dụng BTTH trong dạy học theo nguyên tắc và quy trình dựa trên nội dung và mục đích dạy học được
ít GV lựa chọn (16,7%) Nhiều GV đưa ra những ý kiến khác về BTTH và vai trò, cách sử dụng BTTH trong dạy học, trong đó có liên quan nhiều đến những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng cách thức này Kết quả khảo sát những thuần lợi và khó khăn khi sử dụng BTTH trong dạy học (câu hỏi 9, phụ lục 1) cho thấy hầu hết các GV đều lựa chọn các ý nêu ra là những khó khăn, liên quan
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đến: sự hợp tác, vốn kinh nghiệm, hiểu biết của HS, tài liệu tham khảo hiện có, cách xây dựng BTTH với phát triển năng lực tự học, sự quan tâm, ủng hộ của cha mẹ HS, sự thấu hiểu của lãnh đạo nhà trường Do đó, GV đều có mong muốn về việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về sử dụng BTTH trong dạy học, cần có thiết kế mẫu kế hoạch và hướng dẫn quy trình tổ chức dạy học sử dụng BTTH (câu 10, phụ lục 1)
* Tìm hiểu mức độ thường xuyên của việc tổ chức sử dụng BTTH trong dạy học ở trường THPT (câu hỏi 4, phụ lục 1) thu được kết quả biểu thị qua hình 1.1
Hình 1.1 Mức độ sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
tại trường THPT tỉnh Bắc Kạn
Hình 1.1 cho thấy 20% GV thường xuyên tổ chức, 53,3% thỉnh thoảng tổ
chức, 26,7% hiếm khi sử dụng BTTH trong dạy học, không có lựa chọn mức
chưa bao giờ Điều này phản ánh xu thế dạy học của nhiều trường phổ thông trong các năm học gần đây đã chú trọng sử dụng BTTH trong dạy học Mức độ
sử dụng này có tương quan với mức độ hứng thú của HS trong học tập khi GV
sử dụng BTTH (Hình 1.2)
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.2 Mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia học tập môn học
sử dụng bài tập tình huống
Để xác định ảnh hưởng của sử dụng BTTH với phát triển năng lực tự học của HS, chúng tôi thống kê kết quả theo câu hỏi 6 (phụ lục 1) và thể hiện kết quả trong hình 1.3
Hình 1.3 Mức độ sử dụng bài tập tình huống với phát triển năng lực tự học của học sinh trong dạy học Sinh học tại trường THPT tỉnh Bắc Kạn
Kết quả hình 1.3 cho thấy việc sử dụng BTTH trong dạy học Sinh học mang lại ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển các năng lực tự học cho HS GV lựa chọn cần thiết và rất cần thiết chiếm trên 60%, GV nhận thấy mức không cần thiết là 16,7%
Qua điều tra trên đối tượng GV, thấy rằng để sử dụng BTTH trong dạy học có hiệu quả nhằm phát triển năng lực tự học cho HS ngoài sự quan tâm,
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đôn đốc của lãnh đạo nhà trường, sự quan tâm, ủng hộ của cha mẹ HS với việc
tự học thông qua sử dụng BTTH, sự hợp tác của HS khi HS biết trang bị cho mình vốn hiểu biết thực tiễn, giải quyết các vấn đề về đào tạo bồi dưỡng, biên soạn các tài liệu hướng dẫn, xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức sử dụng BTTH trong dạy học phát triển năng lực tự học cho HS
1.4.2.2 Kết quả điều tra thái độ của học sinh đối với học tập môn Sinh học
Hứng thú, thái độ của HS đối với việc học tập bộ môn có liên quan đến việc giảng dạy của GV và phát triển năng lực cho HS Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra HS (phụ lục 2) để xác định căn cứ thiết kế BTTH liên quan đến phát triển năng lực tự học của HS Các kết quả thu được được thống kê và trình bày trong bảng 1.3, 1.4
* Về thái độ của HS đối với môn học: Kết quả thu được ở bảng 1.3 cho thấy HS không thích giờ học chỉ có thuyết trình (95,24%); Các em thích và rất thích giờ học có phương tiện trực quan minh họa, được thảo luận, GV sử dụng bài tập, câu hỏi gây hứng thú học tập và hướng dẫn việc ghi chép, thảo luận, học
ở nhà Tuy nhiên, HS không thích học môn học và cách kiểm tra, đánh giá hiện nay (đều trên 60%), cho thấy những mong muốn của các em về phương tiện dạy học, về việc thảo luận, việc được hướng dẫn học tập chưa được GV quan tâm
Bảng 1.3 Thái độ của học sinh đối với các hoạt động dạy học
môn Sinh học (%)
thích Thích
Không thích
2 Bài giảng có tranh, hình, mẫu vật, mô hình,… minh họa 43,39 50 6,61
4 HS được hợp tác, được thảo luận, tham
5 GV có những hướng dẫn cho việc ghi
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Để làm rõ ảnh hưởng của PPDH đến phát triển năng lực của HS, chúng tôi tìm hiểu ý thức học tập của HS đối với các hoạt động học tập môn học (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Ý thức học tập đối với hoạt động học tập của học sinh
- Khi GV yêu cầu
- Khi chuẩn bị thi hay kiểm tra
- Khi rảnh rỗi
- Theo thời gian biểu, kế hoạch đã lập sẵn
- Hàng ngày
39,68% 95,24% 11,9% 3,97%
- 7,94%
việc gì?
- Học bài cũ, trả lời các câu hỏi và bài tập được GV giao về nhà để
hoàn thành nhiệm vụ
- Học thuộc lòng bài cũ để khi GV kiểm tra không bị điểm kém
- Học bài cũ và đọc trước bài mới, ghi lại những thắc mắc để lên
lớp hỏi GV
58,67% 38,36%
2,97%
- Ngồi im để GV không chú ý đến và không gọi tên mình
- Nhẩm lại bài để đối phó nếu GV gọi lên bảng
- Mạnh dạn xung phong lên bảng hoặc nghe bạn trả lời để nhận xét
và góp ý
36,77% 48,41% 14,82%
hỏi, bài tập?
- Chờ GV đưa ra câu trả lời và lời giải của bài tập
- Xem câu trả lời và lời giải bài tập của bạn
- Suy nghĩ cách trả lời câu hỏi, lời giải của bài tập
64,29% 27,78% 7,93% Kết quả bảng 1.4 cho thấy: HS thường học bài khi chuẩn bị thi, kiểm tra (95,24%); với mục đích để phục vụ thi kết thúc môn học Việc ôn tập bài và hoàn thành các nội dung GV giao cho trước khi đến lớp để hoàn thành nhiệm
vụ chiếm 58,67%, còn học bài và ôn bài ghi lại những thắc mắc để hỏi GV rất thấp (2,97%) Việc mạnh dạn xung phong lên bảng của HS thấp (14,82%), suy
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nghĩ cách trả lời câu hỏi, lời giải của bài tập chiếm 7,93% Những kết quả này đều là hệ quả của việc sử dụng PPDH trong quá trình dạy học, trong đó có sử dụng BTTH Điều này yêu cầu GV phải thay đổi PPDH theo hướng ra bài tập, câu hỏi, dạy cách học cho HS
1.5 Đặc điểm học sinh trường THPT huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Na Rì là một trong những huyện miền núi thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Kạn, có 22 xã và thị trấn Trường THPT Na Rì là trường THPT duy nhất của huyện Na Rì được đạt trên địa bàn thị trấn Yến Lạc
Quy mô trường lớp và học sinh:
NHẬN XÉT CHUNG: Các kết quả điều tra cho thấy việc vận dụng BTTH trong dạy học Sinh học chưa được quan tâm và sử dụng đúng ý nghĩa Tuy GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng các BTTH, đặc biệt BTTH có tính thực tiễn nhưng khi vận dụng còn một vài khó khăn: làm gia tăng khối lượng cộng việc của GV, xây dựng được BTTH sư phạm đòi hỏi tính chuyên môn cao; HS chưa thực sự chủ động, tích cực, ít thời gian do HS phải học nhiều môn học; BTTH có giá trị nhiều khi phụ thuộc vào cơ sở vật chất, tài chính Đây là những vấn đề mà chúng tôi lưu ý để thiết kế BTTH, thiết kế kế hoạch dạy học và cách tổ chức dạy học sử dụng BTTH phù hợp
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(ii) Nghiên cứu khái niệm BTTH, đặc điểm của BTTH, nhận thấy nhiều tác giả có những quan niệm khác nhau nhưng thống nhất ở chỗ BTTH không chỉ giúp HS lĩnh hội kiến thức mà còn hình thành và phát triển các kĩ năng nhận thức, kĩ năng tư duy, giải quyết vấn đề, Do đó, BTTH được sử dụng trong dạy học có ý nghĩa đối với hình thành và phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực tự học
(iii) Dạy học sử dụng BTTH đa dạng làm nhiệm vụ hướng dẫn tự học cho HS sẽ khuyến khích HS phát huy tính chủ động, óc sáng tạo, phát huy được tiềm năng của mình trong việc lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và đánh giá, điều chỉnh kế hoạch học tập của bản thân Năng lực tự học được biểu hiện qua các kĩ năng tự học như lập kế hoạch học tập, đọc sách, ghi chép, ôn tập
(iv) Điều tra nhận thức, thái độ của HS trường THPT Na Rì đối với việc học tập môn Sinh học và nhận thức của GV môn Sinh học ở các trường THPT tỉnh Bắc Kạn về sử dụng BTTH trong dạy học Sinh học cho thấy môn Sinh học
ở trường THPT tỉnh Bắc Kạn chưa đem lại hứng thú học tập cho HS, liên quan đến PPDH của GV Các GV đều có mong muốn được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về PPDH tích cực, trong đó có sử dụng BTTH vì sử dụng BTTH phù hợp với điều kiện dạy học ở địa phương; GV mong muốn được hướng dẫn thiết kế kế hoạch, hướng dẫn quy trình tổ chức dạy học Sinh học bằng BTTH