Các kết quả nghiên cứu của đề tài được xem xét và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kịp thời phục vụ công tác xây dựng dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính theo Quy định kỹ thuật chu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN QUANG TOẢN
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CHUẨN DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH VIỆT NAM
BẰNG THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHƯỜNG 2, QUẬN TÂN BÌNH, TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN QUANG TOẢN
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CHUẨN DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH VIỆT NAM BẰNG THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHƯỜNG 2, QUẬN TÂN BÌNH, TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kỹ thuật Trắc địa
Mã số: 60.52.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Trần Thùy Dương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu
và số liệu này là trung thực Các kết quả, luận điểm của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Toản
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan 2i Mục lục 3i Danh mục các chữ viết tắt 5i
Danh mục các hình vẽ, hình minh họa 6i
Danh mục các bảng 7i
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA
1.1 Tổng quan về cơ sở dữ liệu 9
1.1.1 Các khái niệm về dữ liệu, cơ sở dữ liệu 9
1.1.2 Các ưu điểm của cơ sở dữ liệu trên máy tính 9
Chương 2 MÔ HÌNH CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC
2.1 Mô hình cơ sở dữ liệu địa chính tại Đức 12
2.2 Mô hình cơ sở dữ liệu địa chính tại Mỹ 33
2.3.1 Tổng quan về bộ chuẩn thông tin địa lý ISO 19100 22
Chương 3 CHUẨN THÔNG TIN ĐỊA LÝ CƠ SỞ QUỐC GIA VÀ DỰ THẢO
3.1.1 Tổng quan về chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia 26
3.1.2 Giới thiệu các nội dung cơ bản của các quy chuẩn thông tin địa
3.1.5 Quy chuẩn hệ quy chiếu toạ độ 37
Trang 53.1.7 Quy chuẩn chất lượng dữ liệu địa lý 40
3.1.9 Quy chuẩn mã hóa trong trao đổi dữ liệu địa lý 423.2 Hiện trạng chuẩn hoá bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính ở Việt Nam 42
3.2.3 Đánh giá chung về hiện trạng chuẩn hoá bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính 463.3 Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam (dự thảo) 47
3.3.2 Quy định mô hình cấu trúc dữ liệu địa chính 50Chương 4 THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH CẤP
XÃ CHO PHƯỜNG 2, QUẬN TÂN BÌNH, TP HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Khái quát về tình hình dữ liệu khu vực chọn làm thực nghiệm 774.1.1 Hiện trạng thông tin tư liệu hệ thống điểm cơ sở đo đạc khu vực
thực nghiệm 77
4.2.1 Phân nhóm đối tượng 784.2.2 Quy trình tổng quát xây dựng cơ sở dữ liệu không gian thửa đất
4.2.4 Quy trình thu thập, chuẩn hóa thông tin thuộc tính 874.2.5 Kiểm tra chất lượng dữ liệu 884.2.6 Quy trình số hóa, chuẩn hóa dữ liệu hồ sơ địa chính 89
4.3 Thực nghiệm 914.4 Một số đề xuất hoàn thiện dự thảo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 110TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 6DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BĐĐC Bản đồ địa chính
DLBĐĐC Dữ liệu bản đồ địa chính
ISO Tổ chức chuẩn hóa Quốc tế
(International Organization for Standardization) FGDC Tổ chức chuẩn hoá thông tin địa lý Mỹ
UML Ngôn ngữ mô hình hoá thống nhất
SDI Hạ tầng dữ liệu không gian
(Spatial Data Infrastructure)
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, HÌNH MINH HỌA
Hình 2.1 Mô hình kiến trúc bộ tiêu chuẩn ISO 19100 23
Hình 3.2 Mô hình tổng quát cấu trúc dữ liệu địa chính 52Hình 3.3 Mô hình dữ liệu thời gian áp dụng cho dữ liệu địa chính 55Hình 3.4 Mô hình dữ liệu không gian cho đối tượng thửa đất 55
Hình 3.6 Quan hệ giữa các kiểu đối tượng Nguoi và các kiểu đối tượng
DangKy 57Hình 3.7 Các kiểu đối tượng mô tả người là tổ chức 57Hình 3.8 Các kiểu đối tượng mô tả người là cá nhân 58Hình 3.9 Các kiểu đối tượng thuộc gói DangKy (1) 59Hình 3.10 Các kiểu đối tượng thuộc gói DangKy (1) 60Hình 3.11 Quan hệ giữa các kiểu đối tượng DC_ DangKy, DC_Nguoi và
DC_DoiTuongDangKy 60Hình 3.12 Các kiểu đối tượng mô tả các quyền được đăng ký 61Hình 3.13 Các kiểu đối tượng mô tả nghĩa vụ 62Hình 3.14 Các kiểu đối tượng mô tả hạn chế 63Hình 3.15 Các kiểu đối tượng mô tả hồ sơ giao dịch và giao dịch bảo đảm 64
Hình 3.17 Kiểu đối tượng Ranh giới thửa đất 66
Hình 3.19 Kiểu đối tượng Thửa đất 67Hình 3.20 Quan hệ giữa kiểu đối tượng Ranh giới thửa đất với các kiểu
đối tượng Đường bờ nước, Đường biên giới địa giới 68Hình 3.21 Kiểu đối tượng Nhà và kiểu đối tượng Căn hộ 69Hình 3.22 Các kiểu đối tượng khác thuộc gói Tài sản gắn liền với đất khác 70Hình 3.23 Các kiểu đối tượng thuộc gói Quy hoạch 71Hình 3.24 Các kiểu đối tượng thuộc gói Cơ sở đo đạc 72Hình 3.25 Các kiểu đối tượng thuộc gói Biên giới, địa giới hành chính 73Hình 3.26 Các kiểu đối tượng thuộc gói Giao thông 74Hình 3.27 Các kiểu đối tượng thuộc gói Thuỷ văn 75
Trang 8Hình 4.1 Lớp ranh giới nhà trước khi chuẩn hóa 93
Hình 4.3 Lớp ranh giới thửa đất chưa có thửa đất giao thông 94Hình 4.4 Lớp ranh giới thửa đất đã thêm thửa đất giao thông theo chuẩn
Hình 4.5 Dữ liệu phường 2, quận Tân Bình đã được chuẩn hóa không gian
Hình 4.6 Lược đồ quan hệ cấu trúc dữ liệu theo chuẩn địa chính 97Hình 4.7 Màn hình thiết đặt cấu hình thông số đọc lớp bản đồ 99Hình 4.8 Hiển thị các lớp thông tin bản đồ sau khi nhập vào cơ sở dữ liệu 101Hình 4.9 Các chức năng nhập thông tin thuộc tính địa chính 101Hình 4.10 Truy vấn thông tin về đơn vị hành chính theo mã xã 102Hình 4.11 Truy vấn thông tin “họ tên” đối tượng sử dụng, quản lý đất
Hình 4.12 Thông tin các thửa đất trong phường 2, Quận Tân Bình 103
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Địa chính là một lĩnh vực Quản lý Nhà nước được đặc biệt quan tâm vì nó ảnh
hưởng đến các vấn đề chính trị, xã hội của mỗi Quốc gia Hệ thống Địa chính của
Việt Nam hoạt động theo mô hình phân cấp Các tỉnh chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động quản lý đất đai ở địa phương theo chỉ đạo và hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trong nhiều năm qua, ngành Quản lý đất đai (Địa chính) của nước ta đã được nhiều nước phát triển quan tâm giúp đỡ để xây dựng một hệ thống địa chính hiện đại, điển hình là dự án SEMLA của Chính phủ Thụy Điển có tên "Chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về tăng cường năng lực quản lý đất đai và môi trường" Một hệ thống địa chính hiện đại thì phải đáp ứng được sự phát triển của công nghệ
thông tin, nhanh chóng, thuận tiện trong quản lý, cập nhật, trao đổi dữ liệu Một
trong những vấn đề lớn khi quản lý, trao đổi thông tin là thông tin cần phải được chuẩn hóa Chuẩn hoá là công việc cần thiết khi người dùng muốn tích hợp hệ thống của mình với các phần cứng khác, với các phần mềm khác nhau và các nguồn dữ liệu khác nhau Chuẩn hóa dữ liệu là cần thiết khi trao đổi dữ liệu trên mạng, tạo khả năng truy nhập dữ liệu số được phân bố ở các vị trí địa lý khác nhau, chia sẽ dữ liệu giữa các cơ quan, công ty, thậm chí giữa các nước
Thời gian qua do chưa xây dựng được một “Chuẩn” về dữ liệu địa chính chính thức để áp dụng thống nhất trên toàn quốc vì vậy các địa phương đã thiết lập và duy trì dữ liệu địa chính với cấu trúc và nội dung không đồng nhất
Có thể tóm tắt lại thực trạng của dữ liệu địa chính Việt Nam thành một số giai đoạn sau:
- Thời kỳ đo đạc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính trong thời kỳ trước năm 1954 ở Miền Bắc và trước năm 1975 ở Miền Nam: bản đồ và hồ sơ địa chính
Trang 10chủ yếu ở dạng giấy và với nội dung tương đối đơn giản mục đích xác định được diện tích đất đai, chủ sử dụng (sở hữu) làm công cụ để thu thuế là cơ bản Bản đồ chủ yếu được vẽ dưới dạng sơ đồ hoặc bình đồ không có tọa độ hoặc theo tọa độ giả định của địa phương
- Thời kỳ đo đạc lập bản đồ, hồ sơ địa chính theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ: Thời kỳ này chủ yếu bản đồ được lập theo tọa độ địa phương hoặc hệ tọa độ Nhà nước HN-72 Phần lớn bản đồ được lưu trữ ở dạng giấy, trên đế phim Diamat hoặc sao lưu bằng phương pháp in ÔZalit Các bản đồ này chủ yếu hiện đang lưu trữ tại kho lưu trữ thuộc Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường thuộc sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh Một khối lượng nhỏ được sao lưu để sử dụng tại cấp huyện
- Thời kỳ hậu 299 đến trước năm 1999: Các địa phương đã bắt đầu ứng dụng công nghệ số để thành lập bản đồ địa chính tùy thuộc vào khả năng về kinh phí và trình độ cán bộ của từng địa phương Khuôn dạng của bản đồ và hồ sơ địa chính rất
đa dạng Bản đồ chủ yếu ở khuôn dạng của phần mềm AutoCad, ITR, một phần ở khuôn dạng của MapInfo… và chủ yếu ở hệ tọa độ HN-72; hồ sơ địa chính chủ yếu được quản lý ở dạng cơ sở dữ liệu trong Foxpro
- Sau năm 1999 khi Tổng cục Địa chính ban hành áp dụng phần mềm FAMIS cho công tác thành lập bản đồ địa chính, bản đồ địa chính đã cơ bản thống nhất một khuôn dạng của phần mềm Microstation và Hồ sơ địa chính đã cơ bản theo phần mềm CadDB Tuy nhiên, trong thời gian này do phần mềm lập hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện và không đáp ứng được các yêu cầu có tính đặc thù của địa phương nên vẫn còn có nhiều địa phương tiếp tục sử dụng các phần mềm do tự phát triển để xây dựng hồ sơ địa chính sau đó chuyển đổi sang khuôn dạng của CadDB và cơ bản bản
đồ vẫn xây dựng trên hệ tọa độ HN-72
- Sau năm 2000 khi ban hành hệ tọa độ VN-2000 và các phần mềm trong đăng
ký đất đai đã phần nào được hoàn thiện và nâng cấp như phần mềm CILIS, PLIS, ViLIS, ELIS, CCAD&CDATA…được đưa vào sử dụng Khoảng trên 30 tỉnh sử
Trang 11dụng theo CILIS, 20 tỉnh theo khuôn dạng ViLIS, một số tỉnh sử dụng cả hai khuôn dạng, số tỉnh còn lại sử dụng theo các phần mềm do đơn vị thi công tự lập hoặc theo phần mềm của địa phương Đến năm 2007 khi Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 221/2007/QĐ-BTNMT quy định sử dụng thống nhất phần mềm ViLIS trong các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì việc xây dựng hồ sơ địa chính chủ yếu sử dụng phần mềm nói trên Tuy nhiên, phần mềm CILIS và ELIS vẫn được tiếp tục triển khai song hành, đặc biệt là các tỉnh có sự tài trợ của Chương trình SEMLA
Tóm lại, do sự thiếu thống nhất như đã nêu ở trên để lại là hồ sơ địa chính và bản đồ được thiết lập ở rất nhiều dạng khác nhau nên đã gây khó khăn trong việc tích hợp dữ liệu khi xây dựng một cơ sở dữ liệu thống nhất để có thể chia sẻ không những trong nước mà với cả các nước trong khu vực và trên thế giới
Thêm vào đó, việc thiếu một chuẩn dữ liệu và quy trình tác nghiệp trong thiết lập và duy trì dữ liệu địa chính sẽ khiến cho công tác quản lý đất đai trở nên không thống nhất giữa các tỉnh
Định hướng của Bộ Tài nguyên và Môi trường là xây dựng một Hệ thống thông tin đất đai thống nhất toàn quốc Để có thể có một CSDL đất đai thống nhất
có thể tích hợp được từ các CSDL đất đai thành phần tại các Sở TN&MT, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phải xây dựng và ban hành một chuẩn dữ liệu địa chính thống nhất trong cả nước
Cơ sở dữ liệu đất đai là một trong bảy CSDL quốc gia trong chương trình ứng dụng công nghệ thông tin của Chính phủ Để có thể tích hợp và trao đổi dữ liệu giữa các CSDL quốc gia với nhau, cần thiết phải xây dựng chuẩn cho từng CSDL thành phần
Qui định về Chuẩn dữ liệu địa chính hiện đang được triển khai xây dựng trong
dự án "Xây dựng và thử nghiệm chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt Nam" do Tổng cục Quản lý đất đai chủ trì Dự án đã được Ban chỉ đạo chương trình SEMLA, Bộ Tài
Trang 12Hiện nay Dự án "Xây dựng và thử nghiệm chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt Nam" mới cơ bản đã hoàn thành được hai trong số bảy nội dung của chuẩn là Quy định danh mục đối tượng địa chính và Quy định mô hình cấu trúc dữ liệu địa chính (Dự thảo, phiên bản 1a), chưa tiến hành thử nghiệm dự thảo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam
Tôi nhận thấy dự án "Xây dựng và thử nghiệm chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt Nam" có rất nhiều vấn đề mới và có ích trong công tác quản lý đất đai, rất cần thiết cho một hệ thống địa chính hiện đại trong một chính phủ điện tử Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được xem xét và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kịp thời phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính theo đúng chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam góp phần hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống địa chính Việt Nam Chính vì những vấn đề nêu trên, sau khi hoàn thành chương trình đào tạo thạc
sỹ tôi đã đề xuất nội dung nghiên cứu và được Nhà trường giao đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam bằng thực nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” theo Quyết định
Với thời gian có hạn, trong khi các nội dung của Chuẩn rất lớn và chưa hoàn thiện các nội dung dự thảo Do vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu để hoàn thiện hai
Trang 13nội dung dự thảo là Quy định danh mục đối tượng địa chính và Quy định mô hình cấu trúc dữ liệu địa chính
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hai nội dung dự thảo: Quy định danh mục đối tượng địa chính và Quy định mô hình cấu trúc dữ liệu dịa chính
Phạm vi thực nghiệm của luận văn là phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh
4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài gồm các nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung dự thảo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính, và các công cụ phần mềm hỗ trợ để triển khai thử nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính từ các nguồn tư liệu bản đồ và hồ sơ địa chính đã có cho khu vực nghiên cứu
