1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ đánh giá mức độ biến động và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả chất lượng nước sông thương

108 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, chất lượng nước tại các con sông đang diễn biến phức tạp, bị suy thoái nhiều nơi, nhất là tại các đoạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

Vũ Hoàng Việt

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Phòng Sau đại học tôi đã thực hiện luận văn tốt nghiệp với

đề tài: “ Đánh giá mức độ biến động và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả chất

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong trường

Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô trường Đại học Lâm Nghiệp, nhất là các quý thầy cô Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường đã tận tình quan tâm dạy bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình này Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Xuân Dũng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm và ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập

Do thời gian làm có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên thực hiện

Vũ Hoàng Việt

Trang 4

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây ô nhiễm nước 3

1.2 Tình trạng ô nhiễm nước trên Thế giới và Việt Nam 4

1.2.1 Tình trạng ô nhiễm nước trên Thế giới 4

1.2.2 Tình trạng ô nhiễm nước tại Việt Nam 8

1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước 11

1.3.1 Các chỉ tiêu vật lý 11

1.3.2 Các chỉ tiêu hóa học 12

1.3.3 Chỉ tiêu vi sinh 14

1.4 Các phương pháp đánh giá chất lượng nước mặt 15

1.5 Một số công trình nghiên cứu về quản lý chất lượng nước sông tại Việt Nam 16 Chương 2 MỤC TIÊU- ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19

2.1.1 Mục tiêu chung 19

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19

2.2 Đối tượng nghiên cứu……….….… 21

2.3 Phạm vi nghiên cứu 19

2.3.1 Phạm vi thời gian 19

2.3.2 Phạm vi không gian 19

2.4 Nội dung nghiên cứu 19

2.5 Phương pháp nghiên cứu 20

Trang 5

iv

2.5.1 Xác định các hoạt động sử dụng đất chính của người dân 2 bên ven bờ sông

Thương 20

2.5.2 Đánh giá đặc điểm chất lượng nước sông Thương đoạn từ đầu nguồn tới hết huyện Hữu Lũng 21

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI 38

TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 38

3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Lạng Sơn 38

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 43

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 46

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

4.1 Đặc điểm các hoạt động sử dụng đất của cộng đồng dân cư ven bờ sông Thương 49

4.1.1 Sơ đồ tuyến điều tra 49

4.1.2 Đặc điểm các hoạt động sử dụng đất của cộng đồng dân cư ven bờ sông Thương 52

4.2 Ðánh giá chất lượng nước sông Thương 54

4.2.1 Đánh giá chất lượng nước dựa vào QCVN08/2015/BTNMT 54

4.2.2 Đánh giá chất lượng nước sông Thương theo chỉ số WQI 69

4.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nước sông Thương 75

4.3.1 Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải 77

4.3.2 Về công tác quan trắc 78

4.3.3 Về kinh tế, chính sách và xã hội 78

4.3.4 Về sự tham gia và trách nhiệm của cộng đồng 78

4.3.5 Biện pháp kỹ thuật – công nghệ 79

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam 08:2008 Bộ Tài

Nguyên và Môi Trường

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Các tiêu chí xác định hoạt động sử dụng đất 20

Bảng 2.2 : Vị trí lấy mẫu 24

Bảng 2.3: Các phương pháp phân tích trong PTN 26

Bảng 2.4: Các thông số đánh giá chất lượng nước và trọng số tương ứng 34

Bảng 3.1: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Kỳ Cùng 40

Bảng 3.2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Thương 41

Bảng 3.3: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Trung 41

Bảng 3.4: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Ba Thín 42

Bảng 3.5: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Bắc Giang 42

Bảng 4.1: Đặc điểm các hoạt động sử dụng đất của cộng đồng dân cư ven bờ sông Thương 52

Bảng 4.2: Chỉ số WQI tháng 8 năm 2018 tại khu vực nghiên cứu 69

Bảng 4.3: Đánh giá chất lượng nước sông Thương tháng 8 năm 2018 70

Bảng 4.4: Chỉ số WQI tháng 12 tại khu vực nghiên cứu 71

Bảng 4.5: Đánh giá chất lượng nước sông Thương tháng 12 năm 2018 71

Bảng 4.6: Chỉ số WQI tại khu vực nghiên cứu 72

Bảng 4.7: Đánh giá chất lượng nước sông Thương tháng 4 năm 2019 72

Bảng 4.8 Bảng những điểm ô nhiễm từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019 74

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ đánh giá độ pH từ năm 2014 đến năm 2019 55

Biểu đồ 4.2: Biểu đồ đánh giá DO từ năm 2014 đến năm 2019 55

Biểu đồ 4.3: Biểu đồ đánh giá TSS từ năm 201 đến năm 2019 56

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ đánh giá độ đục từ năm 2014 đến năm 2019 56

Biểu đồ 4.5: Biểu đồ đánh giá COD từ năm 2014 đến năm 2019 57

Biểu đồ 4.6: Biểu đồ đánh giá BOD5 từ năm 2014 đến năm 2019 58

Biểu đồ 4.7: Biểu đồ đánh giá PO43- từ năm 2014 đến năm 2019 58

Biểu đồ 4.8: Biểu đồ đánh giá NH4+ từ năm 2014 đến năm 2019 59

Biểu đồ 4.9: Biểu đồ đánh giá Coliform từ năm 2014 đến năm 2019 60

Biểu đồ 4.10: Biểu đồ đánh giá độ pH 61

Biểu đồ 4.11: Biểu đồ đánh giá độ đục 61

Biểu đồ 4.12: Biểu đồ đánh giá DO 62

Biểu đồ 4.13: Biểu đồ đánh giá TSS 63

Biểu đồ 4.14: Biểu đồ đánh giá COD 63

Biểu đồ 4.15: Biểu đồ đánh giá BOD5 64

Biểu đồ 4.16: Biểu đồ đánh giá NH4+ 64

Biểu đồ 4.17: Biểu đồ đánh giá PO43- 65

Biểu đồ 4.18: Biểu đồ đánh giá Coliform 66

Biểu đồ 4.19: Biểu đồ thể hiện giá trị N-NO3- tại khu vực nghiên cứu 67

Biểu đồ 4.20: Biểu đồ thể hiện giá trị N-NO2- tại khu vực nghiên cứu 68

Biểu đồ 4.21: Biểu đồ thể hiện giá trị sắt tổng số tại khu vực nghiên cứu 68

Biểu đồ 4.22: Biểu đồ thể hiện giá trị WQI của sông Thương qua các tháng 73

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ vùng nghiên cứu 38

Hình 3.2: Một số thủy vực lớn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 43

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ các vị trí lấy mẫu 24

Sơ đồ 4.1: Sơ đồ toàn bộ tuyến điều tra 49

Sơ đồ 4.2: Sơ đồ điểm lấy mẫu số 1 50

Sơ đồ 4.3: Sơ đồ điểm lấy mẫu số 2 50

Sơ đồ 4.4 Sơ đồ điểm lấy mẫu số 3 51

Sơ đồ 4.5 Sơ đồ điểm lấy mẫu số 4 51

Sơ đồ 4.6 Sơ đồ điểm lấy mẫu số 5 51

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nước là một phần tất yếu của cuộc sống Chúng ta không thể sống nếu không

có nước vì nó cung cấp cho mọi nhu cầu sinh hoạt của con người Con người sử dụng nước hằng ngày để phục vụ cho những hoạt động sống của mình Với sự phát triển kinh tế như hiện nay, nước không chỉ là sự sống còn của riêng một quốc gia

mà còn là vấn đề của tất cả các tập thể cá nhân, mọi vùng, mọi khu vực ở khắp nơi trên trái đất Song song với sự phát triển về kinh tế thì con người càng ngày thải ra nhiều chất thải vào môi trường làm cho chúng bị suy thoái và gây ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng mà trong đó chất lượng nước là mối quan tâm hàng đầu Có quản lý tốt, kiểm soát được nguồn nước sử dụng đầu vào thì mới có thể làm giảm bớt và khắc phục tình trạng nước bị ô nhiễm Cục Quản

lý chất thải và Cải thiện môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, chất lượng nước tại các con sông đang diễn biến phức tạp, bị suy thoái nhiều nơi, nhất là tại các đoạn sông chảy qua đô thị, khu công nghiệp, làng nghề Ba lưu vực sông có vấn đề nổi cộm nhất về tình trạng ô nhiễm môi trường nước gồm Sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai Nếu không có biện pháp xử lý ô nhiễm kịp thời thì trong tương lai, nguồn nước các con sông này không thể sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt Thống kê, đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém Gần 200.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới phát hiện, mà một

trong những nguyên nhân chính là sử dụng nguồn nước ô nhiễm (Tổng quan báo

cáo môi trường năm 2016)

