Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, là đơn vị cơ sở và tế bào của nền kinh tế Chúng không chỉ trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà còn phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý để mang lại hiệu quả tối ưu trong việc sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ.
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, hình thức tổ chức doanh nghiệp ngày càng trở nên đa dạng và phong phú Điều này dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau Trước các quan điểm đa dạng, chúng ta có thể định nghĩa doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau.
Từ góc độ nhà tổ chức, doanh nghiệp được xem như một hệ thống bao gồm phương tiện, máy móc, thiết bị và con người được sắp xếp hợp lý để đạt được mục tiêu Mục tiêu chính của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
Theo M Francois Perroux, một nhà kinh tế người Pháp, doanh nghiệp được định nghĩa là một tổ chức sản xuất kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau trong khuôn khổ tài sản nhất định Mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là tạo ra sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường, từ đó thu về lợi nhuận thông qua khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán.
Doanh nghiệp có thể được định nghĩa từ góc độ chức năng là một đơn vị sản xuất kinh doanh, thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ với mục tiêu tạo ra lợi nhuận.
Tổng hợp các định nghĩa và quan điểm khác nhau về doanh nghiệp sẽ giúp chúng ta hình thành một khái niệm toàn diện hơn về lĩnh vực này.
Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất và kinh doanh hợp pháp, với mục tiêu tạo ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên thị trường Qua đó, doanh nghiệp hướng đến việc tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời tôn trọng pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.
Trong một số lĩnh vực kinh doanh tại Việt Nam, như xây dựng công trình giao thông ở miền núi hay sản xuất hóa chất, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và tỷ suất lợi nhuận thấp, khiến các nhà đầu tư tư nhân không mặn mà Do đó, nhà nước phải can thiệp đầu tư không nhằm mục đích sinh lợi để tạo sự cân đối cho nền kinh tế Ngoài ra, một số ngành nghề còn ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và văn hóa, như kinh doanh vật liệu nổ và phân phối điện, nên cần sự quản lý và đầu tư của nhà nước để đảm bảo ổn định Điều này dẫn đến sự khác biệt trong định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước trong luật doanh nghiệp, không tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận.
Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam khi thành lập không có trụ sở hoạt động và nhanh chóng biến mất, thường với mục đích bán hóa đơn, làm ăn phi pháp, trốn thuế hoặc chiếm đoạt tài sản Để khắc phục tình trạng này, Luật Doanh nghiệp quy định rằng doanh nghiệp phải có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh hợp pháp nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất và phân phối hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thị trường và tạo ra lợi nhuận, đồng thời là một hệ thống kinh tế xã hội, kết hợp các nguồn lực vật chất và con người theo những nguyên tắc và mục tiêu nhất định.
Doanh nghiệp sản xuất là đơn vị chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành sản phẩm hoặc dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và tối đa hoá lợi nhuận Với vai trò là chủ thể sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thiết lập các mối quan hệ cần thiết để đạt được mục tiêu của mình trên thị trường.
Doanh nghiệp đóng vai trò là đơn vị phân phối kết quả sản xuất bằng cách bán ra sản phẩm hoặc dịch vụ, từ đó nhận được tiền mặt, séc hoặc giấy nhận nợ từ khách hàng Việc này giúp doanh nghiệp thanh toán các chi phí, nghĩa vụ thuế và xã hội, cũng như đầu tư cho sự phát triển sản xuất Để thực hiện chức năng này, doanh nghiệp cần đạt được sự phân phối hợp lý, nhằm tạo động lực cho sự phát triển và đảm bảo công bằng xã hội.
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế, không chỉ là công cụ điều tiết của nhà nước mà còn giúp nâng đỡ và tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế thông qua các hoạt động đầu tư, mở rộng, thành lập, thu hẹp và giải thể.
Với chức năng như vậy, trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp có vai trò quan trọng:
Doanh nghiệp hiện nay không chỉ là cơ cấu chấp hành mà còn là chủ thể sản xuất hàng hóa, có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về quá trình tái sản xuất và kinh doanh Trong khuôn khổ pháp luật, doanh nghiệp cần đáp ứng nhu cầu thị trường và hướng tới mục tiêu lợi nhuận tối đa, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.
- Doanh nghiệp là một pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật
- Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế, là một tế bào của nền kinh tế quốc dân
Hoạt động doanh nghiệp cần đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của người lao động và lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân Việc thống nhất mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao sẽ là nền tảng cho sự đồng bộ trong hoạt động của toàn hệ thống.
Doanh nghiệp được xem như một tổ chức xã hội, bao gồm tập hợp các cá nhân sở hữu phương tiện kỹ thuật và tài nguyên Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp không chỉ có trách nhiệm mà còn có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội một cách hiệu quả Việc xử lý tốt các vấn đề xã hội không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.
- xã hội cao của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai.
Các loại hình doanh nghiệp
Từ khi Đảng và nhà nước Việt Nam triển khai chính sách phát triển kinh tế hàng hoá đa dạng, theo cơ chế thị trường với sự điều tiết vĩ mô, nền kinh tế đã hình thành nhiều loại hình doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài.
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau chúng ta có nhiều loại hình doanh nghiệp như:
- Theo ngành nghề hoạt động có: Doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp thương mại
- Theo trình độ tập trung sản xuất có doanh nghiệp: quy mô lớn, quy mô nhỏ, quy mô vừa
- Theo phân cấp quản lý có: doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương
Theo chế độ sở hữu vốn, doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Một số doanh nghiệp có chế độ sở hữu hỗn hợp, và việc phân loại doanh nghiệp thành nhà nước hay tư nhân có thể dựa vào tỷ lệ cổ phần khống chế.
Dựa vào trình độ chuyên môn hoá trong sản xuất, có thể phân loại doanh nghiệp thành các loại sau: doanh nghiệp chuyên môn hoá thành phẩm, chuyên môn hoá chi tiết, bộ phận sản xuất, chuyên môn hoá giai đoạn công nghệ và chuyên môn hoá sản xuất phụ trợ.
- Căn cứ theo tiêu thức liên hợp có: doanh nghiệp độc lập, doanh nghiệp liên hợp
Sự phát triển của nền kinh tế đã dẫn đến sự đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, trong đó xu hướng kết hợp và đan xen giữa các loại hình ngày càng trở nên phổ biến.
Sau đây sẽ trình bày đặc trưng của một số loại doanh nghiệp chính (xem sơ đồ 1.1)
Các loại hình doanh nghiệp
Công ty 100% vốn nước ngoài
Sơ đồ 1.1: Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam a Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế mà nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, đồng thời có thể được tổ chức dưới các hình thức như công ty nhà nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Doanh nghiệp nhà nước được công nhận là pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, và chịu trách nhiệm hoàn toàn về các hoạt động kinh doanh trong giới hạn vốn mà doanh nghiệp quản lý.
Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu, có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam
Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư từ nhà nước, vốn tự huy động và các nguồn vốn khác theo quy định pháp luật Trong đó, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp bao gồm ngân sách nhà nước và vốn tự tích lũy được bổ sung vào vốn nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước có lợi thế nhờ nhận được sự hỗ trợ và ưu đãi từ chính phủ, cùng với sự tin tưởng từ khách hàng và người tiêu dùng Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh của họ thường thấp hơn so với các doanh nghiệp tư nhân.
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đồng thời là công cụ giúp Chính phủ điều tiết nền kinh tế Công ty cổ phần cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển này.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết)
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán c Công ty trách nhiệm hữu hạn:
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó:
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết vào doanh nghiệp
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi
Thành viên công ty TNHH có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mình cho người khác, theo quy định của pháp luật.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu
Các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền sở hữu và hưởng lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn đầu tư của họ Họ có thể tự quản lý công ty hoặc thuê người bên ngoài đảm nhận các vị trí quản lý.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu này phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ đã đăng ký.
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hay một phần vốn điều lệ của công ty cho các tổ chức cá nhân khác
- Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phiếu d Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn có thể có các thành viên góp vốn;
Thành viên hợp danh là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân đối với nghĩa vụ của công ty.
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Thành viên hợp danh có quyền quản lý và thực hiện các hoạt động kinh doanh của công ty, trong khi thành viên góp vốn chỉ được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định trong điều lệ công ty mà không có quyền tham gia quản lý hay thực hiện hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Doanh nghiệp tư nhân cũng là một hình thức kinh doanh đáng chú ý.
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động Ưu điểm lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân là quy trình thành lập đơn giản Lợi nhuận hoặc thua lỗ từ hoạt động kinh doanh sẽ được cộng vào tổng thu nhập chịu thuế của chủ doanh nghiệp Tuy nhiên, loại hình này cũng tồn tại một số hạn chế nhất định.
- Người chủ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của doanh nghiệp
- Quy mô của doanh nghiệp bị hạn chế vì bị phụ thuộc vào khả năng tài chính của chủ doanh nghiệp
Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh
Thứ nhất, chi phí: Có thể hiểu mọi sự tiêu phí tính bằng tiền là chi phí
Phạm trù chi phí là khái niệm bao trùm và quan trọng nhất trong lý luận và thực tiễn, được phát triển thành ba phạm trù cụ thể: chi tiêu, chi phí tái chính và chi phí kinh doanh Chi tiêu, theo Kosiol, Schulz, Schweitzer và Weber, là số tiền mà doanh nghiệp đã trả cho cá nhân, nhóm hoặc tổ chức nào đó, dẫn đến sự giảm tiền thanh toán, giảm số dư tài khoản ngân hàng, tăng nợ và thay đổi nợ Chi tiêu liên quan chặt chẽ đến các quá trình thanh toán tài chính, vì vậy nó chỉ được áp dụng trong kế toán tài chính.
Chi tiêu (thời kỳ) Chi tiêu nhưng không là chi phí tài chính
Chi tiêu trùng với chi phí tài chính
Chi phí tài chính trùng với chi tiêu
Chi phí tài chính nhưng không phải là chi tiêu Chi phí tài chính (thời kỳ)
Sơ đồ 1.2: Quan hệ giữa chi tiêu và chi phí tài chính
Chi phí tài chính được hiểu là sự giảm tài sản ròng, thể hiện hao phí trong một thời kỳ cụ thể và được ghi nhận trong kế toán tài chính.
Toàn bộ chi phí tài chính của thời kỳ
Chi phí tài chính hoạt động ở thời kỳ CPKD không trùng với chi phí tài chính Chi phí tài chính hoạt động có tính chất đặc biệt
Chi phí tài chính ở các lĩnh vực hoạt động khác
Chi phí tài chính không trùng với CPKD
Chi phí tài chính trùng với CPKD
CPKD không trùng chi phí tài chính
Chi phí kinh doanh bổ sung
Chi phí tài chính là CPKD của kỳ Chi phí kinh doanh của kỳ
Sơ đồ 1.3: Quan hệ giữa chi phí tài chính và chi phí kinh doanh
Chi phí kinh doanh được định nghĩa là sự hao phí vật phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến việc tạo ra kết quả có thể đánh giá được Theo Woehe, chi phí này xét trên phương diện giá trị của các vật phẩm và dịch vụ cần thiết cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cũng như duy trì năng lực sản xuất Chi phí kinh doanh có ba đặc trưng chính: đầu tiên, phải là sự hao phí vật phẩm và dịch vụ; thứ hai, hao phí này phải gắn liền với kết quả; và thứ ba, các vật phẩm và dịch vụ hao phí phải được đánh giá Chi phí kinh doanh khác biệt với chi phí tài chính về nội dung và quy mô.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các khoản chi phí bằng tiền cho lao động sống và lao động vật hoá, nhằm hoàn thành sản xuất sản phẩm và cung ứng lao vụ trong một khoảng thời gian nhất định.
Hay chi phí doanh nghiệp chi ra cấu thành nên giá trị sản phẩm bao gồm:
C: Hao phí lao động vật hoá, là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hao mò tài sản cố định
V: Hao phí lao động sống, là chi phí về tiền lương, tiền côngphải trả cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm m: Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động tạo ra giá trị sản phẩm dịch vụ lao vụ
Chi phí sản xuất có một số đặc điểm sau:
- Chi phí sản xuất phát sinh thường xuyên và gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí sản xuất tỷ lệ thuận với khối lượng sản xuất sản phẩm
- Chi phí gắn liền với một thời kỳ nhất định
Theo cơ chế hiện hành, doanh nghiệp Việt Nam hoạt động như một tổ chức sản xuất độc lập, với chi phí sản xuất bao gồm hai bộ phận chính là C và V Các chi phí này phát sinh thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định Trong bối cảnh hàng hóa tiền tệ, chi phí lao động sống và lao động vật hoá đều được thể hiện bằng tiền Để đạt được lợi nhuận, doanh nghiệp cần tổ chức tiêu thụ sản phẩm, điều này đòi hỏi các khoản chi phí như đóng gói, bảo quản, vận chuyển và bốc dỡ sản phẩm Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, doanh nghiệp cũng cần đầu tư vào nghiên cứu thị trường, tiếp thị, quảng cáo và bảo hành sản phẩm, những khoản chi này được gọi là chi phí tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài chi phí sản xuất, doanh nghiệp còn phải chịu các chi phí tiêu thụ sản phẩm và nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, bao gồm thuế Giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất - nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp Những khoản thuế này được coi là chi phí kinh doanh cần thiết mà doanh nghiệp phải chi trả để thực hiện hoạt động kinh doanh hiệu quả.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp cần chi trả để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, phản ánh tình hình sử dụng vốn và trình độ quản lý của doanh nghiệp Lợi nhuận, mục tiêu chính của hoạt động kinh doanh, bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chi phí; do đó, việc quản lý chi phí là rất cần thiết Mỗi chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành và giảm lợi nhuận, vì vậy hạ thấp chi phí sản xuất là điều kiện sống còn cho sự phát triển của doanh nghiệp Để quản lý chi phí hiệu quả, doanh nghiệp cần tiến hành phân loại chi phí một cách hợp lý.
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm nhiều loại khác nhau, với nội dung kinh tế, mục đích và công dụng riêng biệt Để quản lý và kiểm soát hiệu quả chi phí, các doanh nghiệp cần phân loại chúng theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Chi phí nguyên liệu vật liệu
Chi phí khấu hao TSCĐ
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí khác bằng tiền
Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực ti ếp
Chi phí sản xuất chung
Theo khoản mục giá thành
Chi phíí quản lý doanh nghi ệp
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Sơ đồ 1.4: Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh a Theo yếu tố chi phí
Theo phân loại này, chi phí được phân loại dựa trên công dụng kinh tế và hình thái nguyên thủy của chúng, chỉ căn cứ vào tính chất kinh tế của các khoản chi phí Vì vậy, những chi phí có tính chất tương tự sẽ được nhóm lại thành một yếu tố.
Chi phí nguyên liệu và vật liệu là tổng giá trị của tất cả nguyên vật liệu, nhiên liệu và động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định.
Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
Chi phí khấu hao tài sản cố định là số tiền được trích theo quy định cho toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp.
Chi phí dịch vụ mua ngoài là khoản tiền mà doanh nghiệp đã chi trả cho các tổ chức, cá nhân hoặc doanh nghiệp khác để thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu, bao gồm tiền điện, nước, tư vấn, kiểm toán và nhiều dịch vụ khác.
Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí gồm thuế môn bài, thuế sử dụng đất, chi phí tiếp tân, giao dịch và các chi phí khác
Các khoản chi khác doanh nghiệp được phép tính vào chi phí sản xuất kinh doanh gồm các khoản dự phòng giảm giá theo quy định
Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Trong sản xuất kinh doanh, chi phí không chỉ đơn thuần là hao phí đã chi ra mà còn cần được đánh giá dựa trên kết quả sản xuất thu được, thường được biểu hiện dưới dạng tiền tệ hay giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ chi phí lao động và vật chất mà doanh nghiệp đầu tư để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm cụ thể.
Giá thành sản phẩm bao gồm hai yếu tố chính: chi phí sản xuất và giá trị sử dụng của sản phẩm hoàn thành Bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị từ lao động vật hóa và lao động sống vào giá trị của sản phẩm, do đó, giá thành được coi là một phạm trù kinh tế khách quan.
Giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính của doanh nghiệp, vì vậy nó có tính chủ quan nhất định.
Giá thành là yếu tố quan trọng phản ánh chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, giúp xây dựng chính sách giá cả cho từng loại sản phẩm Đồng thời, giá thành cũng là cơ sở cho các quyết định quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp a Theo phạm vi tập hợp chi phí có thể chia giá thành 2 loại:
* Giá thành sản xuất sản phẩm: Bao gồm các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm tính cho sản phẩm công việc hay lao vụ đã hoàn thành
- Chi phí vật tư trực tiếp: Là chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu sử dụng trực tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm lương, tiền công và các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cùng kinh phí công đoàn cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản chi phí cần thiết cho hoạt động sản xuất và chế biến của phân xưởng, như chi phí vật liệu và công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định, tiền lương, các khoản bảo hiểm xã hội và y tế, cũng như kinh phí công đoàn cho nhân viên Ngoài ra, còn có chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác phát sinh tại phân xưởng.
Giá thành tổng thể của sản phẩm tiêu thụ bao gồm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp liên quan đến sản phẩm đó.
Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ bao gồm cả chi phí bảo hành sản phẩm
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các khoản chi cho bộ máy quản lý và điều hành, cũng như các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh Những khoản chi này bao gồm chi phí cho công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ quản lý, tiền lương, các khoản trích nộp kinh phí quản lý công ty, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền Tất cả những chi phí này đều cần thiết cho công tác kế hoạch hóa và hoạch toán giá thành.
Giá thành thành sản phẩm của doanh nghiệp được chia thành giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
Giá thành kế hoạch là mức giá mà doanh nghiệp dự kiến cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một kỳ nhất định Nó được xây dựng dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá chi phí cho kỳ đó, loại trừ các chi phí bất hợp lệ Giá thành kế hoạch đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành cũng như kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành thực tế là chỉ số phản ánh các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, được xác định sau khi quá trình sản xuất hoàn tất Nó bao gồm cả những chi phí không hợp lý, góp phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Giá thành thực tế là chỉ số quan trọng phản ánh nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí và giảm giá thành sản phẩm Nó không chỉ giúp đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn là cơ sở để xây dựng kế hoạch giá thành cho các kỳ tiếp theo, đảm bảo tính khả thi và hợp lý.
Giá thành là mục tiêu quan trọng nhằm giảm chi phí sản xuất và tiêu thụ, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp cải tiến quản lý sản xuất Việc thực hiện chế độ tiết kiệm trong sản xuất sẽ giúp hạ giá thành sản phẩm hiệu quả.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản xuất
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình sản xuất Chi phí sản xuất thể hiện mặt hao phí, trong khi giá thành sản phẩm phản ánh kết quả của quá trình sản xuất Cả hai đều là các hao phí về lao động và vật chất của doanh nghiệp, do đó, chúng có bản chất tương tự Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vẫn tồn tại sự khác biệt ở nhiều phương diện.
Chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp chi ra trong một khoảng thời gian nhất định Trong khi đó, giá thành là những khoản chi phí được quy định trong thời kỳ đó, chẳng hạn như chi phí chờ phân bổ Đây là khoản chi lớn đã được chi ra trong một kỳ nhất định, nhằm đảm bảo giá thành ổn định và hợp lý, nhưng chỉ một phần của chi phí này được tính vào kỳ hiện tại, trong khi phần còn lại sẽ được phân bổ dần cho các kỳ sau.
Chi phí sản xuất là tổng hợp toàn bộ chi phí của doanh nghiệp cho tất cả sản phẩm được sản xuất, trong khi giá thành sản phẩm chỉ phản ánh các chi phí sản xuất tính cho những sản phẩm cụ thể trong kỳ Đối tượng tính giá thành có thể khác nhau tùy thuộc vào từng ngành nghề.
Chi phí sản xuất và giá thành có thể biến động do sự hiện diện của sản phẩm dở dang ở đầu kỳ và cuối kỳ Sự khác biệt này được thể hiện qua công thức tính giá thành sản xuất, cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý hàng tồn kho trong quá trình sản xuất.
Zsx : Tổng giá thành sản phẩm sản xuất
D đk : Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
D ck : Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
C : Tổng chi phí phát sinh trong kỳ
Giá thành sản phẩm, cao hay thấp, phản ánh hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến lãng phí hay tiết kiệm xã hội Việc quản lý hợp lý các yếu tố như vật tư, lao động và vốn là cơ sở để giảm giá thành sản phẩm Điều này trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh tế.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là rất quan trọng, vì giá thành sản phẩm được xác định dựa trên chi phí sản xuất Sự tiết kiệm hoặc lãng phí trong doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm Do đó, quản lý giá thành cần phải liên kết chặt chẽ với quản lý chi phí sản xuất để đảm bảo hiệu quả kinh doanh.
Công tác quản lý chi phí
Khái niệm về quản lý chi phí
Quản trị chi phí kinh doanh là quá trình tập hợp, phân bổ và tính toán các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không bao gồm chi phí tài chính Tính chi phí kinh doanh cung cấp số liệu giúp so sánh doanh thu với chi phí thực tế, từ đó xác định lợi nhuận thực tế Haberstock định nghĩa quản trị chi phí kinh doanh là một hoạt động tính toán hướng nội, tập trung vào việc mô tả sự vận động của các nhân tố sản xuất và các hao phí liên quan Ngược lại, Kemmetmueler cho rằng việc phân tích và tính toán chi phí kinh doanh chỉ nhằm mục đích tập hợp và tính toán các chi phí liên quan đến kết quả kinh doanh.
Quản trị chi phí kinh doanh là quá trình phân tích, tập hợp và tính toán các chi phí phát sinh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ Mục tiêu của quản trị chi phí là cung cấp thông tin chính xác về chi phí, từ đó hỗ trợ các quyết định quản trị doanh nghiệp hiệu quả.
Yêu cầu quản lý đối với sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, các doanh nghiệp sản xuất cùng mặt hàng cần phải cạnh tranh về giá cả, chất lượng và mẫu mã để chiếm lĩnh thị trường Khách hàng chỉ chấp nhận sản phẩm khi đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý Do đó, các doanh nghiệp phải tối ưu hóa chi phí để giảm giá bán, tăng lợi nhuận mà vẫn duy trì chất lượng cao, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển trên thị trường.
Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay vẫn tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn và hoạt động bề nổi mà chưa xây dựng được chiến lược dài hạn vững chắc Họ thường tổ chức các chiến dịch quảng cáo rầm rộ và khuyến mại để giới thiệu sản phẩm và tạo dựng uy tín trên thị trường, nhưng lại không chú trọng vào việc cải tiến chất lượng sản phẩm thông qua công nghệ mới Để đạt hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp cần cân nhắc giữa chi phí đầu tư và kết quả thu được, đảm bảo tự bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận để tích lũy và mở rộng quy mô hoạt động.
Do đó, việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm là một yêu cầu cấp thiết cho mọi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường.
Vai trò củ a công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm
Khi xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, việc quản lý chi phí là yếu tố không thể thiếu mà mọi công ty phải chú trọng Các doanh nghiệp cần xem xét cách sử dụng và hiệu quả của các đồng vốn đầu tư, đồng thời đánh giá liệu chúng có mang lại lợi nhuận như mong đợi hay không Tri thức về quản lý chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc đầu tư kinh doanh, vì nếu thiếu kiến thức này, doanh nghiệp sẽ khó nhận diện được tình hình thực tế của các dự án đầu tư, kế hoạch kinh doanh cũng như hoạt động của công ty.
Yếu tố chi phí đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch mở rộng và tăng trưởng kinh doanh Các công ty cần tìm kiếm phương thức quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn và chi phí, đồng thời tái đầu tư vào những cơ hội tăng trưởng triển vọng để gia tăng lợi nhuận.
Chi phí kinh doanh là tổng số tiền phản ánh toàn bộ hao phí về nguồn lực mà công ty đã sử dụng trong một giai đoạn nhất định Quản lý chi phí không chỉ đơn thuần là tổng hợp số liệu mà còn cần phân tích chi phí riêng biệt để hiểu rõ hơn về chi phí sản xuất của từng công trình hoặc hạng mục Chi phí kinh doanh có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau nhằm phục vụ cho công tác quản lý và hạch toán Hoạt động quản lý chi phí thường được tách rời khỏi kế toán thống kê, tập trung vào việc tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình sử dụng vốn và chi phí, từ đó đưa ra quyết định về chi phí ngắn hạn và dài hạn của công ty.
Nhu cầu vốn và chi phí sản xuất kinh doanh của công ty thường xuyên biến động theo từng giai đoạn Do đó, quản lý chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét và lựa chọn cơ cấu vốn cũng như chi phí nhằm đạt được hiệu quả và tiết kiệm tối ưu Quản lý chi phí bao gồm nhiều yếu tố cần được cân nhắc kỹ lưỡng.
- Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn vốn huy động tối ưu cho công ty trong từng thời kỳ
Để đạt được sự tăng trưởng bền vững, công ty cần thiết lập một chính sách phân chia chi phí và lợi nhuận hợp lý, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và cổ đông, đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động Việc xác định phần lợi nhuận còn lại từ phân phối sẽ giúp công ty đưa ra quyết định đúng đắn về mở rộng sản xuất, đầu tư và phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới.
Kiểm soát việc sử dụng các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích
Bộ phận quản lý chi phí trong công ty sử dụng thống kê kế toán, báo cáo doanh thu, nhân sự và tiền lương để phân loại, phân tích và đánh giá chi phí Họ so sánh kết quả với kỳ trước và các công ty trong cùng ngành, đồng thời đối chiếu với chuẩn mực ngành Qua đó, bộ phận này xác định được điểm mạnh và thiếu sót của công ty trong kỳ.
Bộ phận quản lý chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giám đốc xây dựng chiến lược chi tiêu ngắn hạn và dài hạn Họ thực hiện đánh giá tổng quát và chi tiết các yếu tố chi phí có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của công ty Điều này bao gồm việc tham gia vào các thị trường tiền tệ, vốn và chứng khoán, đồng thời xác định chiến lược tài chính cho các chương trình và dự án nhằm mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất.
Ý nghĩa của việc giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thị trường hiện nay, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa thực hiện quản lý chi phí một cách hợp lý, dẫn đến việc tăng giá thành sản phẩm Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp cần phải quản lý chi phí hiệu quả, tính toán chính xác và đầy đủ chi phí vào giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Hạ giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp tạo lợi thế cạnh tranh, cho phép giảm giá bán để tiêu thụ nhanh chóng và tăng tốc độ quay vòng vốn.
Hạ giá thành giúp doanh nghiệp giảm lượng vốn lưu động sử dụng cho sản xuất, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, tiền lương và chi phí quản lý Điều này có nghĩa là với khối lượng sản xuất không đổi, doanh nghiệp chỉ cần ít vốn hơn, hoặc nếu giữ nguyên lượng vốn, họ có thể mở rộng quy mô sản xuất.
Hạ giá thành sản phẩm không chỉ làm tăng lợi nhuận trên mỗi đơn vị bán ra mà còn cho phép doanh nghiệp giảm giá bán, từ đó tăng khối lượng tiêu thụ Khi giá thành thấp, lợi nhuận thu được sẽ cao hơn, giúp doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tổng thể.
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh.36 1 Nhân tố bên ngoài
Nhân tố bên trong
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền, vốn và khả năng khai thác các yếu tố khách quan của doanh nghiệp Những yếu tố này có tác động trực tiếp đến giá thành, mức chi phí, thời gian lao động và lượng hàng hóa sản xuất.
Khoa học kỹ thuật công nghệ hiện nay là lực lượng sản xuất chủ yếu, và việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện cần thiết để giảm chi phí nhân công Tuy nhiên, chỉ việc trang bị máy móc hiện đại cho sản xuất là chưa đủ; vai trò của người lao động cũng rất quan trọng Máy móc, dù tiên tiến đến đâu, đều do con người chế tạo, và nếu thiếu lao động sáng tạo, sẽ không có các thiết bị đó Để máy móc phát huy hiệu quả, cần phải phù hợp với trình độ tổ chức, kỹ thuật và khả năng sử dụng của công nhân, nhằm tránh lãng phí và hỏng hóc.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp Nhờ vào lao động sáng tạo, doanh nghiệp có thể phát triển công nghệ, thiết bị và nguyên vật liệu mới, cải thiện năng suất và hiệu quả Người lao động cũng trực tiếp điều khiển máy móc, và việc tuân thủ quy định về thời gian cùng quy trình kỹ thuật không chỉ nâng cao độ bền của thiết bị mà còn giảm chi phí sửa chữa Hơn nữa, chất lượng sản xuất phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác và khả năng thích ứng của tất cả thành viên trong doanh nghiệp.
Việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ lao động là nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp hiện nay Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp sở hữu đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, tác phong làm việc khoa học và kỷ luật nghiêm minh thường đạt được hiệu quả cao trong công việc.
Trình độ phát triển cơ sở vật chất và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động Sự phát triển này không chỉ liên quan đến tư liệu lao động mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng sản phẩm và giá thành sản phẩm Việc cải tiến tư liệu lao động sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp.
Vật tư và nguyên vật liệu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất, cần có đủ lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động, trong đó vật tư và nguyên vật liệu là yếu tố thiết yếu Số lượng, chủng loại, cơ cấu và tính đồng bộ trong việc cung ứng vật liệu, cũng như chất lượng nguyên liệu, ảnh hưởng lớn đến chi phí kinh doanh Sự xuất hiện của nhiều loại vật liệu mới với tính năng vượt trội và giá thành thấp hơn đã giúp giảm đáng kể chi phí nguyên vật liệu.
- Nhân tố tổ chức sản xuất và lao động
Tổ chức sản xuất là bước quan trọng đầu tiên khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động, cần trả lời ba câu hỏi: sản xuất cái gì, cho ai và như thế nào Bố trí hợp lý và dây chuyền sản xuất khoa học giúp hạn chế lãng phí nguyên vật liệu, giảm tỷ lệ phế phẩm và chi phí ngừng sản xuất.
Tổ chức lao động khoa học giúp tối ưu hóa các yếu tố sản xuất, loại bỏ lãng phí lao động và thời gian máy móc, từ đó nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất Để đạt được điều này, bộ máy quản lý cần có chuyên môn, năng lực và sự sáng tạo, nhằm xác định phương án sản xuất hiệu quả nhất Việc bố trí lao động đúng ngành và đúng năng lực sẽ không chỉ tăng năng suất mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần hạ giá thành sản phẩm.
Quản lý tài chính doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả Doanh nghiệp cần có một lượng vốn tiền tệ nhất định và việc sử dụng vốn hợp lý giúp đáp ứng kịp thời nhu cầu về vật tư, tránh chi phí gián đoạn sản xuất Nếu chức năng giám đốc tài chính được phát huy tốt, doanh nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn, giảm chi phí tiền vay và hạ thấp giá thành sản phẩm.
Nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến quản lý chi phí và giá thành sản phẩm cần được nhà quản lý xem xét kỹ lưỡng Căn cứ vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, việc nghiên cứu từng nhân tố sẽ giúp đưa ra các phương hướng và biện pháp quản lý hiệu quả.