- Đề xuất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện dự thảo các Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính và các phần mềm công cụ hỗ trợ triển khai chuẩn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những mục đích nghiên cứu, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu:
+ Nghiên cứu về các nội dung dự thảo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính và các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm, quy trình kỹ thuật hiện hành có liên quan;
+ Nghiên cứu chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia và chuẩn thông tin địa lý Quốc tế (bộ ISO 19100);
Trang 14+ Thu thập các thông tin tư liệu liên quan đến khu vực thực nghiệm, sau đó phân tích, tổng hợp, đánh giá và đề xuất quy trình chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng cơ
sở dữ liệu theo dự thảo chuẩn dữ liệu địa chính
- Xây dựng mô hình cấu trúc dữ liệu địa chính theo dự thảo chuẩn
- Áp dụng phần mềm hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu theo dự thảo chuẩn
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến góp ý của giáo viên hướng dẫn, các nhà khoa học, các đồng nghiệp về các vấn đề trong nội dung luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
* Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã nghiên cứu đề xuất quy trình công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu Địa chính theo chuẩn và một số đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung dự thảo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính; Các đề xuất giải pháp chuẩn hóa dữ liệu địa chính hiện có để nâng cao chất lượng dữ liệu đầu vào phục vụ xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính thống nhất theo chuẩn
* Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở thành lập cơ sở dữ liệu địa chính Phường 2, Quận Tân Bình, TP
Hồ Chí Minh để rút ra những kinh nghiệm, đánh giá các ưu, nhược điểm của việc xây dựng dữ liệu địa chính theo chuẩn, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thống nhất trên toàn quốc Kết quả đạt được sẽ góp phần hoàn thiện các nội dung của dự thảo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính và các công cụ phần mềm hỗ trợ
Các kết quả nghiên cứu của đề tài được xem xét và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kịp thời phục vụ công tác xây dựng dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính theo Quy định kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính, góp phần hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính Việt Nam
7 Cấu trúc của luận văn
Trang 15Luận văn gồm 4 chương với 111 trang đánh máy, 41 hình vẽ và 02 bảng Cấu trúc của luận văn gồm 4 chương cùng với phần mở đầu và kết luận
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về cơ sở dữ liệu và cơ sở dữ liệu địa chính
Chương 2: Mô hình dữ liệu địa chính của một số nước trên thế giới và chuẩn ISO 19100
Chương 3: Chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia và dự thảo Quy định chuẩn
dữ liệu địa chính Việt Nam
Chương 4: Thực nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cấp xã cho phường
2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất hoàn thiện chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam
Kết luận và kiến nghị
8 Cơ sở tài liệu của luận văn
- Dự thảo 1a về hai nội dung chuẩn: Quy định danh mục đối tượng địa chính
và Quy định mô hình cấu trúc dữ liệu địa chính (bản dự thảo của nhóm làm việc) Đây là cơ sở để nghiên cứu, làm thực nghiệm và đề xuất hoàn thiện hai nội dung dự thảo này
- Chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 06/2007/QĐ-BTNMT và Quyết định số 08/2007/QĐ-BTNMT, Quyết định số 05/2008/QĐ-BTNMT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định áp dụng chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- Chuẩn thông tin địa lý Quốc tế (ISO 19100) của Tổ chức chuẩn hoá quốc tế (ISO – International Organization for Standardization)
- Dữ liệu bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Trần Thùy Dương, sự hỗ trợ của Nhóm chuyên gia tư vấn dự án Xây dựng chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam và các thành viên của Công ty Tin học eK, cùng với các ý kiến đóng góp bổ ích của các thầy cô trong bộ môn Địa chính, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đồng thời tác giả cũng đã được sự quan tâm giúp
đỡ, tạo điều kiện của Lãnh đạo Trung tâm Lưu trữ và Thông tin đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai- đơn vị nơi tôi đang công tác; sự hỗ trợ của một số cán bộ của Công
ty Đo đạc Địa chính và Công trình tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập các thông tin tư liệu Qua đây tác giả xin gửi tới các thầy cô, các bạn
bè đồng nghiệp lòng biết ơn chân thành đối với sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH
1.1 Tổng quan về cơ sở dữ liệu
1.1.1 Các khái niệm về dữ liệu, cơ sở dữ liệu
Dữ liệu: Dữ liệu có thể hiểu là một tập hợp thông tin có tổ chức Dữ liệu thường là kết quả của việc đúc rút kinh nghiệm, quan sát hoặc từ các thí nghiệm…
Dữ liệu có thể bao gồm các số, văn bản, hay hình ảnh Đặc biệt là các phép đo hay quan sát những sự biến đổi
Cơ sở dữ liệu máy tính: là một tập hợp có cấu trúc của các bản ghi hay dữ liệu được lưu trữ trên hệ thống máy tính Có nhiều cách để tổ chức cơ sở dữ liệu, trong
đó cách phổ biến hiện hay là tổ chức cơ sở dữ liệu dưới dạng quan hệ
1.1.2 Các ưu điểm của cơ sở dữ liệu trên máy tính
Các cơ sở dữ liệu có ưu điểm trong việc lưu trữ và xử lý thông tin với sự trợ giúp của máy tính
- Máy tính có ưu điểm là có khả năng xử lý một khối lượng dữ liệu lớn trong một khoảng thời gian ngắn
- Mô phỏng kết quả của các quá trình xử lý dữ liệu và hiển thị các kết quả đó một cách trực quan trên giúp có người sử dụng có thể xem trước kết quả trước khi thực hiện quá trình xử lý
Ưu điểm của việc lưu trữ dữ liệu trên máy tính:
- Thời gian lưu trữ lâu, không bị mất thông tin theo thời gian và dễ dàng trao đổi thông tin giữa các khu vực địa lý cách xa nhau thông qua mạng máy tính
Trang 18Nhược điểm của lưu trữ và xử lý dữ liệu trên máy tính: Vì dữ liệu và máy tính
là các thiết bị số nên quá trình lưu trữ và xử lý dữ liệu trên máy tính có thể bị mất thông tin
Trong cuộc sống với tất cả các lĩnh vực ta đều phải xử lý công việc với khối lượng rất lớn các thông tin Việc xử lý một khối lượng lớn thông tin như vậy bằng tay, hay các công cụ phi máy tính là việc vô cùng vất vả và dễ mắc nhầm lẫn, dẫn đến chất lượng của sản phẩm đầu ra không cao, độ tin cậy không cao Ngoài ra, việc trao đổi và phân tích dữ liệu rất khó khăn Ta thấy rõ rằng, tất cả những nhược điểm nêu trên lại là ưu điểm của việc lưu trữ và xử lý dữ liệu trên máy tính Vì vậy xu hướng áp dụng máy tính vào xử lý dữ liệu địa lý là một xu hướng tất yếu
1.2 Cơ sở dữ liệu địa chính
Dữ liệu địa chính: Có thể nói thông tin, dữ liệu địa chính cũng là một thành phần thuộc dữ liệu địa lý, nó mô tả mọi thông tin địa lý (thông tin không gian) về thửa đất và các thông tin thuộc tính (thông tin phi không gian) của thửa đất đó
Cơ sở dữ liệu địa chính: Dựa vào các khái niệm kể trên, ta có thể hiểu cơ sở
dữ liệu địa chính là tập hợp có cấu trúc các dữ liệu địa chính Cụ thể các dữ liệu địa chính bao gồm các dữ liệu không gian về đất đai, dữ liệu về chủ sử dụng đất và các
dữ liệu về pháp lý liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất… Thông thường một cơ sở dữ liệu địa chính được tổ chức bởi hai thành phần chính là Bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính Ở Việt Nam, cơ sở dữ liệu địa chính gồm Bản
đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai
1.2.1 Bản đồ địa chính
Là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận
Trang 19Trong cơ sở dữ liệu thì bản đồ là một loại dữ liệu không gian, lưu trữ các quan
hệ và thuộc tính không gian của thửa đất
Dữ liệu bản đồ địa chính theo qui định của thông tư 09 bao gồm các thông tin:
Vị trí, hình dạng, kích thước, tọa độ đỉnh thửa, số thứ tự thửa, diện tích, mục đích sử dụng của các thửa đất; Vị trí, hình dạng, diện tích của hệ thống thủy văn gồm sông, ngòi, kênh, rạch, suối, hệ thống thủy lợi gồm hệ thống dẫn nước, đê, đập, cống; hệ thống đường giao thông gồm đường bộ, đường sắt, cầu và các khu vực đất chưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín; Vị trí, tọa độ các mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc giới và chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc giới và ranh giới hành lang bảo vệ an toàn công trình; Điểm toạ độ địa chính, địa danh và các ghi chú thuyết minh
1.2.2 Hồ sơ địa chính
Là hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng đất Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người sử dụng đất theo từng đơn vị hành chính cấp xã, gồm: bản đồ địa chính (hoặc bản trích đo địa chính), sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 20Chương 2
MÔ HÌNH CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI VÀ CHUẨN ISO 19100
2.1 Mô hình cơ sở dữ liệu địa chính tại Đức
Địa chính ở Đức là hệ thống dựa trên thửa đất, mỗi một thửa đất đều được xác định ranh giới chính thức và có số hiệu thửa duy nhất Thông tin được tham chiếu địa lý đến đơn vị duy nhất là thửa đất
Thửa đất được xác định dựa trên công tác đo đạc địa chính, thể hiện sự phân chia mặt đất ở dạng các thửa và chứa thông tin về hiện trạng sử dụng đất, sở hữu đất (vị trí, kích thước, tình trạng sử dụng, v.v) Đăng ký đất đai chứa những phần mô tả của thửa đất đó Do đó, chỉ khi cả hai hệ thống đó kết hợp lại mới có khả năng đưa
ra sự xem xét hoàn chỉnh về sự chiếm hữu đất đai mang tính pháp lý và thực tế Công tác đăng ký cần được thường xuyên cập nhật và lưu giữ tương ứng với nhau Đức có nhiều hệ thống dữ liệu về đất đai (địa hình, địa chính và đăng ký), đặc biệt có hệ thống địa chính bất động sản dạng số (ALKIS) Những hệ thống này có liên quan với nhau trong vấn đề lưu trữ và chia sẻ dữ liệu Các hệ thống này đã và đang được xem xét, tái phát triển trong một hệ thống tích hợp AAA (AFIS-ALKIS-ATKIS) nhằm giảm dư thừa dữ liệu, sử dụng và chia sẻ tối đa nguồn dữ liệu nhằm mục đích quản lý và phục vụ cộng đồng tốt hơn
- ALKIS - Integrated Official Cadastral Information System - Hệ thống tích hợp thông tin địa chính chính thức
- ATKIS - Official Topographic and Cartographic Information System - Hệ thống thông tin địa hình và bản đồ
- ALB - Automated Property Register - tự động hóa đăng ký sở hữu
- ALK - Automated Cadastral Map - tự động hóa bản đồ địa chính
Trang 21- AFIS - hệ thống thông tin kiểm soát chính thức
Ở cấp quốc tế, Đức tham gia vào INSPIRE (hạ tầng cơ sở phục vụ thông tin không gian của châu Âu), quốc gia đầu tiên của EU Điều này giúp tạo ra hệ thống SDI (Spatial Data Infrastructure- hạ tầng dữ liệu không gian) cho toàn châu lục Nó tạo cho các nước thành viên nhiều khả năng hơn trong việc chia sẻ và duy trì sự đóng góp dữ liệu khổng lồ
Trước đây việc đăng ký thửa đất trên hầu hết nước Đức được tiến hành trong
hệ thống dạng số gọi là đăng ký sở hữu (tài sản) tự động (ALB) Các bản đồ địa chính được số hóa gần hết Hệ thống này gọi là bản đồ sở hữu (tài sản) tự động (ALK) Cả hai hệ thống đều ít nhiều là duy nhất trong mọi bang, do đó người dùng trên nước Đức có thể truy cập vào cùng cấu trúc dữ liệu trên toàn quốc gia Những
hệ thống thông tin ALB và ALK xác định nền tảng của hệ thống thông tin đất đai
Dự án ALKIS sẽ thay thế ALB và ALK, và lưu trữ mọi thông tin trong một hệ thống dữ liệu nền định hướng đối tượng Ở hầu hết các bang, dữ liệu đã có sẵn ở dạng số Ở các bang miền đông, dữ liệu đã 100% ở dạng số vào cuối năm 2005 Những chi tiết được lưu cho từng thửa đất trong ALB là:
* Tên, ngày sinh, địa chỉ, những sự chia sẻ của chủ đất
* Vị trí thửa đất như tên phố, số nhà, tọa độ tâm thửa
* Khu vực và số hiệu thửa
* Phạm vi thửa (diện tích thửa đất)
* Loại sử dụng đất (mục đích sử dụng đất)
* Kết quả đánh giá thổ nhưỡng chính thức
* Thông tin nội tại về năm tạo lập thửa đất, năm duy trì, số hiệu bản đồ địa chính, số hiệu hồ sơ kỹ thuật đo đạc
* Số hiệu tờ bản đồ, số hồ sơ và sự sở hữu (tài sản) trong đăng ký đất đai
Trang 22* Chi tiết thêm về thửa đất như thửa đất là một phần của sự hợp thửa, đất bị ô nhiễm, các mốc lịch sử, thửa đất là một phần của bảo tồn thiên nhiên hay bảo vệ
nguồn nước, v.v
2.1.1 Bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính dạng tương tự nói chung đang tồn tại ở dạng bản đồ lưới ở tỷ
lệ 1/1000 trong hệ tọa độ Gauss - Kruger Hiện nay, hầu hết các bản đồ dạng tương
tự được thay thế bằng bản đồ dạng số (ALK) chứa các thông tin địa chính sau:
* Ranh giới và các điểm góc được đánh dấu của thửa,
* Các yếu tố địa hình như lề đường, đường vòng, cây, đê, tường, v.v
Vì ALK lưu giữ những trích xuất ở dạng số, có thể đưa ra theo những yêu cầu riêng của người dùng ở dạng liệt kê tương tự, bản vẽ hay ở dạng số (như *.DXF,
*.EDBS,…)
Khái niệm mới của ALKIS tuân theo các chuẩn của ISO và OGC về các đặc tính Topology, bản đồ địa chính cần phải phù hợp như là cơ sở đối với sự phát triển các hồ sơ kỹ thuật và việc xem xét lại hàng loạt bản đồ chính thống Tuân theo những công việc mang tính pháp lý của bản đồ địa chính, nội dung dựa vào đo đạc thực địa (ranh giới, nhà và công trình) Các yếu tố địa hình đôi khi có thể đưa vào
Trang 23bản đồ bằng sử dụng công nghệ đo vẽ ảnh Với những khu vực bản đồ địa chính độ chính xác cao, có thể tạo ra những ranh giới pháp lý mới từ các hồ sơ kỹ thuật hiện hành bằng việc tính toán trong nhà mà không cần đo đạc ở thực địa
2.1.2 Nội dung của dữ liệu ALKIS trong nền dữ liệu ban đầu
Nội dung của địa chính bất động sản được lấy từ những tác vụ chính sau:
* Mô tả quyền sử dụng và quyền sở hữu trong sự sở hữu trên toàn quốc đối với mọi bất động sản (thửa đất và công trình) và điều khoản pháp lý trong đăng ký công,
* Đảm bảo pháp lý về quyền sở hữu như là danh mục chính thức của vùng theo điều 2, tiểu phần 2 của bộ luật dân sự (GBO) cùng với đăng ký đất đai
* Bất động sản và không gian liên quan đến hệ thống thông tin cơ bản phục vụ cho những yêu cầu được ràng buộc trong mối quan hệ pháp lý, nhà chức trách và công nghiệp
* Kết nối những quy định chủ thể với luật công phục vụ những lĩnh vực kỹ thuật khác thông qua liên kết trong địa chính bất động sản, và là
* Nền tảng cho việc xác định thuế tài sản và giá trị thuế
2.1.3 Những ứng dụng các chuẩn GIS ISO/TC211 trong ALKIS
ALKIS áp dụng rất nhiều chuẩn ISO mà nói chung phát hành như các chuẩn quốc tế dự thảo (DIS) Chi tiết sơ đồ ứng dụng khái niệm của ALKIS dựa theo những quy định sau:
- ISO 19101 Thông tin địa lý - Mô hình tham chiếu
- ISO 19103 Thông tin địa lý - Ngôn ngữ lược đồ khái niệm
- ISO 19105 Thông tin địa lý - Sự phục tùng và kiểm nghiệm
- ISO 19107 Thông tin địa lý - Lược đồ không gian
- ISO 19108 Thông tin địa lý - Lược đồ thời gian
Trang 24- ISO 19109 Thông tin địa lý - Quy tắc cho lược đồ ứng dụng
- ISO 19110 Thông tin địa lý - Phương pháp lập danh mục đối tượng địa lý
- ISO 19113 Thông tin địa lý - Nguyên tắc chất lượng
- ISO 19115 Thông tin địa lý - Metadata
- ISO 19118 Thông tin địa lý - Mã hóa
2.2 Mô hình cơ sở dữ liệu địa chính tại Mỹ
Cơ sở dữ liệu thửa đất (còn được biết như là địa chính), là cơ sở dữ liệu mô tả các quyền, lợi ích và giá trị tài sản Ranh giới pháp lý của thửa đất được xác định trong văn bằng về tài sản Khi tài sản đó được phân chia hay có sự tranh chấp về ranh giới thì đều phải có số liệu đo đạc để khẳng định về tài sản Sự sở hữu thửa đất
là phần quan trọng của các hệ thống tài chính, pháp lý và bất động sản của xã hội Những thửa đất thuộc thuế bất động sản thường là sự thể hiện đồ họa về sự sở hữu đất đai nhằm hỗ trợ các hoạt động về thuế tài sản Các bản đồ thường dùng như là bản đồ thửa đất phục vụ pháp lý Tập hợp tổng thể các thửa đất thể hiện sự phân bố tài sản thực của cộng đồng và sự sở hữu, định hình cơ bản cho mọi quyết định sử dụng đất và phân vùng, tái hiện vị trí đất đai định cư, kinh doanh và các dịch vụ công cộng Nói cách khác, hầu hết mọi khía cạnh của chính quyền và công việc có thể liên kết với thửa đất
Chuẩn nội dung của FGDC (Federal Geographic Data Committee) đối với dữ liệu địa chính sử dụng định nghĩa tương tự nhưng thừa nhận rằng thửa đất không phải liên tục
Trong hệ thống thông tin ở chính quyền địa phương, thửa đất là đơn vị nguyên thủy phục vụ việc quản lý thông tin về quyền và quyền lợi đất đai Dữ liệu thửa đất liên quan chặt chẽ với khái niệm địa chính, đó là "sự ghi nhận những quyền lợi xung quanh đất đai cả về bản chất và phạm vi của các quyền lợi đó" Thông tin về
sở hữu pháp lý có thể được duy trì theo hồ sơ văn bằng của người có quyền lợi về
Trang 25địa chính pháp lý Mặt khác, nhà định giá thuế không quan tâm đến sự tranh chấp về
sự sở hữu đất đai mà chỉ duy trì địa chính thuế khóa
2.2.1 Hiện trạng dữ liệu thửa đất
Dữ liệu địa chính tồn tại sự phân chia rõ rệt về dữ liệu thửa đất giữa các cấp và các đơn vị hành chính khác nhau Số thửa đã chuyển sang định dạng GIS: Chỉ có 3/4 (34 bang) bang có khả năng cung cấp ước định số lượng thửa đã chuyển về dạng
số trong định dạng có thể sử dụng ở GIS (báo cáo đánh giá dữ liệu thửa đất ở nước
Mỹ tháng 3/2003) Nhiều nơi của Mỹ, dữ liệu thửa đất chỉ là các đường trên bản đồ giấy được lưu ở trụ sở tòa án địa phương Trong khi khoảng 70% thửa đất công ở
Mỹ hiện ở dạng số, 30% còn lại nằm rải rác ở các đơn vị hành chính nông thôn Mặc dù những đơn vị hành chính đó có rất ít thửa đất, họ không đủ nguồn kinh phí
để chuyển đổi dữ liệu của mình sang dạng số
Ở Mỹ các hồ sơ mô tả sự chuyển đổi quyền lợi nói chung được duy trì ở mức địa phương, ngoại trừ Connecticut, Rhode Island và Vermont, nơi mà chính quyền thành phố và thị trấn thực hiện chức năng này (NRC 1980) Hầu hết các hệ thống ghi nhận đất đai về cơ bản vẫn tồn tại không biến động từ khi nó được lập ra Chúng được thiết kế đơn giản để ghi nhận các chứng thư và tài liệu liên quan đến quyền lợi
về đất đai
Hồ sơ công có thể ít nhiều không đầy đủ suốt thời gian, phụ thuộc vào luật, tình trạng và hiện tượng lịch sử, và thực tiễn trong mọi ngành nghề khác nhau có liên quan Sự ghi nhận các tài liệu về quyền là tự nguyện, trong khi việc ghi nhận được thiết kế nhằm cung cấp bảo vệ thông qua sự thông cáo công, việc chuyển đổi không được chú trọng, và các quyền có thể được tạo lập cùng hoặc không có hồ sơ Thí dụ, quyền đi qua thường được công nhận mang tính cá nhân và hình thức Thậm chí do chính quyền địa phương nắm giữ, cũng như hệ thống ống dẫn và sử dụng quyền đi qua có thể không được ghi nhận Có ghi nhận hay không, đó là hiệu lực của các quyền lợi đất đai Hơn nữa, các hồ sơ có thể chứa thông tin không chính xác
Trang 26và mâu thuẫn lẫn nhau, tồn tại những điều không giải quyết được đến khi vấn đề đó được phát hiện thông qua sự tìm kiếm hồ sơ đó
Ở Mỹ các hồ sơ quyền lợi đất đai được duy trì chủ yếu ở mức tỉnh (thành phố)
và nằm ở các ban ngành khác nhau Các hệ thống có những hồ sơ về nhà ở ít thay đổi kể từ khi bắt đầu Hầu hết các hồ sơ không hoàn chỉnh và thường có sự sai lệch
và thông tin mâu thuẫn Ở mức địa phương chúng thường rườm rà và khó sử dụng, đặc biệt đối với việc quy hoạch và quản lý đất đai
Sự thiếu hụt dữ liệu thửa đất tích hợp mang tính quốc gia dẫn đến sự trùng lặp rất nhiều trong kết quả giữa các cấp chính quyền khác nhau và giữa thành phần công và cá nhân
Hệ thống địa chính đất công và đất cá nhân vẫn tồn tại song hành có chứa những mâu thuẫn khó có thể giải quyết
2.2.2 FGDC và các cơ quan tham gia xây dựng chuẩn nội dung dữ liệu địa chính tại Mỹ
Ủy ban dữ liệu địa lý liên bang được thành lập theo thông tư A-16 về Cơ quan quản lý và ngân sách để đảm bảo điều phối phát triển, sử dụng, chia sẻ và phổ biến
Các tiểu ban của FGDC làm việc những vấn đề liên quan đến tiêu chí dữ liệu được phân công theo thông tư này Những tiểu ban thành lập và thực thi các chuẩn
về nội dung, chất lượng và chuyển giao dữ liệu; khuyến khích trao đổi thông tin và chuyển giao dữ liệu; và tổ chức thu thập dữ liệu địa lý nhằm cố gắng giảm sự trùng
Trang 27lặp Nhóm công tác được thành lập phân theo các vấn đề để đưa ra các tiêu chí dữ liệu tốt hơn
Sự phát triển chuẩn nội dung dữ liệu địa chính gồm những đại diện từ mọi cơ quan đất đai liên bang (những cơ quan đó theo thẩm quyền và trách nhiệm cho việc duy trì đất đai liên bang), cơ quan bang, bộ lạc, cơ quan địa phương (thành phố, vùng hay xã) và công nghiệp
Phiên bản chuẩn thứ nhất đã được FGDC thông qua và xác nhận trong năm
1995 như là FGDC-STD-003
Sự sửa đổi được thực hiện vào tháng 4/1999 (phiên bản 1.1) tháng 10/2002 (phiên bản 1.2), tháng 5/2003 (phiên bản 1.3) và (phiên bản 1.4) Những sửa đổi này dựa trên những ý kiến phát sinh trong thực thi và xem xét những yêu cầu duy trì Phần lớn những sửa đổi được cập nhật về miền, sự rõ ràng và sự chính xác ngữ pháp
2.2.3 Thành lập bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính được xác định dựa trên đo đạc của PLSS, các thửa đất được đánh giá và lập bản đồ ở những nơi không nhất quán về mốc của PLSS Tọa độ được thiết lập dựa vào mốc của PLSS có độ chính xác tương đương với các chuẩn hạng 3, lớp II của NGS như đã quy định theo mã hành chính của chương trình thông tin đất đai Wisconsin Ranh thửa được thu thập từ những ghi nhận pháp lý và dữ liệu nền địa lý Từng ranh được tham chiếu đến tài liệu nguồn của nó Độ chính xác
vị trí của từng góc thửa được lập báo cáo
2.2.4 Các chuyên đề không gian địa chính
- Dữ liệu điểm (đỉnh): góc, vị trí mốc, những vị trí khác, tháp
- Dữ liệu tuyến (đường): ranh giới, lưới (hệ thống phân chia), quyền đi qua, các đặc tính tự nhiên tái hiện ranh giới như sông, dòng chảy
Trang 28- Dữ liệu đa giác (vùng): thửa đất, lô, khối, đường mòn, khu vực hành chính,
số hiệu phân chia mảnh, quyền đi qua, chuyển nhượng, quyền khai mỏ, phân vùng, đất cấp, đất giao, thị trấn, tỉnh, bang, quyền có đường
- Dữ liệu khống chế: Các điểm khống chế gắn liền với mặt đất bổ sung thông
tin đo đạc Dữ liệu khống chế gồm: Hệ quy chiếu, độ chính xác và chuẩn, mật độ điểm không chế, mốc, sự sử dụng GPS, đo đạc ảnh, ảnh trực giao, COGO (hình học
có tọa độ), đo đạc thực địa theo đo đạc truyền thống hoặc GPS, nguồn thứ cấp, phần nhận biết thửa đất và các thuộc tính
Hệ thống dữ liệu thửa đất quốc gia hoạt động như hệ thống ảo thực sự của dữ liệu thửa đất nhận biết đồng nhất và có chứng thực Ranh giới thửa đất sẽ được phân
bố như là những đối tượng địa lý đơn giản trong chuẩn mở Tọa độ địa lý (như kinh
vĩ độ) phải có khả năng là các đa giác được hiển thị trong mối quan hệ với những đối tượng khác trong cơ sở dữ liệu quốc gia Phiên bản phát hành của dữ liệu thửa đất phải được cập nhật ít nhất là hàng năm
2.2.5 Thuộc tính dữ liệu địa chính
Quyền chủ sở hữu, quyền chủ sở hữu trong quá khứ, loại quyền chủ sở hữu, người dùng, các hoạt động hiện tại, sự thừa nhận, giấy phép, các quyền và hạn định, giao dịch, đánh giá đất đai, giá mua, thuế, mô tả pháp lý, mô tả mốc, tên chủ sở hữu,
cơ quan quản lý
Những mô tả của từng yếu tố dựa trên sự phát triển dữ liệu địa chính của tiểu ban FGDC Dựa trên cơ sở nghiên cứu do tiểu ủy ban thực hiện, hầu hết các thuộc tính cho những nhu cầu rộng lớn của công việc với việc bổ sung địa chỉ thửa đất trong bảng dưới đây (tiểu ban FGDC về dữ liệu địa chính, 2006a) Điểm lưu ý quan trọng là các thuộc tính cơ bản không bao gồm thông tin cá nhân về sở hữu tài sản,
sử dụng, giá trị hay cải thiện Dữ liệu thửa đất mức cơ bản phải hỗ trợ hiển thị bản
đồ trong mối quan hệ với các đối tượng khác như ảnh, ranh giới hành chính hay đối tượng giao thông Theo tham chiếu với số hiệu nhận biết duy nhất của thửa đất và tọa độ địa lý nó phải có khả năng sử dụng các công cụ CSDL để tìm kiếm các thửa
Trang 29đất theo thông tin cần biết Thông tin bổ sung có thể thu thập và chia sẻ theo chương trình hạ tầng then chốt của DHS
2.2.6 Mô tả thuộc tính của dữ liệu thửa đất quốc gia tại Mỹ
Metadata - sẽ chứa thông tin mô tả về dữ liệu như là người quản lý dữ liệu, hợp đồng thửa đất, và các thông tin khác mà có thể hỗ trợ người dùng và ứng dụng thông tin (như phép chiếu, hệ tọa độ)
Đường bao thửa đất (đa giác - Polygon) - Phạm vi địa lý của thửa đất, các ranh
thửa hình thành đa giác khép kín
Trọng tâm thửa (điểm) - Điểm nằm trong thửa mà có thể dùng để gắn kết
thông tin có liên quan Điểm này có thể là trọng tâm hay điểm nhìn thấy ngay trong thửa đó
Mã của thửa - Phần nhận biết duy nhất cho các thửa được người quản lý hay
nhà sản xuất dữ liệu định nghĩa Để nhận biết thửa đất cần phải cung cấp sự liên kết với thông tin bổ sung và cần phải quản lý phạm vi địa lý theo một ranh giới duy nhất (Lưu ý: Để có được ID thửa duy nhất toàn quốc, mã theo chuẩn xử lý thông tin liên bang (FIPS) của nhà quản lý có thể được bổ sung phần trước ID của thửa đất khi dữ liệu nguồn được yết thị ở miền công bố Điều này có thể thực hiện rõ ràng sao cho nhà sản xuất dữ liệu không phải lo lắng về việc thay đổi số hiệu thửa đất của mình Trong trường hợp các thửa thuộc sở hữu liên bang, dữ liệu liên quan đến
mã cơ quan liên bang và mã FIPS của bang có thể liên quan chặt chẽ rõ ràng
Loại chủ sở hữu - Phân loại chủ sở hữu Ở một vài chính quyền địa phương,
loại chủ sở hữu phải đóng hoặc miễn thuế có thể bổ sung: quốc tế, bộ lạc, liên bang , bang, tỉnh, địa phương hay khu tự trị, cá nhân, phi lợi nhuận, khác hoặc không biết
Địa chỉ đường phố của thửa đất - Ghi địa chỉ thửa đất
Phạm vi thửa đất - Diện tích thửa đất
Trang 30Tên thửa đất công - Đối với các thửa đất thuộc sở hữu công, nói chung được
thừa nhận theo tên của thửa đất đó
2.3 Chuẩn ISO 19100
2.3.1 Tổng quan về bộ chuẩn thông tin địa lý ISO 19100
Bộ tiêu chuẩn ISO 19100 là một hệ thống các chuẩn để chuẩn hoá các thông tin có liên quan đến các đối tượng hoặc thực thể có xác định hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến một vị trí trên Trái đất [ISO 19101] Bộ tiêu chuẩn này quy định các phương pháp, công cụ và dịch vụ để quản trị thông tin địa lý thông qua các quy định
về cách thức định nghĩa, thu nhận, phân tích, truy cập, trình bày và trao đổi thông tin địa lý giữa các đối tượng người sử dụng dữ liệu, giữa các hệ thống hoặc giữa các địa điểm khác nhau
Đến thời điểm hiện tại TC211 đã, đang triển khai 55 dự án chuẩn khác nhau và hiện đã có 34 dự án hoàn thành và được công bố là chuẩn ISO (chuẩn quốc tế) Danh mục các dự án của ISO/TC211 được liệt kê chi tiết trong Phụ lục số 1
Các hoạt động chuẩn hoá thông tin địa lý của TC211 là nhằm đạt được mục tiêu là làm cho việc trao đổi thông tin địa lý trở lên dễ dàng hơn như:
- Dễ dàng tìm được thông tin và công cụ xử lý thông tin địa lý khi có nhu cầu
mà không phụ thuộc vào vị trí vật lý;
- Dễ dàng truy cập, hiểu và sử dụng được thông tin địa lý và các công cụ xử lý thông tin mà không phụ thuộc vào nền tảng công nghệ sử dụng hay phương pháp truy cập
Bộ tiêu chuẩn thông tin địa lý ISO 19100 được xây dựng hết sức linh hoạt với nhiều tuỳ chọn, người sử dụng có thể thiết kế lại các tiêu chuẩn này cho phù hợp với từng trường hợp ứng dụng cụ thể Song, việc thiết kế lại phải đáp ứng được các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn ISO 19106 như: các nguyên tắc, các quy trình để giới hạn việc sử dụng các quy định tuỳ chọn hoặc bổ sung thêm các quy định mới cho các tiêu chuẩn của ISO 19100
Trang 31Hình 2.1 Mô hình kiến trúc bộ tiêu chuẩn ISO 19100
Hình vẽ trên biểu thị mô hình kiến trúc và các nguyên lý áp dụng để xây dựng chuẩn thông tin địa lý Theo đó, bộ chuẩn thông tin địa lý ISO 19100 được phân thành 5 nhóm chính:
- Công việc khung - gồm các chuẩn quy định: kiến trúc tổng thể bộ tiêu chuẩn thông tin địa lý ISO 19100; quy định các nguyên lý, thuật ngữ, quy trình chung áp dụng để xây dựng, mở rộng chuẩn thông tin địa lý
- Dịch vụ thông tin địa lý - gồm các chuẩn quy định: cách thức mã hoá thông tin địa lý theo các định dạng trao đổi; phương pháp trình bày thông tin địa lý theo các dạng trình bày truyền thống; các dịch vụ về vị trí
- Quản trị dữ liệu địa lý - gồm các chuẩn quy định: cách thức đánh giá chất lượng; mô tả nội dung dữ liệu; siêu dữ liệu
Trang 32- Các mô hình dữ liệu - gồm các chuẩn quy định: các mô hình dữ liệu áp dụng cho thông tin địa lý; cách thức mô hình hoá cấu trúc dữ liệu địa lý
- Profile và chuẩn chức năng - gồm các chuẩn quy định: cách thức mở rộng các chuẩn thông tin địa lý; cách thức xây dựng các chuẩn dữ liệu tương thích với chuẩn thông tin địa lý ISO
Bảng dưới đây mô tả mô hình tổ chức triển khai xây dựng chuẩn thông tin địa
lý của TC211 Theo đó, TC211 được tổ chức thành các nhóm làm việc tương ứng với các nhóm chuẩn thông tin địa lý mô tả ở trên:
Các nhóm làm việc Dự án xây dựng chuẩn
WG-1
Mô hình tham chiếu
và công việc khung
ISO 19101 - Reference model (Mô hình tham chiếu) ISO 19102 - Overview (Khái quát về bộ Chuẩn) ISO 19103 - Conceptual schema language (Ngôn ngữ lược đồ khái niệm)
ISO 19104 - Terminology (Định nghĩa các thuật ngữ) ISO 19105 - Conformance and testing (Quy trình xây dựng và thử nghiệm)
ISO/TR 19121 - Imagery and gridded data ISO 19124 - Imagery and gridded data components WG-2
Các mô hình dữ liệu
ISO 19107 - Spatial schema (Lược đồ không gian) ISO 19108 - Temporal schema (Lược đồ thời gian) ISO 19109 - Rules for application schema (Lược đồ ứng dụng
dữ liệu địa lý) ISO 19110 - Methodology for feature cataloguing (Phương pháp lập danh mục đối tượng địa lý)
ISO 19123 - Schema for coverage geometry and functions (Lược đồ đưa ra những thông tin hình học và thuật toán) WG-3 ISO 19114 - Quality evaluation procedure (Các nguyên tắc về
chất lượng) ISO 19115 - Metadata (Siêu dữ liệu) ISO 19126 - Profile - FACC data dictionary (Mô tả về nguồn gốc, lịch sử dữ liệu)
ISO 19127 - Geodetic codes and parameters
Trang 33ISO 19116 - Positioning services (Dịch vụ về vị trí) ISO 19117 - Portrayal (Trình bày)
ISO 19118 - Encoding (Mã hóa) ISO 19119 - Services (Dịch vụ) WG-4
ISO 19106 - Profiles ISO/TR 19122 - Qualifications and certification of personnel WG-5
Các chuẩn chức
năng và Profile
ISO 19128 - Web Map Server Interface
Bảng 2.1 Mô hình tổ chức triển khai xây dựng chuẩn thông tin địa lý của
ISO/TC211
Trang 34Chương 3 CHUẨN THÔNG TIN ĐỊA LÝ CƠ SỞ QUỐC GIA VÀ DỰ THẢO QUY
ĐỊNH CHUẨN DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH VIỆT NAM
3.1 Chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia
3.1.1 Tổng quan về chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia
Như chúng ta đã biết Chuẩn thông tin địa lý cơ sở là những khái niệm mang tính chất tiền đề, là nền tảng định hướng cho quá trình định nghĩa, tạo ra dữ liệu địa
lý, quản lý dữ liệu địa lý, cung cấp các dịch vụ thông tin địa lý
Trong thực tế sử dụng dữ liệu địa lý đặt ra rất nhiều các nhu cầu khác nhau, các nhu cầu này cũng có các đòi hỏi khác nhau Chính vì vậy, xuất phát từ yêu cầu thực tế là các hệ thống thông tin nói chung và các hệ thống thông tin địa lý nói riêng luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau, nghĩa là thông tin sẽ được truyền tải từ hệ thống này sang hệ thống khác Vì vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để các hệ thống có thể hiểu được thông tin và cấu trúc thông tin của nhau, phương pháp đơn giản và có hiệu qủa nhất là các hệ thống phải xây dựng cấu trúc thông tin của mình theo một tập các quy tắc chung
Xuất phát từ các yêu cầu đó, chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia được xây dựng nhằm đáp ứng các yêu cầu chuẩn hoá cho các hoạt động sau:
- Xây dựng dữ liệu địa lý: dữ liệu địa lý phải được xây dựng trên cơ sở một bộ chuẩn thông tin địa lý chung, nhằm đảm bảo toàn bộ dữ liệu địa lý đều được xây dựng dựa trên các mô hình khái niệm và các quy tắc chung;
- Trao đổi và chia sẻ dữ liệu địa lý: dữ liệu địa lý được trao đổi và chia sẻ trên
cơ sở mọi dữ liệu địa lý được định nghĩa và xây dựng theo một bộ chuẩn thông tin địa lý chung, được mã hoá theo các chuẩn mở, độc lập nền tảng, và được chia sẻ thông qua các dịch vụ về thông tin địa lý mở
Trang 35- Cập nhật dữ liệu địa lý: các chuẩn thông tin địa lý được thiết kế sao cho có thể hỗ trợ tối đa cho các hoạt động cập nhật dữ liệu địa lý
Có thể thấy chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng hệ thống thông tin địa lý Nó đưa ra một cách nhìn khoa học, thống nhất về dữ liệu địa lý, làm rõ cấu trúc và nội dung của dữ liệu địa lý, nâng cao khả năng ứng dụng của dữ liệu địa lý, nâng cao khả năng cập nhật, trao đổi của dữ liệu, nâng cao năng lực, hiệu quả, cũng như lợi ích kinh tế của việc sử dụng, khai thác thông tin địa lý
Chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia gồm 9 quy chuẩn sau đây:
1 Quy chuẩn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý;
2 Quy chuẩn mô hình khái niệm không gian;
3 Quy chuẩn mô hình khái niệm thời gian;
4 Quy chuẩn phân loại đối tượng địa lý;
5 Quy chuẩn hệ quy chiếu tọa độ;
6 Quy chuẩn siêu dữ liệu địa lý;
7 Quy chuẩn chất lượng dữ liệu địa lý;
8 Quy chuẩn trình bày dữ liệu địa lý;
9 Quy chuẩn mã hóa trong trao đổi dữ liệu địa lý
Chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia được xây dựng trên quan điểm kế thừa,
do đó, nó có quan hệ mật thiết với các thành phần sau đây:
- Các chuẩn thông tin địa lý quốc tế (ISO 19100) đang được áp dụng để chuẩn hoá dữ liệu địa lý cơ sở quốc gia;
- Các quy phạm kỹ thuật và các quy định hiện hành có liên quan đến việc chuẩn hoá thông tin địa lý cơ sở (các loại danh mục đối tượng bản đồ, các quy phạm thành lập và biên tập bản đồ, hướng dẫn thẩm định chất lượng biên tập bản đồ…);
Trang 36- Các sản phẩm dữ liệu địa lý cơ sở có được từ việc áp dụng các quy định chuẩn hoá thông tin địa lý cơ sở;
- Các loại đối tượng sử dụng các sản phẩm dữ liệu địa lý cơ sở, cũng như các sản phẩm dẫn xuất từ dữ liệu địa lý cơ sở;
- Các quy trình kỹ thuật - công nghệ và công cụ phần mềm cần thiết nhằm thúc đẩy việc áp dụng và triển khai chuẩn thông tin địa lý cơ sở trong thực tiễn Tóm lại, bộ chuẩn thông tin địa lý cơ sở là nền tảng kỹ thuật, pháp lý quan trọng để triển khai xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật dữ liệu cụ thể Việc áp dụng chung một bộ chuẩn thông tin địa lý cơ sở sẽ đảm bảo được tính thống nhất, tính kế thừa và đảm bảo khả năng trao đổi dữ liệu địa lý sau này
3.1.2 Giới thiệu các nội dung cơ bản của các quy chuẩn thông tin địa lý cơ
sở Quốc gia
Theo quyết định số 06/2007/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia là chuẩn bắt buộc áp dụng thống nhất trong việc xây dựng hệ thống thông tin địa lý cơ
sở quốc gia và các hệ thống thông tin địa lý chuyên ngành trong phạm vi ngành tài nguyên môi trường Quyết định này là cơ sở pháp lý và khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật công nghệ khi xây dựng chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam Các phần sau đây sẽ trình bày giới thiệu về nội dung các quy chuẩn, từ đó đưa ra các vấn đề
cơ bản khi áp dụng chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia để xây dựng chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam
3.1.2.1 Quy chuẩn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý
a) Ngôn ngữ biểu diễn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý
Để biểu diễn các lược đồ khái niệm nói chung và lược đồ cấu trúc dữ liệu địa
lý (lược đồ ứng dụng) cho việc định nghĩa hệ thống thông tin địa lý cơ sở và các hệ thống thông tin địa lý chuyên ngành sử dụng ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất (UML)
Trang 37Định nghĩa mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý được sử dụng UML bao gồm các thành phần như:
- Gói UML: để biểu diễn một mô hình cấu trúc dữ liệu;
- Lớp UML: dùng để biểu diễn kiểu đối tượng địa lý, hoặc kiểu dữ liệu trong một lược đồ ứng dụng; Biểu diễn các khái niệm trong các mô hình khái niệm với tên lớp là duy nhất, các thuộc tính của lớp có thể được xác định trực tiếp trong lớp
đó hoặc gián tiếp thông qua các quan hệ với các lớp khác, tên thuộc tính phải đảm bảo yêu cầu duy nhất trong một lớp UML, số thể hiện và kiểu giá trị thuộc tính có thể nhận;
- Quan hệ: Các gói UML hoặc các lớp UML có mối quan hệ với nhau được biểu diễn theo kiểu quan hệ liên kết hoặc mối quan hệ tổng quát hoá, kết tập, tổ hợp
và phụ thuộc;
- Mẫu phân loại: Để chỉ ra một lớp UML hoặc một gói UML khi biểu diễn một loại cấu trúc dữ liệu cụ thể phải sử dụng bởi các mẫu phân loại nhất định
b) Mô hình đối tượng địa lý tổng quát
Chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia quy định mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý khái niệm phải được định nghĩa và biểu diễn dưới dạng một lược đồ ứng dụng Lược đồ ứng dụng bao gồm định nghĩa về các kiểu đối tượng địa lý, khái niệm lớp trong UML được áp dụng để biểu diễn các kiểu đối tượng địa lý, và quan hệ giữa các lớp UML được áp dụng để biểu diễn các quan hệ giữa các kiểu đối tượng địa lý Một mô hình đối tượng địa lý tổng quát được áp dụng cho các mục đích sau:
- Để phân loại và định nghĩa kiểu đối tượng địa lý trong danh mục đối tượng địa lý hoặc trong lược đồ ứng dụng;
- Để quy định cấu trúc và nội dung danh mục đối tượng địa lý;
- Để quy định lược đồ trình bày dữ liệu địa lý
Một kiểu đối tượng địa lý được định nghĩa bởi các đặc tính cơ bản như:
Trang 38- Tên gọi của kiểu đối tượng địa lý
- Định nghĩa hoặc mô tả về kiểu đối tượng địa lý
- Các thuộc tính của kiểu đối tượng địa lý
- Các quan hệ liên kết giữa các kiểu đối tượng địa lý
- Các quan hệ tổng quát hóa và chi tiết hóa giữa các kiểu đối tượng địa lý Các đặc tính cơ bản này được mô hình hóa trong một mô hình khái niệm gọi là
mô hình đối tượng địa lý tổng quát
Các khái niệm dùng để định nghĩa kiểu đối tượng địa lý được thể hiện trong
mô hình đối tượng địa lý tổng quát dưới đây:
Hình 3.1 Mô hình đối tượng địa lý tổng quát
Trong mô hình đối tượng địa lý tổng quát các khái niệm dùng để thể hiện mô
tả các kiểu đối tượng địa lý là các lớp UML với các đặc tính, thuộc tính và kiểu quan hệ giữa các kiểu đối tượng địa lý như:
- GF_FeatureType là siêu lớp mà thể hiện của nó là lớp UML mô tả các kiểu đối tượng địa lý trong lược đồ ứng dụng;
- GF_PropertyType là lớp trừu tượng mô tả đặc tính của các kiểu đối tượng địa lý;
Trang 39- GF_AttributeType là siêu lớp mà thể hiện của nó là các lớp UML mô tả các thuộc tính của các kiểu đối tượng địa lý trong lược đồ ứng dụng;
- GF_InheritanceRelation là lớp mô tả quan hệ kế thừa giữa các kiểu đối tượng địa lý;
- GF_AssociationType là siêu lớp mô tả kiểu quan hệ liên kết giữa các kiểu đối tượng địa lý;
- GF_AssociationRole là siêu lớp mô tả vai trò của lớp trong các quan hệ liên kết
c) Các quy tắc xây dựng lược đồ ứng dụng
Một lược đồ ứng dụng UML khi xây dựng phải tuân theo các quy tắc được quy định trong quy chuẩn mô hình cấu trúc dữ liệu địa lý trong bộ quy chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia
Các quy tắc xây dựng lược đồ ứng dụng được áp dụng cho các mục đích sau đây:
- Để mô tả các kiểu đối tượng địa lý được định nghĩa theo mô hình đối tượng địa lý tổng quát bằng UML trong lược đồ ứng dụng;
- Để định nghĩa cấu trúc dữ liệu trong một lược đồ ứng dụng;
- Để xây dựng lược đồ ứng dụng cho các loại dữ liệu địa lý chuyên ngành trong phạm vi ngành tài nguyên môi trường và trong các lĩnh vực khác
Các quy tắc cơ bản được áp dụng để xây dựng lược đồ ứng dụng dữ liệu địa lý bao gồm:
- Quy tắc đặt tên lược đồ ứng dụng: Lược đồ ứng dụng phải có tên gọi và số phiên bản chúng được ghi nhận trong tài liệu mô tả gói UML; Lược đồ ứng dụng được mô tả bởi một gói UML
- Quy định về lập tài liệu mô tả lược đồ ứng dụng: Lược đồ ứng dụng phải có tài liệu mô tả chi tiết kèm theo và có thể được kết xuất tự động từ công cụ phần
Trang 40mềm hỗ trợ xây dựng lược đồ ứng dụng; Thông tin mô tả sự liên quan giữa lược đồ ứng dụng và danh mục đối tượng địa lý được ghi nhận trong tài liệu mô tả lược đồ ứng dụng nếu tồn tại mối quan hệ giữa các lớp hoặc các thành phần UML khác trong lược đồ ứng dụng với các thông tin đã được chỉ ra trong tài liệu danh mục đối tượng địa lý; Tài liệu mô tả của các kiểu đối tượng địa lý được biểu diễn trong lược
đồ ứng dụng phải tuân thủ các quy định trong quy chuẩn phương pháp lập danh mục đối tượng địa lý
- Quy tắc định nghĩa thuộc tính không gian, thuộc tính thời gian và các thuộc tính khác của kiểu đối tượng địa lý trong lược đồ ứng dụng:
+ Thuộc tính không gian trong lược đồ ứng dụng được định nghĩa theo quy tắc: Đặc tính không gian của đối tượng địa lý có thể được mô tả bởi một hoặc nhiều thuộc tính không gian; Trong một lược đồ ứng dụng thuộc tính không gian được biểu diễn bởi thuộc tính của lớp UML hoặc quan hệ liên kết giữa lớp UML mô tả một kiểu đối tượng địa lý với một lớp UML mô tả một kiểu đối tượng không gian Một thuộc tính không gian phải có giá trị là các đối tượng không gian Các đối tượng không gian được phân loại thành: kiểu đối tượng hình học và kiểu đối tượng Topo Hai loại này được phân loại chi tiết thành kiểu đối tượng nguyên thủy, kiểu đối tượng phức, hoặc kiểu đối tượng tập hợp (đối với kiểu đối tượng hình học); + Quy tắc định nghĩa thuộc tính thời gian trong lược đồ ứng dụng:
Đặc tính thời gian của đối tượng địa lý được mô tả bởi các thuộc tính thời gian dẫn xuất từ thuộc tính đối tượng địa lý; Trong lược đồ ứng dụng thuộc tính thời gian được biểu diễn dưới dạng thuộc tính của lớp UML; Thuộc tính thời gian có thể được sử dụng dưới dạng thuộc tính của thuộc tính, trong trường hợp này thuộc tính phải là một kiểu dẫn xuất của một trong số các đối tượng thời gian;
+ Quy tắc định nghĩa thuộc tính chủ đề trong lược đồ ứng dụng:
Các thuộc tính chủ đề được định nghĩa trong lược đồ ứng dụng phải phù hợp các đặc tả trong chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia; Các thuộc tính chủ đề của đối