Sông Thương hay sông Nhật Đức (xưa còn gọi là sông Nam Bình, sông Lạng Giang, sông Long Nhỡn) là một phụ lưu của sông Thái Bình, là một sông lớn ở các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương Sông Thương có chiều dài 157 km, diện tích lưu vực: 6.640 km² Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước, làng Man, xã Vân Thuỷ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào địa phận tỉnh Bắc Giang Sông chảy qua thành phố Bắc Giang (tên cũ là Phủ Lạng Thương) và điểm cuối là thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Nó nhận nước từ sông Lục Nam tại ngã ba Nhãn (nơi giáp ranh giữa Đức Giang, Trí Yên và Hưng Đạo) xuôi về phía nam khoảng 8 km thì hợp lưu với sông Cầu tại ngã ba Lác (nơi giáp ranh giữa Đồng Phúc, Đức Long và Phả

Trang 11

Lại) để tạo thành sông Thái Bình tại chính ngã ba Lác Sông Thương có vai trò rất lớn trong đời sống của người dân Các loại tàu thuyền có tải trọng 200-250 tấn, xà lan 250-300 tấn tham gia vận tải đường sông từ Phả Lại-Bến Tuần (huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang dài 49 km), từ Bến Tuần - Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang các loại thuyền nhỏ có tải trọng từ 50-70 tấn tham gia vận tải được trong 2 mùa trên dòng sông Sông Thương cung cấp nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, tưới tiêu và sản xuất nông nghiệp cho khoảng hơn 2.000 hộ gia đình tại huyện Hữu Lũng Bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế thì việc bảo vệ nguồn nước của dòng

sông là vấn đề rất cần được quan tâm (Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia).

Ngày nay, cùng với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và gia tăng dân số một cách mạnh mẽ, tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ suy thoái, cạn kiệt Những năm gần đây, ở hạ lưu hầu hết các lưu vực sông trên toàn quốc xuất hiện tình trạng suy giảm nguồn nước dẫn tới thiếu nước, khan hiếm nước, cả số lượng và chất lượng đều không đủ cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất đang diễn ra ngày một thường xuyên hơn, trên phạm vi rộng lớn hơn và ngày càng nghiêm trọng Điều này, tác động lớn đến môi trường sinh thái của các dòng sông, gia tăng nguy cơ kém bền vững của tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội Theo Báo cáo Môi trường quốc gia 2010 của Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nhiều dòng sông trên toàn quốc đang có dấu hiệu suy thoái cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân chủ yếu là do khai thác tràn lan quá mức, các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước chưa được quản lý chặt chẽ Sông Thương cũng đang đứng trước những diễn biến suy thoái cả về chất và lượng, chịu nhiều áp lực từ nguồn xả thải của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, y tế và sinh hoạt… rác sinh hoạt xả bừa bãi cũng khiến môi trường nước

ao hồ bị ô nhiễm (Nguồn Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010)

Nguồn nước mặt đang có xu hướng ngày càng bị ô nhiễm nếu không được phòng ngừa kịp thời, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, vì đây là nguồn nước

cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, chính vì những điều đó mà đề tài

“Đánh giá mức độ biến động và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả chất lượng

nước Sông Thương đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn" là một sự cần thiết

cho việc quản lý chất lượng nước mặt của sông Thương

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây ô nhiễm nước

a Khái niệm ô nhiễm nước

Theo điều 2 Luật tài nguyên nước: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi tính chất vật lí, hóa học và thành phần sinh a tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu

b Ô nhiễm nhân tạo

Chủ yếu là do các hoạt động của con người như xả thải nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp vào nguồn nước Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất của mình, con người ngoài việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thì còn thải ra một lượng lớn chất thải bao gồm chất thải rắn, khí thải và nước thải Nước thải được thải

ra từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp nếu không được

xử lý một cách triệt để sẽ tác động rất lớn đến chất lượng nguồn nước và cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nước nghiêm trọng

Trước hết, phải kể đến các hoạt động công nghiệp của con người, là một trong những hoạt động gây tác động đến môi trường nước tương đối lớn Nước thải công nghiệp (industrial wastewater): là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải

đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thường chứa lượng lớn các chất hữu cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sulfua, Người ta thường sử dụng đại lượng PE (population equivalent) để so sánh một cách tương đối mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp với nước thải đô thị Đại lượng này được xác định dựa vào lượng thải trung bình của một người trong một ngày đối với một tác nhân gây ô nhiễm xác định Các tác nhân gây ô nhiễm chính thường được sử dụng để so sánh là COD (nhu cầu oxy hóa học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa), TSS (chất rắn lơ lửng)

Các hoạt động chăn nuôi gia súc: phân, nước tiểu gia súc, thức ăn thừa không

Trang 13

qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác: thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dưa, vườn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đa số nông dân đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gấp ba lần liều khuyến cáo Chẳng những thế, nông dân còn sử dụng cả các loại thuốc trừ sâu

đã bị cấm như Aldrin, Thiodol, Monitor Trong quá trình bón phân, phun xịt thuốc, người nông dân không hề trang bị bảo hộ lao động Đa số nông dân không có kho cất giữ bảo quản thuốc, thuốc khi mua về chưa sử dụng được cất giữ khắp nơi, kể cả gần nhà ăn, giếng sinh hoạt Đa số vỏ chai thuốc sau khi sử dụng xong bị vứt ngay

ra bờ ruộng, số còn lại được gom để bán phế liệu

1.2 Tình trạng ô nhiễm nước trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình trạng ô nhiễm nước trên Thế giới

Hiện nay tình trạng ô nhiễm nước lục địa và đại dương đang gia tăng với nhịp

độ đáng lo ngại Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh một cách chân thực tôc độ phát triển kinh tế của các quốc gia Xã hội càng phát triển thì xuất hiện càng nhiều nguy cơ Hầu hết các nước phát triển đều cho rằng, nông nghiệp là thủ phạm lớn nhất gây ô nhiễm nguồn nước ở nhiều quốc gia Thuốc trừ sâu và các hóa chất sử dụng thường xuyên trong nông nghiệp cũng chính là các chất chính gây ô nhiễm nước ngầm và nước bề mặt Chúng gây tích tụ nitrat trong nước mặt, gây ra sự nở hoa tảo độc

Ô nhiễm nước còn xuất phát từ việc thải nhiên liệu Đặc biệt ở các thành phố lớn, nơi dân số gia tăng, dầu và nhiên liệu góp phần làm ô nhiễm nguồn nước Những chất này thường tràn ra hoặc rò rỉ, lượng khí thải đi vào bầu khí quyển,

“bám” các đám mây, sau đó theo những trận mưa rơi xuống đất, gây ô nhiễm mạch nước ngầm Xử lý chất thải là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm nước ở các nước đang phát triển Vi khuẩn, bệnh tật và ký sinh trùng có môi trường sinh sôi nảy nở…

- Trung Quốc:

Sông Dương Tử được biết đến như là con sông bị ô nhiễm nhất ở Trung Quốc, trong khi sông Hoàng Hà đã bị khai thác vượt quá khả năng, lòng sông cạn kiệt và bị ô nhiễm nghiêm trọng, không thể duy trì cuộc sống của tôm cá và động

Trang 14

vật Sông Đào bị ô nhiễm bởi dòng chảy công nghiệp và nước thải từ các nhà máy lân cận Các làng nhỏ ở nông thôn Trung Quốc được cung cấp nước bằng nguồn nước mà các nhà máy sử dụng để đổ nước thải và các hóa chất độc hại Các làng này đã có sự tăng vọt về số người mắc bệnh ung thư

Từ năm 1999, có khoảng 700 triệu người ở Trung Quốc thường xuyên uống nước bị ô nhiễm bởi chất thải của con người và động vật Chính điều này đã kéo theo số lượng lớn dịch bệnh và các bệnh nhiễm trùng ký sinh ở Trung Quốc

