Phân tích tác động của Luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNGI,Khái niệm môi trường Theo nghĩa rộng (Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, 2002): “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”. Tuyên ngôn UNESCO năm 1981: “Môi trường là toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người.”. Như vậy đối với con người , môi trường không chỉ là sự tồn tại , sinh trưởng và phát triển cho chính con người mà còn là “ khung cảnh của cuộc sống , lao động và sự nghỉ ngơi của con người ”. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.”.. II,Khái niệm bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là những hoạt động được diễn ra nhằm mục đích giữ gìn sự trong lành, sạch đẹp của môi trường; giúp cân bằng hệ sinh thái và cải thiện môi trường sống của các sinh vật nói chung và con người nói riêng qua những việc làm để ngăn chặn, phòng ngừa, khắc phục các hậu quả xấu do thiên tai và con người gây ra ảnh hưởng đến môi trường. Và theo điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì :“1.Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân.2.Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tếxã hội bền vững. Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển.3. Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành...”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội ngày nay, môi trường là một vấn đề cấp thiết hàng đầu được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm , con người đang khai thác quá mức cho phép cần thiết , ô nhiễm môi trường khiến cho chúng ta tiến gần đến hơn sự diệt vong Chính vì vậy việc hoàn thiện pháp luật về môi trường rất quan trọng Bên cạnh việc tự nghiên cứu , Việt Nam cũng đã tham khảo thêm Luật Quốc tế về môi trường để hoàn thiện đầy đủ hơn cho các quy định của pháp luật quốc gia Một trong những công cụ quan trọng trong việc bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường Định hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật về môi trường được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, thực hiện tốt các cam kết quốc tế của Việt Nam.Do đó , em xin chọn đề tài
“Phân tích tác động của Luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” cho bài tập
học kì của mình
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
I,Khái niệm môi trường
Theo nghĩa rộng (Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, 2002): “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”
Tuyên ngôn UNESCO năm 1981: “Môi trường là toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người.” Như vậy đối với con người , môi trường không chỉ là sự tồn tại , sinh trưởng và phát triển cho chính con người mà còn là “ khung cảnh của cuộc sống , lao động và sự nghỉ ngơi của con người ”
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
Trang 2quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.”
II,Khái niệm bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là những hoạt động được diễn ra nhằm mục đích giữ gìn sự trong lành, sạch đẹp của môi trường; giúp cân bằng hệ sinh thái và cải thiện môi trường sống của các sinh vật nói chung và con người nói riêng qua những việc làm để ngăn chặn, phòng ngừa, khắc phục các hậu quả xấu do thiên tai và con người gây ra ảnh hưởng đến môi trường Và theo điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì :
“1.Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân
2.Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển
3 Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành ”
Chương 2: LUẬT QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG
Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 150 hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường , trong đó có khoảng 30 hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán , trao đổi , khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường : Chất độc hại , động vật hoang dã, chất phá hủy tầng ô zôn , như Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật , thực vật hoang dã có nguy cơ tiệt chủng ( CITES) ; Công ước Basel năm 1989 về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng; Thỏa thuận Paris năm 2015;
Một số Công ước ,Nghị định thư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường :
Công ước Viên năm 1985 về Bảo vệ tầng ô-zôn
Trang 3Công ước Viên được ký kết năm 1985 tại Viên (Cộng hòa Áo) Đây là khuôn khổ pháp lý quốc tế đầu tiên về bảo vệ tầng ôzôn với 197 quốc gia tham gia, mở đường cho các nước triển khai một loạt hành động mạnh mẽ cắt giảm triệt để các chất làm suy giảm tầng ôzôn sau này Công ước Viên nhằm mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người và môi trường chống lại các ảnh hưởng tiêu cực do
các hoạt động của con người làm thay đổi tầng ô-zôn Công ước gồm 21 điều,
thúc đẩy các bên để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước tiên hãy bảo
vệ tầng ôzôn Xét thấy nội dung của Công ước phù hợp với lợi ích chung của nhân loại nên Việt Nam đã sớm phê chuẩn và tham gia Công ước này vào ngày 26/4/1994
Công ước về Đa dạng sinh học
Đây là công ước toàn cầu về đa dạng sinh học đã được thông qua tại Nairobi ngày 22/05/1992, với 196 thành viên Công ước được thoả thuận vào ngày 05/06/1992 tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro vào năm 1992 và có hiệu lực vào ngày 29/12/1993 Đến nay đã được 183 nước phê chuẩn, trong đó có Việt Nam Việt Nam chính thức gia nhập vào ngày 16/11/1994 Công ước được thông qua để giải quyết mối đe dọa đối với các loài động thực vật và các hệ sinh thái Công ước là một bước tiến trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành tố đa dạng sinh học
và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích từ việc sử dụng các nguồn gen
Nghị định thư Kyoto
Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính Bản dự thảo được ký kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba khi các bên tham gia nhóm họp tại Kyoto và chính thức có hiệu lực vào ngày 16/02/2005 Đến nay đã có khoảng 192 nước tham gia phê chuẩn Việt Nam tham gia phê chuẩn Nghị định thư từ ngày 25/09/2002 Nghị định thư Kyoto chia sẻ mục tiêu chung với Công ước là ổn định mức độ tích tụ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được các tác động nguy hiểm cho hệ thống khí hậu
Chương 3 : TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ ĐẾN HOÀN THIỆN VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
Trang 4Nhà nước thời gian qua đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội gắn liền với yếu tố môi trường Các quy định của pháp luật về môi trường đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu về vấn đề môi trường Tính tương đồng của pháp luật môi trường Việt Nam và pháp luật quốc tế về môi trường được nâng cao Hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam đã thể hiện tính
ưu tiên của các quy định trong Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký và cam kết thực hiện :
Việt Nam đã tham gia ký kết Công ước Đa dạng sinh học vào ngày 16/11/1994 và chính thức trở thành thành viên của Công ước này Vì vậy việc xây dựng hệ thống pháp luật trong nước , các chính sách , kế hoạch về đa dạng sinh học cũng là một hình thức thực hiện nghĩa vụ của Công ước Các văn bản pháp luật như : Luật Đa dạng sinh học 2008 và gần đây là Luật Đa dạng sinh học 2018; Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 sửa đổi bổ sung năm 2016; Luật thủy sản 2003 , Luật thủy sản 2017 ; Nghị định 65/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học ngày 11/6/ 2010 để chứa đựng quy phạm điều chỉnh của các khu bảo tồn.Nhằm thể chế hóa nội dung
trong điều 8(g) Công ước Đa dạng sinh học , Nghị định 69/2010/NĐ-CP về an
toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen đã được ban hành và gần đây đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 118/2020/NĐ-CP, bên cạnh đó Kế hoạch hành động Quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công
ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học theo Nghị định số 79/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện tại điều
8 điểm a,b Công ước đa dạng sinh học về thành lập và quản lý khu bảo tồn thành những mục tiêu cụ thể Đã có sự tương thích trong luật Đa dạng sinh học Việt Nam với các điều khoản trong Công ước Đa dạng sinh học như khoản 3 điều 47 thể hiện được yêu cầu tại khoản d điều 9 Công ước Đa dạng sinh học
Việt Nam tham gia Công ước Marpol 73/78 từ ngày 29/08/1991 với hai phụ lục bắt buộc là Phụ lục (I; II) và 19/03/2015( Phụ lục III, IV, V, VI) Nhằm đưa các nội dung các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Nam tham gia nói chung và Công ước Marpol 73/78 nói riêng , chúng ta đã tiến hành công tác xây dựng pháp luật , luật hóa , các quy chế thích hợp , tổ chức bộ máy Từ nguyên tắc này , Luật bảo vệ môi trường đã được ban hành năm 1993 và sau đó vấn đề bảo vệ môi trường được đưa vào hàng loạt các văn bản quy phạm pháp
Trang 5luật liên quan đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường Bộ luật hàng hải 2005 ,2017 ghi nhận bảo vệ môi trường là một nguyên tắc quan trọng : Phòng ngừa ô nhiễm biển ,bảo vệ môi trường là một trong những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của bộ luật ( điều 1 ), gây ô nhiễm môi trường biển là hành vi
bị nghiêm cấm ( điều 10 Luật Hàng hải 2005/ khoản 6 điều 12 luật Hàng hải 2017) Với 16 điều đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường biển , trong đó có hai điều trực tiếp điều chỉnh , phòng ngừa , xử lí ô nhiễm môi trường biển ( điều 28
và 223); Bộ luật hàng hải đã bổ sung nhiều nội dung cụ thể hóa các quy định của hiệp ước Marpol 73/78 như quy định về đăng kiểm , giấy chứng nhận phòng ngừa ô nhiễm môi trường , về việc lưu giữ những tàu không đủ điều kiện bảo vệ môi trường Các nghị định , thông tư , quy chế lần lượt ra đời để hướng dẫn thực hiện luật Như Nghị định 137/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều quy định , chế tài về xử phạt các hành vi
về phòng ngừa ô nhiễm biển do dầu và các quy định buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường và nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường , Ngoài ra còn có nhiều Công ước , Nghị định thư tác động đến quá trình hoàn thiện văn bản pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như : Công ước Viên năm 1985 về Bảo vệ tầng ô-zôn và Nghị định thư Montreal về các chất hủy hoại tầng ô zôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường ; Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES);Công ước Basel năm 1989 về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng;Công ước
Rotterdam1998, Thỏa thuận Paris năm 2015(hiện có 20 quốc gia đang phát
triển đã hoàn thành và đệ trình Kế hoạch thích ứng quốc gia (NAP); 189 bên đã phê chuẩn Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu Ngày 28/10/2018 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 2053/QĐ-TTg ban hành kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu,
Chương 4 : NHỮNG HẠN CHẾ TỒN TẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN VẤN ĐỀ NÀY
1.Hạn chế :
Trang 6Hiện nay hệ thống Việt Nam hiện nay vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện; còn thiếu một số văn bản pháp luật quan trọng như : Luật Không khí sạch, và một số văn bản hướng dẫn khác chưa được ban hành Năng lực
chuyên môn của hệ thống cơ quan quản lí môi trường còn chưa cao sự phân chia trách nhiệm của từng cơ quan chưa rõ rang , vẫn còn chồng chéo nhau , do vậy đã để lại nhiều khoảng trống trong quản lí nhà nước về vấn đề môi trường
Lý do quan trọng nhất hiện nay đó chính là ý thức tự giác bảo vệ môi trường của người dân còn thấp , những dự án đầu tư bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu , nhiều công ty xí nghiệp vẫn chưa tuân thủ các quy định của pháp luật
về môi trường , làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống Thực tế
những năm qua cho thấy, môi trường ở Việt Nam bị ô nhiễm trầm trọng và có xu hướng gia tăng Trong khi đó trách nhiệm hình sự với hành vi gây ô nhiễm môi trường, vi phạm các quy định về quản lý chất thải, hủy hoại nguồi lợi thủy sản…
đã được quy định từ Bộ luật Hình sự năm 1999 đến nay, thậm chí trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã áp dụng trách nhiệm hình sự với cả pháp nhân có hành vi làm ô nhiễm môi trường, nhưng đến nay chưa có một cá nhân, tổ chức nào bị xử lý hình sự về hành vi này
2.Giải Pháp:
Qua việc chỉ ra những hạn chế của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, có thể thấy rằng, yêu cầu hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đang trở thành một yêu cầu, đòi hỏi cấp bách hiện nay, nhằm nâng cao hiệu lực của hệ thống pháp luật này Do vậy cần thực hiện một số giải pháp sau đây:
Một là, Hoàn thiện quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường.
Hai là, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường phải được xây dựng trong mối
quan hệ hài hoà với các quy định pháp luật khác, đặc biệt là đối với các quy định pháp luật về tài nguyên
Ba là, Hoàn thiện các quy định về đánh giá tác động môi trường.
Bốn là, Hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải, nhất là các chất thải ở khu
đô thị và khu công nghiệp
Trang 7Năm là, xây dựng và ban hành đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi
trường đảm bảo phù hợp với tình hình Việt Nam nhưng không gây rào cản hàng rào kỹ thuật (TBT) khi Việt Nam đã tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới
Sáu là, phân định lại chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, cũng như các cơ quan hữu quan, tránh sự chồng chéo như hiện nay Phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng giữa các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Trung ương với địa phương
Bảy là, Hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường đất, nước, không khí Tám là, Hoàn thiện các quy định về thanh tra về bảo vệ môi trường
Chín là, Thể chế đầy đủ các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế về
môi trường mà Việt Nam là thành viên, góp phần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh kinh tế phát triển đi kèm với công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước , quá trình tác động đến môi trường là không thể tránh khỏi , do các quốc gia trong đó có Việt Nam cần tích cực tham gia và thực hiện các Công ước quốc
tế về môi trường Từ những cam kết của mình trong các Nghị định thư và Công ước , các quốc gia sẽ có cơ sở hoàn thiện hơn pháp luật của nước mình trong lĩnh vực bảo vệ môi trường để phù hợp với các quy định của Công ước Chúng ta những người chủ của hành tinh xanh , hãy chung tay bảo vệ ngôi nhà của mình!
Tư liệu tham khảo
1.Công ước Marpol 73/78
2.Công ước về Đa dạng sinh học 1982
3.Công ước Viên năm 1985 về Bảo vệ tầng ô-zôn
4.Nghị định thư Montreal- 1989
5.Luật Hàng hải 2005
6.Luật môi trường 2005
Trang 87.Giáo trình luật thương mai quốc tế - Đại học Luật Hà Nội NXB -Công
An Nhân Dân Năm 2012
8.Luật Hàng hải 2017
9.Luật Bảo vệ môi trường năm 2020