BVMT, đặc biệt là bảo vệ và gìn giữ các thành phần quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, từng bước cải thiện chất lượng môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái có ý nghĩa vô c
Trang 1NGUYỄN QUỐC ANH
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC KHAI THÁC THAN - ÁP DỤNG CHO CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI – TKV
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Trang 2NGUYỄN QUỐC ANH
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC KHAI THÁC THAN - ÁP DỤNG CHO CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI – TKV
Chuyên ngành : Kinh tế công nghiệp
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS - TS Nguyễn Cảnh Nam
HÀ NỘI, 2010
Trang 3Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận
văn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quốc Anh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CÔNG CỤ KINH TẾ BVMT TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN 5
1.1 Các vấn đề chung về môi trường 5
1.2 Các tác động môi trường trong hoạt động khai thác than 14
1.2.1 Tổng quan về hoạt động khai thác than 14
1.2.2 Các tác động môi trường, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác than 18
1.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý, BVMT nói chung và áp dụng trong ngành than nói riêng 21
1.3.1 Tổng quan và phân loại các giải pháp BVMT nói chung 21
1.3.2 Cơ sở lý thuyết công cụ kinh tế trong BVMT 23
1.3.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý, BVMT và điều kiện áp dụng 28
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC BVMT CỦA TẬP ĐOÀN TKV Ở VÙNG THAN QUẢNG NINH VÀ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI - TKV 38
2.1 Giới thiệu khái quát về ngành than ở Quảng Ninh 38
2.1.1 Vị trí và phân bố 38
2.1.2 Trữ lượng địa chất, sản lượng khai thác và lao động 38
2.1.3 Hiện trạng hoạt động khai thác than 39
2.1.4 Phương hướng phát triển ngành than đến năm 2025 40
2.2 Phân tích đánh giá thực trạng môi trường và công tác BVMT của Tập đoàn TKV tại vùng than Quảng Ninh 45
Trang 52.2.2 Hiện trạng môi trường vùng than Quảng Ninh 49
2.3 Phân tích đánh giá thực trạng môi trường và công tác BVMT của Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV 58
2.3.1 Giới thiệu khái quát Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV 58
2.3.2 Hiện trạng môi trường tại mỏ than Đèo Nai 62
2.3.3 Tình hình thực hiện các hoạt động BVMT của Công ty 66
2.4 Những vấn đề bất cập trong công tác BVMT tại vùng than Quảng Ninh và tại Công ty cổ phần Than Đèo Nai – TKV 69
2.4.1 Trong công tác quản lý môi trường 69
2.4.2 Trong công tác BVMT 71
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BVMT CHO VÙNG THAN QUẢNG NINH, ÁP DỤNG CHO CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI – TKV 74
3.1 Quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc BVMT trong khai thác than tại Quảng Ninh 75
3.1.1 Quan điểm 75
3.1.2 Mục tiêu 75
3.1.3 Nguyên tắc 76
3.2 Đề xuất định hướng và giải pháp chung BVMT cho vùng than Quảng Ninh 77
3.2.1 Một số giải pháp kỹ thuật công nghệ 78
3.2.2.Một số giải pháp công cụ kinh tế 91
3.2.3 Một số giải pháp nhằm áp dụng các công cụ tài chính trong quản lý và BVMT ở Quảng Ninh 102
3.3 Cụ thể hóa một số giải pháp BVMT cho Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV 104
3.3.1 Một số giải pháp kỹ thuật công nghệ áp dụng nhằm BVMT cho Công ty cổ phần Than Đèo Nai - TKV 104
Trang 63.3.3 Tổ chức thực hiện việc áp dụng các công cụ kinh tế nhằm BVMT tại Công
ty Cổ phần than Đèo Nai - TKV 113
KẾT LUẬN 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 7TKV Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
Tập đoàn TKV Tập đoàn các công ty Than – Khoáng sản Việt Nam
QLMT Quản lý môi trường
TPMT Thành phần môi trường
PTBV Phát triển bền vững
TCMT Tiêu chuẩn môi trường
CTNH Chất thải nguy hại
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GPMB Giải phóng mặt bằng
BOD Biochemical Oxygen Demand
( Nhu cầu oxy sinh hoá)
BOD 5 5- day Biochemical Oxygen Demand
(Nhu cầu oxy sinh hoá 5 ngày)
COD Chemical Oxygen Demand
(Nhu cầu oxy hoá học)
TSS Total suspended solids
(Tổng chất rắn lơ lửng)
Trang 8Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh than của Tập đoàn TKV 39
Bảng 2: Kết quả quan trắc môi trường tiếng ồn 64
Bảng 3: Phương pháp chống bụi 83
Bảng 4: Phí BVMT đối với khai thác than ở Quảng Ninh 94
Bảng 5: Phí BVMT đối với nước thải công nghiệp 96
Bảng 6: Thuế thu được theo sản lượng than hàng năm 99
Bảng 7: Phí BVMT đối với nước thải 111
Bảng 8: Dự toán kinh phí các hạng mục BVMT 112
Trang 9Hình 1: Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải mỏ 87
Biểu đồ 1: Hàm lượng bụi lơ lửng xung quanh khu vực khai thác than 53
Biểu đồ 2: Hàm lượng khí SO2, NO2, O3 xung quanh khu vực khai thác than 54
Biểu đồ 3: Hàm lượng khí CO xung quanh khu vực khai thác than 55
Biểu đồ 4: Độ ồn trung bình xung quanh khu vực khai thác than 56
Biểu đồ 5: Tiếng ồn tại mỏ than Đèo Nai 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, bảo vệ môi trường (BVMT) và PTBV là những vấn đề mang tính chiến lược của toàn cầu BVMT, đặc biệt là bảo vệ và gìn giữ các thành phần quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, từng bước cải thiện chất lượng môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của toàn bộ sự sống trên trái đất
Với quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; công cuộc đổi mới ở nước ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hiện nay còn rất nhiều vấn đề bức xúc cần phải được tập trung nghiên cứu và giải quyết; đặc biệt là những bức xúc về môi trường
Môi trường sống ở Việt Nam đã và đang xuống cấp ngày càng nghiêm trọng, tình trạng khai thác và sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên diễn ra một cách phổ biến ở mọi nơi trên cả nước; nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đã và đang đứng trước nguy cơ bị cạn kiệt hoàn toàn Tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng gia tăng, nguy cơ mất cân bằng sinh thái ngày càng trầm trọng Điều đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và đe dọa tới sự PTBV của nước nhà
Sự suy giảm về chất lượng môi trường sống ở nước ta có rất nhiều nguyên nhân khác nhau; song nguyên nhân chính đó là: ý thức trách nhiệm của các doanh nghiệp, của người dân, của hệ thống các cấp chính quyền đối với việc bảo vệ và QLMT còn thấp; hệ thống luật pháp còn thiếu, các công cụ QLMT chưa đầy đủ và chưa được sử dụng một cách hữu hiệu Để nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ
và QLMT trong điều kiện hiện nay của nước ta, đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau: luật pháp, chính sách, kinh tế, kĩ thuật, công nghệ, văn hoá, giáo dục, Đặc biệt, chúng ta cần phải coi trọng tới việc sử dụng các giải pháp kinh
Trang 11tế, nhất là phải chú trọng tới việc sử dụng các công cụ tài chính, trong đó các công
cụ thuế, phí, trợ cấp và ký quỹ môi trường phải được quan tâm đầy đủ và phải được
sử dụng đồng bộ và rộng rãi
Bể than Quảng Ninh kéo dài khoảng 130 km từ Phả Lại (tỉnh Hải Dương) đến Vạn Hoa (huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh), bề rộng từ 10 – 30 km Các mỏ đang hoạt động phân bố trên dãy núi phía bắc đường 18A từ Mạo Khê đến Mông Dương, lân cận các đô thị, các cụm dân cư, các khu vực kinh tế trọng điểm và nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội quan trọng khác (nguồn nước, di tích văn hoá, di sản thiên nhiên )
Hoạt động khai thác than đã xuất hiện hơn 170 năm, song chủ yếu từ thời Pháp thuộc; hiện nay do Tập đoàn các công ty Than - Khoáng sản Việt Nam (Tập đoàn TKV) thực hiện là chính, gồm 13 đơn vị chuyên khai thác lộ thiên, 04 đơn vị chuyên khai thác hầm lò, 24 đơn vị khai thác hầm lò + lộ thiên và 07 đơn vị chế biến, sàng tuyển than Ngoài ra còn có Công ty PT Vietmindo Energitama (Công ty 100% vốn nước ngoài) và một số công ty khác trong nước (nhà nước và tư nhân) cũng hoạt động khai thác than
Quá trình khai thác than từ xưa đến nay đã gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường sinh thái ở vùng Quảng Ninh Mặc dù gần đây, sau khi có Luật Bảo vệ môi trường ra đời, công tác BVMT nói chung và BVMT trong khai thác than đã được quan tâm, song do nhiều nguyên nhân nên các tác động môi trường do khai thác than gây ra vẫn còn ở mức độ cao, gây bức xúc cho vùng than Quảng Ninh Trong khi thời gian tới để đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng tăng cao đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác khai thác than nhằm nâng cao sản lượng Nếu không có các biện pháp BVMT đồng bộ, hữu hiệu thì hậu quả môi trường do khai thác than gây
ra sẽ còn trầm trọng hơn, đe dọa đến sự PTBV của ngành than và của cả vùng than
Quảng Ninh cũng như toàn bộ miền Đông Bắc Tổ quốc
Vì những lý do trên mà tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp bảo
vệ môi trường khu vực khai thác than - áp dụng cho Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV" cho luận văn thạc sỹ kinh tế của mình
Trang 122 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề xuất các công cụ kinh tế có tính khoa học và phù hợp với điều kiện thực
tế nhằm góp phần quản lý và BVMT trong quá trình hoạt động khai thác than nói chung và áp dụng cụ thể cho Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV nói riêng, đảm bảo sự PTBV của ngành than và toàn vùng than
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp để BVMT trong hoạt động khai thác than
- Phạm vi nghiên cứu: Ngành than thuộc Tập đoàn TKV tại Quảng Ninh và Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV
Để bảo vệ và giải quyết vấn đề môi trường có nhiều nhóm giải pháp, bao gồm nhóm các giải pháp phòng ngừa, nhóm các giải pháp khắc phục, xử lý Hoặc
có thể phân theo: nhóm các giải pháp chính sách, nhóm các giải pháp công nghệ -
kỹ thuật, v.v
Trong phạm vi đề tài luận văn này chỉ đề cập đến nhóm các giải pháp chính sách dưới dạng một số công cụ kinh tế phục vụ cho quản lý và BVMT trong ngành than
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Nghiên cứu tổng quan lý thuyết và thực tiễn về các công cụ kinh tế nhằm BVMT nói chung và trong khai thác than nói riêng
b Đánh giá thực trạng môi trường và công tác BVMT trong hoạt động khai thác than vùng Quảng Ninh và Công ty Cổ phần than Đèo Nai – TKV
c Đề xuất các giải pháp chính sách dưới dạng công cụ kinh tế nhằm góp phần tăng cường công tác quản lý, đẩy mạnh các hoạt động BVMT để giảm thiểu các tác động đến môi trường do hoạt động khai thác than gây ra nói chung, áp dụng cho Công ty cổ phần than Đèo Nai – TKV
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nêu trên nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đề tài luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp bao gồm:
Nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm thực tế thông qua các tài liệu trong và ngoài nước
Trang 13Phương pháp thống kê và khảo sát thực tế để thu thập các tài liệu có liên quan đến thực trạng môi trường bị ảnh hưởng bởi khai thác than trên địa bàn
Phương pháp đánh giá nhanh, điều tra xã hội, chuyên gia, ước lượng, dự đoán, kế thừa để đưa ra các dự báo về tác động môi trường do khai thác than gây ra
Phương pháp so sánh, phân tích, chuyên gia để xây dựng các giải pháp nhằm bảo về môi trường
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Góp phần hoàn thiện, bổ sung cơ sở lý luận và phương
pháp luận BVMT trong hoạt động kinh doanh nói chung và khai thác than nói riêng, đặc biệt là cơ sở khoa học cho việc xây dựng và áp dụng các giải pháp công cụ kinh
tế trong việc quản lý và BVMT
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có giá trị tham
khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách BVMT và các doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), các công ty con sản xuất than của TKV, nhất là Công ty cổ phần Than Đèo Nai – TKV Ngoài
ra, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về BVMT trong khai thác than
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CÔNG CỤ KINH TẾ BVMT
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
1.1 Các vấn đề chung về môi trường
Môi trường
Thuật ngữ môi trường, trong anh ngữ là: “ Environment”, có nghĩa là cái bao
quanh, là hoàn cảnh, là các điều kiện xung quanh Theo nghĩa rộng thì môi trường
là một phạm trù dùng để chỉ toàn bộ các yếu tố vật chất, các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động và biến đổi của các sự vật, hiện tượng ở bên trong đó Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều tồn tại, vận động và phát triển trong một môi trường nhất định; nói tới môi trường, có nghĩa là nói tới môi trường cuả một vật thể, môi trường của một hiện tượng, môi trường của một lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của con người hay môi trường sống của thế giới sinh vật
Tuỳ theo mục đích của cuộc sống, môi trường được nghiên cứu, xem xét trên những phương dịên nhất định Như vậy, có rất nhiều loại môi trường khác nhau như: môi trường vật lý, môi trường hoá học, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường kỹ thuật, môi trường nhân tạo, môi trường sinh thái, môi trường sống sống của con người v.v Nếu xét về bản chất thì mỗi môi trường có nguồn gốc phát sinh,
có cấu trúc các yếu tố thành phần khác nhau; sự tồn tại, vận động và biến đổi của các yếu tố thành phần theo những quy luật nhất định Mỗi loại môi trường có những ảnh hưởng nhất định tới sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội loài người
Theo điều 3 chương 1, của Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2005:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Thuật ngữ môi trường được sử dụng trong Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam là môi trường sống của con người, nó có phạm vi không gian rộng lớn và có thành phần cấu trúc rất phức tạp; các yếu tố thành phần của môi trường sống rất đa
Trang 15dạng, bao gồm cả các yếu tố vật chất và các yếu tố phi vật chất; các yếu tố của môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng nhiều tới sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người là: không khí, nước, đất đai, các nguồn tài nguyên khoáng sản, các dạng năng lượng, đặc biệt là năng lượng bức xạ mặt trời, các tài nguyên sinh vật
Thành phần môi trường (TPMT)
TPMT là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác (Luật Bảo vệ môi trường)
Như vậy, TPMT được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
Hoạt động BVMT
Hoạt động BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học
BVMT là các hoạt động gìn giữ cho môi trường sống trong lành, sạch đẹp, ngăn chặn những tác động tiêu cực tới môi trường, từng bước cải thiện chất lượng môi trường sống, bảo đảm cân bằng sinh thái, khắc phục các hậu quả xấu cho con người và thiên nhiên, khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên Bảo vệ và QLMT là bộ phận quan trọng trong cấu thành và là cơ sở của sự PTBV
Tại điều 6 của Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam ghi rõ: “BVMT là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm BVMT, thi hành pháp luật về BVMT, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BVMT”
Phát triển bền vững (PTBV)
PTBV là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm
Trang 16tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến hoá và ngừng sự phát triển của mình Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường
và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường Do đó, Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm PTBV:
"PTBV là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai"
Để xây dựng một xã hội PTBV, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã
đề ra 9 nguyên tắc:
Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất
Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất
Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
Để cho các cộng đồng tự QLMT của mình
Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Tiêu chuẩn môi trường (TCMT)
TCMT là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và BVMT
Vì vậy, TCMT có quan hệ mật thiết với sự PTBV của mỗi quốc gia Hệ thống TCMT là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát triển
Cơ cấu của hệ thống TCMT bao gồm các nhóm chính sau:
Trang 17Tiêu chuẩn nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển, nước biển ven bờ, nước thải v.v
Tiêu chuẩn không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất thải), tiếng ồn v.v
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực vật, đa dạng sinh học
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hoá
Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoáng sản trong lòng đất, ngoài biển v.v
Ô nhiễm môi trường (ÔNMT)
ÔNMT là sự biến đổi của các TPMT không phù hợp với TCMT, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường)
Thực chất ÔNMT là sự làm thay đổi các yếu tố thành phần và tính chất của môi trường sống, thông qua sự thay đổi các tính chất: vật lý, hoá học, các nguồn năng lượng, mức độ bức xạ, độ phổ biến của sinh vật… những thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp tới con người qua con đường thức ăn, nước uống và không khí; ảnh hưởng gián tiếp tới con người do thay đổi các điều kiện vật lý, hoá học và suy thoái môi trường
Có nhiều loại ÔNMT như ÔNMT nước, ÔNMT không khí, ÔNMT đất, ô nhiễm tiếng ồn Tuy nhiên, trong các loại ÔNMT thì ÔNMT nước và ÔNMT không khí là hai loại ÔNMT gây ra nhiều tác hại nhất đối với sức khoẻ và hoạt động sản xuất của con người
ÔNMT nước là sự làm thay đổi thành phần và tính chất của nguồn nước, gây
hại cho các hoạt động bình thường của con người và gây hại cho các sinh vật có ích đối với con người Các chất gây ÔNMT nước chủ yếu là: kim loại nặng, các loại
Trang 18hóa chất độc hạiđặc biệt là các loại hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp
ÔNMT không khí là sự làm thay đổi các yếu tố thành phần trong môi trường
không khí; đặc biệt là sự làm gia tăng quá mức các chất gây ô nhiễm trong môi trường không khí (như CO, CO2, SO2, NOx, CH4, CFC ), vi phạm TCMT không khí Các chất gây ÔNMT không khí có thể là từ các quá trình tự nhiên như: núi lửa phun, cháy rừng, bão bụi, lũ lụt Các chất gây ÔNMT không khí từ các hoạt động của con người rất đa dạng, chủ yếu được phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp
ÔNMT đất: bình thường hệ sinh thái luôn tồn tại ở trạng thái cân bằng Tuy
nhiên, khi có một số chất và hàm lượng của chúng vượt quá khả năng chịu tải đất thì hệ sinh thái đất sẽ mất cân bằng và môi trường đất bị ô nhiễm ÔNMT đất có thể
có nguồn gốc tự nhiên (núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do xâm nhập thuỷ triều, đất bị vùi lấp do cát bay ) hoặc có nguồn gốc nhân sinh (ảnh hưởng chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, giao thông và hoạt động nông nghiệp )
Ô nhiễm tiếng ồn: Âm thanh còn được gọi là tiếng ồn khi nó trở nên mạnh và
gây khó chịu, đặc biệt khi nó gây chấn thương sinh lý và tâm thần Hầu hết tiếng ồn trong môi trường có nguồn gốc nhân sinh như sự hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ, hàng không Ở trong nhà, các loại máy giặt, máy rửa bát, tivi, video, ghi âm cũng là những nguồn gây tiếng ồn
Suy thoái môi trường
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của TPMT, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật
Trong đó, TPMT được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
Sự cố môi trường
Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của
Trang 19con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;
Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại
cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ
Chất thải nguy hại (CTNH)
CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn,
dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác
CTNH là các chất thải có thể được sinh ra do các hoạt chất công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp Các CTNH có thể là các chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất sệt Trong định nghĩa CTNH không nói đến các chất thải rắn sinh hoạt, nhưng thật ra rất khó phân biệt một cách toàn diện chất thải công nghiệp với chất thải sinh hoạt CTNH không bao gồm chất thải phóng xạ vì loại chất thải này
đã được hầu hết các nước phân cách và tổ chức quản lý riêng
Có thể xác định 3 nhóm CTNH chính:
Trang 20Nhóm 1 bao gồm các chất thải có hàm lượng độc tố cao, dễ thay đổi, bền vững hoặc tích tụ sinh học
Nhóm 2 là các chất thải thông thường khác như các sệt Hydroxyt kim loại Nhóm 3 là các chất thải có khối lượng lớn, có thể hàm lượng độc tố không cao nhưng có khả năng gây hại trên quy mô lớn
Trong hệ sinh thái liên tục xảy ra quá trình tổng hợp và phân huỷ vật chất hữu cơ và năng lượng Vòng tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái là vòng kín, còn vòng tuần hoàn năng lượng là vòng hở Như vậy, năng lượng mặt trời được sinh vật sản xuất tiếp nhận sẽ di chuyển tới sinh vật tiêu thụ các bậc cao hơn Trong quá trình đó, năng lượng bị phát tán và thu nhỏ về kích thước Trái lại, các nguyên tố hoá học tham gia vào quá trình tổng hợp chất hữu cơ sau một chu trình tuần hoàn sẽ trở lại trạng thái ban đầu trong môi trường
Đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái
Trang 21Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:
Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất,
từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm
Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể
Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau
Quan trắc môi trường (QTMT)
QTMT là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường
Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường
Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế
Thông tin về môi trường
Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các TPMT; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái và thông tin về các vấn đề môi trường khác
Trang 22Đánh giá môi trường chiến lược
Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm PTBV
Đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp BVMT khi triển khai dự án
đó
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nào
Khí thải gây hiệu ứng nhà kính
Khí thải gây hiệu ứng nhà kính là các loại khí tác động đến sự trao đổi nhiệt giữa trái đất và không gian xung quanh làm nhiệt độ của không khí bao quanh bề mặt trái đất nóng lên
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa các hành tinh Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển Trong khi đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +160C là sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí CH4, khí CFC v.v
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng độ khí CO2 của khí quyển tăng lên Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5 - 4,50C vào năm 2050
Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự sau:
CO2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2 Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà
Trang 23kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất
Hạn ngạch phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính
Hạn ngạch phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính là khối lượng khí gây hiệu ứng nhà kính của mỗi quốc gia được phép thải vào bầu khí quyển theo quy định của các điều ước quốc tế liên quan
1.2 Các tác động môi trường trong hoạt động khai thác than
1.2.1 Tổng quan về hoạt động khai thác than
a Vai trò của công nghiệp than
Thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới nền kinh tế-xã hội được các Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra, khi nền kinh tế của Việt Nam chuyển từ "kế hoạch hoá tập chung" sang "thị trường có điều tiết", ngành than Việt Nam từ năm 1994/1995 đến nay đã cơ bản hoàn thành giai đoạn tái cơ cấu tổ chức ở tầm vĩ mô, đã đi đầu trong các thử nghiệm về đổi mới tổ chức, hoàn thiện quản lý trên phạm vi toàn ngành
Không dừng lại ở "thị trường có điều tiết", TKV đã biết hướng sự phát triển của mình theo cơ chế hoàn thiện hơn, đó là "thị trường điều tiết có cạnh tranh" Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của các ngành năng lượng, ngành than đã "xung phong", và đã vượt qua rất nhiều rào cản để phát triển các dự án nhà máy nhiệt điện chạy than Đây là một tư duy mới, và việc làm này có thể coi là thành tích đáng kể của ngành than trong việc đột phá tạo ra thị trường phát điện có cạnh tranh cho nền kinh tế
Với tiềm năng về trữ lượng lớn, nguồn năng lượng than có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cả quá khứ, hiện tại và trong tương lai
Tổng trữ lượng than của nước ta đã được khai thác, thăm dò, tìm kiếm trên toàn quốc là 6.109,3 triệu tấn Khu vực Quảng Ninh là nơi tập trung khoảng 67% trữ lượng toàn quốc và cũng có khả năng khai thác lớn nhất Loại than chủ yếu tại Quảng Ninh là than đá (than antraxit), được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp điện, xi măng, phân bón…
Trang 24Trong cân bằng năng lượng hiện nay của nền kinh tế, ngành than đã dần khẳng định được vai trò và vị trí xứng đáng của mình Tỷ trọng của than trong cân bằng năng lượng đang tăng lên Đặc biệt, trong tổng sơ đồ phát triển hiện nay của ngành điện, các dự án nhiệt điện chạy than đã và đang được quy hoạch phát triển với quy mô tương đối lớn
Nhờ có cơ chế phát triển mới được hình thành, Tập đoàn TKV đã tăng được sản lượng khai thác than, đáp ứng đủ than cho nền kinh tế, đã xuất khẩu được một lượng lớn than ra thị trường thế giới, tạo ra nguồn thu bù đắp cho việc bình ổn giá than trên thị trường trong nước, và để đầu tư mua sắm trang thiết bị cần thiết Ngoài việc cung cấp đủ than cho các ngành kinh tế, Tập đoàn TKV đã chủ động tạo ra thị trường nội địa cho chính sản phẩm than của mình bằng việc phát triển các dự án nhiệt điện chạy than có chất lượng thấp
Trong nền kinh tế nước ta, ngành than đóng vai trò là ngành kinh tế trọng điểm, cung cấp nhiên liệu cho hoạt động của các ngành công nghiệp khác như: ngành điện, giấy, xi măng…
Vì vậy, mỗi một yếu tố của nền kinh tế như lạm phát, tăng trưởng, chiến lược phát triển kinh tế vùng, địa phương… đều có ảnh hưởng nhiều chiều đến ngành than, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các ngành khác vốn là khách hàng tiêu thụ của ngành than
Trên thị trường nội địa, ngành điện là khách hàng tiêu thụ than lớn nhất (trung bình 17% tổng cầu) Theo quy hoạch phát triển của ngành điện, trong năm năm tới, Việt Nam sẽ phát triển thêm 3.000 MW nguồn nhiệt điện than và tối thiểu 4.500-5.500 MW nguồn nhiệt điện trong năm năm tiếp theo
Với tiềm năng hạn chế về thuỷ điện và nguồn khí đốt tại Việt Nam, vai trò của nhiệt điện chạy bằng than sẽ ngày càng tăng, kéo theo nhu cầu tiêu thụ than ngày càng lớn
Cùng với việc tham gia phát triển các dự án nhiệt điện chạy than, TKV đã đi đầu trong việc đổi mới kỹ thuật phát điện theo công nghệ "than sạch" bằng lò hơi
"tầng sôi tuần hoàn" Việc lần đầu tiên ở Việt Nam công nghệ "lò hơi tầng sôi tuần
Trang 25hoàn" do TKV đầu tư có ý nghĩa không những về mặt áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, mà còn có giá trị mở ra một triển vọng lớn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên than có hạn trong cân bằng năng lượng của đất nước
Ngoài ra, các ngành tiêu thụ than khác như xi măng, giấy, hoá chất… cũng đang có tốc độ tăng trưởng cao Điều này hứa hẹn sức cầu ‘khổng lồ’ về than trong thập kỷ tới
Nhu cầu về than gia tăng cùng với yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt, thể hiện tiềm năng phát triển mạnh của ngành than
Tuy nhiên, do điều kiện khai thác than cũng ngày một khó khăn, ngành than cũng phải đối mặt với những thách thức về bảo vệ an ninh năng lượng quốc gia và
về việc thăm dò khai thác nguồn than mới
Khu mỏ Quảng Ninh đã được khai thác từ thời Pháp thuộc, đến nay đã trên
100 năm nên ở những khu mỏ tốt nhất cũng đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu cạn kiệt Than Việt Nam được khai thác với hai công nghệ tiêu biểu là lộ thiên và hầm lò Trong đó, phương thức khai thác lộ thiên chiếm tỷ trọng chủ yếu (60% - 65%) với những ưu điểm về chi phí đầu tư, điều kiện sản xuất và giá thành sản xuất so với than hầm lò
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp than phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố về môi trường tự nhiên Bất kỳ một sự biến động nào của môi trường tự nhiên cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm than như: sự biến động về địa chất, quy hoạch khai thác vùng chưa ổn định
Về mặt khai thác, thời gian gần đây, các công ty trong ngành đã chú trọng đầu tư, nâng cấp thiết bị và công nghệ khai thác Về mặt tiêu thụ, Tập đoàn TKV đã tích cực mở rộng thị trường cả trong và ngoài nước Đặc biệt, từ năm 2003 trở lại đây, để bù lỗ phần than tiêu thụ trong nước và tạo vốn cho việc tái đầu tư, công tác xuất khẩu than được đẩy mạnh
Với cơ chế quản lý chặt chẽ của Tập đoàn TKV, các Công ty khai thác than không thực sự gặp khó khăn trước những nguy cơ biến động về thị trường, giá cả,
Trang 26song cũng sẽ phải chủ động với các biện pháp về trữ lượng than và kế hoạch khai thác nhằm đảm bảo duy trì khả năng khai thác lâu dài
Theo dự báo của Tập đoàn TKV, trong khoảng từ 5 đến 10 năm nữa, nhu cầu nội địa về than sẽ tăng nhanh, cùng với chiến lược an ninh năng lượng quốc gia, chắc chắn mức xuất khẩu than sẽ giảm
Với chính sách ưu tiên tiêu thụ than trong nước của Chính phủ, giá bán than nội địa vẫn thấp hơn nhiều so với giá bán xuất khẩu
Sự chênh lệch về giá bán nội địa - xuất khẩu, khi đó nếu không được nhà nước và TKV quản lý và điều tiết hợp lý thì có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các công ty khai thác than
Trong điều kiện xẩy cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực và cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới như vừa qua, thành tích đáng kể của Tập đoàn TKV là đã bước đầu đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần, đã duy trì được việc làm và thu nhập cho gần 13 vạn lao động và đã đóng góp đáng kể cho ngân sách
Tuy thu nhập của thợ mỏ hiện nay còn thấp hơn nhiều so với các ngành khác (do năng suất lao động chưa cao), nhưng điều kiện làm việc đã được cải thiện Mức
độ lao động tuy còn nặng nhọc (tỷ lệ thủ công vẫn cao), nhưng các dịch vụ đời sống cho thợ lò đã được quan tâm (tắm nước nóng, uống sữa, giặt quần áo, khám chữa bệnh nghề nghiệp, nghỉ dưỡng, thăm quan, sinh hoạt văn hóa thể thao v.v.)
b Các đặc điểm của ngành công nghiệp than
Hiện nay ngành công nghiệp than sử dụng 2 phương pháp khai thác than chính là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò Đặc điểm của các phương pháp khai thác trên như sau:
Khai thác lộ thiên
Tỷ trọng khai thác lộ thiên hiện nay chiếm 65% tổng sản lượng khai thác
Ưu điểm của khai thác than lộ thiên là:
Đầu tư có hiệu quả nhanh
Sản lượng lớn
Trang 27Công nghệ đơn giản
Hiệu suất sử dụng tài nguyên cao, đạt đến 90% hoặc hơn
Tai biến, rủi ro thấp
Nhược điểm của khai thác than lộ thiên:
Diện tích đất cho khai trường lớn
Khối lượng đất đá thải lớn, chiếm nhiều diện tích rừng tự nhiên
Gây ÔNMT không khí, nước, đất
Suy giảm trữ lượng nước dưới đất
Ảnh hưởng môi trường sống cộng đồng
Tổn hại cảnh quan sinh thái
Chi phí khôi phục lại cảnh quan sinh thái rất lớn
Khai thác hầm lò
Tỷ trọng khai thác hầm lò chiếm 45% tổng sản lượng khai thác
Ưu điểm của khai thác than hầm lò:
Diện tích khai trường nhỏ
Lượng đất đá thải thấp (bằng 1/5 của khai thác lộ thiên)
Ít ảnh hưởng đến địa hình, cảnh quan sinh thái
Ít gây tổn thất tài nguyên sinh học
Ít gây ÔNMT không khí
Nhược điểm của khai thác than hầm lò:
Hiệu quả đầu tư không cao
Tổn thất tài nguyên (than) lớn, tới 30-45%
Sản lượng khai thác không lớn
Ô nhiễm nguồn nước
Tai hoạ rủi ro lớn (sập lò, cháy nổ khí mêtan, bục nước trong lò)
1.2.2 Các tác động môi trường, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác than
a Biến động địa hình
Thay đổi độ cao của địa hình: địa hình được nâng cao do đổ thải hoặc bị hạ
Trang 28thấp do khai trường (moong) khai thác
Thay đổi dạng và độ dốc địa hình: bị san phẳng hoặc phức tạp hoá do tạo moong và bãi thải gần nhau, sụt lún, làm đường, bồi lắng v.v
Thay đổi cấu trúc cảnh quan: phá huỷ thảm thực vật, thay đổi hệ động vật, bóc mòn đất v.v
b Biến động đường bờ biển và trầm tích
Hàm lượng than xuất hiện trong cả ba cấp hạt trầm tích, trung bình trong các cấp hạt trầm tích như sau:
d Biến động môi trường nước
Khi có hoạt động khai thác than, chất lượng nước đã thay đổi cơ bản: giàu ion sunfat, giảm bicacbonat, mang tính axit yếu đến mạnh (pH=3,2-6,5), nước thuộc loại hình sunfat-bicacbonat-canxi-magie
Trang 29Chất lượng nước mặt một số khu vực cấp cho dân cư xét theo các chỉ tiêu cơ bản như cặn lơ lửng, sắt, nitrat, coliform không đạt tiêu chuẩn Việt Nam
Nước thải mỏ (gồm nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt) chứa nhiều thành phần gây ô nhiễm cho các hệ thống kênh mương, sông suối trên khu vực khai thác:
Đặc tính chung của nước thải mỏ là: Độ axit cao, hàm lượng ion sunfat trong nước cao, hàm lượng cặn lơ lửng rất lớn
Nghiên cứu định lượng các chỉ tiêu kim loại nặng trong nước moong khai thác, nước sông suối và nước đô thị thấy rằng đều có một số kim loại xuất hiện (Pb,
Co, Ni, Cd) ở hàm lượng xấp xỉ nhau; Riêng nước trong moong có độ pH thấp hơn, hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng cao hơn nhiều so với nước sông suối và nước đô thị: As (1,5 lần), Zn và Mn (3 lần), Fe và Cu (10 lần)
e Biến động môi trường khí
Ô nhiễm khí thải:
Khu vực khai thác hầm lò bị ô nhiễm khí thải (CO, NO2) nặng hơn khai thác
lộ thiên Trên toàn vùng khai thác than, không khí ở khai trường, tuyến vận chuyển
và các phân xưởng phụ trợ bị ô nhiễm do CO, NO2, SO2 … với mức độ lớn hơn hẳn các khu vực khác Các khu vực dân cư chủ yếu bị ô nhiễm do CO và NO2 Tuy nhiên điều đáng quan tâm là không khí ở hầu hết các khu vực khai thác than và khu dân cư lân cận đều bị ô nhiễm bởi SO2 và NO2
Hậu quả do ô nhiễm khí ở vùng khai thác than:
Đối với con người: Gây bệnh silicose, antracose; Gây bệnh viêm xoang, viêm mắt, bệnh ngoài da; Gây co thắt phế quản; Gây co giật, hôn mê, bệnh tim
Trang 30mạch; Gây bệnh đường tiêu hoá; Gây tâm lý khó chịu v.v
Cản trở phát triển thực vật, tăng hiệu ứng nhà kính, làm biến đổi khí hậu, làm suy thoái đất đai …
Thúc đẩy phá hại các công trình xây dựng, nhà cửa, cảnh quan và các tai biến môi trường, mất an toàn lao động v.v
f Các tai biến môi trường
Tai biến trường diễn:
Tai biến đột khởi: Nổ khí mê tan trong mỏ, sập lò và giếng khai thác, bục nước trong lò
g Tổn thất tài nguyên
Trong khai thác mỏ nói chung người ta đều phải chấp nhận tỷ lệ hao hụt phát sinh ở tất cả các khâu Trong khai thác than, tổn thất tài nguyên chủ yếu trong công đoạn khai thác Tổn thất trong khai thác hầm lò thường khá lớn (30 – 50%, nhiều hơn so tổn thất do khai thác lộ thiên (khoảng 10%)
Như vậy mặc dù khai thác than bằng hầm lò gây tác động ít hơn đến môi trường so với khai thác than lộ thiên nhưng làm tổn thất tài nguyên than lớn hơn nhiều Do đó cần có sự lựa chọn công nghệ khai thác một cách đúng đắn
1.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý, BVMT nói chung và áp dụng trong ngành than nói riêng
1.3.1 Tổng quan và phân loại các giải pháp BVMT nói chung
a Nhóm giải pháp về tổ chức và bộ máy
Quản lý nhà nước môi trường
Trang 31Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về BVMT của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp
Tăng cường hoạt động giám sát thường xuyên của Hội đồng Nhân dân, các
tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể các cấp
Thành lập Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường, Hội Nước sạch Vệ sinh môi trường tại địa phương và hoạt động đồng bộ với các cấp hội Trung ương
Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh
Thành lập tổ chức, bộ phận chuyên môn về BVMT tại đơn vị theo qui định của Chính phủ
Phân công lãnh đạo đơn vị phụ trách trực tiếp công tác BVMT tại doanh nghiệp
b Nhóm giải pháp về quy hoạch, kế hoạch
+ Quản lý nhà nước môi trường
Rà xét lại các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội theo vùng lãnh thổ và theo ngành và điều chỉnh phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 và định hướng đến 2020
Lập và triển khai thực hiện chiến lược, qui hoạch BVMT các cấp từ cấp huyện trở lên và cả nước
Phối hợp với các Bộ, Ngành Trung ương tổ chức thực hiện tốt qui hoạch hoạt động các hoạt động sản xuất, kinh doanh
+ Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh
Lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch BVMT theo đúng các qui định trong giấy phép đăng ký kinh doanh và báo cáo ĐTM hoặc bản cam kết BVMT được duyệt
c Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách
Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, ban hành các chính sách khuyến khích hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh và BVMT: quản lý chất thải, cải thiện môi trường dân sinh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng sử dụng tiết kiệm và ít phát thải chất thải v.v
Sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí chi cho công tác quản lý và BVMT
Trang 32Nghiên cứu sử dụng một phần kinh phí thu được từ các nguồn thu phí nước thải, phí BVMT cho việc hợp đồng cán bộ quản lý tài nguyên môi trường các cấp, nhất là cấp huyện và cấp xã
Hỗ trợ nhân dân các khu vực bị ÔNMT nghiêm trọng tái định cư, di chuyển
ra ngoài khu vực cách ly, chuyển đổi ngành nghề phù hợp, ổn định cuộc sống lâu dài Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư thực hiện và cung cấp dịch vụ BVMT, ngăn ngừa suy thoái tài nguyên thiên nhiên
d Nhóm giải pháp về khoa học và công nghệ
Đẩy mạnh chương trình nghiên cứu, thu thập thông tin, lập cơ sở dữ liệu về môi trường, đánh giá biến động môi trường và cảnh báo tai biến thiên nhiên và môi trường; Đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác (nước mặt, nước ngầm, rừng, đất đai, môi trường v.v) làm cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội
Đầu tư thích đáng xây dựng lực lượng khoa học và kỹ thuật có chuyên môn cao kết hợp năng lực quản lý tổng hợp theo hướng PTBV trong các ngành kinh tế, đặc biệt lưu ý lực lượng cán bộ chuyên môn trong công tác lập quy hoạch, kế hoạch
và thẩm định, quản lý dự án phát triển
Đối với các doanh nghiệp phải ứng dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, giảm tỷ lệ tổn thất tài nguyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, xử lý
và tái chế chất thải v.v
e Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về qui định pháp luật trong công tác BVMT tại các cấp, các ngành và các đơn vị hoạt
động sản xuất kinh doanh
1.3.2 Cơ sở lý thuyết công cụ kinh tế trong BVMT
a Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
Giữa môi trường tự nhiên với sự sống của con người luôn có mối quan hệ tương tác hai chiều Trong đó các yếu tố của môi trường tự nhiên là tiền đề vật chất
Trang 33cần thiết và không thể thiếu được đối với cuộc sống của con người và sản xuất của
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất
Môi trường có khả năng làm giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Ngược lại, cuộc sống của con người và hoạt động sản xuất của xã hội luôn tác động mạnh mẽ tới môi trường Cùng với sự gia tăng dân số, sự phát triển của sản xuất, khối lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên (không khí, nước, các nguồn nguyên, nhiên liệu, năng lượng và các tài nguyên thiên nhiên khác), được khai thác
và sử dụng không ngừng tăng lên; khối lượng các chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp bị thải vào môi trường cũng tăng lên không ngừng
Cùng với thời gian, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm nhanh chóng, nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đã hoặc đang đứng trước nguy
cơ bị kiệt quệ; tình trạng ô nhiễm, và suy thoái môi trường do sự tác động từ phía con người đã và đang trở thành nguy cơ hết sức nghiêm trọng Để duy trì được sự tồn tại và phát triển của mình, loài người cần phải có các giải pháp tích cực trong quá trình đối xử với tự nhiên
Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao các điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người, thông qua quá trình sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến các quan hệ xã hội Phát triển là một xu thế tất yếu diễn ra trong mọi thời đại; trong quá trình phát triển, các hoạt động của xã hội loài người luôn gắn bó chặt chẽ với các đặc điểm, sự vận động và biến đổi của các yếu tố của môi trường tự nhiên
Trang 34Tác dộng của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi
là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng đồng thời khi hệ thống kinh tế xã hội phát triển ngày càng cao thì khai thác tài nguyên (tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo) từ hệ thống môi trường ngày càng nhiều, có thể dẫn đến ô nhiễm và suy thoái môi trường tự nhiên và nhân tạo
Loài người đang cố gắng tìm cách giải quyết mâu thuẫn này nghĩa là tìm con đường phát triển kinh tế xã hội mà vẫn duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế
hệ mai sau và bảo vệ được môi trường sống, đó là hướng tới sự PTBV của xã hội
Khái niệm PTBV được đề cập lần đầu tiên năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của uỷ ban môi trường của ngân hàng thế giới: PTBV là phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại và không làm tổn hại đến khả năng phát triển để thoã mãn nhu cầu của những thế hệ tương lai PTBV phải đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống Đó không chỉ là sự phát triển nền kinh tế văn hoá xã hội một cách vững chắc nhờ khoa học công nghệ tiên tiến, mà còn đảm bảo những điều kiện môi trường mà con người đang sống và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn định lâu dài
Hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại Rio De Janero vào năm
1992, đã thông qua các nguyên tắc PTBV:
Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
Cải thiện và nâng cao đến chất lượng cuộc sống của con người
Bảo vệ sức sống vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất
Thay đổi thái độ hành vi và xây dựng đạo đức mới vì PTBV
Tạo điều kiện để các cộng đồng tự quản lý về môi trường của mình
Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc PTBV
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, cùng với sự gia tăng khá nhanh của các hoạt động sản xuất, đặc biệt là gia tăng nhanh của sản xuất công nghiệp; dân số tăng lên nhanh cùng với sự gia tăng nhanh về lượng và
Trang 35chủng loại hàng hoá được tiêu dùng; khối lượng các chất thải độc hại không được
xử lý bị thải vào môi trường cũng tăng lên khá nhanh; điều đó đã tạo ra sức ép lớn đối với môi trường
BVMT được coi như một công đoạn kinh tế xã hội, tuy có gây tổn thương cho môi trường, nhưng lại mang về nguồn lực để giải quyết hậu quả gây ra Quan hệ
đó được thể hiện như sau:
và môi trường thường vượt quá khả năng tái sinh Tuy vậy, nếu mức tiêu dùng thường xuyên (Atb) và dân số (Ds) tăng gấp đôi thì công nghệ (Cngh)phải giảm tác động đến môi trường vì nó là nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm tới môi trường Xét
ở góc độ khác, nếu muốn giảm mức suy thoái môi trường thì trong điều kiện không xét đến sự gia tăng của dân số (Ds) và (Atb), người ta phải đặt biệt giảm mạnh đối tượng (Cngh) nhằm mục tiêu bảo vệ, giảm thiểu tác động đến môi trường Nếu có quá nhiều chất độc hại do sản xuất sinh ra thì sẽ làm huỷ hoại và làm giảm tài nguyên, cảnh quan tài nguyên môi trường Khả năng của công nghệ là rất lớn và tất nhiên phải cần đến sự quan tâm thích đáng Đây chính là nội dung bảo đảm phát
Trang 36triển công nghiệp bền vững, ở mức độ rộng hơn thì bao hàm cả "phát triển bền vững" cho toàn bộ nền kinh tế
b Nguyên tắc ai gây ô nhiễm người đó phải trả tiền
Nguyên tăc này đòi hỏi người gây ô nhiễm phải chi trả những chi phí cho việc khống chế ô nhiễm và làm sạch, hoặc bồi thường thiệt hại cho các công dân phải chịu ô nhiễm Về thực chất, đây là sự kết hợp biện pháp quản lý với biện pháp kinh tế, nhằm giải quyết những mâu thuẫn và những kiện cáo thường xảy ra giữa người gây ô nhiễm và người chịu ô nhiễm Nguyên tắc trên cần thực hiện phối hợp với nguyên tắc người sử dụng trả tiền, với nội dung là người nào sử dụng các TPMT thì phải trả tiền cho việc sử dụng và các tác động tiêu cực đến môi trường do việc sử dụng đó gây ra
c Sức chịu tải chất thải của môi trường
Chất thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng được đưa trở lại môi trường Tại đây, hoạt động của vi sinh vật và các TPMT sẽ chuyển chất thải trở thành các dạng ban đầu trong một chu trình sinh địa hoá phức tạp Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải của môi trường là có giới hạn Khi lượng chất thải vượt quá giới hạn tiếp nhận và phân huỷ chất thải, thì chất lượng môi trường sẽ bị suy giảm, môi trường có thể bị ô nhiễm
Có thể phân loại chức năng này thành:
Chức năng biến đổi lý hoá: pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng mặt trời, sự tách chiết các vật thải và độc tố của các TPMT
Chức năng biến đổi sinh hoá: sự hấp thụ các chất dư thừa, sự tuần hoàn của chu trình cacbon, chu trình nitơ, phân huỷ chất thải nhờ vi khuẩn, vi sinh vật
Chức năng biến đổi sinh học: khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, v.v
Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ một số điều kiện môi trường đặc biệt: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy và
Trang 37các khí khác tương đối ổn định, cân bằng nước ở các đại dương và trong đất liền Tất cả các điều kiện đó cho đến nay chưa tìm thấy trên một hành tinh nào khác trong và ngoài hệ mặt trời Những điều đó xẩy ra trên trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần của môi trường trái đất như khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển
1.3.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý, BVMT và điều kiện áp dụng
a Khái niệm bảo vệ và quản lý môi trường
BVMT là các hoạt động gìn giữ cho môi trường sống trong lành, sạch đẹp, ngăn chặn những tác động tiêu cực tới môi trường, từng bước cải thiện chất lượng môi trường sống, bảo đảm cân bằng sinh thái, khắc phục các hậu quả xấu cho con người và thiên nhiên, khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên Bảo vệ và QLMT là bộ phận quan trọng trong cấu thành và là cơ sở của sự PTBV
Tại điều 6 của Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam ghi rõ: “BVMT là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm BVMT, thi hành pháp luật về BVMT, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BVMT”
QLMT là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều
chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới PTBV và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên QLMT được thực hiện trên cơ sở sử dụng tổng hợp các biện pháp: pháp luật, chính sách, kinh tế – kỹ thuật, công nghệ, văn hóa - giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ
Các biện pháp bảo vệ và QLMT đòi hỏi phải được sử dụng một cách đồng bộ, đan xen và phối hợp với nhau, tùy theo từng điều kiện cụ thể được đặt ra Việc QLMT phải được thực hiện ở mọi cấp, mọi khu vực; trên toàn cầu, ở mọi quốc gia, mọi địa phương và ở tất cả mọi cơ sở sản xuất kinh doanh Mục tiêu cơ bản của công tác bảo vệ và QLMT ở nước ta hiện nay là: ngăn ngừa ÔNMT, phục hồi các thành phần của môi trường đã bị suy thoái, từng bước cải thiện và nâng cao chất
Trang 38lượng môi trường ở các đô thị, khu công nghiệp; góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân
Hoạt động bảo vệ và QLMT là một trong những hoạt động quan trọng của xã hội loài người, nhằm duy trì và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo đáp ứng các nhu cầu phát triển của xã hội Nhà nước với tư cách đại diện cho lợi ích chung của toàn xã hội, thực hiện chức năng và quyền lực để biến đường lối, chính sách của mình thành hiện thực thông qua việc hình thành một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý (cơ cấu kinh tế xã hội và hệ thống tổ chức QLMT); một cơ chế
sử dụng nguồn nhân lực hữu hiệu, với các phương pháp, hình thức, giải pháp quản
lý thích hợp (các công cụ quản lý, chính sách quản lý, các giải pháp quản lý v.v )
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số công cụ tài chính quan trọng - bộ phận chủ yếu của công cụ kinh tế, cần được áp dụng trong lĩnh vực hoạt động bảo vệ và QLMT ở Việt Nam hiện nay
Các công cụ tài chính, bộ phận chủ yếu và đóng vai trò then chốt trong nhóm các công cụ kinh tế, là những khuyến khích về mặt tài chính xây dựng trên cơ sở
Trang 39các quy luật thị trường và cơ chế giá, nhằm làm cho những chủ thể gây ô nhiễm tự nguyện thực hiện các hoạt động có lợi hơn cho môi trường
Mục đích cơ bản của các công cụ tài chính là đảm bảo định giá thích hợp đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng và phân bổ các nguồn lực trong tự nhiên Nếu tài nguyên được định giá chính xác thì hàng hoá
và dịch vụ môi trường sẽ đóng vai trò ngang bằng với các yếu tố sản xuất khác trong hoạt động trao đổi, buôn bán trên thị trường Đồng thời, việc phân bổ các yếu
tố sản xuất một cách hợp lý hơn và tiết kiệm cũng được đảm bảo Tuy nhiên hàng hoá và dịch vụ môi trường thường không bán được và việc định giá trực tiếp chúng thường rất phức tạp Vì vậy, biện pháp hữu hiệu thay thế là cân bằng các chi phí về bảo vệ tài nguyên môi trường thông qua việc định giá trên một đơn vị ô nhiễm hoặc giảm thiểu mức ô nhiễm do việc sử dụng tài nguyên gây ra Đó chính là biện pháp QLMT bằng công cụ tài chính
Vai trò của công cụ tài chính này thể hiện:
Thứ nhất, khả năng tiết kiệm chi phí là đặc điểm chủ yếu của các công cụ tài chính Phần lớn các công cụ này có khả năng kích thích những người gây ô nhiễm thực hiện các mục tiêu môi trường bằng các phương tiện, chi phí hiệu quả nhất
Thứ hai, các công cụ tài chính có vai trò điều chỉnh kinh tế vĩ mô mạnh mẽ, hoặc theo hướng tích cực, nhưng cũng có thể tác dụng ngược lại với mong muôn ban đầu
Thứ ba, các công cụ tài chính còn góp phần nâng cao thu nhập công cộng Đối với chính phủ, chúng cung cấp một nguồn thu nhập để hỗ trợ cho các chương trình chống ô nhiễm hoặc đầu tư cho các dịch vụ, hàng hoá liên quan đến môi trường như: quản lý hành chính, các thiết bị xử lý hay hệ thống kiểm soát môi trường Đồi với những người gây ô nhiễm, đó cũng là khoản thu nhập do không phải nộp phí trong trường hợp họ thực hiện được các biện pháp tránh gây ô nhiễm
Thứ tư, kích thích sự phát triển công nghệ mới và tăng cường chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm trong khu vực tư nhân, khuyến khích công tác nghiên cứu và phát triển “sản xuất sạch”
Trang 40Thứ năm, chúng cung cấp tính linh động trong các công nghệ kiểm soát ô nhiễm Đối với các cơ quan có thẩm quyền, việc thay đổi hay điều chỉnh mức phí, lệ phí, thuế sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn so với việc sửa đổi luật lệ Đồng thời vẫn đảm bảo người gây ô nhiễm được quyền tự do lựa chọn phương tiện thực hiện TCMT trong phạm vi tài chính cho phép
Các công cụ tài chính có thể được sử dụng đơn lẻ, ví dụ trong trường hợp sử dụng hệ thống ký quỹ hoàn trả hay thu phí đối với người tiêu dùng trong công tác thu gom chất thải Tuy nhiên, thực tế cho thấy không chỉ đơn phương sử dụng công
cụ kinh tế trong quản lý chất lượng môi trường và giám sát ô nhiễm, mà cần có dự phối hợp với các loại công cụ khác:
Thứ nhất, có thể kết hợp giữa một công cụ tài chính với công cụ pháp lý (quy định và chế định) Ví dụ như sự kết hợp phí không tuân thủ (non-compliance fees)
và công cụ pháp lý Phí không tuân thủ được đánh vào những người gây ô nhiễm khi họ xả thải vượt quá mức quy định Khi các công cụ pháp lý là phương pháp chủ yếu để ngăn chặn ô nhiễm, thì nói chung, việc buộc thực thi là chủ yếu; vì các khoản phạt đối với những vi phạm là khá thấp, tới mức những người gây ô nhiễm vẫn có lợi khi vi phạm pháp luật Để tránh sự kiện tụng mất thì giờ, tốt hơn là nên
sử dụng phí không tuân thủ thay vì khởi tố hình sự trong việc không tuân thủ các quy định Các khoản phạt không tuân thủ cần phải gắn với vi phạm và thời hạn của
sự vi phạm và phải lớn hơn các chi phí ước tính để nguồn ô nhiễm đáp ứng được yêu cầu của các quy định
Thứ hai, các công cụ tài chính có thể thi hành trước khi sửa đổi luật lệ hay ban hành luật mới Các chế định pháp lý thường phải cần thời gian nhất định để đưa
ra hay sửa đổi, cũng như để các chủ thể tiếp cận và ứng dụng Các biện pháp tài chính tạm thời có thể góp phần đẩy nhanh việc tuân thủ các chế định trước khi chúng được thực thi
Thứ ba, việc kết hợp hai công cụ kinh tế có thể đem lại hiệu quả Ví dụ, như kết hợp hệ thống ký quỹ hoàn trả và phí sản phẩm đánh vào các thành phần không hoàn lại Hay công cụ tăng giảm thuế sử dụng kết hợp hai loại phụ thu, cộng vào