Năm 2010, một vụ tràn dầu lớn xảy ra ở vùng biển Hoàng Hải của Trung Quốc sau sự cố nổ đường ống dẫn 1.500 tấn dầu thô đi thẳng ra biển gây ra một vành đai 50 km2 dầu trên mặt nước Nước biển bị ô nhiễm nghiêm trọng

Năm 2013, có tới 16.000 con lợn chết trôi sông Hoàng Phố, nguồn nước bị nhiễm virut bệnh mạch vành Dù rằng bệnh này không có hại cho con người, nhưng nguy hiểm đối với lợn vì khả năng lây lan vi rút từ lợn chết sang lợn sống

- Mỹ:

Thuốc trừ sâu là một trong những chất gây ô nhiễm lớn nhất ở Mỹ, các hóa chất khác lần lượt xếp sau Các hóa chất này làm tổn thương hệ thống thần kinh, các vấn đề về thận, gan, và ung thư ở cả người và động vật nếu uống phải nguồn nước

Trang 15

sạch - một bộ luật sâu hơn, lâu hơn để điều chỉnh các đánh giá về nước uống cũng như các cuộc kiểm tra về lưu kho và vận chuyển hóa chất Tuy nhiên cả hai luật đều rất khó thực thi

- Ấn Độ:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 626 triệu người Ấn Độ là thủ phạm đáng kể gây

ô nhiễm nguồn nước trên thế giới Mặc dù có nhiều biện pháp cải thiện điều kiện vệ sinh ở Ấn Độ nhưng nhiều nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động không được duy trì tốt vẫn gây ô nhiễm, gây nhiều bệnh tật phổ biến rộng rãi ở Ấn Độ Thống

kê cho thấy, 97 triệu người dân Ấn Độ không được tiếp cận nước sạch

Trước đó, năm 1984, thảm họa công nghiệp tồi tệ nhất thế giới đã xảy ra ở Bhopal, Ấn Độ Sự cố khủng khiếp khi nhà máy thuốc trừ sâu Union Carbide India Limited bị rò rỉ khí độc khiến 50.000 người bị ngộ độc, hơn 3.700 người chết và hơn 500.000 người bị thương Theo một báo cáo đến năm 2009, khu vực này vẫn còn bị ô nhiễm nặng

Chính phủ Ấn độ đã ban hành đạo luật The Water (Phòng ngừa và kiểm soát

ô nhiễm) vào năm 1974 để bảo vệ tài nguyên nước, hướng tới bảo tồn nước uống sạch cho cư dân Ấn Độ Đạo luật vẫn đang được sửa đổi cho đến nay, với những thay đổi gần đây nhất được thực hiện vào năm 2003 Tuy nhiên, với thói quen vệ sinh bừa bãi của người Ấn Độ, luật này không được thi hành rộng rãi

- Nhật Bản:

Nước bề mặt đang chiếm 70% nguồn nước uống được sử dụng trên khắp Nhật Bản, nhất là từ khi ô nhiễm nước ngầm tăng vọt trong vài thập kỷ qua Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, clo đang “xâm chiếm” các nguồn nước uống này Sự ôxy hóa cũng là một vấn đề lớn hiện nay Ôxy hóa làm tảo nở hoa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, ô nhiễm nước và có thể độc hại cho con người Thủy triều đỏ rất phổ biến ở Nhật.Trước đó, Nhật xảy ra thảm họa ô nhiễm nổi tiếng Fukushima Năm 2013 - 2 năm sau thảm họa, nước phóng xạ vẫn rò rỉ vào đại dương xung quanh

Theo báo cáo năm 2013, hơn 71.000 gallon nước phóng xạ đã tràn vào biển Năm 2016, người ta tin rằng một số nước biển nhiễm phóng xạ này đã “cập bến” bờ

Trang 16

biển Hoa Kỳ

Chính phủ Nhật đã đưa ra một số mục tiêu nhằm giúp làm sạch nguồn cung cấp nước và giữ cho môi trường sống đẹp và lành mạnh hơn Luật Kiểm soát Ô nhiễm Nước cũng điều chỉnh các nhà máy, doanh nghiệp, các công ty và khả năng

xử lý nước thải ở những khu vực nơi người dân sinh sống

- Indonesia:

Nước ở Indonesia chiếm 6% lượng nước trên toàn thế giới 80% trong tổng số

250 triệu người sống ở Indonesia không được tiếp cận các nguồn nước sạch Khoảng 66% dân cư sử dụng nước sông để tắm rửa, góp phần gây ô nhiễm môi trường

Năm 2004, một nhà máy hóa chất ở Indonesia đã phát nổ và bốc cháy, phát tán anhydrit maleic vào trong khí quyển Khu vực xung quanh nhà máy đã được di tản, nhưng vụ nổ làm 70 người thương vong Sau vụ việc, nước trong khu vực quanh nhà máy bị ô nhiễm, bốc mùi hôi và gây ngứa, phát ban cho những ai tiếp xúc với nước Vịnh Buyat ở Inddoonessia cũng bị ô nhiễm nước khiến người dân gặp phải những vấn đề sức khỏe “kỳ lạ”

Chính phủ Indonesia đã có những chương trình đánh giá và kiểm soát ô nhiễm, khuyến khích các công ty áp dụng các điều kiện kinh doanh sạch, an toàn hơn và tìm kiếm các phương thức thân thiện với môi trường và bền vững Chương trình “Sông Sắt” khích lệ các công ty đăng ký và cam kết tham gia vào việc đánh giá nước và kiểm tra chất lượng nước thường xuyên

- Brazil:

Brazil mỗi ngày tạo ra hơn 161.000 tấn chất thải, 2/3 số đô thị trong nước dựa vào các bãi chôn lấp rác để thải tiêu hủy rác Các bãi chôn lấp này khiến mức

độ nhiễm độc đất ở Brazil cao, nước ngầm vì thế cũng bị ô nhiễm

Hơn 800 tấn chất thải được đổ vào vịnh Guanabara hàng ngày bao gồm chất thải bị nhiễm vi khuẩn, phân và ký sinh trùng 16 triệu người dựa vào vịnh này để sinh sống, 4 triệu người trong số họ không có hệ thống thoát nước chuyên dụng 3

sự cố ô nhiễm nguồn nước lớn nhất ở Braxin diễn ra ở cùng vị trí, đó là vịnh Guanabara Những sự kiện này diễn ra vào năm 1975, 1997 và 2000 Sự cố tràn dầu

ở vịnh Guanabara năm 2000 là điều tồi tệ nhất Trong vụ tràn dầu này, 1,3 triệu lít dầu đã ngấm vào nước và giết chết lượng lớn cá cùng các động vật có vú sống ở đó

Trang 17

Sự cố này đã khiến ngành công nghiệp đánh cá giảm mạnh dẫn đến sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng trong nước Sự cố tràn dầu này đã mang lại nhiều thay đổi trong chính sách và luật pháp về ô nhiễm nước ở Brazil

Chính phủ Brazil đã ban hành Chính sách quốc gia về tài nguyên nước, quy định cụ thể các thông lệ liên quan đến nước phải được thực hiện theo giấy phép từ

cơ quan công quyền Brazil cấm một số loại hoạt động nước hoàn toàn và cho phép

xử phạt bất cứ ai không tuân thủ quy tắc Bất cứ ai, bất kỳ công ty nào gây ra sự cố

ô nhiễm nước đều phải tự mình làm sạch nước hoặc phải trả đủ tiền cho các cơ quan thích hợp làm sạch nước

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng chất lượng nước tại nhiều con sông trên thế giới bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, hàng ngày hàng giờ phải hứng chịu các nguồn ô nhiễm khác nhau Do đó, việc cần làm trước tiên là phải tiến hành đánh giá, kiểm tra, quan trắc hệ thống sông, để xác định được cụ thể thành phần của nguồn nước thải gây ô nhiễm, xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm hạn chế sự tác động tiêu cực đến chất lượng nước sông, nâng cao khả năng cung cấp nước phụ vụ cho đời sống và sự phát triển bền vững trên toàn thế giới

1.2.2 Tình trạng ô nhiễm nước tại Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Với tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hoá khá nhanh cùng sự gia tăng dân số là nguyên nhân chính gây

áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn Liên tiếp trong thời gian qua, trên địa bàn cả nước, hiện tượng ô nhiễm môi trường nước đã làm cho hiện tượng cá chết bất thường hàng loạt Mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều

cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại

Nước sông ô nhiễm chuyển màu đen, rác thải trôi lềnh bềnh - nguy cơ gây

Trang 18

bệnh cho con người rất cao Ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ việc các ao, hồ, sông tiếp nhận nhiều loại nguồn thải, môi trường nước mặt đang ở tình trạng ô nhiễm tại nhiều nơi Tuy nhiên, nguồn thải chính tác động đến môi trường nước mặt ở nước ta

là nước thải nông nghiệp, công nghiệp và nước thải sinh hoạt Mức độ gia tăng các nguồn nước thải hiện nay ngày càng lớn với quy mô rộng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất cũng như phạm vi phân bố Cùng với đó là

sự gia tăng lượng nước thải lớn, trong khi đó, mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu

Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng thải trực tiếp ra các sông hồ hay kênh rạch dẫn ra sông Theo số liệu tính toán của cơ quan môi trường cho thấy Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước Vùng Đông Nam bộ với toàn bộ các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các KCN lớn, là vùng có lượng phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước Số lượng KCN có hệ thống xử lý nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50-60%), hơn nữa, 50% trong số đó vẫn chưa hoạt động

hiệu quả (Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2012)

Theo các nghiên cứu tác động Môi trường của cơ quan Tổng cục Môi trường cho thấy: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD: Biochemical oxygen Demand - là lượng oxy cần thiết cung cấp cho vi sinh vật để oxi hóa các chất hữu cơ), nhu cầu ôxy hoá học (COD: Chemical oxygen Demand -

là khối lượng oxy cần tiêu hao trên 1 lít nước thải) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Bên cạnh những nguồn thải nêu trên, nước thải nông nghiệp cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay Đó là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến nguồn nước tại những địa phương có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh như vùng

Trang 19

ĐBSCL Nước thải từ hoạt động nông nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật hay thuốc trừ sâu là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người Đặc biệt, các khu vực này, đời sống dân cư vẫn gắn với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hay sử dụng để nuôi trồng thủy sản

Mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân

số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ

Ô nhiễm biển là một vấn đề đang được quan tâm Do có đường bờ biển thuộc loại dài nên khi ô nhiễm biển xảy ra thì sẽ cực kỳ phức tạp Do sự gia tăng của các hoạt động kinh tế nói chung nên hầu hết vùng thềm lục địa đã bị ô nhiễm Sự ô nhiễm còn bắt đầu lan ra cả ngoài khơi Điển hình như ở cảng Hải Phòng, bình quân hằng năm có tới hơn 1.500 lượt tàu vận tải biển cập cảng Hải Phòng Lượng dầu cặn qua sử dụng trong hành trình vận tải của mỗi tàu khi đến cảng từ 5m3

đến 10m3 Như vậy, hàng nghìn m3

dầu cặn qua sử dụng cùng với rác thải sinh hoạt của người dân vạn chài và khách du lịch đã xả tự nhiên theo nhiều cách xuống biển

Tình hình ô nhiễm nước ngọt còn trầm trọng hơn rất nhiều Công nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước ngọt, trong đó mỗi ngành có một loại nước thải khác nhau KCN Việt Trì xả mỗi ngày hàng trăm ngàn mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt khoảng 168.000 m3/ngày đêm xuống hạ lưu cùng một lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt không nhỏ từ thượng nguồn Trung Quốc đã làm chất lượng nước sông Hồng ngày càng xấu đi theo cả không gian và thời gian Ở Hà Nội các sông như Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ có màu đen

và hôi thối Đặc biệt, KCN Biên Hòa- Đồng Nai và TP HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận Sông Tô Lịch, một trong những dòng sông "đen" giữa Hà Nội

Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất trong cơ cấu kinh tế của đất nước Nước được sử dụng để tưới cho lúa và hoa màu, tập trung ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long Việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học không đúng cách càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn Nước dùng trong sinh

Trang 20

hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các đô thị Nước cống từ nước thải từ sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta Ðiều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường, chưa qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có

hệ thống xử lý nước thải nào đúng nghĩa như tên gọi của nó

Nước ngầm cũng bị ô nhiễm cùng với sự ô nhiễm nước sông hồ Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung

Một số sông ở vùng núi Đông Bắc như: Chất lượng sông Kỳ Cùng và các sông nhánh trong những năm gần đây giảm sút xuống loại A2, sông Hiến, sông Bằng Giang còn ở mức B1 Đầu nguồn (Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang) vài năm gần đây mùa khô xuất hiện hiện tượng ô nhiễm bất thường trong thời gian ngắn

3 - 5 ngày Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc hầu hết các thông số vượt QCVN 08:2008 - A1, một số địa điểm gần các nhà máy thậm chí xấp xỉ B1 (đoạn sông Hồng từ Cty Super Phốt phát và hóa chất Lâm Thao đến KCN phía nam TP.Việt Trì), các thông số vượt ngưỡng B1 nhiều lần So với các sông khác trong vùng, sông Hồng có mức độ ô nhiễm thấp hơn

Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng môi trường nước tại Việt Nam đang bị ô nhiễm nghiêm trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng do các nguyên nhân từ tự nhiên và do con người Đặc biệt là do các hoạt động sản xuất công nghiệp Nếu chúng ta không có giải pháp quản lí và xử lý triệt để thì hậu quả sẽ rất khó lường Vì vậy, cần có quá trình quản lý chặt chẽ hơn nữa của các cơ quan chức năng cũng như việc tôn trọng về pháp luật của các cơ sở sản xuất cũng như các hoạt động và ý thức của người dân để đảm bảo chất lượng nước tại các con sông nói riêng và toàn bộ môi trường nước nói chung

Trang 21

nhất dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước, chất lượng nước thải, đánh giá độ cứng của nước, sự keo tụ, khả năng ăn mòn Vì thế việc xét nghiệm pH để hoàn chỉnh chất lượng nước cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật cho từng khâu quản

lý rất quan trọng, hơn nữa là đảm bảo được chất lượng cho người sử dụng

+ Chất rắn lơ lửng: chất rắn lơ lửng nói riêng và tổng chất rắn nói chung có ảnh hưởng đến chất lượng nước trên nhiều phương diện Hàm lượng chất rắn hoà tan trong nước thấp làm hạn chế sự sinh trưởng hoặc ngăn cản sự sống của thuỷ sinh Hàm lượng chất rắn hoà tan trong nước cao thường có vị

Hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước cao gây nên cảm quan không tốt cho nhiều mục đích sử dụng; ví dụ như làm giảm khả năng truyền ánh sáng trong nước,

do vậy ảnh hưởng đến quá trình quang hợp dưới nước, gây cạn kiệt tầng ô xy trong nước nên ảnh hưởng đến đời sống thuỷ sinh như cá, tôm Chất rắn lơ lửng có thể làm tắc nghẽn mang cá, cản trở sự hô hấp dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của cá, ngăn cản sự phát triển của trứng và ấu trùng

Phân biệt các chất rắn lơ lửng của nước để kiểm soát các hoạt động sinh học, đánh giá quá trình xử lý vật lý nước thải, đánh giá sự phù hợp của nước thải với tiêu chuẩn giới hạn cho phép

+ Độ đục: độ đục của nước là mức độ ngăn cản ánh sáng xuyên qua nước.Độ đục của nước có thể do nhiều loại chất lơ lửng bao gồm các loại có kích thước hạt keo đến những hệ phân tán thô gây nên như các chất huyền phù, các hạn cặn đất cát, các vi sinh vật

1.3.2 Các chỉ tiêu hóa học

+ DO (dyssolved oxygen - ô xy hoà tan trong nước)

Ô xy có mặt trong nước một mặt được hoà tan từ ô xy trong không khí, một mặt được sinh ra từ các phản ứng tổng hợp quang hoá của tảo và các thực vật sống trong nước Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hoà tan ô xy vào nước là nhiệt độ, áp suất khí quyển, dòng chảy, địa điểm, địa hình Giá trị DO trong nước phụ thuộc vào tính chất vật lư, hoá học và các hoạt động sinh học xảy ra trong đó Phân tích DO cho ta đánh giá mức độ ô nhiễm nước và kiểm tra quá trình xử lý nước thải

Các sông hồ có hàm lượng DO cao được coi là khoẻ mạnh và có nhiều loài

Trang 22

sinh vật sống trong đó Khi DO trong nước thấp sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của động vật thuỷ sinh, thậm chí làm biến mất hoặc có thể gây chết một số loài nếu

DO giảm đột ngột Nguyên nhân làm giảm DO trong nước là do việc xả nước thải công nghiệp, nước mưa tràn lôi kéo các chất thải nông nghiệp chứa nhiều chất hữu

cơ, lá cây rụng vào nguồn tiếp nhận Vi sinh vật sử dụng ô xy để tiêu thụ các chất hữu cơ làm cho lượng ô xy giảm

+ COD (Chemical oxygen Demand - nhu cầu ô xy hoá học)

COD là lượng ô xy cần thiết cho quá trình ô xy hoá hoàn toàn các chất hữu

cơ có trong nước thành CO2 và H2O

COD là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nước (nước thải, nước mặt, nước sinh hoạt) vì nó cho biết hàm lượng chất hữu cơ có trong nước

là bao nhiêu Hàm lượng COD trong nước cao thì chứng tỏ nguồn nước có nhiều chất hữu cơ gây ô nhiễm

+ BOD (Biochemical oxygen Demand:nhu cầu ô xy sinh hoá)

BOD là lượng ô xy (thể hiện bằng gam hoặc miligam O2 theo đơn vị thể tích) cần cho vi sinh vật tiêu thụ để ô xy hoá sinh học các chất hữu cơ trong bóng tối

ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian Như vậy BOD phản ánh lượng các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học có trong mẫu nước

Thông số BOD có tầm quan trọng trong thực tế vì đó là cơ sở để thiết kế và vận hành trạm xử lý nước thải; giá trị BOD càng lớn có nghĩa là mức độ ô nhiễm hữu cơ càng cao

Vì giá trị của BOD phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian ổn định nên việc xác định BOD cần tiến hành ở điều kiện tiêu chuẩn

Trang 23

+ Nitrit (NO2-)

Nitrit là một giai đoạn trung gian trong chu trình đạm hóa do sự phân hủy các chất đạm hữu cơ Vì có sự chuyển hóa giữa nồng độ các dạng khác nhau của nitrogen nên các vết nitrit được sử dụng để đánh giá sự ô nhiễm hữu cơ Trong các

hệ thống xử lý hay hệ thống phân phối cũng có nitrit do những hoạt động của vi sinh vật Ngoài ra nitrit còn được dùng trong ngành cấp nước như một chất chống

ăn mòn Tuy nhiên trong nước uống, nitrit không được vượt quá 0,04 mg/l

+ Amoniac (NH4+)

Amoniac là chất gây nhiễm độc cho nước Sự hiện diện của amoniac trong nước mặt hoặc nước ngầm bắt nguồn từ hoạt động phân hủy hữu cơ do các vi sinh vật trong điều kiện yếm khí Đây cũng là một chất thường dùng trong khâu khử trùng nước cấp, chúng được sử dụng dưới dạng các hóa chất diệt khuẩn chloramines nhằm tạo lượng clo dư có tác dụng kéo dài thời gian diệt khuẩn khi nước được lưu chuyển trong các đường ống dẫn

+ Phosphat (PO43-)

Phosphat là chất dinh dưỡng cho sự phát triển rong tảo Nồng độ phosphat trong nguồn nước không bị ô nhiễm thường <0,01 mg/l Nguồn phosphat đưa vào môi trường là phân người, phân súc vật và nước thải một số ngành công nghiệp sản xuất phân lân, công nghiệp thực phẩm và trong nước chảy từ đồng ruộng Phosphat không thuộc loại độc hại đối với người

+ Fe

Sắt là nguyên tử vi lượng cần thiết cho cơ thể con người để cấu tạo hồng cầu

Vì thế sắt với hàm lượng 1.5mg/l là mức ấn định cho phép đối với nước sinh hoạt Vượt qua giới hạn trên, sắt có thể gây nên những ảnh hưởng không tốt

Sắt có mùi tanh đặc trưng, khi tiếp xúc với khí trời kết tủa Fe (III) hydrat hình thành làm nước trở nên có màu đỏ gạch tạo ấn tượng không tốt cho người sử dụng Cũng với lý do trên, nước có sắt không thể dùng cho một số ngành công nghiệp đòi hỏi chất lượng cao như tơ, dệt, thực phẩm, dược phẩm,… Kết tủa sắt lắng đọng thu hẹp dần tiết kiệm hữu dụng của ống dẫn mạng lưới phân phối nước

1.3.3 Chỉ tiêu vi sinh

Trang 24

+ Fecal Coliform

Nhóm vi sinh vật Coliform được dùng rộng rãi làm chỉ thị của việc ô nhiễm phân, đặc trưng bởi khả năng lên men lactose trong môi trường cấy ở 35 – 370C với

sự tạo thành axit alded và khí trong vòng 48h

Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá chất lượng nước sông, tuy nhiên trong luận văn này em chỉ tập trung phân tích các chỉ tiêu sau: pH, nhiệt độ, DO, TSS, COD, BOD5, NH4+; NO2-; NO3- SO42-; Fe; Coliform

1.4 Các phương pháp đánh giá chất lượng nước mặt

Hiện nay để đánh giá chất lượng nước mặt, người ta thường dùng 2 phương pháp: so sánh với quy chuẩn môi trường Việt Nam nhằm đánh giá theo từng chỉ tiêu đơn lẻ và sử dụng phương pháp chỉ số WQI

Khái niệm: Chỉ số chất lượng nước (viết tắt là WQI) là một chỉ số được

tính toán các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó, được biểu diễn qua một thang điểm

WQI (Water Quality Index) được xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào thập niên 70

và hiện đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều bang Hiện nay chỉ số WQI được triển khai nghiên cứu và sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Canada, Chile, Anh, Đài Loan, Úc, Malaisia… Một trong những bộ chỉ số nổi tiếng, được áp dụng rộng rãi trên thế giới là bộ chỉ số WQI-NSF của Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ NSF (National Sanitation Foundation - Water Quality Index) Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu và đề xuất và áp dụng về bộ chỉ số CLN như các WQI-2 và WQI-4 được

sử dụng để đánh giá số liệu CLN trên sông Sài Gòn tại Phú Cường, Bình Phước và Phú An trong thời gian từ 2003 đến 2007

Hiện nay, để thống nhất cách tính toán chỉ số CLN, tháng 07 năm 2011, Tổng cục Môi trường đã chính thức ban hành Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật tính toán chỉ số chất lượng nước theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01 tháng 07 năm

2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Theo Quyết định chỉ số CLN được áp đối với số liệu quan trắc môi trường nước mặt lục địa và áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các tổ chức, cá nhân có tham gia vào mạng

Trang 25

lưới quan trắc môi trường và tham gia vào việc công bố thông tin về chất lượng môi trường cho cộng đồng Theo hướng dẫn Chỉ số chất lượng nước (viết tắt là WQI) là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm WQI thông số (viết tắt là WQISI) là chỉ số chất lượng

nước tính toán cho mỗi thông số (Hoàng Văn Thế, 2011)

1.5 Một số công trình nghiên cứu về quản lý chất lượng nước sông tại Việt Nam

Như đã nêu trong phần đặt vấn đề, là một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước Hàng năm sông ngòi nước ta vận chuyển tới 839 tỉ m3

nước cùng với hàng trăm triệu tấn phù sa Đây thực sự là một nguồn tài nguyên rất quan trọng cho sản xuất và đời sống Các sông ở nước ta có hàm lượng phù sa rất lớn Bình quân một mét khối nước sông có 223 gam cát bùn và các chất hòa tan khác Tổng lượng phù sa trôi theo dòng nước tới trên 200 triệu tấn/năm Ngoài ra giá trị về đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch Sông ngòi nước ta còn có tiềm năng lớn về thuỷ năng, ước tính tổng trữ lượng thuỷ năng trên các sông nước ta khoảng 30 triệu kW, riêng hệ thống sông Hồng là 11 triệu

kW Dù có tầm quan trọng rất lớn cho nền kinh tế của Việt Nam nhưng đến nay vấn

đề môi trường nước sông vẫn chưa thật sự được chú trọng Vì vậy, những nghiên cứu về đánh giá chất lượng nước sông và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nước hoặc giảm thiểu các chất ô nhiễm trong nước là vô cùng quan trọng và cấp bách tới môi trường nước Để giảm thiểu và khắc phục hậu quả ô nhiễm nước sông,

đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về đánh giá chất lượng nước và đề xuất giải pháp xử lý và quản lý tổng hợp, điển hình như một vài nghiên cứu dưới đây:

Năm 2008, Khuất Thị Thủy, Trường Đại học Lâm Nghiệp đã tiến hành:

“Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước sông Nhuệ thành phố Hà Đông, Hà Tây” Đề tài đã đánh giá mức độ ô nhiễm của

lưu vực sông Nhuệ tại khu vực nghiên cứu, đưa ra được nguyên nhân gây ô nhiễm đồng thời đánh giá được thực trạng công tác quản lý Tuy nhiên, đề tài chỉ nêu lên hiện trạng công tác quản lý nước sông mà chưa đi sâu vào nghiên cứu những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến những hạ chế trong quản lý Vì vây,

Trang 26

những giải pháp đưa ra mang tính chất chung, chưa sát với thực tế của khu vực nghiên cứu

“Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Lô đoạn chảy qua tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất biện pháp quản lý tài nguyên nước trên đoạn sông này”, do

Nguyên Lựu Hương thực hiện năm 2013, đề tài đã đánh giá chi tiết được chuỗi quan hệ nhân quả của các ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế xã hội và quá trình

tự nhiên tới chất lượng nước sông Lô, cung cấp một sự hiểu biết tổng thể và thực tế

về vùng nghiên cứu Đồng thời, đánh giá được hiện trạng môi trường nước sông Lô

và đưa ra giải pháp quản lý Xong các giải pháp này chưa được cụ thể và sát với tình hình thực tế của lưu vực sông Lô

“Đánh giá hiện trạng nước sông Bùi đoạn chảy qua huyện Lương Sơn Hòa Bình – thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ Hà Nội” do Nguyễn Thị Thu Phúc

thực hiện năm 2016, đề tài này thống kê được những tác nhân tự nhiên và nhân tạo ảnh hưởng đến chất lượng nước, đánh giá chất lượng nước theo QCVN và WQI từ

đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng nước Tuy nhiên đề tài này chỉ nêu được hiện trạng chất lượng nước sông Bùi mà chưa có phân tích chi tiết về ảnh hưởng của những tác nhân tới các chỉ tiêu nước như thế nào

Nguyễn Thùy Dương đã có đề tài “Đánh giá chất lượng nước và đề xuất

một số biện pháp nâng cao chất lượng nước sông Bùi đoạn từ đầu nguồn tới thị trấn Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội” vào năm 2016 Đề tài đã đã bổ sung được

thêm số liệu về chất lượng nước tuy nhiên vẫn chưa khắc phục được thiếu sót so với

đề tài của Nguyễn Thị Thu Phúc

Năm 2011, Vũ Thị Hồng Nghĩa, trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng đã

nghiên cứu luận văn thạc sỹ với đề tài: “Nghiên cứu quản lý chất lượng nước

Sông Cầu trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên” Đề tài đã đánh giá chung thực và

khách quan đối với chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Ở đây

đề tài tách sông Cầu ra nhiều đoạn dựa vào điều kiện kinh tế tự nhiên xã hội để đánh giá chất lượng của từng đoạn từ đó nói lên được toàn bộ chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Xác định được rõ các nguyên nhân gây ô nhiễm trên từng đoạn sông trong khu vực Căn cứ vào hiện trạng chất lượng nước và mức

Trang 27

độ ô nhiễm nước sông Cầu, đề tài đã đề xuất 5 nhóm giải pháp về quản lý nhằm giảm thiểu mức độ ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước sông Cầu Nhưng các nhóm giải pháp này đề dựa vào luật môi trường và những bản quy hoạch đang được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chưa đưa ra được biện pháp kỹ thuật & công nghệ phù hợp và chuyên sâu trong lĩnh vực xử lý nguồn nước sông trên địa bàn tỉnh

Năm 2014, Hoàng Thị Kim Anh, trường Học Viện Nông Nghiệp cũng đã

nghiên cứu luận văn thạc sỹ với đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt

sông Thương đoạn chảy qua địa bàn thành phố Bắc Giang – tỉnh Bắc Giang”

Đề tài đã đánh giá tương đối chính xác về chất lượng nước sông khi chảy qua thành phố và đã đưa ra được giải pháp để xử lý và làm sạch nguồn nước sông Tuy nhiên các giải pháp này chưa cụ thể và sát với tình hình thực tế tại vùng nghiên cứu Lạng sơn là tỉnh miền núi nhưng hệ thống sông ngòi cũng rất đa dạng bao gồm sông Kỳ Cùng, sông Trung và sông Thương là những con sông lớn Có rất nhiều đề tài đánh giá chất lượng nước sông Kỳ Cùng nhưng chưa có đề tài nào đánh giá về hiện trạng nước sông Thương đoạn chảy qua tỉnh Lạng Sơn Chính vì vậy đây là đề tài đầu tiên

em xin đánh giá chất lượng nước sông Thương để phần nào đánh giá được ảnh hưởng của sông Thương đối với con người và môi trường ven bờ sông

Theo số liệu báo cáo hàng năm của cơ quan Chi Cục Bảo Vệ môi trường thì chỉ đánh giá được 03 điểm của khúc sông, (02 điểm ở huyện Chi Lăng và 01 điểm ở huyện Hữu Lũng) Tần suất lấy mẫu đánh giá là 02 lần trên năm quá ít nên không phản ảnh đúng được hiện trạng của sông Chính vì vậy đề tài của em cần phải đi sâu hơn vào việc đánh giá hiện trạng nước mặt của sông Thương với tần suất lấy mẫu nhiều hơn (với 06 vị trí, 04 tháng lấy mẫu một lần) nhằm đánh giá được chi tiết hơn chất lượng nước

Trang 28

Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực

tiễn nhằm quản lý bền vững tài nguyên nước sông Thương và đề ra một số giải pháp cho khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nước sông Thương

- Đặc điểm chất lượng nước sông Thương và các loại hình sử dụng đất ven bờ

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Sông Thương đoạn chảy qua huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng

Từ đầu nguồn sông Thương tại huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn đến hết

huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Xác định các hoạt động sử dụng đất của cộng đồng dân cư 2 bên ven bờ

Trang 29

sông Thương đoạn từ đầu nguồn tới hết huyện Hữu Lũng

- Đánh giá đặc điểm chất lượng nước sông Thương đoạn từ đầu nguồn tới hết

huyện Hữu Lũng

- Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng nước sông Thương tại khu vực

nghiên cứu

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Xác định các hoạt động sử dụng đất chính của người dân 2 bên ven bờ sông Thương

Công trình xây dựng (loại hình)

Hệ thống đường (m)

Hình thức

xả thải (trực tiếp, gián tiếp)

Hộ dân (số hộ)

Thảm thực vật ven bờ

* Điều tra khảo sát theo tuyến

- Đề tài tiến hành khảo sát theo tuyến Tìm hiểu các nguồn thải vào sông (nước thải từ cộng đồng dân cư và nước thải công nghiệp)

- Tiến hành quan sát xung quanh điểm lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu: số

hộ dân, hình thức xả thải, hoạt động sử dụng đất 2 bên ven bờ

- Xác định chiều dài tuyến bằng cách sử dụng GPS

- Quan sát và đo khoảng cách từ các công trình xây dựng và thảm thực vậy

Trang 30

ven bờ đến điểm lấy mẫu

- Đo khoảng cách từ tuyến đường giao thông đến điểm lấy mẫu và đo chiều dài của đoạn đường để xác định chỉ tiêu hệ thống đường

2.5.2 Đánh giá đặc điểm chất lượng nước sông Thương đoạn từ đầu nguồn tới hết huyện Hữu Lũng

a Các chỉ tiêu cần điều tra

b Phương pháp điều tra

Trước khi lấy mẫu cần xác định khu vực, địa điểm lấy mẫu và thời gian lấy mẫu:

- Thời gian lấy mẫu:

+ Lấy mẫu lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 2018

+ Lấy mẫu lần hai là vào ngày 15 tháng 12 năm 2018

+ Lấy mẫu lần ba là vào ngày 15 tháng 4 năm 2019

- Vị trí lấy mẫu: Sau khi tiến hành điều tra thực địa, tiến hành xác định được

các vị trí lấy mẫu Đề tài tiến hành lấy 06 mẫu Vị trí lấy mẫu và sơ đồ lấy mẫu được thể hiện ở bảng 2.2

Trang 31

6 M06 Tại cầu Lường, xã Minh

Cách M05 6km

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ các vị trí lấy mẫu

Trang 32

25

- Hình ảnh lấy mẫu ở các vị trí:

NM01: Mẫu nước tại xã Mai Sao NM02: Mẫu nược tại xã Quang Lang

- Nguyên tắc lấy mẫu:

+ Dụng cụ lấy mẫu và dụng cụ đựng mẫu phải được rửa sạch

+ Không làm xáo trộn các tầng nước

+ Mẫu nước được lấy phải có tính đại diện cao

+ Cần tránh lấy mẫu ở những khu vực đặc biệt như vùng nước đọng, cỏ dại mọc nhiều và có nước ngầm xâm nhập vào

- Xử lý ban đầu:

Tùy theo chỉ tiêu nghiên cứu mà mẫu được xử lý trước khi phân tích Đây là công việc nhằm đảm bảo sự ổn định của nồng độ chất có trong mẫu từ lúc lấy mẫu đến lúc phân tích để tránh các hiện tượng kết tủa, phân hủy từ chất phân tích

Trang 33

26

- Vận chuyển mẫu:

Đây là quá trình nhằm đưa mẫu từ địa điểm lấy mẫu về phòng phân tích Trước khi vận chuyển mẫu phải được để an toàn trong các dụng cụ chuyên dụng, tránh nhiễm bẩn, mất màu

- Cách bảo quản mẫu:

Sau khi vận chuyển đến phòng thí nghiệm, các mẫu được phân tích các chỉ tiêu:

pH, DO, TSS, COD, BOD5, NH4+; NO2-; NO3- SO42-; Fe; Coliform Sau khi phân tích các chỉ tiêu trên, các mẫu được bản quản trong tủ đá

- Tần suất lấy mẫu:

Lấy mẫu 03 lần theo tần suất lần lượt các tháng, mỗi tháng lấy mẫu 1 lần vào giữa tháng, tháng 4 lấy mẫu sau trận mưa to

+ Lần 1: Vào ngày 15 tháng 8 năm 2018, lấy 06 điểm tại các vị trí nêu trên + Lần 2: Vào ngày 15 tháng 12 năm 2018 lấy 06 điểm tại các vị trí nêu trên + Lần 3: Vào ngày 15 tháng 4 năm 2019 lấy 06 điểm tại các vị trí nêu trên

c Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

- Để tiến hành phân tích các thông số: pH, DO, TDS, BOD5, COD, độ đục,

NO3-, PO43-, NO2-, Fe3+, Coliform

+ Các chỉ tiêu: pH, DO, To

ta tiến hành xác định bằng phương pháp đo nhanh tại hiện trường

+ Các chỉ tiêu: Độ dục, coliform, TSS, BOD5, COD, NO-2, NH4+, PO43-, NO3-,

Fe ta tiến hành phân tích trong phòng thí nghiệm

d Phương pháp đánh giá chất lượng nước

Bảng 2.3: Các phương pháp phân tích trong PTN

- Rửa sạch điện cực bằng bình tia nước cất

- Bật máy và nhúng điện cực vào nước tại vị trí lấy mẫu Đợi đến khi các giá trị cần đo trên máy ổn định rồi đọc kết quả

- Rửa sạch lại điện cực bằng nước cất

TCVN

6492-1999 (ISO 10523-1994)

Trang 34

- Máy được chuẩn hóa bằng các dung dịch chuẩn độ đục có nồng độ lần lượt là 0,1 NTU, 10 NTU, 100 NTU, 500 NTU, 1000 NTU

- Đơn vị đo độ đục là NTU

- Cân chính xác một tờ giấy lọc đã sấy khô trên cân phân tích, ghi kết quả m1 (mg) Gấp giấy lọc thành hình nón rồi đặt vào phễu lọc

- Dùng ống dong chính xác thể tích V= 100 ml nước phân tích vào cốc 250 ml sau đó ta lọc qua phễu lọc Đem giấy lọc có cặn sấy khô ở 1050C đến khối lượng không đổi rồi đem cân cả giấy và cặn được m2 (mg)

- Chất rắn lơ lửng (TSS) được tính theo công thức:

phương pháp phân tích trọng lượng

4 BOD5

Trung hòa mẫu nước cần phân tích và pha loãng bằng những lượng khác nhau của một loại nước pha loãng giàu oxi hòa tan và chứa vi sinh vật hiếu khí

Ủ ở nhiệt độ xác định trong một thời gian 5 ngày, ở chỗ tối trong bình hoàn toàn đầy và nút kín Xác định nồng độ oxi trong nước trước và sau khi ủ

Tính toán khối lượng oxi tiêu tốn trong 1 lít nước

Tiến hành song song với một mẫu trắng sử dụng nước dùng pha loãng để phân tích nhằm kiểm tra sự

TCVN 1:2008 (ISO 5815-1989) Phương pháp cấy và pha loãng

Trang 35

6001-28

STT Chỉ

phân tích

nhiễm bẩn của nước pha loãng

Hàm lượng oxi hòa tan được tính theo công thức

BOD5= (DOo- DO5) * F (mg/l) Trong đó:

- DOo là hàm lượng oxi hòa tan trong mẫu nước trước khi ủ (mg/l);

- DO5 là hàm lượng oxi hòa tan trong mẫu nước sau khi ủ (mg/l);

- F là hệ số pha loãng, F= với + Vdd: là thể tích của mẫu nước sau khi pha loãng

và mang đi ủ (V thường là 300 ml)

+ Vpt: là thể tích mẫu nước dùng để pha loãng (ml)

- Hàm lượng oxi hòa tan của mẫu cần phân tích được tính theo công thức:

BOD5 (tt mẫu) = BOD5 (mẫu đo được)- BOD5 (mẫu trắng)

- Để xác định COD người ta dùng một lượng Kali dicromat và và xúc tác bạc trong axit sunfuric đặc

để phá mẫu nhiệt độ 1500C trong thời gian 2h

Trong quá trình đó một phần dicromat bị khử do sự

có mặt các chất có khả năng bị oxy hoá Chuẩn độ lượng dicromat còn lại với sát (II) amoni sunfat

Tính toán giá trị COD từ lượng dicromat bị khử

- Tính kết quả: Nhu cầu oxy hóa học COD tính toán bằng mg O2/l được tính theo:

V

V V

Trong đó:

TCVN 6186:1996 Xác định chỉ số Pemanganat

Trang 36

+ Khử phức chất bằng axit ascorbic tạo thành phức chất molipden màu xanh đậm Đo độ hấp thụ của phức chất để xác định nồng độ octophosphat

+ Xác định polyphosphat và một số hợp chất phospho hữu cơ bằng cách thủy phân chúng với axit sulfuric để chuyển sang dạng octophosphat phản ứng với moliopdat

+ Một số hợp chất phospho hữu cơ được chuyển thành octophosphat bằng vô cơ hóa với pesulfat

Nếu cần xử lý cẩn thận thì vô cơ hóa với axit nitric - axit sulfuric

V x f

V ) A A (

đo phổ dùng amoni molipdat

Trang 37

30

STT Chỉ

phân tích

Ao là độ hấp thụ của dung dịch mẫu trắng

f là hàm số độ dốc đồ thị hiệu chuẩn (4.4.3.4), tính theo lít trên miligam (l/mg);

Vmax là thể tích mẫu (50 ml) của mẫu thử (ml);

Vs là thể tích thực của mẫu thử (ml)

7 NH4+

- Nguyên tắc: Đo quang phổ ở bước sóng khoảng

655 nm của hợp chất màu xanh được tạo bởi phản ứng của amoni với salixylat và ion hypoclorit có sự tham gia của natri nitrosopentaxyano sắt (III) taxyano sắt (III) (natri nitroprusiat)

Các ion hypoclorit được tạo trong situ bằng cốc thuỷ phân kiềm của N, N/ dicloro- 1,3,5- triazin 2,4,6

(natridiclorosoxyanurat) Phản ứng của cioramin với natri salixylat xảy ra ở độ pH 12.6 có sự tham gia của natrinitroprusiat Bất kỳ chất cloramin nào có mặt trong mẫu thử cũng đều được xác định

Natrixitrat có trong thuốc thử để cản sự nhiễu do các cation, đặc biệt là canxi và magiê

- Tính toán kết quả:

Độ hấp thụ do amoni có trong mẫu thử, Ar được tính theo công thức:

Ar = As – Ab Trong đó:

As là độ hấp thụ của dung dịch thử (6.3.2)

Ab là độ hấp thụ của dung dịch thử trắng (6.4) Chú thích:

As và Ab phải được đo trong các cuvet có cùng chiều dài quang cho từng mẫu cụ thể

phương pháp trắc phổ thao tác bằng tay

Trang 38

- Tính toán kết quả:

Tính độ hấp thu của nitrat trong phần mẫu thử, Artheo công thức:

Ar = As - Abhoặc, khi đã chỉnh độ hấp thu của mẫu thử thì tính theo:

Ar = As - Ab - AtTrong cả hai công thức, As, Ab, At liên quan tới mẫu thử, mẫu thử trắng và độ hấp thu hiệu chỉnh tương ứng (xem 6.2, 6.3.3 và 6.5) Đọc khối lượng nitrat, m(N), bằng microgam tương ứng với độ hấp thu Ar

- Phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic

Trang 39

để tạo muối diazo, mà muối này sẽ tạo thuốc nhuộm màu hồng với N - (1 naphtyl) - 1.2 diamonietan dihidroclorua được thêm vào bằng thuốc thử

4 - aminobenzen sufonamid

Đo độ hấp thụ ở 540 nm

- Tính toán kết quả

Phương pháp trắc phổ hấp thụ phân tử theo TCVN 6178:1996

- Nguyên tắc:

Thêm dung dịch 1.10-phenantrolin vào lượng mẫu

và đo độ hấp thu của phức chất màu da cam-đỏ ở bước sóng bằng 510nm Nếu xác định lượng sắt tổng hoặc tổng sắt hoà tan, thêm hydroxyl-amoni clorua dể khử sắt (II) đến sắt (III) Nếu có sắt không tan, oxyt sắt hoặc phức chất sắt, cần phải xử lý sơ

bộ để hoà tan các chất đó (xem 7.1.2)

Phức chất sắt (II)- 1.10- phenantrolin bền trong khoảng pH từ 2.5 đến 9 và màu sắc tỷ lệ với hàm lượng Fe(II) Quan hệ giữa nồng độ sắt và độ hấp thu là tuyến tính với nồng độ sắt nhỏ hơn 5.0mg/l

Độ hấp thu cao nhất khi đo ở λ = 510nm {hệ số hấp

TCVN 6177:1996 Xác định sắt trong nước bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10-phenantrolin

Trang 40

F là độ dốc của đường cong chuẩn tương ứng (7.5.2);

A1 là độ hấp thu của dung dịch đo (7.1.1.4);

A0 là độ hấp thu của dung dịch thử mẫu trắng (7.4)

đưa vào khi tính toán

- Tính toán kết quả:

- Dùng kính núp để đếm số lượng khuẩn Coliform và E.coli trên đĩa nuôi cấy

- Khuẩn Coliform sau khi nuôi cấy và ủ có màu hồng

- Khuẩn E.coli sau khi nuôi cấy và ủ có màu xanh

Xác định phát hiện và đếm vi khuẩn Coliform

Sau khi tiến hành phân tích các chỉ tiêu tại phòng thí nghiệm của công ty cổ phần tư vấn môi trường và chuyển giao công nghệ Lạng Sơn; (Địa chỉ: Số 11/13 Mỹ Sơn, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn), kết quả được đem so sánh với QCVN 08:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước

do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước biên soạn, Tổng cục môi trường, Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế trình duyệt, ban hành theo thông tư số 65/2015/TT-BTNMT ngày 21 tháng 12 năm 2015 của Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Ngày đăng: 30/05/2021, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Bộ Tài nguyên Môi trường (2015), QCVN 08:2015/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài nguyên Môi trường (2015)
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Năm: 2015
8. Nguyễn Lựu Hương (2013). “Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Lô đoạn chảy qua tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất biện pháp quản lý tài nguyên nước trên đoạn sông này” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). “Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Lô đoạn chảy qua tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất biện pháp quản lý tài nguyên nước trên đoạn sông này
Tác giả: Nguyễn Lựu Hương
Năm: 2013
9. Vũ Thị Hồng Nghĩa (2011), “Nghiên cứu quản lý chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.” – Trường Đại học Khoa học tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Nghiên cứu quản lý chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.”
Tác giả: Vũ Thị Hồng Nghĩa
Năm: 2011
1. Andy Bookter, Richard D. Woodsmith, Frank H. McCormick, and Karl M. Polivka (January 2009), Water Quality Trends in the Entiat River Subbasin: 2007-2008 https://www.researchgate.net/publication/235911145_water_quality_trends_in_the_entiat_river_subbasin_2007-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water Quality Trends in the Entiat River Subbasin: 2007-2008
2. Andrea Czarnecki và Roxanne Beavers (2010), Peel River Basin Water Quality Report. https://www.aadnc-aandc.gc.ca/eng/1100100024826/1100100024930 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Peel River Basin Water Quality Report
Tác giả: Andrea Czarnecki và Roxanne Beavers
Năm: 2010
4. Fink, J. C. (2005), Chapter 4 – Establishing A Relationship Between Sediment Concentrations And Turbidity, August.http://www.uwgb.edu/watershed/fink/Fink_Thesis_Chap4.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chapter 4 – Establishing A Relationship Between Sediment Concentrations And Turbidity
Tác giả: Fink, J. C
Năm: 2005
7. Shin Myoung-Sun, Lee Jae-Yong, Bomchul Kim, Bae Yeon Jae (2011), Long term variations in water quality in the lower Han River.http://central.oak.go.kr/journallist/journaldetail.do?article_seq=10646&amp;tabname=abst&amp;resource_seq=-1&amp;keywords=null.* Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long term variations in water quality in the lower Han River." http://central.oak.go.kr/journallist/journaldetail.do?article_seq=10646&tabname=abst&resource_seq=-1&keywords=null
Tác giả: Shin Myoung-Sun, Lee Jae-Yong, Bomchul Kim, Bae Yeon Jae
Năm: 2011
6. KT, Donald L. Lancaster, Julie A. Morrison, David Lile, Yukako Sado, Betsy Huang, Monitoring helps reduce water-quality impacts in flood-irrigated pasture http://www.ucanr.org/repository/CAO/landingpage.cfm?article=ca.v059n03p168&amp;fulltext=yes Link
1. Ô nhiễm nước mặt trên thế giới. http://luanvan.co/luan-van/o-nhiem-nuoc-tren-the-gioi-1200/ Link
2. Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam. http://www.haisontq.com/tin-tuc-su-kien/tin-tuc/190-tinh-trang-o-nhiem-moi-truong-nuoc-tai-viet-nam.html Link
3. Các thông số đánh giá chất lượng nước. http://luanvan.net.vn/luan-van/cac-thong-so-chat-luong-moi-truong-nuoc-58650/ Link
4. Phương pháp tính toán chỉ số WQI. http://deec.vn/?655=5&amp;658=104&amp;657=779&amp;654=4- 5. Đánh giá chất lượng nước sông Đà Link
8. Báo cáo môi trường quốc gia năm 2012 http://cem.gov.vn/VN/BAOCAO_Content/tabid/356/cat/175/nfriend/3743056/language/vi-VN/Default.aspx Link
6. Báo cáo số 437/BC-STNMT kết quả quan trắc môi trường tỉnh Lạng Sơn năm 2016 Khác
3. Aweng-Eh Rak, Ismid-Said and Maketab-Mohamed (2010), Effect of River Khác
7. Đánh giá hiện trạng sử dụng nước sông Lô www.sokhoahoccongnghe.phutho.gov.vn/KQTH_Detail.aspx?ID=39 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm