1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản ở quận thanh xuân, thành phố hà nội

102 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 884,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thựchiện trong một năm để đảm bảo

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

  

NGUYỄN VĂN CHIẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

Ở QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

  

NGUYỄN VĂN CHIẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

Ở QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 60 31 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHÙNG VĂN NHƯ

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Trang 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIẾN VỀ HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở QUẬN THANH

1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng ngân sách

nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản 101.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong

đầu tư xây dựng cơ bản ở Quận Thanh Xuân, Thành phố

Chương 2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ

YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở QUẬN THANH

2.1 Quan điểm cơ bản về nâng cao hiệu quả sử dụng Ngân

sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Quận

2.2 Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử

dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơbản ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 85

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong

dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thựchiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhànước; Đầu tư XDCB là kênh đầu tư gắn với việc sử dụng lượng vốn lớn đểxây dựng các công trình hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nângcao đời sống dân sinh, tạo ra những điều kiện tốt nhất để bảo vệ Tổ quốc.Trên tinh thần đó, việc sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB nếu không đạthiệu quả cao thì không chỉ lãng phí NSNN, mà còn làm chậm tiến trình pháttriển kinh tế xã hội và ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêukhác

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận Thanh Xuân lần thứ IIIxác định “Công tác đầu tư XDCB là khâu đột phá trong lãnh đạo phát triển

kinh tế - xã hội” [32, tr.27] Nhiều năm qua, cùng với ngân sách Thành phố

cấp, Quận Thanh Xuân đã sử dụng một lượng ngân sách không nhỏ để đầu

tư xây dựng, cải tạo trường học, hình thành nhiều tuyến đường giao thông,khu đô thị mới,… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, từngbước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và tạo nên vẻ đẹp mớicủa Quận ngày càng khang trang, hiện đại Tuy nhiên, do nhiều nguyênnhân, việc sử dụng NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn Quận còn có biểuhiện kém hiệu quả Cùng với thực trạng trên, theo dự báo, những năm tới,nhu cầu đầu tư XDCB trên địa bàn Quận còn nhiều, trong khi xu hướngnguồn NSNN dành cho đầu tư XDCB chững lại do ảnh hưởng tiêu cực từsuy thoái kinh tế thế giới Theo trên, Quận Thanh Xuân đang đứng trướcthách thức không nhỏ về sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB, tạo lập hạ tầng

Trang 6

kinh tế, xã hội tiếp tục phát triển

Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Nâng cao hiệu quả sử

dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB ở cấp quận, huyệnnói chung, Hà Nội nói riêng đã được nhiều tác giả bàn luận đến ở các khíacạnh khác nhau

Dưới góc độ luận văn, luận án Tháng 6 năm 2009, Hoàng Vũ Diệu

Thúy đã bảo vệ thành công đề tài luận văn thạc sỹ "Nghiên cứu một số giải

pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình" tại Trường Đại

học Xây dựng Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích khá sâu vềđầu tư, đầu tư XDCB, nghiên cứu thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB ở thành phốĐồng Hới, tỉnh Quảng Bình Về mặt lôgic hình thức, đối tượng nghiên cứu trong

đề tài của Hoàng Vũ Diệu Thúy rất gần với đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả.Tuy nhiên, Hoàng Vũ Diệu Thúy không nghiên cứu vấn đề nâng cao hiệu quả sửdụng vốn Ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng trên địa bànthành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị.Thêm vào đó, thành phố Đồng Hới của tỉnh Quảng Bình có điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội không giống với Thanh Xuân - một quận trẻ của Thủ đô Hà Nội

Cùng với Hoàng Vũ Diệu Thúy có thể kể đến một tác giả khác làNguyễn Hoàng Lê với đề tài luận văn cao học “Thực trạng và các giải phápnâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh Phú Thọ những năm vừaqua” Tác giả luận văn đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về đầu tưxây dựng cơ bản bắt đầu từ việc phân tích, làm rõ các khái niệm về xây dựng

Trang 7

cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản, đặc điểm chung của đầu tư xây dựng cơbản, các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đến việc chỉ ra các chỉ tiêu phảnánh hiệu quả đầu tư XDCB Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đã đánh giá thựctrạng về đầu tư XDCB ở tỉnh Phú Thọ trong những năm qua và đề xuất nhữnggiải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư XDCB ở tỉnh Phú Thọ trong nhữngnăm tới Tất cả các nghiên cứu trên đây của Nguyễn Hoàng Lê thể hiện khá rõgóc độ nghiên cứu chuyên sâu về ngành mà chưa đứng trên giác độ kinh tếchính trị Việc phân định nguồn vốn đầu tư được tác giả quan niệm gồm: vốncho thiết kế, lắp đặt, xây dựng, … mà chưa đề cập trực tiếp đến nguồn vốn làNSNN Hơn thế nữa, Phú Thọ là một tỉnh trung du có nhiều nét khác biệt sovới Thanh Xuân là một quận của Hà Nội về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,quan điểm đầu tư – những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và nângcao hiệu quả đầu tư XDCB nói chung, từ nguồn vốn là NSNN nói riêng

Cũng dưới góc độ luận văn, luận án Tác giả Trần Ngọc Dũng đã bànđến “Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Sở giaodịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam”; Nguyễn Thị Hạnh với “Thựctrạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tạiNgân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Đông Đô” Tại Hội nghị Sinh viênNghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010, tác giả Lê MinhTuấn đã công bố kết quả đề tài “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thẩmđịnh dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Agribank Quận Cẩm Lệ - Thànhphố Đà Nẵng” … tất cả các công trình khoa học này đều có liên quan đến đềtài luận văn của tác giả nhưng chỉ trong một phạm vị hẹp đó là vấn đề thẩmđịnh dự án đầu tư – một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả và nâng cao hiệu quả

đầu tư các dự án nói chung – giống như đề tài “Quản lý nhà nước đối với các

dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN ở cấp huyện thuộc Hà Nội” của

Trang 8

tác giả Vũ Khắc Phương và một số đề tài khác chỉ đề cập đến góc độ quản lýnhà nước hay một góc độ nhỏ nào đó đối với đầu tư XDCB từ NSNN

Dưới góc độ các bài báo khoa học Tháng 1/2007, Tạp chí Cộng sản

điện tử có đăng bài của tác giả Nguyễn Sinh Hùng bàn về “Quản lý và sử

dụng NSNN trong tiến trình cải cách tài chính công” Trong bài viết này, tác

giả đã nêu bật một số vấn đề mới xung quanh hoạt động quản lý NSNN và sử

dụng NSNN trong tiến trình cải cách tài chính công Mặc dù có điểm tươngđồng với đề tài luận văn của tác giả là cùng nghiên cứu về NSNN nhưng cóthể thấy nghiên cứu của Nguyễn Sinh Hùng nghiêng nhiều về góc độ tàichính, kế toán trên phương diện cả nền kinh tế chứ không phải là kinh tếchính trị, trong khuôn khổ một quận của thành phố như đề tài luận văn đề cập

Cùng với Nguyễn Sinh Hùng có thể kể đến Phan Hùng với “Sử dụng hiệu

quả vốn đầu tư XDCB” đăng trên Báo Nhân dân điện tử ở địa chỉ

http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/cung-suy-ngam/item/11805702-.html.Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến hiệu quả của việc sử dụng các nguồnvốn nói chung trong đầu tư XDCB mà không bàn trực tiếp đến nguồn vốn làNSNN và trên một địa phương cụ thể Cùng với hướng nghiên cứu của PhanHùng nhưng cụ thể hơn là việc sử dụng nguồn vốn là NSNN, tác giả NguyễnVăn Cảnh đưa ra quan niệm về hiệu quả sử dụng NSNN, đề xuất các giảipháp về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc chi NSNN và trách nhiệm cá nhân đối với

các quyết định sử dụng NSNN trong bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng

NSNN” Tuy nhiên, cần thấy rằng, Nguyễn Văn Cảnh đã bàn đến hiệu quả sử

dụng NSNN trong các hoạt động nói chung mà không nghiêng nhiều về hoạtđộng đầu tư, đặc biệt là đầu tư XDCB

Cùng với các công trình nêu trên, còn có một số công trình khác cũngbàn đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề sử dụng NSNN, hay hiệu quả

đầu tư XDCB, tiêu biểu như: Thu Hằng với “Khắc phục triệt để tình trạng

Trang 9

lãng phí lớn do chủ trương đầu tư không đúng”; Minh Khánh bàn về “Tăng cường quản lý, sử dụng NSNN”; Công Hưng và “Hiệu quả đầu tư XDCB Khánh Vĩnh”; Bộ Tài chính với“Sử dụng NSNN còn lãng phí và thất thoát”

hay “Chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu tư XDCB” ởhttp://old.voer.edu.vn/module/khoa-hoc-xa-hoi/cac-chi-tieu-phan-anh-hieu-

qua-dau-tu-xay-dung-co-ban.html; Ở Thu Hằng, với cách đặt vấn đề là khắc

phục triệt để tình trạng lãng phí lớn do đầu tư không đúng đã nêu bật một thựctrạng xã hội hiện nay trong vấn đề đầu tư, trong đó có đầu tư XDCB là đầu tưkhông đúng hướng, không đúng lúc, không đúng nơi, không đúng nhu cầu …thì tất yếu dẫn đến lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp Tác giả Minh Khánh cóhướng nghiên cứu khác với Thu Hằng ở chỗ bàn đến mục tiêu quản lý, sửdụng NSNN phải đạt hiệu quả cao cho dù lượng NSNN đó được dùng vào bất

kỳ hoạt động nào chứ không phải là bàn riêng về sử dụng NSNN trong đầu tư

XDCB Bài viết “Chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu tư XDCB” đã bàn đến một

cách chung nhất về hiệu quả đầu tư XDCB nhưng không đề cập cụ thể đếnnguồn vốn là NSNN và trên một địa phương cụ thể

Những dẫn luận trên đây cho thấy, mặc dù có nhiều công trình đã đượccông bố có liên quan đến đề tài luận văn nhưng chưa có bài viết hay côngtrình nào bàn đến một cách trực tiếp về vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụngNSNN trong đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng NSNNtrong đầu tư XDCB, từ đó đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, dự báo xuhướng, đề ra quan điểm và các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sửdụng NSNN trong đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

*Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

- Nghiên cứu, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng

NSNN trong đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

- Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân hiệu quả sử dụng NSNNtrong đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NSNNtrong đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Là hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân,Thành phố Hà Nội

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu, khảo sát, điều tra việc sử dụng NSNN trong

đầu tư XDCB trong không gian là Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội vớinguồn NSNN mà Quận được giao và những dự án đầu tư XDCB do Quận thựchiện trong thời gian chủ yếu là 5 năm gần đây (2008-2014)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủnghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và nhànước xung quanh hoạt động sử dụng NSNN và đầu tư XDCB

*Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, đề tài luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Kinh tếChính trị Mác Lênin, đặc biệt là trừu tượng hóa khoa học và các phương phápkhác như phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

- Cụ thể hóa thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc

Trang 11

sử dụng NSNN để đầu tư phát triển, cụ thể là đầu tư XDCB trên địa bàn cấpquận, huyện Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy môn Kinh

tế Chính trị Mác Lênin

- Nêu những ý kiến phản biện, đề xuất, gợi ý cho Quận Thanh Xuân,Thành phố Hà Nội nghiên cứu, tham khảo về việc nâng cao hiệu quả sử dụngNSNN trong đầu tư XDCB trên địa bàn Quận

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tàigồm 2 chương, 4 tiết

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIẾN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

Ở QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản

1.1.1 Ngân sách nhà nước và đầu tư xây dựng cơ bản

Một số vấn đề về ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện, phát triển của kinh tếhàng hóa và sự ra đời của nhà nước Hiện nay, thuật ngữ "Ngân sách nhànước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia.Song quan niệm về NSNN lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều địnhnghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu

Thông thường, nói đến NSNN, người ta hiểu đó là bản dự trù thu, chitài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là mộtnăm) thể hiện những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huyđộng và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau; Một khoản tiền hay một quỹtiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành từ các nguồn thu trong xã hội

và được chi tiêu vào các hoạt động để đảm bảo thực hiện chức năng của nhànước trong một khoảng thời gian nhất định Nếu lượng thu nhiều hơn chi thìgọi là bội thu NSNN và ngược lại là bội chi hay thâm hụt NSNN Với mỗiquốc gia, tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển mà lượngNSNN cần duy trì có sự khác nhau, từ đó các khoản thu, chi và mức độ thuchi của từng khoản được xác định Các quốc gia chậm phát triển và đang pháttriển, còn nghèo đói thì NSNN thường ở tình trạng thâm hụt Tuy nhiên, ở cácnước phát triển cũng không phải không có những thời điểm bội chi NSNN docác yêu cầu phát triển hay những nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra Bội thu hay

Trang 13

bội chi NSNN chưa phải là điều đáng quan tâm bằng nguyên nhân hay những

lý do dẫn đến tình trạng đó

Từ các phân tích trên đây cho thấy, theo quan niệm chung nhất, NSNN

là một phạm trù kinh tế, một thành phần trong hệ thống tài chính, được hình thành từ các khoản thu, chi bằng tiền của mỗi quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định Đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm

những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách còn chi NSNN là khoảntiền được nhà nước tiêu dùng vào các hoạt động đầu tư, phát triển trongkhuôn khổ được xác định bởi luật pháp Về mặt bản chất, thu, chi NSNN là hệthống những quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quátrình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành quỹ tiền tệ tậptrung nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Thu NSNN là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước vớichủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực nhà nước nhằm giải quyết hài hòa cáclợi ích kinh tế xuất phát từ sự tồn tại của bộ máy nhà nước và yêu cầu thựchiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của nhà nước Nội dung cáckhoản thu NSNN bao gồm:

- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;

- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;

- Các khoản viện trợ không hoàn lại (Các khoản vay mang tính chấthoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại thì không tính vào thu NSNN);

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Thông thường, thu NSNN phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:

- Trình độ phát triển của nền kinh tế Nền kinh tế càng phát triển, tổngsản phẩm quốc nội (GDP) và GDP bình quân đầu người càng cao thì càng cókhả năng động viên để hình thành nguồn NSNN lớn và ngược lại

Trang 14

- Bản chất nhà nước Dưới góc độ thu NSNN, nhà nước của giai cấp bóclột thường hướng tới việc hình thành một khoản tiền lớn trên cơ sở mở rộng đốitượng thu và mức thu, tập trung chủ yếu vào người lao động và có dấu hiệu tậnthu Điều này khác với nhà nước XHCN, duy trì thu ngân sách trên cơ sở đảmbảo tối đa lợi ích của người lao động

- Nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn Trong mỗithời kỳ nhất định, mỗi quốc gia luôn đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế xãhội Nếu các mục tiêu này càng nhiều thì NSNN càng phải lớn Từ đó, phảiđộng viên, tăng nguồn thu, thậm chí phải đi vay để hình thành ngân sách

- Tổ chức bộ máy nhà nước Nếu tổ chức bộ máy nhà nước cồng kềnh,kém hiệu quả thì cần nguồn ngân sách lớn để nuôi nó nên phải tăng thu ngânsách và ngược lại Với bộ phận thu NSNN, nếu gọn, nhẹ, chặt chẽ, hiệu quảthì NSNN không bị thất thu, lượng thu được cho NSNN lớn

Chi NSNN là việc tiêu dùng NSNN Thực chất, chi NSNN là việc phân

phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Chi NSNN là quá trình phân phối lại các

nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sửdụng Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các địnhhướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việcthuộc chức năng của nhà nước

Chi NSNN thông qua quá trình phân phối và quá trình sử dụng Quátrình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loạiquỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là trực tiếp chi dùng khoảntiền cấp phát từ NSNN mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹtrước khi đưa vào sử dụng Chi NSNN có các đặc điểm sau:

- Chi NSNN gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ Nhà nước của

Trang 15

giai cấp bóc lột thường không hướng việc chi NSNN vào các hoạt động manglại lợi ích chủ yếu cho đại bộ phận nhân dân, người lao động và toàn xã hộinhư hoạt động chi NSNN của nhà nước XHCN Nếu các mục tiêu kinh tế,chính trị, xã hội được đặt ra nhiều thì các khoản chi theo đó mà tăng lên;

- Các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô vàmang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu;

- Chi NSNN gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp lí cao;

- Các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trùthuộc lĩnh vực tiền tệ như: giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương,…

Nội dung của các khoản chi NSNN có thể phân theo các tiêu chí khác

nhau Theo chức năng, nhiệm vụ, chi NSNN gồm chi tích lũy và chi tiêu dùng.

Chi tích lũy là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nềnkinh tế, tăng trưởng kinh tế, chi cho đầu tư phát triển, trong đó phần lớn là chicho XDCB, khấu hao tài sản xã hội Chi tiêu dùng là các khoản chi không tạo

ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trong tương lai (chi bảo đảm xã hội),bao gồm các khoản chi cho giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và côngnghệ, văn hóa, thông tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, cáckhoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế, quản

lý hành chính, an ninh, quốc phòng, dự trữ tài chính, trả nợ vay nước ngoài,lãi vay nước ngoài và các khoản chi khác Theo đó, chi NSNN cho đầu tưXDCB là một trong những khoản chi tích lũy

Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý, các khoản chi NSNN gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi dự trữ, chi trả nợ.

Trong đó, nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạtđộng thường xuyên của nhà nước; Nhóm chi đầu tư phát triển là các khoản chidài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởngkinh tế; Nhóm chi dự trữ là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà

Trang 16

nước và quỹ dự trữ tài chính; Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoảnchi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vaynước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế Dưới góc độnày, chi NSNN cho đầu tư XDCB là khoản chi cho đầu tư phát triển.

Chi NSNN phải tuân theo nguyên tắc gắn chặt các khoản thu để bố trícác khoản chi để tránh bội chi NSNN, gây lạm phát, mất cân bằng cho sự pháttriển xã hội; Đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí cáckhoản chi tiêu của NSNN; Tập trung có trọng điểm; Phân biệt rõ mục tiêu,nhiệm vụ các khoản chi và phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất…

Từ bản chất của thu, chi NSNN nhận thấy:

- NSNN được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định, gắn chặt vớiquyền lực kinh tế, chính trị và việc thực hiện các chức năng của nhà nước

- Hoạt động NSNN là phân phối lại các nguồn tài chính thể hiện ở thu

và chi của nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, chứa đựng những lợi íchtrong đó có lợi ích chung của toàn xã hội

- NSNN có đặc điểm của quỹ tiền tệ nhưng nó là một quỹ tiền tệ tậptrung của nhà nước, được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng trướckhi được chi dùng cho những mục đích đã định

Ở Việt Nam, “Luật NSNN” được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002

quy định rõ: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán

đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước

Theo đó, NSNN của Việt Nam cũng được hình thành từ các khoản thunhư ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Điểm khác biệt lớn nhất của NSNN ởViệt Nam so với NSNN của các nước khác, đặc biệt là các nước tư bản làngân sách này được hình thành và phát triển, được quản lý, chi tiêu hướng tới

Trang 17

đảm bảo lợi ích cao nhất cho toàn dân chứ không phải vì lợi ích thiểu số hayriêng giai cấp lãnh đạo nhà nước Mục tiêu cao nhất của việc hình thành vàphát triển NSNN ở nước ta là để đáp ứng yêu cầu đưa đất nước tiến lênCNXH, trước mắt là thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốcphòng, bảo vệ Tổ quốc Riêng đối với nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế,điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vững vai trò chủ đạo củathành phần kinh tế nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiếnđến thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.

Để thực hiện mục tiêu đó, NSNN ở nước ta bao gồm ngân sách Trung ương

và ngân sách địa phương Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơquan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương.Ngân sách địa phương là ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có hộiđồng nhân dân, ủy ban nhân dân

Mục tiêu của việc hình thành và phát triển NSNN đã quy định việc chiNSNN ở nước ta phải tuân thủ 6 nguyên tắc sau:

Một là, bố trí các khoản chi gắn chặt các khoản thu để tránh thâm hụt

ngân sách, đảm bảo giữ vững ổn định của nền kinh tế

Hai là, đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các

khoản chi tiêu của NSNN

Ba là, theo nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm, nhất là các

khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội

Bốn là, tập trung có trọng điểm Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ

NSNN phải tập trung vào các chương trình trọng điểm, các ngành mũi nhọncủa nền kinh tế, các vấn đề cấp thiết nhất của đời sống nhân dân

Năm là, phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của các cấp

theo quy định của luật để phối hợp chi NSNN

Sáu là, phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái.

Trang 18

Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và pháttriển của mỗi quốc gia Ở nước ta cũng vậy, NSNN là công cụ được nhà nước

sử dụng để tác động đến toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốcphòng và đối ngoại Quá trình tác động được thực hiện trên cơ sở 2 kênh:Dùng khoản thu, mức thu để điều tiết và sử dụng khoản chi, mức chi để trựctiếp làm thay đổi các hoạt động kinh tế, xã hội Trong các đối tượng màNSNN tác động đến có hoạt động đầu tư XDCB

Ngân sách quận, huyện, thị xã (gọi chung là ngân sách cấp huyện) làmột bộ phận của NSNN địa phương Nguồn thu gồm:

* Các khoản thu ngân sách quận, huyện, thị xã hưởng 100%

- Thuế tài nguyên từ các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ sản xuất;

- Thu khác từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh;

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp từ các nông trường, trạm trại quốcdoanh nhà nước quản lý;

- Thuế môn bài thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh;

- Tiền cho thuê mặt đất, mặt nước các doanh nghiệp nhà nước và khuvực ngoài quốc doanh;

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trựctiếp cho quận, huyện theo quy định của pháp luật;

- Các khoản phí, lệ phí (phần nộp ngân sách theo quy định) do các cơquan, đơn vị thuộc quận, huyện tổ chức thu (không kể phí xăng dầu, lệ phítrước bạ, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải);

- Thu phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực do các đơn vị quận,huyện phạt xử lý;

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nướctrực tiếp cho quận, huyện;

- Thu sự nghiệp, phần nộp ngân sách theo quy định của các đơn vị doquận, huyện quản lý;

Trang 19

- Thu kết dư ngân sách quận, huyện;

- Thu bổ sung ngân sách cấp trên;

- Thu chuyển nguồn từ ngân sách quận, huyện năm trước sang năm sau;

- Tiền bán tài sản cấp huyện quản lý;

- Thu hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với đất thuộc cấp huyện quản lý;

- Tiền sử dụng đất đối với loại đất có quy mô diện tích dưới 5000 m2,không tiếp giáp với mặt đường, phố

- Các khoản thu khác của ngân sách quận, huyện theo pháp luật

* Các khoản thu của ngân sách quận, huyện, thị xã hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) gồm:

- Thuế thu nhập cá nhân (không bao gồm thuế thu nhập cá nhân thu từdoanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp quakho bạc nhà nước)

- Lệ phí trước bạ xe máy, ô tô, tàu thuyền và tài sản khác

- Thuế giá trị gia tăng thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh (không kểthuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu)

- Thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa, dịch vụ thu từ khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh (không kể thuế TTĐB hàng nhập khẩu)

- Tiền sử dụng đất đối với loại đất có quy mô diện tích từ 5000m2 trởlên; hoặc đất dưới 5000m2 tiếp giáp với đường, phố; không bao gồm tiền sửdụng đất các dự án di dời theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ ngân sách thành phố hưởng 100% và đất nhỏ lẻ, xen kẹt có quy môdưới 5000m2 không tiếp giáp đường, phố điều tiết 100% cho ngân sách quận,huyện, thị xã

- Thuế môn bài thu từ các hộ, cá nhân kinh doanh (thu trên địa bàn phường)

- Lệ phí trước bạ nhà đất (thu trên địa bàn phường)

Trang 20

* Chi ngân sách quận, huyện, thị xã cho đầu tư phát triển.

Ngân sách quận, huyện, thị xã chi đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấpcác công trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thuhồi vốn, không có khả năng xã hội hóa thuộc lĩnh vực phân cấp cho quận,huyện, thị xã trên địa bàn Cụ thể các lĩnh vực đầu tư phát triển thuộc nhiệm

vụ chi của ngân sách cấp huyện, bao gồm:

- Đầu tư lĩnh vực thủy lợi

Đầu tư các công trình thủy lợi, có đặc điểm, tính chất, quy mô như sau:+ Đầu tư các hồ chứa nước có dung tích từ 500.000 m3 trở xuống; hoặc

có chiều cao đập từ 12 m trở xuống, phục vụ trong phạm vi 1 xã;

+ Đầu tư các đập dâng có chiều cao đập từ 10m trở xuống, phục vụ tướitrong phạm vi 1 xã;

+ Đầu tư các trạm bơm điện phục vụ trong phạm vi 1 xã;

+ Đầu tư hệ thống kênh tưới tiêu phục vụ phạm vi 1 xã

- Đầu tư lĩnh vực đê điều: các tuyến đê từ cấp IV trở xuống, các tuyến

đê bao, đê bối của các sông nội địa thuộc địa bàn (không bao gồm các tuyến

đê bao, đê bối của các sông Hồng, sông Đà, sông Đuống)

- Đầu tư lĩnh vực Lâm nghiệp: các công trình bảo vệ phát triển rừngphòng hộ, rừng sản xuất trên địa bàn (trừ phần thuộc Thành phố đầu tư quản lý)

- Đầu tư công trình công viên, hồ nước

Đầu tư xây dựng, nâng cấp các công viên và hồ nước còn lại trên địabàn (trừ các công viên, hồ thành phố quản lý)

- Đầu tư lĩnh vực giao thông

Khối quận đầu tư các đường ngõ phố, ngõ xóm và đường nội bộ khudân cư; hè đường phố trên địa bàn (trừ các tuyến quan trọng do Thành phốđầu tư cả hè và đường)

- Đầu tư công trình bến xe ô tô, bãi đỗ xe: Bãi dừng, đỗ xe tại các khudân cư, trung tâm thương mại và khu vực công cộng khác trên địa bàn, các bãi

Trang 21

đỗ xe tạm thời trong khu vực nội thành, nội thị, bãi đỗ xe tạm thời khu vựcngoại thành và trong khuôn viên thuộc quyền sở hữu, quản lý của các tổ chức,đơn vị theo địa bàn hành chính.

- Đầu tư xây dựng các bãi, bến cảng thủy

- Đầu tư công trình, dự án chiếu sáng công cộng

- Đầu tư công trình vệ sinh môi trường

Đầu tư các bãi chôn lấp rác, đất thải cấp huyện và khu tập kết rác tạicác xã trên địa bàn; đầu tư bãi chôn lấp rác thải trên địa bàn phục vụ việc xử

lý chất thải trong địa bàn 1 quận/huyện; Đầu tư các công trình, dự án khắcphục ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trong phạm vi 1 xã, phường, thị trấn

- Đầu tư công trình thoát nước

Quận đầu tư công trình thoát nước ngõ, ngách và trong khu vực dân cưkhông tiếp giáp đường Thành phố quản lý; Huyện đầu tư các công trình thoátnước còn lại trên địa bàn (ngoài các công trình Thành phố quản lý);

- Đầu tư lĩnh vực Văn hóa - Thể thao:

Đầu tư các nhà văn hóa, các trung tâm văn hóa thể thao, nhà thi đấu thểthao, nhà văn hóa thanh - thiếu nhi cấp huyện; nhà văn hóa xã, phường; nhàvăn hóa thôn, xóm, khu dân cư, khu vui chơi cộng đồng; Đầu tư bảo tồn, tôntạo các di tích trên địa bàn (ngoài 12 di tích Thành phố quản lý)

- Đầu tư lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo và Y tế

Đầu tư xây dựng các trường mầm non (trừ trường thuộc Thành phốquản lý); tiểu học, trung học cơ sở (trừ các trường Thành phố quản lý); xâydựng trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện, thị xã; trung tâm dạy nghềtrên địa bàn; trung tâm tin học, ngoại ngữ, giáo dục cộng đồng và giáo dụcthường xuyên do cấp huyện quản lý; Đầu tư các trung tâm Y tế quận, huyện,thị xã (gồm cả phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế phường, xã); Trungtâm dân số kế hoạch hóa gia đình cấp quận, huyện, thị xã

Trang 22

- Đầu tư lĩnh vực Quản lý nhà nước:

Cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc các cơ quan hành chính, đảng, đoànthể quận, huyện, thị xã; Đầu tư xây dựng mới, cải tạo hạ tầng kỹ thuật và trụ

sở làm việc các cơ quan hành chính, đảng, đoàn thể cấp xã; trụ sở hoặc nơilàm việc của công an và quân sự xã

- Đầu tư công trình phục vụ tang lễ: Các nghĩa trang nhân dân, nghĩatrang liệt sỹ, đài tưởng niệm, đài liệt sỹ cấp huyện và xã

- Đầu tư lĩnh vực môi trường; Các công trình, dự án khắc phục ô nhiễmmôi trường ảnh hưởng trong phạm vi 1 xã, phường, thị trấn

- Đầu tư lĩnh vực Thông tin và truyền thông: Các công trình, dự ánphục vụ hoạt động phát thanh, truyền thanh cấp huyện, xã

- Đầu tư công trình ứng dụng Khoa học công nghệ và công nghệ thôngtin: Các công trình công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu và xây dựng cổng thôngtin cấp huyện, xã

- Đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu đất đấu giá quyền sử dụng đất đối với đấtnhỏ lẻ, xen kẹt có diện tích dưới 5000m2 không tiếp giáp với đường phố; hạ tầng

kỹ thuật khu tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng các dự án cấp huyện

- Các khoản chi đầu tư phát triển khác thuộc nhiệm vụ chi của ngânsách cấp huyện, cấp xã theo quy định của pháp luật

* Các khoản chi thường xuyên

- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề; y tế; đảm bảo

xã hội; văn hóa thông tin, thể dục thể thao; ứng dụng khoa học, công nghệ doquận, huyện quản lý: Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập

và sự nghiệp giáo dục khác; Dạy nghề, đào tạo nghề, bồi dưỡng kiến thức chínhtrị do Trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện mở và các hình thức bồi

dưỡng, đào tạo khác; Các hoạt động về công tác y tế (vệ sinh phòng bệnh dịch,

vệ sinh an toàn thực phẩm); kế hoạch hóa gia đình và trẻ em theo phân cấp;

Trang 23

Các trại xã hội do quận, huyện quản lý; cứu tế xã hội; phòng chống các tệ nạn

xã hội và các hoạt động xã hội khác theo phân cấp; Nhà văn hóa, các cơ sởvăn hóa và các hoạt động văn hóa khác do cấp huyện quản lý; Quản lý, bảo vệcác di tích lịch sử - văn hóa theo phân cấp; Đài phát thanh và các hoạt động thôngtin, tuyên truyền khác của quận, huyện; Bồi dưỡng, huấn luyện vận động viêncác đội tuyển cấp quận, huyện, trong thời gian tập trung thi đấu, hoạt độngcủa các trung tâm thể dục, thể thao do quận, huyện quản lý; Chi ứng dụng tiến

bộ khoa học, công nghệ; Các sự nghiệp văn hóa, xã hội khác

- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do quận, huyện quản lý

Sự nghiệp giao thông: Quản lý, duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa, nângcấp đường giao thông và các công trình giao thông do quận, huyện quản lýtheo phân cấp; Sự nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và thủy lợi doquận, huyện quản lý; chuyển đổi cơ cấu kinh tế phục vụ phát triển mô hìnhnông thôn mới; chi bảo vệ, phòng chống cháy rừng; phòng chống lụt bão vàcác nhiệm vụ khác về nông - lâm - ngư nghiệp theo phân cấp của Thành phố

Sự nghiệp thị chính: Quản lý, duy tu bảo sưỡng và sửa chữa nâng cấp

hệ thống đèn chiếu sáng công cộng, công trình thoát nước, vỉa hè, ngõ, ngách;quản lý các hồ, công viên, cây xanh; đo đạc, lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địachính theo phân cấp; Hoạt động quản lý hệ thống các chợ, các trung tâmthương mại theo phân cấp

- Các hoạt động sự nghiệp về môi trường theo phân cấp gồm: Thu gom,vận chuyển rác thải; hút bụi, tưới nước rửa đường theo trên địa bàn và cácnhiệm vụ khác về môi trường

- Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hộicủa cấp quận, huyện

- Hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, cácđoàn thể cấp quận, huyện, thị xã

Trang 24

- Hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội và tổchức xã hội - nghề nghiệp và thực hiện chính sách xã hội đối với các đốitượng do quận, huyện, thị xã quản lý;

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;

- Chi bổ sung cho ngân sách xã, phường, thị trấn;

- Chuyển từ ngân sách quận, huyện, thị xã năm trước sang năm sau

Một số vấn đề về đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư là từ để chỉ việc đem công sức, trí tuệ, tiền bạc làm một việc gìnhằm đem lại kết quả, lợi ích nhất định Dưới góc độ kinh tế, đầu tư là hoạtđộng sử dụng các nguồn lực (vốn, tài nguyên) trong 1 thời gian nhất định đểthu được lợi nhuận kinh tế hoặc lợi ích xã hội Theo cách hiểu chung nhất,đầu tư là bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệpbằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách vốn tự có, liên doanh, hoặc vaydài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hoá,

mở rộng doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận hay phát triển phúc lợi công cộng.Theo đó, hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trìnhững tiềm lực sẵn có hoặc tạo thêm tiềm lực mới để mở rộng quy mô hoạtđộng sản xuất, dịch vụ, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội

Theo Luật Đầu tư năm 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng cácloại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạtđộng đầu tư theo quy định của pháp luật Hoạt động đầu tư gắn liền với haiđặc trưng là tính sinh lãi và tính rủi ro Mục đích của việc đầu tư là sinh lãi,nghĩa là tạo ra những lợi ích lớn hơn trong tương lai từ nguồn vốn đầu tư banđầu Mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư tuỳ thuộc vào loại hình đầu tư vàtrong những điều kiện nhất định

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, vốn đầu tư là các tài sản hợppháp của cá nhân hoặc tổ chức trực tiếp hoặc gián tiếp đưa vào các hoạt động

Trang 25

sản xuất, kinh doanh, phát triển xã hội Các tài sản hợp pháp gồm: Cổ phần,

cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác; Trái phiếu, khoản nợ và các hình thứcvay nợ khác; Các quyền theo hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng chìa khóa traotay, hợp đồng xây dựng, hợp đồng quản lý, hợp đồng phân chia sản phẩm hoặcdoanh thu; Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng; Côngnghệ và quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nhãn hiệu thương mại, kiểu dángcông nghiệp, sáng chế, tên thương mại, nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ; Cácquyền chuyển nhượng, bao gồm cả các quyền đối với thăm dò và khai thác tàinguyên; Bất động sản; quyền đối với bất động sản, bao gồm cả quyền cho thuê,chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh; Các khoản lợi tức phát sinh

từ hoạt động đầu tư, bao gồm cả lợi nhuận, lãi cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền

và các loại phí; Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định củapháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Chủ sở hữu vốn đầu

tư hoặc người thay mặt chủ sở hữu hoặc người vay vốn và trực tiếp quản lý, sửdụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư được gọi là nhà đầu tư, có thể là nhànước, doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân

Tùy theo cách phân loại, có nhiều hình thức đầu tư Thông thường,người ta quan niệm có hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Ở hìnhthức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tưcòn đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua cácđịnh chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham giaquản lý hoạt động đầu tư Theo bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại,

có thể coi các hình thức đầu tư gồm: Đầu tư tài chính, đầu tư tài sản vật chất

và nguồn nhân lực, đầu tư thương mại, đầu tư xây dựng Trong đó, đầu tư tàichính là các hoạt động đầu tư vốn vào lĩnh vực kinh doanh khác, ngoài hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích mở rộng cơ hội

Trang 26

thu lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro trong kinh doanh; Đầu tư tài sản vật chất

và nguồn nhân lực là loại đầu tư nhằm trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nềnkinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất, kinh doanh hoặc các hoạt động xã hội;Đầu tư thương mại là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để muahàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lại lợi nhuận do chênh lệchgiá khi mua và khi bán; Đầu tư xây dựng là hoạt động bỏ vốn vào việc xâydựng, mua sắm nhà xưởng, thiết bị, máy móc, nhà ở, bệnh viện, trường học, cầuđường, bến cảng, sân bay… bao gồm việc xây dựng các xí nghiệp, công trìnhmới, khôi phục, cải tạo, mở rộng các xí nghiệp, công trình sẵn có (không kể cácchi phí sửa chữa, kể cả sửa chữa lớn các tài sản cố định) Theo trên, trong đầu tưxây dựng có một bộ phận đặc biệt đó là kênh đầu tư vào các công trình có tínhchất xây dựng như: Công trình giao thông, thủy lợi, thủy điện, cầu cảng, xâydựng nhà cửa, công sở, nhà máy để phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế và cáccông trình phúc lợi xã hội như nhà văn hóa, công viên, rạp chiếu phim nhằm mang lại lợi ích, phục vụ cho các ngành và nhiều người trong xã hội,được gọi là đầu tư XDCB Do tính chất của đầu tư XDCB là đầu tư cho nhiềungười, cho xã hội nên thông thường chủ đầu tư của kênh đầu tư này là nhànước với vốn đầu tư là từ nguồn NSNN Tuy nhiên, cũng có thể chủ đầu tư lànhà nước nhưng vốn đầu tư là vốn kết hợp giữa nhà nước với tập thể hoặc cánhân trên cơ sở nhà nước và nhân dân cùng làm

Như vậy, đầu tư XDCB chỉ là một kênh trong đầu tư xây dựng, là việcchủ đầu tư bỏ vốn vào các công trình có tính chất xây dựng để tạo ra nhữngđiều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống Đối vớinước ta, đầu tư XDCB là đầu tư xây dựng các công trình để hướng tới mụctiêu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống dân sinh, tạo ra những điềukiện tốt nhất để bảo vệ Tổ quốc Đầu tư XDCB tác động đến tổng cung vàtổng cầu, làm thay đổi cơ cấu kinh tế vĩ mô, từ cơ cấu ngành, vùng đến cơ cấu

Trang 27

thành phần kinh tế; Tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho phát triển nền kinh tếthị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đại hóa đấtnước; chủ đô ̣ng hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế; tạo tiền đề áp dụng nhanh các thànhtựu của khoa học và công nghệ vào thực tiễn cuộc sống và thực hiện các mụctiêu phát triển bền vững.

1.1.2 Hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng

cơ bản

Theo từ điển Tiếng Việt “Sử dụng là lấy làm phương tiện để phục vụ

nhu cầu, mục đích nào đó” Theo đó, có thể hiểu sử dụng NSNN trong đầu tư

XDCB là việc các cơ quan nhà nước lấy công cụ NSNN làm phương tiện để hình thành và phân phối quỹ NSNN cho việc xây dựng, tu bổ các công trình như đường xá, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, di tích lịch sử nhằm tạo

ra những điều kiện vật chất, kỹ thuật tốt hơn cho phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.

Sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB có các đặc điểm sau:

Một là, gắn với việc tạo ra và phân phối một lượng tiền lớn, khả năng

thu hồi thấp hoặc không thể thu hồi trực tiếp, thời gian sử dụng và thu hồi vốnlâu dài, dễ bị thất thoát, lãng phí Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư cho pháttriển, một khoản chi cho tích lũy, xây dựng và thực hiện mỗi dự án đầu tưXDCB thường rất tốn kém do đó sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB luôngắn với việc tạo ra và sử dụng một khối lượng tiền lớn cho dù đó là việc làcủa Trung ương hay của các địa phương Thực tiễn đã chứng minh sử dụngNSNN trong đầu tư XDCB là việc tạo ra và sử dụng khoản tiền lớn nhưng khảnăng thu hồi thấp hoặc không thể thu hồi trực tiếp, thời gian thu hồi lâu dài,

dễ bị thất thoát, lãng phí

Hai là, Số lượng vốn được cấp thẩm quyền quyết định; được Nhà nước

cấp phát theo chương trình, dự án từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đếnkhi hoàn thành bàn giao công trình đưa vào sử dụng; tiến hành thu hồi vốn

Trang 28

trong những dự án cụ thể, theo hợp đồng quy phạm pháp luật sau khi các côngtrình được đưa vào sử dụng.

Ba là, Có nhiều ngành, cấp cùng quản lý vốn theo các quy định của

Luật NSNN, quy định của pháp luật về quản lý đầu tư, quản lý chi phí xâydựng dự án, công trình Cụ thể, ngoài “Luật Ngân sách nhà nước”, hoạt động

sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB phải tuân theo 29 điều của 4 luật: Xâydựng, Đấu thầu, Bảo vệ môi trường và Doanh nghiệp

Bốn là, Chủ đầu tư không phải là người sở hữu vốn đầu tư đích thực

mặc dù đầu tư XDCB hướng tới giải quyết nhiều mục tiêu mang tính xã hội Các

tổ chức chính quyền, đoàn thể thay mặt nhà nước đóng vai trò chủ đầu tư,người sở hữu vốn đích thực NSNN là toàn xã hội Thực tế cho thấy, các dự ánđầu tư nói chung, đầu tư XDCB nói riêng thường nhằm đến nhiều mục tiêu.Ngoài việc có thể thực hiện các mục tiêu kinh tế, dự án đầu tư XDCB cònhướng tới các mục tiêu chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội Theo

đó, lợi ích xã hội của dự án đầu tư XDCB còn bao gồm những sự thay đổi vềđiều kiện sống, điều kiện lao động, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá,phúc lợi công cộng, chăm sóc y tế và quyền bình đẳng của con người

Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nhu cầu sử dụng vốnNSNN cho đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, trong đó đầu tư XDCB, từ trungương đến các địa phương, đặc biệt là cấp quận, huyện của các thành phố luônđược đặt ra, thường cao hơn so với khả năng của nền kinh tế và khả năng củacác địa phương Thêm vào đó, việc thất thoát, lãng phí NSNN trong đầu tưXDCB khá phổ biến và tình trạng các công trình đầu tư XDCB sau khi hoànthành đi vào khai thác, sử dụng chưa đạt hiệu quả cao đã đặt ra vấn đề nângcao hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB

Trong kinh tế học, một trong những lý thuyết trung tâm được đề cậpđến và ứng dụng rộng rãi là “hiệu quả Pareto” hay còn gọi là tối ưu Pareto

Thuật ngữ này được đặt theo tên của một nhà kinh tế học người Ý nghiên cứu

Trang 29

về hiệu quả kinh tế và phân phối thu nhập Theo Vilfredo Pareto, nếu một

hệ thống kinh tế đạt được hiệu quả Pareto, không một cá nhân nào có cuộcsống tốt lên mà không khiến một người khác có cuộc sống xấu đi Theo đó,cần tránh các tình trạng không đạt được hiệu quả Pareto Vì thế, hiệu quảPareto là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá các hệ thống kinh tế và

các chính sách chính trị Theo cách hiểu chung nhất “hiệu quả” là chỉ tiêu so

sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được xét trong một khoảng thời gian.

Kết quả được nói đến ở đây có thể là định tính, định lượng thể hiện dưới cácgóc độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… hoặc đồngthời Ở một góc độ nào đó, “hiệu quả” được định nghĩa là đạt được một kếtquả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất

Đối với việc sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB, muốn hiểu được hiệu

quả của nó cần phải xem xét đến hàng loạt các vấn đề Trước hết, NSNN với

tư cách là một công cụ thực hiện việc điều tiết, trong đó có điều tiết XDCB.Việc quyết định các nguồn thu, mức thu NSNN có ảnh hưởng đến độ lớn củaquỹ tiền tệ với vai trò là NSNN và từ nguồn vốn đó việc chi cho các hoạtđộng, trong đó có đầu tư XDCB được ấn định Khi các khoản thu và mức thutăng, NSNN tăng, lợi ích của cá nhân và tập thể bị ảnh hưởng, khi đó, nhànước dễ thực hiện đầu tư XDCB nhưng chỉ bằng nguồn NSNN và sẽ gặp khó

khăn trong XDCB với tính chất nhà nước và nhân dân cùng làm Thứ hai,

NSNN với tư cách là một khoản tiền thì hiệu quả của nó trong đầu tư XDCBđược khẳng định trên cơ sở so sánh giữa lượng tiền tệ với tính chất là chi phí,vốn đầu vào và việc hoàn thành các mục tiêu mà dự án đầu tư XDCB đặt ra

Từ các phân tích trên đây cho thấy, hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu

tư XDCB là tiêu chí phản ánh việc các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động thu, chi ngân sách để thực hiện các mục tiêu XDCB, tạo ra những lợi ích về mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đất nước hoặc địa phương.

Trang 30

Theo trên, để có sự đánh giá chính xác về hiệu quả sử dụng NSNNtrong đầu tư XDCB, cần chú ý các vấn đề sau:

Một là: Kết hợp chặt chẽ các lợi ích khi xem xét đánh giá hiệu quả sử

dụng NSNN trong đầu tư XDCB Các lợi ích xung quanh cuộc sống của con

người, xã hội nói chung, hoạt động sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB nóiriêng gồm: lợi ích về mặt kinh tế, lợi ích về mặt xã hội, lợi ích của cá nhân,tập thể và xã hội Vì thế, quá trình đánh giá về hiệu quả sử dụng NSNN trongđầu tư XDCB cần có sự kết hợp chặt chẽ các lợi ích Kết hợp lợi ích kinh tế

và lợi ích xã hội sẽ dẫn đến một hiệu quả kinh tế xã hội Lợi ích kinh tế biểuhiện cụ thể về sự thay đổi khối lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm, sự thayđổi cán cân thương mại ở mức lợi nhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sảnxuất Lợi ích xã hội của XDCB là thực hiện các mục tiêu kinh tế nói trên,ngoài ra còn thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêu xã hội khác như mục tiêuchính trị, mục tiêu an ninh quốc phòng, mục tiêu văn hoá xã hội, môi trường Khi xem xét hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB cần phải đánh giámột cách kỹ lưỡng, toàn diện để quyết định ưu tiên lợi ích kinh tế hay lợi ích

xã hội Trong nhiều trường hợp có sự xung đột xảy ra giữa lợi ích kinh tế và

xã hội thì lợi ích xã hội sẽ được ưu tiên hơn

Hai là: Hiệu quả sử dụng NSNN cần được xem xét toàn diện trong suốt

cả quá trình đầu tư hoàn chỉnh Quá trình đầu tư hoàn chỉnh một dự án đầu tư

gồm giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện dự án đầu tư XDCB vàgiai đoạn đưa công trình vào khai thác sử dụng Mỗi giai đoạn có đặc điểm,tính chất khác nhau nên có vai trò tác dụng khác nhau đối với hiệu quả sửdụng NSNN Giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện dự án đầu tư là nhữnggiai đoạn chí phí về NSNN rất lớn, nhưng chưa tạo ra sản phẩm, chưa thu lợiích từ các dự án Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN của 2giai đoạn này cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng của các sản phẩmkhảo sát, thiết kế, lập dự toán , nâng cao chất lượng sản phẩm XDCB, đảm

Trang 31

bảo thời gian thi công, giảm thiểu những thất thoát lãng phí trong XDCB.Trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác sử dụng tức là mục tiêu cuốicùng của dự án được thực hiện, các lợi ích về mặt kinh tế, xã hội từ dự ánđược khẳng định và những chi phí chủ yếu lúc này là chi phí vận hành, bảodưỡng Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giai đoạn này cần phải tậptrung vào việc thực hiện tốt tổ chức quản lý quá trình khai thác, sử dụng Vìvậy, việc đánh giá hiệu quả NSNN cần phải được xem xét toàn diện ở cả bagiai đoạn của quá trình đầu tư hoàn chỉnh.

Từ quan niệm và các phân tích trên, có thể khẳng định các tiêu chí cơbản để đánh giá hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB như sau:

Một là, tổng lượng NSNN thu được và khoản thu để chi cho đầu tư

XDCB cùng với lượng NSNN thực tế chi cho đầu tư XDCB hàng năm

Tổng lượng NSNN thu được để chi cho đầu tư XDCB Tiêu chí nàyđược xác trên cơ sở coi NSNN là công cụ quản lý, điều tiết kinh tế xã hội củanhà nước Bằng việc đề ra các khoản thu, mức thu NSNN để chi cho XDCBngười ta thấy được việc sử dụng NSNN cho đầu tư XDCB có hiệu quả haykhông Nếu đạt được tổng lượng thu NSNN để chi cho đầu tư XDCB càng lớn

mà không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, tổ chức kinh tế, đời sống nhân dân vẫn được cải thiện thì việc sửdụng NSNN trong đầu tư XDCB có khả năng đạt hiệu quả cao và ngược lại

Hai là, số lượng các công trình XDCB được thực hiện từ NSNN, tỷ lệ

lượng vốn trung bình trên mỗi công trình và quy mô công trình Nếu số lượngcác công trình tăng nhanh hơn lượng vốn NSNN, tỷ lệ vốn trung bình trênmỗi công trình tăng chậm, xuất hiện của nhiều công trình đầu tư có quy môlớn thì việc sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB có dấu hiệu tốt và ngược lại

Ba là, Những giá trị vật chất và tinh thần mà hoạt động đầu tư XDCB

mang lại cho địa phương và vùng lân cận sau khi công trình XDCB đưa vàokhai thác sử dụng Cụ thể là, tốc độ phát triển kinh tế; tạo điều kiện thuận lợi

Trang 32

về hạ tầng cơ sở cho các hoạt động sản xuất kinh doanh; giải quyết công ănviệc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân;lòng tin của dân đối với Đảng, nhà nước, chính quyền…

Ngoài các tiêu chí trên, đánh giá hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tưXDCB còn căn cứ vào các tiêu chí khác như: Thời gian thi công, thời gianhoàn vốn, giá trị thực của công trình so với giá trị quyết toán NSNN, tìnhtrạng khai thác, sử dụng và các chi phí bảo quản, vận hành, sửa chữa thực tếtrong quá trình khai thác, sử dụng công trình, tuổi thọ của công trình,…

Hoạt động sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB liên quan đến nhiều chủthể như nhà nước và các tổ chức kinh tế, các cá nhân, liên quan đến nhiềukhâu, bước với các thủ tục, quy định… theo đó, việc sử dụng NSNN trong

đầu tư XDCB sẽ phụ thuộc nhiều yếu tố Trước hết, NSNN được xem xét

dưới góc độ đó là một công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế,trong một thời điểm nhất định, với một trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB phụ thuộc vào mức độ phùhợp của các văn bản pháp quy với thực tiễn cuộc sống và cách thức tổ chức

bộ máy để đảm bảo cho các hoạt động thu, chi Thứ hai, dưới góc độ NSNN

là một quỹ tiền tệ, hiệu quả sử dụng nó cho đầu tư XDCB phụ thuộc vào:Công tác quy hoạch và kế hoạch đầu tư, các chính sách kinh tế, giống nhưcác nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung (sơ đồ 1)

Sơ đồ 1: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Công tác quy

hoạch và kế

hoạch đầu tư

Chính sách kinh tế

Công tác tổ chức, quản lý đầu tư xây dựng

Tổ chức khai thác sử dụng các

dự án đầu tư

Trang 33

Sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB phụ thuộc nhiều yếu tố đã dẫn đếnmột hệ quả tất yếu là rất khó đạt được hiệu quả cao trong hoạt động này, nhất

là khi các yếu tố ảnh hưởng tới nó không đạt sự phù hợp, tương thích và đảmbảo tính chặt chẽ đến mức cần thiết Thực tế cho thấy, những bất cập trong cơchế chính sách, tác động của mặt trái kinh tế thị trường, những thất thoáttrong đầu tư XDCB … đã làm cho hiệu quả sử dụng NSNN nói chung, trongđầu tư XDCB ở nước ta nói riêng còn thấp Với hiệu quả thực tế như thế thì

đó là một sự lãng phí rất lớn, làm mất cơ hội đầu tư cho các ngành, lĩnh vựckhác, làm chậm quá trình phát triển kinh tế và ảnh hưởng đến sự phát triểnchung của xã hội bởi như trên đã trình bày, đầu tư XDCB là khoản đầu tư lớn,lâu thu hồi Với lý do đó, phải nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN trong đầu tưXDCB nói chung, Quận Thanh Xuân thuộc Thành phố Hà Nội nói riêng

1.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

1.2.1 Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội và việc sử dụng ngân

sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Quận Thanh Xuân.

Quận Thanh Xuân nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô Hà Nội, phíaBắc giáp quận Đống Đa và Cầu Giấy, phía Đông giáp quận Hai Bà Trưng vàHoàng Mai, phía Nam giáp huyện Thanh Trì, phía Tây giáp huyện Từ Liêm vàQuận Hà Đông Quận Thanh Xuân, được thành lập ngày 22 tháng 11 năm 1996,trên cơ sở 5 phường (Thượng Đình, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Kim Giang,Phương Liệt) cùng với 78,1 ha diện tích, 20.862 nhân khẩu của phường NguyễnTrãi; 98,4 ha diện tích, 5.506 nhân khẩu phường Khương Thượng thuộc quậnĐống Đa; xã Nhân Chính huyện Từ Liêm và xã Khương Đình huyện ThanhTrìhttp://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_Xu%C3%A2n - cite_note-1#cite_note-1 Trong cơcấu tổ chức hành chính, Thanh Xuân có 11 phường: Hạ Đình, Kim Giang,Khương Đình, Khương Mai, Khương Trung, Nhân Chính, Phương Liệt, Thanh

Trang 34

Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân Trung và Thượng Đình.

Thanh Xuân có diện tích tự nhiên là 908 hécta, dân số năm 1997 là117.863 người, năm 2005 là 204.775 người, năm 2014 là trên 266.000 người.Dân số của Quận chủ yếu là công nhân, hưu trí, mất sức, lực lượng vũ trang,sinh viên, thợ thủ công, người lao động Một bộ phận khác là nông dân thuộchai xã của huyện Từ Liêm và Thanh Trì trước đây, nay chuyển thành baphường của quận Thanh Xuân (Nhân Chính, Khương Đình, Hạ Đình) ThanhXuân là một trong những quận có nhiều di tích lịch sử văn hóa của Thủ đô, có

6 trường đại học, một số trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề

và viện nghiên cứu khoa học Diện tích tự nhiên lớn, dân số tập trung đông lànhững yếu tố làm tăng nhu cầu đầu tư XDCB của Quận Ở những phường cóđặt trụ sở của các cơ sở giáo dục đào tạo, nghiên cứu có thế mạnh trong việcthiết lập các mối quan hệ hợp tác, phát huy, tận dụng tiềm năng trí tuệ, kinhnghiệm của đội ngũ trí thức, chuyên gia, của cơ sở vật chất, kỹ thuật ở cácđơn vị này cho sự nghiệp xây dựng, phát triển phường và quận, trong đó cóvấn đề sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB

Đảng bộ Quận, hiện có 56 tổ chức cơ sở Đảng (34 Đảng bộ và 32 Chibộ) trong đó, khối phường có 11, doanh nghiệp nhà nước có 03, doanh nghiệp

cổ phần có 21, khối hành chính sự nghiệp là 18, lực lượng vũ trang là 02 vàkhối ngoài doanh nghiệp nhà nước là 01 Tổng số đảng viên của toàn Quận là14.863 đồng chí, trong đó có 12.484 đồng chí thuộc khối phường, 177 đồng chíthuộc khối doanh nghiệp nhà nước, 976 đồng chí thuộc khối doanh nghiệp cổphần, 715 đồng chí thuộc khối hành chính sự nghiệp và 362 đảng viên thuộclực lượng vũ trang Nhìn chung, các tổ chức cơ sở đảng trong Quận hoạt độngtốt, đảm bảo được các nguyên tắc sinh hoạt đảng Toàn quận có 690 tổ dânphố, 11 tổ chức Mặt trận Tổ quốc với 187 Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư,

Trang 35

11 tổ chức Đoàn Thanh niên với 169 chi đoàn và 1.112 đoàn viên; 11 tổ chứcHội Phụ nữ phường với 121 chi hội, 139 tổ phụ nữ và 13.096 hội viên; 11 tổchức Hội Cựu chiến binh với 207 chi hội, 514 tổ hội và 4.800 hội viên; 3 tổchức Hội Nông dân với 17 chi hội và 918 hội viên Ở cấp phường, hệ thốngchính quyền gồm: Đảng bộ, Hội đồng Nhân dân, UBND, Mặt trận Tổ quốc,Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Cựuchiến binh các phường Ngoài ra, phường Nhân Chính, Khương Đình, Hạ Đìnhcòn có thêm Hội Nông dân được hình thành từ các xã trước đây

Với các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể được tổ chức chặt chẽ, đảngviên có mặt ở các lĩnh vực hoạt động, quận Thanh Xuân có điều kiện tốt để thựchiện việc giám sát chặt chẽ hoạt động sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB

Cùng với sự phát triển của thành phố, quận Thanh Xuân có tốc độ đôthị hóa nhanh, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được tập trung đầu tư, bộ mặt

đô thị ngày càng khang trang Nhiều tuyến đường giao thông mới được hìnhthành như đường Lê Văn Lương, Hoàng Minh Giám, Hồng Liên Hai nútgiao thông trọng điểm được xây dựng ở Ngã Tư Vọng, Ngã Tư Sở Nhiều nhàcao tầng, khu đô thị mới mọc lên tạo nên vẻ đẹp mới, hiện đại như: khu TrungHòa - Nhân Chính, khu Làng Sinh viên Hacinco, khu nhà cao tầng ThanhXuân Bắc, Phương Liệt Thanh Xuân tập trung nhiều cơ sở công nghiệp lớnvới 84 doanh nghiệp nhà nước, 2.652 doanh nghiệp ngoài nhà nước, hàngnăm đóng góp gần 1.500 tỷ đồng cho cho ngân sách Năm 2005, tỷ trọng côngnghiệp chiếm 75% tổng giá trị sản xuất kinh doanh trên địa bàn Sự phát triển

về kinh tế, xã hội những năm qua đã giúp Quận tăng cường nguồn thu choNSNN, cải thiện chi NSNN cho đầu tư XDCB nhưng cũng đặt ra những yêucầu mới về đẩy mạnh đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN, tạo nền tảng cho sựphát triển của những năm tiếp theo Với đặc điểm có nhiều doanh nghiệp,

Trang 36

Quận và các phường có nhiều thuận lợi trong việc phối hợp với các doanhnghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước để cùng thực hiện các dự ánđầu tư XDCB Tuy nhiên, để làm được việc đó, với chức năng quản lý nhànước ở địa phương, các phường phải tạo môi trường thuận lợi, đảm bảo giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn để phát triển sảnxuất kinh doanh, phải quan tâm giải quyết vấn đề quản lý lao động nhập cư,nhà ở, việc học tập của con em người lao động nhập cư, an toàn giao thông,môi trường và tệ nạn xã hội

Về sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản

Sử dụng NSNN với tính chất là một công cụ để quản lý, điều tiếtXDCB ở Quận Thanh Xuân được mô tả qua bảng 1

Bảng 1: Ngân sách nhà nước với tính chất là một công cụ của nhà

nước trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Đơn vị tính: Tỷ đồng

TT Chỉ tiêu 2001Năm 2005Năm Năm2006 Năm2010 Năm2011 Năm2012 Năm2013

1 Thu ngân sách 43,6 131 241 1.742 2.338 1.967 1.752,1Riêng từ sự

nghiệp kinh tế 32,6 69 116 533 560 596,6 731.8Thu để chi cho

Trang 37

Sử dụng NSNN trong đầu tư XDCB với tính chất NSNN là một khoảntiền đầu tư XDCB ở Quận Thanh Xuân được khái quát như sau:

Từ 2005 đến 2010, Thanh Xuân đã sử dụng trên 343,4 tỷ đồng NSNN

để đầu tư, triển khai 335 dự án, trong đó xây mới, cải tạo, nâng cấp 313 côngtrình đường giao thông ngõ xóm, thoát nước, trường học, trạm y tế nhà vănhóa, cơ sở thể thao, nhà hội họp, di tích lịch sử văn hóa, trụ sở làm việc củacác cơ quan quận, phường Đến 2010, có 236 dự án đã hoàn thành, đưa vào sửdụng, gắn biển 18/25 công trình chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long -

Hà Nội; đã phối hợp với Thành phố xây dựng hệ thống chiếu sáng, cung cấpnước sạch cho nhân dân [37, tr.28]; Đã xây dựng thêm 06 trường công lập, cảitạo, nâng cấp đầu tư trang thiết bị dạy học cho 23 trường; hoàn thành cơ bảnxây dựng giai đoạn 2 Trung tâm văn hóa thể thao quận; xây dựng 06 nhà vănhóa phường, 89 nhà hội họp, 21 sân chơi, tu bổ 11 đình, chùa đáp ứng nhucầu về văn hóa tâm linh cho nhân dân [37, tr.33]

Năm 2011, nguồn vốn NSNN của Thanh Xuân được giao 236 tỷ 100triệu đồng cho đầu tư XDCB nhưng công việc hoàn thành quyết toán là 241 tỷ

100 triệu đồng [32] Các con số này của năm 2012, 2013 là 342 tỷ 681 triệuđồng, giải ngân đến 31/12/2012 là 198 tỷ 637 triệu đồng, bằng 58% kế hoạchvốn giao đầu năm và 199 tỷ 914 triệu đồng, giải ngân đến 31/12/2013 đạt 157

tỷ 382 triệu đồng bằng 79% kế hoạch vốn giao, cả năm 2013 đạt 226,6 tỷ[33] Với lượng vốn trên, từ 2011 đến 2013, theo báo cáo 3 năm thực hiện Đề

án số 02-ĐA/QU ngày 4 tháng 11 năm 2010 về tăng cường công tác quản lý

và phát triển hạ tầng đô thị, quản lý đất đai và đảm bảo vệ sinh môi trườngquận Thanh Xuân giai đoạn 2010-2015 của Quận ủy Thanh Xuân, Quận đãđầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới: Trường THCS Việt An, TrườngTHCS Khương Mai, Nhà trẻ Tuổi Thần tiên, Nhà Trẻ Ao vườn nở, Mầm nonTràng An, cải tạo Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trường tiểu học Phương

Trang 38

Liệt, Trường mầm non Khương Đình và Trường THCS Nguyễn Trãi…đếnnay, 21 trường trên địa bàn Quận đạt chuẩn quốc gia (Chiếm tỷ lệ 53,8%, caohơn tỷ lệ chung toàn thành phố là 11%); đầu tư xây dựng 11/11 cơ sở y tế cấp

phường; Phối hợp, sử dụng nguồn vốn xã hội hóa để tu tạo Chùa Quan Nhân

(Phường Nhân Chính), Đình Phương Liệt và Chùa Linh Quang (PhườngPhương Liệt), Chùa Tam Huyền và di tích danh nhân văn hóa Đặng Trần Côn(Phường Hạ Đình), Đình Khương Trung (Phường Khương Trung), ChùaPhụng Lộc (Phường Khương Đình); Xây dựng Trụ sở UBND Phường ThanhXuân Trung, cải tạo nâng cấp trụ sở UBND Phường Hạ Đình; Cải tạo hồ ĐầmHồng (Khương Trung 1), hồ Đầm Chuối, hồ Phương Liệt 2 (Hồ Rùa), hồ HạĐình và phối hợp duy tu, nạo vét các đoạn sông; Chuẩn bị ngân sách Quận đểxây dựng các tuyến đường: Đường vào 3 trường, đường Nguyễn Tuân, đường

Vũ Trọng Phụng Ngoài ra, các tuyến đường: Đường vào cụm 2 Trường Tiểuhọc và THCS Hạ Đình, đường tổ 27A- 27B phường Hạ Đình, đường ngõ 342đường Khương Đình, đường thoát nước ven hồ Hạ Đình sẽ hoàn thành và đưavào sử dụng trong quý IV năm 2014 [34]

1.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

* Về thành tựu

Theo tiêu chí: Tổng lượng NSNN thu được và khoản thu để chi cho đầu

tư XDCB cùng với lượng NSNN thực tế chi cho đầu tư XDCB hàng năm thì Quận đã sử dụng có hiệu quả NSNN với tính chất là một công cụ để tăng cường hoạt động đầu tư XDCB

Theo bảng 1, tổng thu NSNN trên địa bàn Quận từ 2001 đến 2013 có

xu hướng tăng liên tục từ 43,6 tỷ năm 2001 lên 131 tỷ năm 2005, 241 tỷ năm

2006, 1.742 tỷ năm 2010, 2.338 tỷ năm 2011, 1.967 tỷ năm 2012 và 1.752,1

tỷ năm 2013 Trong tổng thu NSNN, từ 2012, Quận đã tách riêng khoản thu

Trang 39

để chi cho đầu tư XDCB Con số này đạt được các năm 2012 là 626,6 tỷ đồng

và năm 2013 là 248,1 tỷ đồng Với nguồn thu liên tục được cải thiện, tổng chicũng vì thế mà tăng lên, kéo theo chi thực tế NSNN cho đầu tư XDCB cả về

kế hoạch thành phố giao và thực tế quyết toán thực hiện cũng tăng lên nhanhchóng từ 53,9 tỷ năm 2001 lên 64,8 tỷ năm 2006 và các con số tương ứng từ

2010 đến 2013 là 146,8 - 241,1 - 198,6 và 226,6 tỷ Trong thống kê các nămgần đây, năm 2011 có số thu NSNN và chi cho đầu tư XDCB là cao nhất Vấn

đề đáng lưu ý là ngân sách Thành phố cấp cho đầu tư XDCB ngày càng chiếm

tỷ trọng nhỏ trong tổng NSNN mà Quận đã sử dụng để đầu tư Điều này minhchứng Quận đã sử dụng có hiệu quả NSNN với tính chất là một công cụ đểtăng cường hoạt động đầu tư XDCB

Theo tiêu chí: Số lượng các công trình XDCB được thực hiện từ NSNN,

tỷ lệ lượng vốn trung bình trên mỗi công trình và quy mô công trình thì NSNN với tính chất là một khoản tiền trong đầu tư XDCB đang được sử dụng có hiệu quả ngày càng cao tính từ 2011 đến nay

Bảng 2 chỉ ra lượng chi thực tế NSNN cho đầu tư XDCB tương ứng với

số lượng công trình được triển khai và tỷ lệ vốn trung bình trên mỗi công trình

Bảng 2 Tỷ lệ NSNN và số lượng các công trình XDCB

TT Chỉ tiêu 2005 – 2010Giai đoạn Năm2011 2012Năm 2013Năm

1 NSNN chi thực tế cho đầu tưXDCB (tỷ đồng) 343,4 241,1 198,6 226,6

Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu tham khảo số 44 và 51

Theo đó, trước năm 2010, vốn NSNN trên mỗi công trình chỉ khoảng trên

1 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ đó là các dự án đầu tư XDCB có quy mô nhỏ là

Trang 40

chủ yếu, chỉ cuối năm 2010 mới bắt đầu xuất hiện các dự án lớn, thường lànhững dự án đầu tư XDCB có lợi ích nhiều mặt trên các góc độ phát triển kinh

tế xã hội, nâng cao đời sống dân sinh và tăng cường củng cố quốc phòng, anninh Từ 2011 đến nay, vốn NSNN cho mỗi công trình đều trên 02 tỷ đồngnhưng có xu hướng giảm Điều này cho thấy, từ 2011 đến nay có nhiều dự ánđầu tư XDCB từ NSNN có quy mô lớn đã được thực hiện và hiện tại, các dự ánlớn về đầu tư XDCB đã cơ bản hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng để thúcđẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần giữ vững

an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Quận

Theo tiêu chí: Những giá trị vật chất và tinh thần mà hoạt động đầu tư

XDCB mang lại cho địa phương và vùng lân cận sau khi công trình XDCB đưa vào khai thác sử dụng thì việc sử dụng NSNN đã và đang phát huy tác động tích cực đối với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân trong Quận thông qua các công trình được xây dựng từ NSNN.

Chỉ tính từ 2006 đến 2010, cùng với các hoạt động khác, sử dụngNSNN trong đầu tư XDCB từ đã giúp cho Thanh Xuân liên tục đạt được tốc

độ tăng trưởng kinh tế cao Sản xuất công nghiệp tăng bình quân 16,4% năm(tăng 2,2% so với chỉ tiêu Đại hội 2000 -2005 đề ra), giá trị thương mại, dịch

vụ tăng 14% năm (tăng 2,3% so với chỉ tiêu Đại hội 2000 -2005 đề ra) Kinh

tế phát triển đúng định hướng cơ cấu công nghiệp - dịch vụ, trong đó, giá trịsản xuất công nghiệp chiếm khoảng 50%, kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn,đóng vai trò chủ đạo (chiếm 56,6%) Năm 2010, kinh tế tư nhân chiếm 42,18%đóng góp ngày càng nhiều vào giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,

thu NSNN tăng bình quân 17,5% năm vượt xa chỉ tiêu kế hoạch [22]

Theo đánh giá của Quận ủy Thanh Xuân, Trung tâm văn hóa, Trungtâm thể dục thể thao Quận được xây dựng, hoàn thành giai đoạn 2, đưa vào sửdụng, bước đầu khai thác có hiệu quả, phục vụ cho các hoạt động văn hóa, thểthao của Quận, đáp ứng một phần nhu cầu về văn hóa, thể thao của nhân dân

Ngày đăng: 30/05/2021, 09:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w