2. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt N[r]
Trang 1BÀI VIẾT VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO
.Thật hạnh phúc khi bạn được sinh ra là con người Việt Nam, tôi cũng như các bạn đượcsinh ra là con cháu rồng tiên, tôi tự hào về điều đo, tự hào vì được sinh ra trên mảnh đấtanh hùng và bất khuất, nơi có những anh hùng không bao giờ chết trong lòng tất cả đồng bào, nhân dân Việt nam, và hạnh phuc hơn khi tôi được sinh ra trên mảnh đất nổi tiếng về tinh thần đoàn kết, anh dũng trong chiến đấu trong những năm xưa và sự hiếu học từ trước tới nay, hẳn các bạn đã biết tôi sinh ra từ đâu rồi đúng không?Đó là mảnh đất Hà Tĩnh quê hương của Bác Hồ, Nguyễn Du, Phan Đình Giót, La Thị Tám và rất nhiều tấm gương khác nữa, tôi không thể kể hết cùng các bạn được, Hà Tĩnh là một tỉnh
miền trung nghèo về vật chất nhưng không nghèo về tinh thần đoàn kết và sự hiếu học
Nhưng thật hạnh phúc khi tôi được sinh trên mảnh đất Hương Khê mảnh đất theo địa lý (hay là đường chim bay)là một trong những huyện gần Lào nhất trong tất cả các huyện, tỉnh của đất nước Việt Nam, Hương Khê - một mảnh đất sông núi hữu tình nằm gọn giữa lòng của mảnh đất đắc địa sông linh núi tú mà từ xưa đã có câu: "Đất Hà Tĩnh nơi anh linh kết tụ, Nơi khí thiêng bàng bạc tự ngàn xưa"
- Huyện Hương Khê nằm ở phía tây nam tỉnh Hà Tĩnh Phía tây nam giáp nước
CHDCHD Lào, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây bắc giáp huyện Vũ Quang, Phía đông giáp huyện Can Lộc, phía đông và đông nam giáp huyện Thạch Hà và Can Lộc
- Địa hình nhiều đồi núi, núi Rào Cỏ (2.235 m) Sông Ngàn Trươi chảy xuống đổ vào sông Ngàn Sâu Đất phần lớn là feralit núi Khoáng sản: than đá
cả trong cùng một chiến hào và một chiến trường, cùng sống cùng chết, sướng vui có nhau trên tinh thần: “Hạt gạo cắn đôi, cuộng rau bẻ nửa”, trở thành liên minh chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam thành lập, là tiền thân của Đảng Nhân dân cách mạng Lào
và Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay Từ đó mối quan hệ, tình đoàn kết thương yêu nhau giữa Lào - Việt Nam càng gắn bó và trong sáng, như 4 câu thơ bất hủ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh:
“Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
Việt - Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long”
Chủ tịch Cay xỏn Phôm vi hản cũng đánh giá: “Suốt trong thời gian đấu tranh vừa quakhông kể trường hợp nào, hai anh em Lào - Việt Nam cũng sống chết bên nhau mốiquan hệ giữa chúng ta là mối quan hệ đặc biệt Trong tâm trí của mọi người Lào ai cũngbiết ơn cách mạng Việt Nam”
Trang 2Sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng Điện Biên Phủ, buộc bọn thực dânkiểu cũ phải ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, năm 1954,tiếp đó Chính phủ Lào và Chính phủ Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 5-9-1962, tạo điều kiện cho Việt Nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa anh em trướcđây ủng hộ và giúp đỡ nhiều hơn trong cuộc đấu tranh đúng đắn và chính nghĩa của Mặttrận yêu nước Lào, nhân dân Lào.
Bọn thực dân kiểu mới vào thay và phá hoại Hiệp định Giơnevơ để đàn áp phong tràocách mạng của 3 nước Đông Dương, nhưng do truyền thống đấu tranh kiên quyết vàkhông khuất phục, Quân đội và nhân dân Lào - Việt Nam đã cùng nhau đấu tranh vàcùng nhau giành thắng lợi, tiến tới giải phóng hoàn toàn đất nước của mình năm 1975.Sau khi hai nước Lào - Việt Nam thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào vàCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhândân hai nước không ngừng phát triển và càng ngày càng có hiệu quả, nhất là từ khi hainước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ngày 18-7-1977 tại thủ đô Viêng Chăn, là cơ sởpháp lý và có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử, trong việc củng cố và tăng cường mốiquan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhànước và nhân dân hai nước ở giai đoạn mới
Trong thời gian 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, 30 năm ký Hiệp ước hữu nghị vàhợp tác giữa Lào - Việt Nam, mối quan hệ hữu nghị và sự hợp tác giữa hai nước khôngngừng phát triển, thể hiện ở các mặt sau đây:
+ Quan hệ chính trị: Cuối thập niên 1950, Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng tuyếnđường qua biên giới với Lào để vận chuyển nhân lực và vật lực từ miền Bắc vào miềnNam, còn gọi là đường mòn Hồ Chí Minh Trong chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan từtháng 12 năm 1987 đến tháng 2 năm 1988, Việt Nam có trợ giúp cho quốc gia đồngminh của mình, gửi quân từ Sư đoàn Bộ binh Việt Nam 2 đến sân bay Baan Nakok tạiXayabury để hỗ trợ các chiến dịch quân sự của Lào.Tháng 7 năm 1992, mối quan hệgiữa Việt Nam và Lào lại được củng cố nhân dịp kỷ niệm 15 năm thực hiện hiệp ướcnăm 1977.Lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước hai nước thăm viếng gặp gỡ nhau, cácđoàn đại biểu, các tổ chức của Đảng, của quần chúng, các Bộ, các ngành và các địaphương của hai nước cũng gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm, trao đổi thông tin, rút kinhnghiệm và ký văn bản hợp tác giúp đỡ lẫn nhau hàng năm ngày càng thường xuyên Điđôi với những việc đó, hai bên còn tiến hành gặp gỡ hữu nghị để trao đổi kinh nghiệm,tạo điều kiện hiểu biết và thân thiết với nhau hơn; kể cả các đơn vị kinh tế kinh doanhcũng hợp tác với nhau và từng bước có kết quả
+ Quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư:
Quan hệ hợp tác về kinh tế có bước chuyển biến, phát triển về chiều sâu và nhiềuchương trình hợp tác đã có kết quả cụ thể, kể cả ở Trung ương và địa phương Dù rằngViệt Nam gặp khó khăn nhưng vẫn giúp đỡ nhân dân Lào với tinh thần quốc tế trongsáng và thuỷ chung Hàng năm, Chính phủ Việt Nam đã viện trợ không hoàn lại giúpcho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Lào Điều đó thể hiện truyền thốngđoàn kết thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau như câu nói “hạt gạo cắn đôi, cuộng rau bẻnửa” Hiện nay hai bên đều cố gắng thúc đẩy một cách tích cực và mở rộng hợp tác vềkinh tế, thương mại và đầu tư nhiều hơn cho xứng với quan hệ chính trị và xây dựngcho hai nước từng bước vững mạnh
Trang 3- Chính phủ hai nước đã có kế hoạch chiến lược dài hạn về hợp tác và hội nhập pháttriển ở những vùng giáp giới giữa hai nước giúp cho mỗi bên khai thác được khả năng
và thế mạnh của mình tốt hơn, kể cả phát triển khu vực tam giác kinh tế Lào - Việt Nam
và Campchia
- Về thương mại, cũng có bước phát triển tốt hơn Hai bên đã tổ chức triển khai chínhsách giảm thuế nhập 50% và giảm tới 0% đối với một số mặt hàng sản xuất ở mỗi nước
Về trao đổi thương mại hai chiều năm 2006, đạt 260 triệu đô la Đồng thời hai bên còn
cố gắng phấn đấu làm cho kim ngạch buôn bán giữa hai nước đạt được 1 tỷ đô la Mỹvào năm 2010 và 2 tỷ đô la Mỹ năm 2015
- Về đầu tư trực tiếp của Việt Nam ở Lào càng ngày càng tăng lên Kể từ đầu năm đếntháng 5-2007, giá trị đầu tư đạt hơn 500 triệu USD, xếp thứ 3 trong số các nước đầu tưvào Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Nổi bật là chương trình trồng cây cao su, trồngcây công nghiệp, xây dựng thuỷ điện, đầu tư khảo sát khoáng sản để chế biến nhập vàoViệt Nam và xuất sang nước thứ ba Tất cả những việc làm đó đã tạo điều kiện và mở ranhiều cơ hội cho hai nước hội nhập về kinh tế với các nước trong khu vực và trên thếgiới
+ Hợp tác về bảo vệ quốc phòng và an ninh:
- Các cơ quan hữu quan của hai bên từ Trung ương đến địa phương tăng cường đi thăm,trao đổi kinh nghiệm, ký hiệp định hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, nhất là việc xây dựng lựclượng, trao đổi thông tin thường xuyên và kịp thời, hợp tác với nhau phát triển vùngbiên giới, hợp tác ngăn chặn hoạt động của bọn phản động, bọn người xấu gây mất anninh, ảnh hưởng tới hoà bình và hòng phá hoại mối quan hệ Lào - Việt Nam Đặc biệtphải kể đến việc ngăn chặn buôn bán hàng lậu, bán thuốc phiện qua biên giới trái phápluật, góp phần giữ gìn cuộc sống yên lành và trật tự ở khu vực biên giới, xây dựng biêngiới hoà bình, hữu nghị và hợp tác để phát triển
+ Hợp tác về giáo dục và văn hoá:
- Hợp tác về giáo dục và văn hoá thu được kết quả và có bước tiến bộ hơn cả Hai bên
đã coi việc đào tạo sinh viên và bổ túc cán bộ là ưu tiên trong việc phát triển đất nước
để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi khẩn trương đưa đất nước tiến lên công nghiệp hiện đạitrong tình hình hội nhập thế giới Chính phủ Việt Nam đã giúp đỡ đào tạo và huấn luyệnnâng cao trình độ cho sinh viên và cán bộ của Lào rất nhiều Đây thực sự là vốn quý vềtài nguyên con người và là lực lượng quan trọng cho việc giữ gìn xây dựng và phát triểnđất nước Lào Hiện nay, số sinh viên, nghiên cứu sinh và cán bộ Lào sang học dài hạn
và bổ túc ngắn hạn ở các trường Đại học và Học viện của Việt Nam càng ngày càngtăng lên, kể cả nhận sinh viên Lào sang học tự túc Tổng cộng có 2.368 người vừa nhậnđược học bổng của Nhà nước Việt Nam, vừa học tự túc Phía Lào, trong năm học 2006 -
2007 cũng nhận 379 học sinh Việt Nam sang học tại trường Đại học quốc gia Lào.Ngoài ra, Việt Nam còn giúp đỡ Lào xây dựng trường dân tộc nội trú ở 4 tỉnh, xây dựngtrường năng khiếu và bổ túc cho học sinh dân tộc để chuẩn bị cho các em vào học đạihọc quốc gia Viêng Chăn; giúp đỡ xây dựng bảo tàng Cay xỏn Phôm vi hản
- Hợp tác về văn hoá cũng phát triển Hai bên đã trao đổi thường xuyên các đoàn văncông, nhất là vào dịp kỷ niệm những ngày quan trọng của hai nước, kể cả thể dục thểthao, giúp nhau giữ gìn bản sắc dân tộc và học tập được văn hoá thời đại mới; giúp nhauchống dịch bệnh, nhất là phòng, chống sốt xuất huyết, bệnh cúm gia cầm Một số đoàn
Trang 4bác sĩ tình nguyện Việt Nam đã sang khám và chữa bệnh cho nhân dân Lào ở thủ đôViêng Chăn và các tỉnh khác.
+ Hợp tác về đối ngoại:
- Việc hợp tác về đối ngoại song phương giữa Lào - Việt Nam và đa phương trên cácdiễn đàn khu vực và quốc tế càng ngày càng tích cực, chủ động và có kết quả hơn.Trong giai đoạn mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới, hai bên đã thúc đẩy khuyến khích,giúp đỡ lẫn nhau hoạt động ngoại giao, đặc biệt là trong khuôn khổ ASEAN, ACMECS,hợp tác với các nước trong khu vực sông Mê Kông (GMS), các nước nói tiếng Pháp ,
đã góp phần vào sự nghiệp giữ gìn hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực vàtrên thế giới
Vì vậy, kỷ niệm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Lào - Việt Nam tròn 45 năm và ngày
ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác tròn 30 năm là có ý nghĩa rất sâu sắc Hai bên đã tổchức nhiều hình thức để kỷ niệm, như: tổ chức mít tinh ở thủ đô Viêng Chăn và thủ đô
Hà Nội, có đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước sang dự kỷ niệm ở hai nước, tổchức triển lãm ảnh về quan hệ Lào - Việt Nam, gặp gỡ hữu nghị giữa nhân dân hai nướcLào - Việt Nam ở thủ đô Viêng Chăn, tổ chức tuần văn hoá, trao đổi các đoàn văncông
Trong thời gian qua, mặc dù tình hình thế giới diễn biến phức tạp và nhanh chóng,nhưng quan hệ Lào - Việt Nam vẫn chặt chẽ thân thiết, thuỷ chung trong sáng, ngàycàng phát triển sinh động với chất lượng mới trong mọi lĩnh vực, góp phần quan trọngvào sự nghiệp giữ gìn và xây dựng phát triển đất nước cũng như sự nghiệp hoà bình, ổnđịnh và hợp tác phát triển ở khu vực và trên thế giới
- Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào luôn khẳng định, sẽ hợp tác với Đảng, Nhà nước vànhân dân Việt Nam anh em, ra sức giữ gìn và sẽ làm hết sức mình trong việc củng cố,tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp táctoàn diện, mãi xanh tươi và nâng lên một tầm cao mới phù hợp với đường lối đổi mớicủa hai nước
- Phía Lào sẽ cố gắng thúc đẩy quan hệ hợp tác về kinh tế - văn hoá cho kết quả cụ thểnhiều hơn để tương xứng với hợp tác tốt về chính trị và phát huy mối quan hệ chính trịtạo cơ sở lâu dài, vững chắc thêm nữa
- Tiếp tục tăng cường và khuyến khích trao đổi đoàn đại biểu để trao đổi kinh nghiệm
và hợp tác trực tiếp giúp đỡ nhau giữa các Bộ, ngành, địa phương, Mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức quần chúng của hai nước có hiệu quả và sát thực tế, tạo điều kiện thuận lợigiúp nhau hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
- Tiếp tục thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế của Việt Namsang đầu tư ở Lào để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá
Kỷ niệm hai ngày lịch sử có ý nghĩa quan trọng vừa nói trên càng cho thấy quan hệ hữunghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Lào -Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch
Cay xỏn Phôm vi hản xây dựng nên và nâng niu, lại được nhân dân hai nước vun đắpphát triển tốt đẹp trong suốt thời gian qua, đã trở thành quy luật tồn tại và phát triển của
cả hai nước, là mẫu mực hiếm có trong quan hệ quốc tế và là di sản quý báu cho các thế
hệ con cháu của Lào và Việt Nam kế tục, thấy được nhiệm vụ, trách nhiệm của mìnhtiếp tục giữ gìn mối quan hệ này cho tươi đẹp mãi mãi
Trang 5Quan hệ Việt Nam - Lào là mối quan hệ lâu bền từ trước tới nay giữa Việt Nam và Lào.Mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào đã được Đảng Nhân dân Cách mạng Lào coi làchiến lược trong suốt cuộc đấu tranh giành quyền lực.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao với vương quốcLào ngày 5 tháng 9 năm 1962
Năm 1976, Việt Nam và Lào đã ký hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khoahọc và kỹ thuật, tiếp sau đó là kí hiệp ước 25 năm hữu nghị và hợp tác vào năm 1977,
và Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia., và hiệp ước này cũng gây nên sự căngthẳng trong quan hệ giữa Lào và Trung Quốc Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai nước kýkết một nghị định thư về phân định biên giới và cắm mốc Hai quốc gia dự kiến hoànthành cắm mốc biên giới vào năm 2012
Việt Nam và Lào là 2 quốc gia có mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, gắn bó thuỷ chung, doChủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay xỏn Phôm vi hản sáng lập và vun đắp nên
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng anh em thân thiết, có mối quan hệ hữu nghịtruyền thống từ lâu đời Mối quan hệ đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phôm vi hản, các thế hệ lãnh đạo cùng cán bộ và nhân dân hai nước dày công vunđắp, trở thành tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt, thuỷ chung, trong sáng Đây là niềm tựhào, là tài sản vô giá, là sức mạnh to lớn của cả hai dân tộc trong sự nghiệp đấu tranhgiải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc củamỗi nước
Có thể nói, trên thế giới từ trước đến nay, hiếm có các quốc gia nào có mối quan hệ đặcbiệt như Việt Nam - Lào Trong các cuộc kháng chiến trước đây, Việt Nam và Lào đãcùng kề vai sát cánh chiến đấu chống kẻ thù chung Đảng Nhân dân Cách mạng Làocùng nhân dân các bộ tộc Lào đã hết lòng, hết sức ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩachống đế quốc xâm lược, bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam Đảng Cộng sản ViệtNam và nhân dân Việt Nam cũng đã dành cho Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cùngnhân dân các bộ tộc Lào anh em sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn; nhiều chuyên gia, chiến sĩquân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu ngay trên đất bạn Lào Việt Nam vàLào luôn kề vai sát cánh trong đấu tranh gian khổ, cùng nhau giành hết thắng lợi nàyđến thắng lợi khác, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn năm 1975, giành lại độc lập, tự docho mỗi nước, làm nên bản anh hùng ca của hai dân tộc trong thế kỷ XX
Tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của cả hai dân tộc, việc thiết lập quan hệ ngoạigiao giữa hai nước (ngày 5-9-1962) và tiếp theo là ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tácViệt Nam - Lào (ngày 18-7-1977) là những mốc lịch sử trọng đại, là cơ sở chính trị vàpháp lý, góp phần quan trọng vào việc đưa mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt
và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước lên tầm caomới, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, vì lợi ích củanhân dân mỗi nước, vì ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thếgiới
Mối quan hệ hữu nghị và hợp tác Vừa nói trên cho nhũng kết quả gì?
Trong những năm qua và đặc biệt trong những năm đổi mới gần đây, quan hệ hữu nghị
và hợp tác giữa Việt Nam - Lào ngày càng được củng cố và phát triển trên tất cả cáclĩnh vực, góp phần làm nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của mỗi nước sau
20 năm thực hiện công cuộc đổi mới Hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước từ
Trang 6Trung ương tới địa phương ngày càng tăng cường và tổ chức thường xuyên các chuyếnthăm cấp cao, các chương trình hợp tác, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, góp phần quantrọng thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới Cụ thể: Thương mạisong phương giữa hai nước tăng bình quân 40%/năm; trong chương trình hợp tác, haibên đang cố gắng phấn đấu đưa tổng kim ngạch thương mại hai chiều lên mức 1 tỷ USDvào năm 2010 và 2 tỷ USD vào năm 2015.
Hiện nay, Việt Nam là nước đứng thứ ba trong danh sách các nước đầu tư nhiều vàoLào, với hơn 100 dự án, trong đó hơn 70 dự án đầu tư được cấp phép, trị giá trên 500triệu USD Tiêu biểu như dự án trị giá 273 triệu USD về xây dựng nhà máy thuỷ điệnXecamản 3, với công suất 250 MW, ở tỉnh Xê-koong; dự án trồng cây cao su của Tậpđoàn công nghiệp cao su Việt Nam và Công ty cao su Đaklak ở Nam Lào; dự án thăm
dò, khảo sát muối kali tại huyện Noỏng-bốc thuộc tỉnh Khăm-muộn (Trung Lào) Vềphía Lào, hiện có 8 dự án đầu tư tại Việt Nam, với tổng vốn là 16 triệu USD
Ngoài các dự án hợp tác về kinh tế, hai bên còn tăng cường quan hệ hợp tác trên nhiềulĩnh vực khác nhau: văn hoá, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, phát triển nguồnnhân lực, y tế, thể dục thể thao, phát triển du lịch, an ninh quốc phòng theo tinh thầnhợp tác hữu nghị, bình đẳng và cùng có lợi
Hội Hữu nghị Việt Nam – Lào đã có kết quả hoạt động ra sao?
Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào được thành lập ngày 15-1-1975 Hơn 30 năm qua, Hội đãkhông ngừng được củng cố về tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động; góp phầnquan trọng vào việc củng cố và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa haiĐảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước
Hiện nay, ngoài Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào ở cấp Trung ương, ở nhiều tỉnh, thànhphố, nhất là các tỉnh có chung biên giới với nước bạn Lào đều có tổ chức Hội hoạtđộng Nhìn chung, hình thức hoạt động của các cấp Hội ngày một phong phú, đa dạng.Thông qua việc tổ chức nói chuyện, hội thảo theo chuyên đề; biểu diễn văn hoá - vănnghệ; triển lãm ảnh về đề tài chiến tranh cách mạng, về công cuộc đổi mới đất nước; tổchức các đoàn đi thăm quan, giao lưu văn hoá; các cuộc thi tìm hiểu hoặc thi sáng tácvăn học về đất nước, con người của hai nước, nhất là cuộc thi “Những kỷ niệm sâu sắccủa tình hữu nghị Việt Nam - Lào” (năm 1997), thi tìm hiểu “Việt - Lào trong trái timtôi” (năm 2002) thu hút hàng triệu lượt người thuộc các tầng lớp nhân dân, trong đó cónhiều cựu chuyên gia, tình nguyện quân đã từng công tác, chiến đấu tại nước bạn Làotham gia Các cấp Hội đã tăng cường tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân, nhất làthế hệ trẻ về tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, haiNhà nước và nhân dân hai nước
Trong những năm qua, nhất là những năm gần đây, Hội đã tích cực tham gia vận độngcác cấp, các ngành, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các tầng lớp nhân dân thựchiện chương trình hợp tác toàn diện, nhất là hợp tác về kinh tế, văn hóa, giáo dục giữahai nước; tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị giữaViệt Nam và Lào; tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm hoạt động với Hội hữu nghịLào - Việt ở Trung ương và nhiều địa phương Hội thường xuyên tổ chức các hoạt động
kỷ niệm các sự kiện chính trị, văn hóa lớn của Lào với nhiều hình thức phong phú; phốihợp tổ chức các cuộc liên hoan hữu nghị giữa nhân dân hai nước, nhất là Liên hoan hữunghị nhân dân biên giới Việt - Lào (năm 2002) tại Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, HàTĩnh và Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt-Lào lần thứ nhất (năm 2005) tại Nghệ An
Trang 7Kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, 30 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị
và hợp tác Việt Nam - Lào, các cấp Hội tổ chức và tham gia tổ chức nhiều hoạt độngphong phú, thiết thực Đặc biệt, Hội đã cùng với Liên hiệp các tổ chức hữu nghị ViệtNam phối hợp với Hội Hữu nghị Lào - Việt Nam tổ chức Liên hoan hữu nghị nhân dânViệt - Lào lần thứ 2 tại nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, từ ngày 15 đến 21-7-
2007, với nhiều nội dung phong phú Liên hoan đã thành công tốt đẹp, để lại nhiều tìnhcảm sâu sắc Đây là dịp để đoàn đại biểu nhân dân hai nước cùng nhau ôn lại truyềnthống lịch sử vẻ vang đoàn kết, hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào, đồngthời, bày tỏ quyết tâm cùng nhau gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu đó
Hãy nói đôi điều mối quan hệ hoạt động hữu nghị giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vớiMặt trận Lào xây dựng đất nước?
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây
dựng và không ngừng củng cố mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùngphát triển với Mặt trận Lào xây dựng đất nước
Hàng năm, Mặt trận hai nước đều tổ chức đoàn đại biểu cấp cao sang thăm hữu nghị lẫnnhau để thông báo cho nhau về tình hình chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hộicủa mỗi nước, trao đổi về kinh nghiệm hoạt động, công tác Mặt trận và ký kết thoảthuận hợp tác giữa hai tổ chức Mặt trận Mặt trận hai nước cũng thường xuyên trao đổicác đoàn công tác cấp vụ và cấp chuyên viên của Mặt trận Trung ương, Mặt trận các địaphương để trao đổi kinh nghiệm công tác Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNam cũng đã giúp Mặt trận Lào xây dựng đất nước tổ chức một số lớp tập huấn về côngtác Mặt trận
Do hai nước Việt Nam và Lào cùng có những đặc điểm, điều kiện, quá trình đổi mớitương đối giống nhau nên việc trao đổi những kinh nghiệm về tập hợp, xây dựng khốiđại đoàn kết; về đẩy mạnh các các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước; vềphát huy dân chủ, tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước đều có ý nghĩa rất thiếtthực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác Mặt trận của cả hai nước
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp, có cả cơhội và thách thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Hữunghị Việt Nam - Lào sẽ làm hết sức mình, đóng góp xứng đáng vào việc không ngừngvun đắp, tăng cường và phát huy truyền thống đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam -Lào; vận động các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân đẩy mạnhthực hiện chương trình hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước, thực hiện thắnglợi công cuộc đổi mới, xây dựng hai nước Việt Nam, Lào ngày càng giàu mạnh, gópphần giữ vững ổn định, hoà bình trong khu vực và trên thế giới
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào luôn tự hào và tin tưởngtình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt, thuỷ chung, trong sáng Việt Nam - Lào mãi mãi xanhtươi, đời đời bền vững
Chưa có bao giờ được như hôm nay, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trước các toà đại sứ ViệtNam tại thủ đô của hơn 160 quốc gia trên thế giới có quan hệ ngoại giao chính thức vớiViệt Nam Đồng thời, cũng có hàng trăm lá cờ của các quốc gia kể trên phấp phới baytrước Đại sứ quán các nước này ở thủ đô Hà Nội Đó là nhờ có một nền ngoại giao ViệtNam rộng mở do Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh và dẫn đường Thủ đô Hà Nội đượcthế giới công nhận danh hiệu “Thành phố vì hoà bình” Đây là hệ quả tất yếu của nềnngoại giao nhân đạo, hoà bình và chính nghĩa của dân tộc Việt Nam
Trang 8Ngoại giao Việt Nam ngày nay còn được gọi là Ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, là sự
kế thừa và phát huy lên một đỉnh cao truyền thống ngoại giao thông minh, sáng tạo,nhân đạo, chính nghĩa của ông cha, được thực thi trên đất Thăng Long - Hà Nội ngànnăm văn hiến
Truyền thống ngoại giao Việt Nam được chính thức bắt đầu từ khi họ Khúc dấy nghiệphồi đầu thế kỷ thứ X, như nhà sử học Tatsurô Yamamoto, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâmKhoa học Nhật Bản đã viết trong công trình khoa học dày hơn 700 trang “Lịch sử quan
hệ quốc tế giữa Việt Nam và Trung Quốc từ thời họ Khúc dấy nghiệp tới chiến tranhTrung - Pháp” (giữa thế kỷ XIX)1 Trải qua các triều đại Khúc, Ngô, Đinh, Lý, Trần,
Lê, Tây Sơn…, các danh nhân đối ngoại: Khúc Thừa Dụ, Lê Văn Thịnh, Mạc Đĩnh Chi,Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… tất cả đã đem tàinăng ngoại giao ra làm rạng danh đất nước Các danh nhân đó “đã đánh bằng lưỡi, đãđánh bằng bút ” (cách nói của Phan Bội Châu) theo tinh thần “Đại nghĩa”, “Chí nhân”của dân tộc và đúng như anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã ca ngợi về Văn hoá ngoạigiao Việt Nam:
“Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn,Lấy chí nhân mà thay cường bạo”
Ngày nay, Việt Nam vẫn thực hiện nhất quán đường lối ngoại giao độc lập tự chủ, hoàbình, hợp tác và phát triển Nói cách khác, ngoại giao nhằm mục tiêu cao cả “Không có
gì quý hơn độc lập tự do” như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã khẳng định Vớitinh thần đoàn kết rộng rãi, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ngoại giaoViệt Nam không ngoài mục đích nhằm gìn giữ hoà bình, “tránh cho muôn triệu sinh linhcác dân tộc thoát khỏi nạn can qua” Các cuộc bang giao giữa các triều đại Đại Việt vớicác triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xưa, cũng như giữa Việt Nam vớiPháp, Mỹ vừa qua cũng đều với tinh thần như thế Nghị quyết của Đại hội X của Đảng
cụ thể hoá ra là:
“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và pháttriển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế.Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trêncác lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc
tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực
Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiệnquốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phầntích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội”2
Từ chỗ ban đầu chúng ta chỉ xây dựng được quan hệ quốc tế với các nước xã hội chủnghĩa và một số nước láng giềng, thì nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao và hợp tácvới nhiều nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên thế giới
Xưa quan hệ ngoại giao của chúng ta trọng về chính trị, quân sự thì nay phát triển ratoàn diện mà kinh tế được đặt lên hàng đầu Sau Cách mạng Tháng Tám, Trung ươngĐảng khẳng định “Muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”3 mà
“thực lực” cần biểu dương trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ là “quân sự” thì nay thựclực phải là kinh tế Công trình nghiên cứu “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 1950” của Bộ
Trang 9Ngoại giao xuất bản năm 2001 đã nhấn mạnh: “Phục vụ phát triển nhanh và vững chắcnền kinh tế đất nước là nhiệm vụ trung tâm của hoạt động đối ngoại và công tác ngoạigiao hiện nay”4.
Quan hệ quốc tế đa phương hoá, đa dạng hoá của Việt Nam nhằm nâng cao thực lựckinh tế đang được phát triển mạnh mẽ:
Sau khi gia nhập khối Đông Nam Á (ASEAN), năm 1994 Việt Nam trở thành thành viên sáng lập của Diễn đàn khu vực (ASEAN-ARF) Năm 1996, trở thành thành viên Diễn đàn Á - Âu (ASEM) Năm 1998, gia nhập Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Năm 1999, trở thành thành viên Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh (FEALAC) và nay chúng ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO)
Xoay quanh trục “Phục vụ phát triển kinh tế”, ngoại giao Việt Nam đã tăng cường hoạtđộng trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội, văn học, nghệ thuật, thể dụcthể thao thông qua cả hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoạigiao nhân dân Là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam tích cực hoạt động trong các
tổ chức như Hội đồng Kinh tế - Xã hội (ECOSOC), Hội đồng Chấp hành Quỹ của Liênhợp quốc dành cho trẻ em (UNICEF), Hội đồng Chấp hành của Chương trình phát triển(UNDP), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA)
Việt Nam có mặt rộng rãi trên trường quốc tế thì Hà Nội cũng “bay cao” như con rồngthời Lý: “Hào hùng nhưng không kiêu hãnh Giàu mạnh nhưng không xa hoa”
Hà Nội đã tổ chức thành công SEA GAME 22 và một số hội nghị quốc tế như: Hội nghịcấp cao các quốc gia sử dụng tiếng Pháp, Hội nghị cao cấp ASEAN và các nước đối tác,Hội nghị các thành viên Diễn đàn Á - Âu (ASEM), Hội nghị cấp cao APEC 14 Tất cả
đã diễn ra thành công và tuyệt đối an toàn, khiến Việt Nam đã giành được niềm tin củakhu vực và quốc tế
Nếu xưa Hà Nội luôn vang lên lời ca “Hà Nội - Bắc Kinh - Matxcơva” thì nay Hà Nộiđang sáng tác và vang ca các bài ca hữu nghị: Hà Nội - Viêng Chăn, Phnôm Pênh, BăngCốc, Singapo, Manila, Kualalumpua, Jacácta, Bắc Kinh, Tôkyô, Niu Đêli, Matxcơva,Béclin, Pari, Luân Đôn, Oasinhtơn
Văn Miếu - Quốc Tử Giám cổ kính, tượng đài Lý Thái Tổ uy nghiêm, sân vận động MỹĐình hiện đại, khu phố cổ Thăng Long - Hà Nội hấp dẫn gắn liền với Hồ Gươm - ThápRùa huyền thoại Tất cả đang cùng với nền ngoại giao Việt Nam - Hồ Chí Minh rộng
mở đưa “Hà Nội thăng hoa”
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀXÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tiếp theo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ:
“Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt:
hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”1
1 Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan trọng:nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước, nhà nước pháp quyền là giá trịphổ biến, là biểu hiện của trình độ phát triển dân chủ
Trang 10Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chứcnền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ, các giá trị phổbiến của nhà nước pháp quyền được trình bày dưới các dạng thức khác nhau bởi các nhà
lý luận, phụ thuộc vào lập trường chính trị - pháp lý và quan điểm học thuật của từngngười, cách trình bày có thể khác nhau, nhưng về thực chất đều nhấn mạnh các giá trịsau đây:
- Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ Như vậy dân chủ vừa
là bản chất của nhà nước pháp quyền; vừa là điều kiện, là tiền đề của việc xây dựng nhànước pháp quyền
- Bộ máy nhà nước pháp quyền được tổ chức và vận hành trên cơ sở các nguyên tắc tổchức quyền lực một cách dân chủ
- Một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, cơ quan xét xử chỉ tuân theo pháp luật với mộtchế độ tố tụng công khai, dân chủ
Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý nghĩanhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà nước phápquyền Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:
- Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xuất hiện nhà nướcpháp quyền Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản đang được xây dựng ởhầu hết các nước tư bản phát triển và đang phát triển
- Nhà nước pháp quyền với tính chất là cách thức tổ chức và vận hành của một chế độnhà nước và xã hội, không những được xây dựng ở chế độ tư bản mà còn được xâydựng ở chế độ xã hội chủ nghĩa Như vậy, trong nhận thức lý luận cũng như trong thựctiễn, có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nước pháp quyền còn bao hàm các giá trị đặc thù Tínhđặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố Các yếu tố này vềthực chất là rất đa dạng, phong phú và rất phức tạp, được xác định bởi các điều kiện lịch
sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý xã hội và môi trường địa lý của mỗi quốc gia dân tộc Với ýnghĩa này, nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mangtính đặc thù, vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc,quốc gia Do vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền như một mô hình chungthống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc Mỗi quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặcđiểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một
mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp
2 Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như mộttất yếu lịch sử và tất yếu khách quan
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam bắt nguồn từchính lịch sử xây dựng và phát triển của nhà nước ta Ngay từ khi thành lập và trongquá trình phát triển, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã và luôn là một nhà nướchợp hiến, hợp pháp Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định củaHiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Cácđạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và cácđạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 1946,Hiến pháp sửa đổi năm 1959, năm 1980 và năm 1992
Trang 11Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xuất phát từđịnh hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xãhội, nhằm xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh”2 Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tínhmục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thếtoàn cầu hoá, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
3 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiệnđược các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, vừa khẳng định được bản sắc đặcthù của riêng mình
Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa nói chung, trong đó có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nóiriêng, có thể khái quát trên các nét chính sau:
Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nềnkinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của thị trường, mà là cơ sở
để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản và kinh tế thịtrường trong chủ nghĩa xã hội
Hai là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khối đại đoàn kết dântộc Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộnglớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành vàphát huy dân chủ
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy không loại bỏ được sự phântầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn côngbằng xã hội Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thịtrường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhànước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tínhchất chia rẽ xã hội Đây là một trong những điều kiện đảm bảo ổn định chính trị, đoànkết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu chung của sự phát triển
Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền tạo khảnăng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các giaitầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàndân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc nâng cao quyền làmchủ của nhân dân
4 Những đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Một là, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộctất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội