Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Luận văn đã tiến hành tổng hợp, phân tích và lựa chọn rađược những phương pháp hay còn gọi là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của dự ánđầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN THỊ MINH
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT - CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN ÁP DỤNG ĐÁNH GIÁ LẠI HIỆU QUẢ DỰ ÁN NHÀ MÁY SẢN XUẤT ALUMIN NHÂN CƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Trang 2HÀ NỘI – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN THỊ MINH
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC DỰ ÁN SẢN XUẤT - CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN ÁP DỤNG ĐÁNH GIÁ LẠI HIỆU QUẢ DỰ ÁN NHÀ MÁY SẢN XUẤT ALUMIN NHÂN CƠ
Chuyên ngành: Kinh tế Công nghiệp
Mã số: 60.31.09
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Nguyễn Cảnh Nam
Trang 3HÀ NỘI – 2010
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn của tôi với đề tài: “Nghiên cứu phương pháp
đánh giá hiệu quả các dự án sản xuất - chế biến khoáng sản Áp dụng đánh giá lại hiệu quả Dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, với các số liệu và tài liệu trung thực Kết quả nghiên cứu chưa từngđược công bố trong các công trình trước đó
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU ……… ……….…… ……
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ……….………….………….
4 1 Khái niệm và các vấn đề chung về dự án đầu tư ……… 4
1 Khái niệm về dự án đầu tư ……… ……… 4
2 Vai trò của dự án đầu tư ……….……… 6
3 Chu kỳ dự án ……….……… 6
4 Phân loại dự án đầu tư ……….……… 10
2 Những vấn đề phương pháp luận về hiệu quả dự án đầu tư và đánh giá hiệu quả dự án đầu tư ………
10 1 Khái niệm hiệu quả dự án đầu tư……….…… 10
2 Phân loại hiệu quả………11
3 Các nguyên tắc và nhiệm vụ phân tích hiệu quả đầu tư……… ……….12
4 Nội dung và trình tự phân tích hiệu quả……… 13
5 Phương pháp chung phân tích hiệu quả dự án đầu tư ………….………13
Trang 66 Những khái niệm và thông tin cần thiết khác ……….……… 13
7 Phương pháp đánh giá hiệu quả dự án đầu tư……… ……… 19
3 Tình hình đặc điểm và những vấn đề cần quan tâm khi đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư trong ngành công nghiệp khoáng sản ……… 35
1 Hiện trạng tài nguyên, trữ lượng và sản lượng khai thác một số loại khoángsản chính ……… ………35
2 Đặc điểm của ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam……… ………… 44
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG DỰ ÁN NHÀ MÁY SẢN XUẤT
49
2.1 Giới thiệu khái quát dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ ……… 49 2.1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp khai thác bauxite - nhôm Việt Nam……. 49
2.1.2 Giới thiệu khái quát Dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ…… ….……. 51
2.2 Phân tích hiện trạng đánh giá hiệu quả Dự án Nhà máy sản xuất Alumin
64
2.2.1 Phương pháp phân tích hiệu quả dự án ……… 66
2.2.2 Các căn cứ tính toán hiệu quả dự án ……… ……….………. 69
2.2.3 Kết quả tính toán và phân tích hiệu quả dự án …… ……… …… 73
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP VÀ ÁP DỤNG ĐÁNH GIÁ LẠI HIỆU
3.1 Đề xuất, phân tích và lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của dự án Nhà
3.1.1 Phân tích hiệu quả tài chính ……… ……….………75
Trang 73.1.2 Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội ……… ………80
3.1.3 Phân tích hiệu quả dự án trong điều kiện bất định ………. 82
3.2 Đánh giá lại hiệu quả của dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ theo các
3.3 So sánh kết quả đánh giá hiệu quả của dự án giữa hai phương pháp (trước
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nguyên tắc định giá kinh tế ……… …
29 Bảng 1.2 Tổng hợp trữ lượng tài nguyên khoáng sản Việt Nam ……… ………… 35
Bảng 1.3 Sản lượng than khai thác giai đoạn 2000 – 2007 ………. 37
Bảng 1.4 Sản lượng quặng sắt giai đoạn 2000 – 2007 ………. 39
Bảng 1.5 Sản lượng quặng Titan 52% TiO2 giai đoạn 2000 – 2007 ……… ……
39 Bảng 1.6 Sản lượng quặng đồng và tinh quặng đồng giai đoạn 2000 – 2007 …… … 40
Bảng 1.7 Sản lượng thiếc kim loại giai đoạn 2000 – 2007 ……… 41
Bảng 1.8 Sản lượng chì-kẽm giai đoạn 2000 – 2007 ……… ……… 42
Bảng 1.9 Sản lượng quặng bauxit giai đoạn 2000 – 2007 ……….…… ………….…43
Bảng 1.10 Sản lượng quặng crom khô giai đoạn 2000 – 2007 ……… … 44
Bảng 1.11 Sản lượng một số khoáng sản khác giai đoạn 2000 – 2007 ……… … ……. 44
Bảng 1.12 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư……… … 48
Bảng 2.1 Tổng mức đầu tư dự án điều chỉnh……… 59
Bảng 2.2 Phương án cơ sở 1 ……… ……… 62
Bảng 2.3 Phương án cơ sở 2 ………. 63
Bảng 2.4 Thống kê giá Alumin trong 15 năm gần đây……… … 71
Bảng 3.1 Giá bán Alumin dự báo giai đoạn 2008 – 2010 ………. 88
Trang 9Bảng 3.2 So sánh tổng mức vốn đầu tư ……… ………92
Bảng 3.3 So sánh chi phí vận hành và giá thành sản phẩm……….92Bảng 3.4 So sánh doanh thu ……… 93
Bảng 3.5 So sánh hiệu quả vốn đầu tư……… 94Bảng 3.6 Sự thay đổi của NPV và IRR……… 95
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ chu kỳ dự án ……… ………….7
Hình 1.2 Sơ đồ phân tích hiệu quả tài chính của dự án ……….……… 20Hình 2.1 Lưu trình sản xuất Alumin ……….56
Trang 11PHỤ LỤC
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có trữ lượng bauxit khoảng 7 tỷ tấn quặng, tương đương với 3,2 tỷ tấnquặng tinh, là một trong những quốc gia có trữ lượng bauxit hàng đầu thế giới.Quặng bauxit tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, trong đó riêng tỉnh Đắk Nông đãchiếm hơn 60% trữ lượng
Đến nay Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày01/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụngquặng bauxit giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025
Trên cơ sở Quy hoạch nêu trên, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sảnViệt Nam (tên viết tắt là TKV) đã được Chính phủ cho phép triển khai các dự án đầu
tư khai thác bauxit, chế biến alumin ở Tây Nguyên
Đến nay đã khởi công Tổ hợp bauxit-nhôm Lâm Đồng (Tân Rai) với nhà máyalumin công suất 600.000 tấn/năm do TKV là chủ đầu tư Tại tổ hợp này, Công tyquốc tế công trình nhôm Trung Quốc (Chalieco) đã trúng thầu gói thầu xây dựng, vậnhành, chuyển giao nhà máy alumin Tư vấn của chủ đầu tư là Viện nghiên cứu cơ khí(NARIME) và các chuyên gia Australia chuyên về lĩnh vực bauxit-alumin, nhôm.TKV đã đền bù, giải phóng mặt bằng 424 ha đất của 559 hộ dân, sẽ tiếp tục đền bùtiếp 980 ha của hơn 1.000 hộ dân, đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng cho khu tái định
cư Gói thầu xây dựng, vận hành chuyển giao nhà máy alumin đang được Chaliecothi công đúng tiến độ, dự kiến hoàn thành và bàn giao cho TKV đưa vào sản xuấtcuối năm 2010; công trình nhà máy tuyển quặng sẽ khởi công xây dựng trong năm
2009 để đồng bộ với nhà máy alumin
Dự án Nhân Cơ (Đắk Nông), nhà máy alumin công suất 600.000 tấn/năm cũng
do TKV là chủ đầu tư, một số công việc bắt đầu được triển khai
Chương trình khai thác Bauxit ở Tây Nguyên và những vấn đề thời sự nónghổi đã được nhiều nhà khoa học, nhà văn hoá, cán bộ quản lý và những người dânbình thường tâm huyết với quan điểm “phát triển bền vững” tập trung phân tích dướinhiều góc độ khác nhau, gồm:
· Vấn đề gây ô nhiễm môi trường;
Trang 13· Vấn đề bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (vùng dựán);
· Vấn đề bảo đảm trật tự xã hội và an ninh quốc phòng;
· Vấn đề hiệu quả kinh tế - xã hội;
· Vấn đề đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc vận hành các dự án đạthiệu quả
Do vậy, Bộ Chính trị đã chỉ đạo: "Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp Riêng dự án Nhân Cơ cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện".
Việc thực hiện dự án này sẽ mang lại những lợi ích tài chính, kinh tế xã hộithiết thực, đồng thời tạo ra bước phát triển đột phá cho ngành công nghiệp khai thác
bauxit, sản xuất alumin của Việt Nam Vì vậy, việc lựa chọn đề tài "Nghiên cứu
phương pháp đánh giá hiệu quả các dự án sản xuất - chế biến khoáng sản Áp dụng đánh giá lại hiệu quả dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ " là hết sức
cần thiết và có tính thời sự
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đề xuất phương pháp đánhgiá hiệu quả các dự án sản xuất - chế biến khoáng sản và áp dụng đánh giá lại hiệuquả Dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ nhằm chỉ ra tính hiệu quả của dự ántrong điều kiện “Phát triển bền vững”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về đánh giá và đánh giá lạihiệu quả dự án đầu tư
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các dự án sản xuất - chế biến khoáng sản
và Dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ
Trang 144 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
- Nghiên cứu tổng quan lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả dự án đầu tư
- Phân tích tình hình đặc điểm ngành công nghiệp khai thác - chế biến khoángsản và hiện trạng dự án nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ
- Nghiên cứu đề xuất phương pháp đánh giá hiệu quả phù hợp với ngành côngnghiệp khai thác - chế biến khoáng sản và áp dụng cho Dự án Nhà máy sản xuấtAlumin Nhân Cơ
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là kết hợp nghiên cứu lý luận và khảosát thực tiễn; sử dụng tổng hợp các phương pháp như phương pháp tiếp cận hệ thống,phương pháp toán học, phương pháp phân tích định lượng, phương pháp khảo sát, sosánh, thống kê v.v để nghiên cứu giải quyết nội dung của các nhiệm vụ nghiên cứunêu trên
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn đã tiến hành tổng hợp, phân tích và lựa chọn rađược những phương pháp (hay còn gọi là tiêu chuẩn) đánh giá hiệu quả của dự ánđầu tư nói chung và dự án đầu tư trong lĩnh vực khai thác khoáng sản nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu góp phần đánh giá chính xác được hiệu quả tài chính vàhiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ, từ đó trả lờiđược câu hỏi là liệu dự án có thực sự mang lại hiệu quả như Tập đoàn Công nghiệpThan - Khoáng sản Việt Nam đã công bố hay không?
+ Là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các Cán bộ quản lý và nhữngngười quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu luận văn
Trang 15Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị thì luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về dự án đầu tư và phương pháp đánh giá hiệu quả
dự án đầu tư
Chương 2: Phân tích hiện trạng dự án nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ Chương 3: Đề xuất phương pháp và áp dụng đánh giá lại hiệu quả dự án
nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ.
Luận văn gồm 100 trang đánh máy vi tính với 03 hình vẽ, 22 bảng biểu vàdanh mục 25 tài liệu tham khảo
Luận văn đã được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS TSNguyễn Cảnh Nam - Hiệu trưởng trường Quản trị kinh doanh - TKV Tác giả xinchân thành cám ơn PGS TS Nguyễn Cảnh Nam cùng các thầy cô giáo Khoa Kinh tế
& QTKD - Trường Đại học Mỏ Địa chất, các bạn đồng nghiệp đã tận tình hướng dẫn,
hỗ trợ cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn đúng hạn
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 Khái niệm và các vấn đề chung về dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
Theo lý thuyết phát triển: Khả năng phát triển của một quốc gia được hìnhthành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên Là hệthống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ, biểu hiện bởi phương trình:
(1-1)Trong đó: D - Khả năng phát triển của một quốc gia
C - Khả năng về vốn
T - Công nghệ
L - Lao động
R - Tài nguyên thiên nhiên
Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng hơn là phát triểnkinh tế - xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư Đầu tư theo nghĩa rộng (1) là
sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu vềcho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ
ra để đạt được các kết quả đó Các kết quả ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyênthiên nhiên, thời gian v.v và lợi ích dự kiến có thể lượng hóa được (tức là đo đượchiệu quả bằng tiền như sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trítuệ và nguồn lực) mà cũng có thể không lượng hóa được (như sự phát triển trong cáclĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội v.v.) Đối với các doanhnghiệp (2), hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợinhuận trong tương lai Trên quan điểm xã hội (3) thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn pháttriển, từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia
Trang 17có liên quan đến quá trình thực hiện đầu tư, đến sự phát huy tác dụng và hiệu quả đạtđược của công cuộc đầu tư, phải dự đoán được các yếu tố bất định (sẽ xảy ra kể từkhi thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc hoạt động của dự án) có ảnh hưởng đến sựthành bại của công cuộc đầu tư Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này được thểhiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư) Có nghĩa là mọi côngcuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt thì
mới đạt hiệu quả mong muốn Vậy Dự án đầu tư là gì?
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án đầu tư Chẳng hạn, từ góc
độ mục tiêu thẩm định, dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư Đó là mộttập hợp các biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt
kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế và xã hội để làm cơ sở choviệc quyết định bỏ vốn đầu tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp, hiệuquả kinh tế - xã hội đem lại cho quốc gia và xã hội lớn nhất có thể được
Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động
và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đótrong một thời gian nhất định”
Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
Có nhiều quan điểm cho rằng dự án đầu tư phải nhằm vào việc sử dụng cóhiệu quả các yếu tố đầu vào để thu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu đã định.Đầu vào ở đây là lao động, nguyên, vật liệu, nhiên liệu, đất đai, vốn có thể gọichung là tài nguyên; đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ hoặc nâng cao chất lượng sảnphẩm, dịch vụ Sử dụng đầu vào được hiểu là tổ hợp các giải pháp công nghệ, biệnpháp tổ chức quản trị và các chính sách Như vậy, theo cách hiểu này thì có thể xem
dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạnhiện có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và cho xã hội
Trang 18Tất cả các yếu tố, các hoạt động nói trên của dự án đầu tư đều xảy ra trongnhững điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật cụ thể của một đất nước.
Về mặt hình thức, các dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cáchchi tiết và hệ thống một kế hoạch, một chương trình hành động trong tương lai phùhợp với nội dung, yêu cầu nói trên
Một dự án được cho là có tính khả thi khi đáp ứng được các yêu cầu chínhsau:
Tính khoa học: Dự án phải được soạn thảo trên cơ sở những căn cứ khoa học,
hợp lý và bằng các phương pháp chuyên môn, kinh tế, kỹ thuật thích hợp cũng nhưquá trình điều tra, nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ càng và tính toán thận trọng được thực hiệnbởi các cơ quan chuyên môn và chuyên gia tư vấn về đầu tư xây dựng
Tính thực tiễn: Nội dung và các giải pháp đề xuất trong dự án phải sát thực
với các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan tới hoạt động đầu tư
Tính pháp lý: Dự án cần có cơ sở pháp lý rõ ràng, vững chắc, tức là phải phù
hợp với các chính sách và pháp luật của Nhà nước
1.1.2 Vai trò của dự án đầu tư
Đối với Nhà nước và các định chế tài chính: Dự án đầu tư là cơ sở để thẩmđịnh và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho dự án
Đối với chủ đầu tư thì dự án đầu tư: (1) Là căn cứ quan trọng nhất để quyếtđịnh bỏ vốn đầu tư; (2) Là cơ sở để xin giấy phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kếhoạch đầu tư) và cấp giấy phép hoạt động; (3) Là cơ sở để xin phép được nhập khẩumáy móc thiết bị, gọi vốn góp hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu; (4) Là phương tiện
để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư; (5) Là phương tiệnthuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vayvốn; (6) Là văn kiện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt,
Trang 19cấp giấy phép đầu tư và cho hưởng những khoản ưu đãi trong đầu tư; (7) Là căn cứquan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa cácbên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước Việt Nam Đây cũng là cơ sởpháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh
Như vậy, dự án đầu tư là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh
tế của doanh nghiệp, của ngành, của địa phương và của cả nước nhằm biến kế hoạchthành hành động cụ thể và đem lại lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nước, lợi ích tàichính cho nhà đầu tư
1.1.3 Chu kỳ dự án
Chu kỳ dự án là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án đầu tư phải qua bắtđầu từ ý tưởng hình thành dự án đến khi dự án được hình thành, vận hành, chấm dứthoạt động và xuất hiện ý tưởng về dự án mới Có thể mô tả tổng quát chu kỳ dự ánđầu tư như sau:
Ý tưởng về dự án Þ Chuẩn bị đầu tư Þ Thực hiện đầu tư Þ Vận hành công trìnhÞ Chấm dứt hoạt động Þ Xuất hiện ý tưởng về dự án mới.
Trong thực tế, tùy theo quan điểm và yêu cầu quản lý của từng tổ chức mà cụthể hóa chu kỳ dự án ra nhiều bước, giai đoạn là khác nhau Ví dụ, Ngân hàng Pháttriển Châu Á (ADB) quy định chu kỳ dự án gồm 12 bước
Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành chu kỳ dự án có ba giai đoạn chính, mỗi
giai đoạn lại chia làm nhiều bước, được biểu diễn theo sơ đồ Hình 1.1.
Trang 20Hình 1.1 Sơ đồ chu kỳ dự án
a) Chuẩn bị đầu tư, gồm các bước:
* Nghiên cứu lựa chọn cơ hội đầu tư: Chủ đầu tư dựa trên bảng tổng hợp các
cơ hội đầu tư và thông qua việc phân tích xử lý các thông tin về nguồn tài lực, thị
Giai đoạn I
CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ
Lập báo cáo
nghiên cứu cơ
hội đầu tư
Lập báo cáonghiên cứutiền khả thi
Lập báo cáonghiên cứukhả thi
Chuẩn bị mặtbằng và thicông côngtrình
Đào tạoCBCNV kỹthuật quản lý,điều hành dựán
Chạy thử,nghiệmthu côngtrình
Giai đoạn III
VẬN HÀNH KHAI THÁC VÀKẾT THÚC DỰ ÁN
Trang 21trường, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ v.v để tiến tới lựa chọn cơ hội đầutư
* Nghiên cứu tiền khả thi: Mục đích là nhằm loại bỏ những vấn đề không cần
thiết giúp nhà đầu tư giảm bớt rủi ro, tiết kiệm chi phí khi chuyển sang giai đoạn tiếptheo Bước này được tiến hành cẩn thận, chu đáo giúp nhà đầu tư có đủ cơ sở để đánhgiá và khẳng định được các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến sự thành bại của đầu tưnhư vấn đề đầu ra, đầu vào, địa điểm, yêu cầu hoạt động, hiệu quả của dự án
* Nghiên cứu khả thi: Bước này có khối lượng công việc lớn nhất, đầy đủ và
toàn diện nhất, đảm bảo cho việc quyết định đầu tư đúng đắn, hạn chế đến mức thấpnhất các khả năng rủi ro có thể xảy ra Các tài liệu điều tra cơ bản, các phân tích tínhtoán đề xuất trong bước này đòi hỏi phải đạt độ chính xác cao (sai số không vượt quá5%) Đây là cơ hội cuối cùng và quan trọng nhất để các nhà đầu tư lựa chọn các giảipháp tối ưu cho mình trước khi ra quyết định bỏ vốn Báo cáo khả thi phải có nộidung đầy đủ, phải chu đáo đến mức người ra quyết định không còn phát hiện điều gì
về việc thiếu số liệu hoặc phân tích chưa kỹ, bỏ sót hoặc sai lệch Kết thúc bước này
là kết thúc giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Do yêu cầu và tầm quan trọng của nghiên cứu khả thi nên việc thực hiện bướcnày sẽ được các nhà đầu tư thuê các hãng tư vấn đầu tư soạn thảo Nói chung, nộidung nghiên cứu khả thi được lặp lại gần đúng như nghiên cứu tiền khả thi nhưngphạm vi nghiên cứu rộng hơn, yêu cầu độ chính xác cao hơn và phải giải đáp đượcchi tiết từng vấn đề cụ thể như phải xác định được công suất, lựa chọn được địađiểm, lựa chọn dây chuyền công nghệ và thiết bị, xác định thị trường tiêu thụ, khẳngđịnh được nguồn tài trợ, điều kiện tài trợ v.v
Do đặc điểm của từng lĩnh vực, từng ngành sản xuất khác nhau nên từng nộidung trong nghiên cứu khả thi tùy theo từng lĩnh vực, từng ngành có thể có mức độnông sâu khác nhau Ví dụ đối với các dự án thuộc ngành sản xuất công nghiệp phải
đi sâu các vấn đề nền móng công trình, cung cấp điện nước, giao thông phục vụ sảnxuất, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ mội trường Đối với các ngành sản xuất nông, lâmnghiệp dự án trước hết phải tập trung giải quyết vấn đề phân bố đất đai sử dụng giữacác ngành và các thành phần kinh tế v.v
* Thẩm định dự án: Đây không phải là một bước riêng mà gắn liền với từng
bước lập dự án nêu trên Song, do tính chất, đặc điểm và tầm quan trọng của côngviệc này nên nó được tách ra thành một nội dung riêng
Trang 22Ta biết rằng, một dự án dù được lập cẩn thận đến đâu đều mang tính chất chủquan của người lập và của chủ đầu tư Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan của dự áncần phải tiến hành thẩm tra, phản biện theo nguyên tắc: (1) Người lập đứng trên mộtgóc độ hẹp để nhìn nhận các vấn đề của dự án, còn người thẩm định phải có cái nhìntổng hợp, bao quát để đánh giá dự án; (2) Người lập đứng trên quan điểm lợi ích củachủ đầu tư kết hợp với lợi ích của cả cộng đồng để xây dựng dự án, còn người thẩmđịnh phải xuất phát trước hết từ quyền lợi của cả cộng đồng để xem xét các lợi íchkinh tế - xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên, lao động, những tác động về mặt xã hội,môi trường v.v để đánh giá
Để thực hiện tốt công tác thẩm định đòi hỏi người thẩm định phải nắm vữngnội dung thẩm định, căn cứ và phương pháp thẩm định
b) Thực hiện đầu tư
Đây là giai đoạn bỏ vốn để tạo ra năng lực mới, các chi phí này thường thuộcchi phí cố định (vốn cố định) Các bước chung trong giai đoạn này gồm: (1) Thươngthảo ký kết hợp đồng đấu thầu (thiết kế, thi công, cung cấp vật tư, thiết bị); (2) Thiết
kế kỹ thuật và thiết kế thi công; (3) Lập dự toán và tổng dự án; (4) Chuẩn bị mặt bằng
và thi công; (5) Đào tạo cán bộ, công nhân cho quản lý và vận hành; (6) Chạy thử,nghiệm thu và bàn giao công trình
Ở Việt Nam theo quy định hiện hành, giai đoạn Thực hiện đầu tư gồm các
công việc: (1) Xin giao hoặc thuê đất; (2) Xin Giấy phép xây dựng; (3) Đền bù giảiphóng mặt bằng; (4) Mua sắm thiết bị và công nghệ; (5) Khảo sát, thiết kế xây dựng,lập tổng dự toán và dự toán; (6) Thẩm định, phê duyệt thiết kế, tổng dự toán và dựtoán; (7) Thi công xây lắp; (8) Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng; (9) Quản lý kỹthuật, chất lượng thiết bị và xây dựng; (10) Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán,bàn giao và đưa công trình vào hoạt động
c) Khai thác vận hành và kết thúc dự án
Chủ đầu tư thành lập tổ chức vận hành công trình với các nội dung: chạy đạtcông suất, thỏa mãn yêu cầu chất lượng; bảo dưỡng, sửa chữa và đầu tư chiều sâu.Bước cuối cùng là kết thúc hoạt động đầu tư với các nội duna: giải thể, thanh lý, tổngkết hoạt động
Trong ba giai đoạn trên, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thànhcông hay thất bại ở hai giai đoạn sau, mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu
Trang 23không thể thiếu được trong chu trình của một dự án đầu tư Trước hết là với chủ đầu
tư để có quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư Do đặc điểm của dự ánđầu tư là có sự phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiếnhành đầu tư, chủ đầu tư cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sailầm không đáng có xảy ra
1.1.4 Phân loại dự án đầu tư
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư Tùy theo từng mục đích cụ thể mà có sựphân loại dự án đầu tư cho phù hợp Ví dụ ở Việt Nam, để phục vụ cho việc phân cấpquản lý và quyết định đầu tư người ta căn cứ vào quy mô, tầm quan trọng và tính chấtcủa các dự án đầu tư mà phân ra: dự án quốc gia đặc biệt quan trọng (do Quốc hộithông qua chủ trương và cho phép đầu tư), dự án nhóm A (do Thủ tướng Chính phủcho phép đầu tư), dự án nhóm B và dự án nhóm C
(1) Theo hình thức đầu tư: dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng và dự án đầu tư cải tạo, hiện đại hóa; (2) Theo nội dung đầu tư có hay không xây dựng công trình phân ra: dự án đầu tư xây dựng công trình và dự án đầu tư không có xây dựng công trình; (3) Theo nguồn vốn đầu tư phân ra: dự án sử dụng vốn Nhà nước, dự án
sử dụng vốn tư nhân, dự án sử dụng vốn nước ngoài (FDI), dự án sử dụng hỗn hợp
nhiều nguồn vốn; (3) Theo ngành kinh tế, lĩnh vực, ngành nghề phân ra: dự án đầu tư
sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (gồm cả kinh tế và xã
hội), dự án đầu tư khoa học công nghệ, dự án đầu tư văn hóa xã hội v.v; (4) Trong các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh lại phân ra dự án: công nghiệp; nông, lâm,
ngư nghiệp; dịch vụ v.v
1.2 Những vấn đề phương pháp luận về hiệu quả dự án đầu tư và đánh giá hiệu quả dự án đầu tư
1.2.1 Khái niệm hiệu quả dự án đầu tư (Hiệu quả đầu tư)
Hiệu quả đầu tư là khái niệm để chỉ kết quả so sánh giữa lợi ích thu được (B)
do đầu tư mang lại và chi phí đầu tư đã bỏ ra (C)
Lợi ích là những kết quả tích cực thu được từ đầu tư, có thể tính được hoặc không tính được bằng tiền Chi phí là sự tiêu tốn các nguồn lực cho đầu tư (bao gồm
cả các kết quả tiêu cực và chi phí để xử lý chúng) để đạt được lợi ích đề ra
Phân loại lợi ích và chi phí:
Trang 24* Theo tính chất hoặc nội dung kinh tế, có các chi phí và lợi ích: (1) Tài
chính: Là các chi phí và lợi ích tài chính xét trong phạm vi doanh nghiệp; (2) Kinh tế,
xã hội, môi trường: Là các chi phí và lợi ích xét trên phạm vi nền kinh tế (quốc gia),bao gồm tăng thu nhập quốc dân, tạo việc làm, công bằng xã hội, bảo vệ môi sinh, anninh quốc phòng, nâng cao dân trí v.v
* Theo phạm vi phát sinh, có các chi phí và lợi ích: (1) Trực tiếp: Là các chi
phí và lợi ích phát sinh trong phạm vi dự án; (2) Gián tiếp: Là các chi phí và lợi íchphát sinh bên ngoài dự án, nhưng có liên quan trực tiếp đến dự án đang xem xét (liênquan đến đầu vào của dự án, liên quan đến đầu ra của dự án)
* Theo chủ thể hưởng thụ lợi ích và chịu chi phí, có các chi phí và lợi ích: Các
cá nhân, doanh nghiệp, địa phương, vùng lãnh thổ, quốc gia (nền kinh tế)
* Theo thời gian phát sinh, có các lợi ích và chi phí: Trước mắt, lâu dài
Nguyên tắc xác định lợi ích và chi phí:
Nguyên tắc chung để xác định đúng đắn, đầy đủ các lợi ích và chi phí là sosánh giữa trạng thái không có dự án đầu tư và trạng thái có dự án đầu tư Sự chênhlệch giữa hai trạng thái đó chính là tác động của dự án đầu tư
Chi phí cơ hội, chi phí cơ hội của vốn và chi phí sử dụng vốn:
Chi phí cơ hội: Là lợi ích bị mất đi do thôi không thực hiện một hoạt động
kinh tế đang có hoặc một cơ hội hoạt động kinh tế sẵn có Trong phân tích hiệu quả
dự án đầu tư, nguyên lý chi phí cơ hội được áp dụng rộng rãi nhằm xác định giá cảcủa các tài nguyên dùng trong dự án (vốn, lao động, nguyên vật liệu v.v.) Phạm trùchi phí cơ hội làm cơ sở giúp doanh nghiệp lựa chọn được phương án kinh doanh tốtnhất, tức sử dụng các nguồn lực của mình hiệu quả nhất
Chi phí cơ hội của vốn (Opportunity Cost of Capital): Lợi ích bị mất đi do
không đầu tư vốn vào một cơ hội đầu tư sẵn có nào đó
Chi phí sử dụng vốn (hay còn gọi là chi phí huy động vốn): Chi phí thực tế
phải trả cho việc sử dụng vốn Thông thường đó là lãi suất tiền vay đối với các khoảnvốn vay để đầu tư
→ Tỷ lệ lãi tối thiểu: Là tỷ lệ lãi ít nhất dự án cần phải đạt được Nếu tỷ lệ lãi
của dự án thấp hơn tỷ lệ lãi đó thì dự án hoặc là không có hiệu quả hoặc là có cơ hội
Trang 25đầu tư khác có tỷ lệ lãi cao hơn Các nhà đầu tư thường dùng tỷ lệ lãi tối thiểu để làm
tỷ suất chiết khấu hoặc làm tỷ lệ ngưỡng (giới hạn) để so sánh tỷ lệ lãi của dự án Cơ
sở để xác định tỷ lệ lãi tối thiểu tùy theo từng dự án mà có sự khác nhau Thôngthường, người ta xác định chúng căn cứ vào chi phí cơ hội, chi phí vốn, mức lợi tức
cổ phần, lãi suất trên thị trường vốn v.v
1.2.2 Phân loại hiệu quả
Căn cứ vào các loại lợi ích và chi phí ta có thể phân ra: (1) Hiệu quả trực tiếp
và hiệu quả gián tiếp; (2) Hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội; (3) Hiệu quảtrước mắt và hiệu quả lâu dài; (4) Hiệu quả doanh nghiệp, hiệu quả vùng lãnh thổ,hiệu quả quốc gia
Ngoài ra, theo cách so sánh giữa lợi ích và chi phí còn có: (1) Hiệu quả tuyệtđối: E = B - C; (2) Hiệu quả tương đối: E = B/C hoặc (B-C)/C Trong đó:
B - Lợi ích thu được do đầu tư, đo bằng các đơn vị khác nhau
C - Chi phí bỏ ra, đo bằng các đơn vị khác nhau
E - Hiệu quả
1.2.3 Các nguyên tắc và nhiệm vụ phân tích hiệu quả đầu tư
a) Có 2 nguyên tắc đánh giá hiệu quả đầu tư:
- Thứ nhất, hiệu quả càng cao càng tốt;
- Thứ hai, càng sớm có hiệu quả càng tốt
b) Có 4 nguyên tắc xác định hiệu quả:
- Thứ nhất, nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả:Tiêu chuẩn hiệu quả được xác định ra trên cơ sở mục tiêu Mục tiêu khác nhau, tiêuchuẩn hiệu quả sẽ khác nhau, do vậy mục tiêu thay đổi thì tiêu chuẩn hiệu quả thayđổi Tiêu chuẩn hiệu quả được xem như là thước đo để thực hiện mục tiêu;
- Thứ hai, nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích: Một dự án được xem là có hiệuquả khi nó kết hợp hài hòa các loại lợi ích (của doanh nghiệp và của xã hội, trướcmắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, kinh tế và xã hội);
Trang 26- Thứ ba, nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học: Hiệu quả của dự ánphải được đánh giá thông qua các chỉ tiêu có thể lượng hóa được và không lượng hóađược, đảm bảo phản ánh được mọi lợi ích và mọi chi phí có liên quan;
- Thứ tư, nguyên tắc về tính đơn giản và thực tế: Việc đánh giá hiệu quả của
dự án phải dựa trên cơ sở các số liệu thực tế và tin cậy, tránh sử dụng các phươngpháp phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin khó thu thập được hoặc không tin cậy
c) Nhiệm vụ phân tích hiệu quả dự án đầu tư, gồm có 3 nhiệm vụ chính:
(1) Xác định tính hiệu quả của dự án: Các phương pháp phân tích hiệu quảphải trả lời được câu hỏi dự án có hay không có hiệu quả Nói chung, các dự án sẽđược chấp nhận nếu đáp ứng được đến mức độ nào đó các tiêu chuẩn hiệu quả đã đặt
ra, ngược lại dự án sẽ bị loại bỏ
(2) Xếp hạng các dự án độc lập: Dự án độc lập là các dự án có thể tiến hànhđồng thời, tuy nhiên do hạn chế về vốn nên chỉ một số dự án được thực hiện trước vàcòn các dự án khác phải hoãn lại Trong trường hợp này, các tiêu chuẩn đánh giá phải
so sánh các dự án và xác định xem dự án nào được ưu tiên thực hiện trước và dự ánnào phải hoãn lại Cơ sở để xếp hạng các dự án là mức sinh lợi của chúng
(3) Lựa chọn những dự án loại trừ nhau: Dự án loại trừ nhau là các dự ánkhông thể tiến hành đồng thời, tức là nếu thực hiện dự án này thì phải loại bỏ dự ánkia Trong trường hợp này, nhiệm vụ phân tích hiệu quả các dự án là tìm ra và lựachọn được dự án có hiệu quả cao nhất theo tiêu chuẩn đã định, còn các dự án khác bịloại bỏ Các dự án đưa vào xem xét đều phải đáp ứng được yêu cầu là có hiệu quả
1.2.4 Nội dung và trình tự phân tích hiệu quả
a) Nội dung: (1) Nhận diện các chi phí và lợi ích; (2) Định lượng những chi
phí và lợi ích; (3) Xác định giá trị của chi phí và lợi ích; (4) So sánh lợi ích và chiphí
b) Trình tự: (1) Xác định mục tiêu; (2) Thiết lập các chỉ tiêu hiệu quả; (3)
Tính toán các phương án; (4) Đánh giá các phương án; (5) Lựa chọn phương án
1.2.5 Phương pháp chung phân tích hiệu quả dự án đầu tư
Trang 27a) Phân tích tài chính: Dùng để phân tích hiệu quả tài chính hay còn gọi là
hiệu quả thương mại của dự án Nói cách khác, phân tích tài chính dùng để phân tíchhiệu quả dự án trên giác độ doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư
b) Phân tích kinh tế: Dùng để phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án,
tức là phân tích hiệu quả của dự án trên giác độ nền kinh tế quốc dân (quốc gia, vùnglãnh thổ, ngành)
1.2.6 Những khái niệm và thông tin cần thiết khác
a) Các loại chi phí kinh doanh:
Trong mối quan hệ với sản lượng, chi phí kinh doanh phân thành các loại sau:
(1) Tổng chi phí (TC): Là toàn bộ chi phí cần thiết để sản xuất và tiêu thụ một
khối lượng sản phẩm nhất định (Q) TC tăng khi Q tăng và ngược lại
(2) Chi phí cố định (FC): Là loại chi phí thanh toán độc lập với sản lượng, vì
thế chúng không tăng giảm (không đổi) khi sản lượng tăng hoặc giảm, ví dụ: tiềnthuê đất, trả lãi tiền vay, chi phí khấu hao tài sản cố định, trả chi phí bản quyền, chiphí bảo hiểm và một số chi phí quản lý
(3) Chi phí biến đổi (VC): Là loại chi phí thay đổi theo sản lượng, bao gồm
các loại chi phí nguyên, nhiên, vật liệu và động lực trực tiếp, tiền công của công nhântrực tiếp v.v Khi sản lượng tăng thì tổng chi phí này tăng và ngược lại,
(4) Chi phí bình quân (AC): Là chi phí cho một đơn bị sản phẩm, bằng tổng
chi phí (TC) chia cho tổng sản lượng (Q) Ngoài ra chi phí bình quân (AC) còn có chiphí cố định bình quân (AFC) và chi phí biến đổi bình quân (AVC)
(5) Chi phí biên (MC): Là mức tăng tổng chi phí khi sản lượng tăng thêm một
đơn vị, hay là phần chi phí tăng thêm để làm thêm một đơn bị sản phẩm
Các khái niệm tổng chi phí, chi phí cố định và chi phí biến đổi phục vụ choviệc phân tích hòa vốn, còn chi phí biên là chìa khóa để hiểu một doanh nghiệp muốnsản xuất và bán ra khối lượng sản phẩm bao nhiều là hợp lý nhất
Đối với các dự án đầu tư trong ngành khai thác mỏ cần chú ý một số đặc thù
về mặt chi phí sau: (1) Do có chi phí đầu tư bổ sung để duy trì công suất mỏ vì điềukiện khai thác mỏ ngày càng khó khăn, phức tạp hơn nên chi phí khấu hao ngày càng
Trang 28tăng; (2) Trong chi phí biến đổi nói riêng và giá thành nói chung không có chi phínguyên liệu; (3) Vì điều kiện khai thác mỏ thường xuyên thay đổi nên chi phí biếnđổi trên một đơn vị sản phẩm cũng luôn thay đổi theo và nói chung là theo xu hướngngày càng tăng lên; (4) Chi phí biên theo khái niệm thông thường như đã trình bàytrên đây không có ý nghĩa thực tiễn và kinh tế đối với ngành khai thác mỏ, vì rằngngay cả sản lượng không tăng, thậm chí giảm thì tổng chi phí cũng tăng lên bởi cácnguyên nhân như đã nêu trên Cho nên vấn đề đặt ra không chỉ là có tăng thêm sảnlượng hay không mà ngay cả mức sản lượng đã đạt được có nên duy trì hoặc tiếp tụckhai thác hay không Vì vậy, trong ngành khai thác mỏ khái niệm chi phí biên phảiđược hiểu và áp dụng theo tinh thần là phần chi phí tăng thêm khi khai thác thêm mộtđơn vị trữ lượng Khi đó sản lượng biên chính là sản lượng khai thác hàng năm trongtương lai và chi phí biên chính là chi phí của mức sản lượng hàng năm đó Với kháiniệm chi phí biên và sản lượng biên như vậy sẽ phục vụ cho việc ra quyết định cótiếp tục khai thác phần trữ lượng còn lại hay không, điều đó đồng nghĩa với việc cótiếp tục khai thác mỏ nữa hay không
Các đặc thù nêu trên cần phải được lưu tâm khi phân tích hòa vốn, phân tích
độ nhạy và xác định khối lượng sản phẩm hợp lý của các dự án đầu tư khai thác mỏ
b) Các dòng tiền của dự án (Cash Flows - CF)
Dòng tiền của dự án là hình thức biểu hiện các khoản thu, chi phát sinh tại cácnăm khác nhau trong đời dự án Chúng phải là các khoản thu, chi thực của dự án
* Các dòng tiền thu (Cash Inflow - CI) bao gồm: (1) Doanh thu bán sản phẩm:
Các loại sản phẩm chính, các loại sản phẩm phụ (nếu có), các khoản trợ giá (nếu có);(2) Các khoản thu khác: Tiền thu về do bán các tài sản cố định hết khấu hao đã thanh
lý, giá trị còn lại
Vì rằng, dự án gồm nhiều thành phần (tài sản) có tuổi thọ khác nhau nên tạinăm kết thúc đời dự án hoặc năm cuối cùng của thời kỳ đưa vào phân tích dự án vẫncòn một số thành phần chưa khấu hao hết và còn sử dụng được cho thời kỳ tới hoặccho dự án khác Phần giá trị chưa khấu hao hết của các tài sản đó chính là giá trị cònlại của dự án Thông thường, giá trị còn lại gồm có: giá trị còn lại của những tài sản
cố định còn sử dụng được, giá trị đất đai và vốn lưu động Cần chú ý là giá trị đất vàvốn lưu động không phải khấu hao mà cộng nguyên giá của chúng vào giá trị còn lại
* Các dòng tiền chi (Cash Outflows - CO) bao gồm:
Trang 29(1) Chi phí đầu tư (Capital Investments): Bao gồm đầu tư ban đầu và đầu tư
thay thế bổ sung Đầu tư thay thế và bổ sung (thay thế tài sản cố định hết khấu hao đãthanh lý, bổ sung thêm tài sản cố định để duy trì năng lực sản xuất do điều kiện sảnxuất khách quan khó khăn, phức tạp hơn, chẳng hạn như trong các ngành khai tháctài nguyên thiên nhiên, nhất là ngành khai thác khoáng sản)
Chi phí đầu tư không trực tiếp tính vào giá thành sản phẩm mà được thu hồidần qua chi phí khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm Chi phí đầu tưđược tính toán dựa vào khối lượng xây lắp, thiết bị và đơn giá xây dựng cơ bản theoquy định
(2) Chi phí vận hành (Operating Costs):
Bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhưchi phí nguyên, nhiên, vật liệu, động lực, bán thành phẩm, dịch vụ mua ngoài, tiềnlương, bảo hiểm, sửa chữa tài sản cố định, chi phí quản lý và các khoản chi phí chungkhác Các chi phí vận hành được xác định trên cơ sở các định mức tiêu hao vật tư,định mức lao động, định mức chi phí v.v và đơn giá theo quy định
(3) Khấu hao tài sản cố định (Depreciation):
Trong thực tế, khấu hao tài sản cố định không phải là một khoản chi (CashExpenditure) mà là tiền thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra trước đây Khấu hao tài sản cốđịnh được coi như một khoản chi phí trong giá thành sản phẩm để tính toán lợi nhuậntrước thuế (thu nhập trước thuế) Nó không được coi là dòng tiền của dự án
Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) được trích theo nhiều phương pháp khácnhau, thông thường được trích theo tỉ lệ, được xác định bằng cách lấy 100% chia chotuổi thọ của TSCĐ Chi phí khấu hao TSCĐ hàng năm bằng giá trị TSCĐ nhân với tỉ
lệ trích khấu hao Trong ngành khai thác mỏ một số TSCĐ có tuổi thọ phụ thuộc vàotrữ lượng tài nguyên khoáng sản: các đường lò, vật kiến trúc Do vậy, các TSCĐnày phải trích khấu hao theo đơn vị trữ lượng khoáng sản (tấn, mét khối )
(4) Các khoản thuế (Taxes):
+ Thuế trực thu: Tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm như thuế tài nguyên,thuế đất (hoặc tiền thuê đất), thuế môn bài Nếu giá trị đất được tính vào vốn đầu
tư và coi là vốn góp để chia lợi nhuận thì không tính thuế đất hoặc tiền thuê đất
Trang 30(5) Lãi tiền vay (Payment For Loans): Được coi là một khoản chi trong giá
thành sản phẩm khi tính toán lợi nhuận (thu nhập trước thuế), song về bản chất nó làbiểu hiện giá trị thời gian của đồng tiền, chứ không phải dòng tiền của dự án Khoảntrả nợ gốc cũng không phải là dòng tiền của dự án mà thuần túy chỉ là khoản thanhtoán tài chính Do vậy, khi tính hiệu quả của tổng vốn đầu tư thì lãi tiền vay (kể cả trả
nợ gốc) không được đưa vào bảng cân đối thu chi để phân tích các dòng tiền, vì bảnthân nó đã được đề cập ngay trong phép chiết khấu hoặc tính giá trị tương lai Nhưng,khi tính hiệu quả của riêng vốn đầu tư tự có (vốn cổ phần) thì lãi tiền vay (cùng vớitrả nợ gốc) được coi là dòng tiền chi và vốn vay là dòng tiền thu trong bảng cân đốithu chi để phân tích các dòng tiền nhằm xác định số dư thu chi
* Số dư thu chi (Net Cash Flows - NCF):
Được dùng để chỉ dòng tiền ròng (Net Cash Flows) phát sinh trong 1 kỳ hoạtđộng, thường là 1 năm, được xác định bằng (=) tổng các dòng tiền thu (CI) trong kỳtrừ (-) tổng các dòng tiền chi (CO) trong kỳ Có thể biểu diễn bằng công thức:
(1-2)
Cần phân biệt khái niệm số dư thu chi (NCF) với khái niệm lãi, lỗ (Profit hoặcLoss) Lãi, lỗ là khái niệm dùng để chỉ hiệu quả sản xuất - kinh doanh phát sinh trongmột kỳ hoạt động Chúng được xác định bằng (=) Doanh thu trừ (-) Giá thành và cáckhoản thuế (không bao gồm thuế lợi tức, thuế chuyển lợi nhuận và vốn ra nướcngoài) Nội dung của các dòng tiền thu (CI) và các dòng tiền chi (CO) dùng để định
số dư thu chi (NCF) có sự khác nhau với nội dung doanh thu (Revenue) và giá thànhsản phẩm (Production Cost) dùng để xác định lãi, lỗ như đã nêu ở trên
c) Bảng cân đối thu chi (Cash Flow Spreadsheet, Balance of Cash Flows)
Việc phân tích các dòng tiền của dự án (Cash Flow Analysis) được thực hiện
trên cơ sở lập bảng cân đối thu chi như trong Phụ lục 9.
d) Xác định giá cả
Trang 31Việc xác định đúng đắn các dòng tiền chi và thu của dự án phụ thuộc rất lớnvào tính hợp lý của giá cả các loại đầu vào và đầu ra Giá sử dụng trong phân tích tàichính để xác định hiệu quả tài chính là giá thị trường thực tế mà dự án phải trả (haynhận được) khi mua (hay bán) các hàng hóa và dịch vụ của dự án
Với những sản phẩm hay vật tư của dự án chỉ được trao đổi trên thị trường nộiđịa, giá thị trường của chúng sẽ là giá được chọn trong phân tích Ngoài giá mua hoặcbán cần phải tính tới cả các chi phí vận chuyển, bảo quản đến hiện trường xâydựng hoặc nơi tiêu thụ Trường hợp dự án có sản phẩm xuất khẩu hoặc phải sử dụngcác vật tư, máy móc nhập khẩu, việc định giá thực hiện theo một trong ba cách:
(1) Nếu giá các sản phẩm xuất khẩu hay vật tư nhập khẩu của dự án ở thịtrường nội địa là đã biết và những giá đó có xu hướng phù hợp với giá cả trên thịtrường quốc tế, thì chúng có thể được sử dụng trong phân tích tài chính
(2) Nếu giá hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước quy định và không được điềuchỉnh theo thị trường quốc tế thì việc phân tích vẫn sử dụng giá Nhà nước quy định
(3) Nếu hàng hóa lần đầu tiên xuất hay nhập khẩu và chưa biết giá của chúngtrên thị trường nội địa thì cần tiến hành xử lý giá quốc tế của các hàng hóa vật tư này.Giá để phân tích tài chính được xác định trên cơ sở giá CIF (nếu là hàng nhập khẩu)hay giá FOB (nếu là hàng xuất khẩu), được chuyển sang tiền tệ trong nước theo tỷ giáhối đoái thích hợp và cộng thêm thuế quan, chi phí vận chuyển và các chi phí kháctheo quy định
Giá cố định và giá hiện hành: Phân tích tài chính có thể sử dụng giá cố định
và giá hiện hành Giá hiện hành có ưu điểm là cho phép mô tả hiện trạng thực hiệntình hình tài chính trong từng năm; Tuy vậy, nó có một số nhược điểm: (1) Khó lòngước tính chính xác giá này, bởi vì ngoài lạm phát, giá cả còn chịu tác động của nhiềuyếu tố khác; (2) Sử dụng giá hiện hành có thể đưa ra một bức tranh xa lạ và khôngđúng đắn về tính doanh lợi thực sự của dự án Các yếu tố làm tăng giá có thể phóngđại mức doanh lợi qua việc tăng doanh thu trong tương lai so với chi phí hiện tại
Vì vậy, trong phân tích dự án người ta thường sử dụng giá cố định, có thể làmột mức giá hiện tại (tại thời điểm tính toán) hay mức giá tương lai (giá dự kiến).Lạm phát, nếu có, được coi là tác động như nhau với hầu hết các loại giá trong khivẫn giữ nguyên tương quan giá cả, đặc biệt trong trường hợp giá cả của các loại đầu
ra và của các loại đầu vào đều hình thành theo cơ chế thị trường Khi sử dụng giá cố
Trang 32định ta chỉ cần xem xét những thay đổi trong các giá có liên quan thay vì bất kỳ một
sự thay đổi nào trong giá cả Những xem xét như thế thường được thực hiện trongphân tích bất định
Lạm phát: Phân tích dự án ưu tiên sử dụng các giá cố định với giả thiết rằng
lạm phát có tác động như nhau tới hầu hết các giá Tuy vậy, ngay cả khi lạm phát chỉđơn giản là sự vận động trong mức giá chung, nó có thể vẫn có những ảnh hưởng tớihoạt động của dự án Có hai tác động thường xảy ra của lạm phát (1) Sự gia tăng chiphí do lạm phát có thể dẫn tới tính trạng khủng hoảng về thanh toán, nếu việc tài trợkhông được điều chỉnh phù hợp với lạm phát Bên cạnh đó, lạm phát có thể làm giảmgiá trị thực tế các khoản tiền mặt của dự án; (2) Tác động tới lãi suất danh nghĩa vàcác khoản nợ gốc của dự án Lạm phát có thể làm giảm lãi suất thực tế nếu lãi suấtkhông được điều chỉnh kịp thời theo mức tăng giá, đồng thời lạm phát cũng làm giảmgiá trị thực tế của các khoản nợ gốc Kết quả là lợi nhuận của các chủ sở hữu dự án sẽtăng đáng kể nhờ lạm phát Tuy nhiên, một khi lãi suất danh nghĩa được điều chỉnhvới mức lạm phát dự tính, sự gia tăng thanh toán tiền lãi có thể tạo ra những khókhăn nghiêm trọng tới tình trạng thanh toán tài chính của dự án Bởi vậy, bên cạnhcác giá cố định dự án nên lập các quyết toán trên cơ sở các giá hiện hành, từ đó cóthể xác định chính xác hơn khối lượng và thời điểm diễn ra các khoản chi phí, thunhập cũng như tài trợ vốn Điều này đặc biệt cần thiết đối với những dự án mà giácác loại đầu vào hình thành theo cơ chế thị trường nhưng giá các loại đầu ra do Nhànước quy định
e) Tuổi thọ dự án và thời gian đưa vào đánh giá của dự án
Tuổi thọ dự án là thời gian tồn tại của dự án Mỗi dự án có 2 loại tuổi thọ: (1)Tuổi thọ kỹ thuật là thời gian có thể hoạt động của dự án xét theo phương diện kỹthuật; (2) Tuổi thọ kinh tế là khoảng thời gian trong đó việc vận hành công trình vẫncòn hợp lý về mặt kinh tế Thông thường, tuổi thọ kinh tế ngắn hơn tuổi thọ kỹ thuật
và được quyết định bởi tuổi thọ kỹ thuật, trình độ công nghệ mà dự án được thiết kế
và xây dựng, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật v.v
Có sự khác nhau rất lớn giữa tuổi thọ kinh tế của các dự án thuộc các ngànhkhác nhau và các nước khác nhau Người quyết định đầu tư chủ yếu quan tâm đếnthời hạn đưa vào đánh giá, còn những gì xảy ra sau thời hạn đó thì họ không hoặc ít
để ý Thời hạn đưa vào đánh giá nói trên phụ thuộc nhiều vào yếu tố như tuổi thọkinh tế dự án, tuổi thọ các loại máy móc, thiết bị chính, khả năng dự báo trong tươnglai… Việc thu thập và tính toán các số liệu một cách tin cậy cho quãng thời gian dài
Trang 33trong tương lai là cực kỳ khó khăn do nhiều nguyên nhân, song có 2 nguyên nhânchính Thứ nhất, việc dự kiến những gì sẽ xảy ra sau 10, 15, 20 năm sau hoặc lâu hơnnữa là rất phức tạp và khó chính xác, càng xa về tương lai thì mức độ sai lệch cànglớn Thứ hai, giá trị danh nghĩa hàng năm của thu nhập và chi phí phát sinh, chẳnghạn sau 20 năm được chiết khấu về thời điểm hiện tại sẽ là giá trị hiện tại rất nhỏ, khó
có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá
Theo kinh nghiệm thực tế, nói chung thời hạn đưa vào đánh giá dự án đượclấy từ 10¸15 năm (bao gồm cả thời kỳ chạy thử nhưng không kể thời gian xây dựng
cơ bản) là đủ để xác định liệu dự án có hiệu quả và chấp nhận được hay không
Tiếp theo là xác định năm bắt đầu đưa vào đánh giá (tức là năm thứ 0, ký hiệu
là to) Có hai trường hợp xảy ra: (1) Lấy năm bắt đầu xây dựng (năm bỏ ra khoản tiềnđầu tiên): Thời hạn đưa vào đánh giá phải bao gồm cả thời kỳ xây dựng cơ bản; (2)Lấy năm kết thúc thời kỳ xây dựng và đưa vào vận hành: Tổng vốn đầu tư ban đầuphải bao gồm vốn gốc cộng với lãi trong thời kỳ xây dựng cơ bản tính đến thời điểmbắt đầu đưa vào đánh giá và coi như toàn bộ vốn đầu tư chi ra tại thời điểm đó
f) Bộ biểu bảng mẫu (A Set of Model Formats)
Phân tích dự án phần lớn là công việc định lượng Bởi vậy, cần có cơ sở dữliệu tốt để xem xét và ra quyết định Việc thu thập, tính toán, xử lý và tổng hợp sốliệu đòi hỏi người phân tích dự án phải tổ chức các dữ liệu sao cho phù hợp vớiphương pháp phân tích đã dự định áp dụng
Các biểu bảng được lập ra để phục vụ cho cả phân tích tài chính và phân tíchkinh tế của dự án Không thể có mẫu chung phù hợp với tất cả mọi dự án Mục đíchcủa chúng là trình bày trình tự các nước thu thập, xử lý số liệu và các thông tin tốithiểu cần thiết cho việc phân tích hiệu quả dự án trong điều kiện bình thường với cốgắng thâu tóm được một cách tổng quát các phạm trù cơ bản của thu nhập và chi phí.Người phân tích khi sử dụng chúng phải sửa đổi theo điều kiện cụ thể của từng dựán
1.2.7 Phương pháp đánh giá hiệu quả dự án đầu tư
Một dự án có được đầu tư hay không thì phải được xem xét trên khía cạnh tàichính và kinh tế xã hội Dựa vào việc đánh giá hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội chủđầu tư mới ra quyết định đầu tư, có biện pháp thu hút các nhà tài trợ hay các đối tácliên doanh Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội là căn cứ quan
Trang 34trọng để chủ đầu tư, Nhà nước, Cơ quan có thẩm quyền xem xét trước khi ra quyếtđịnh đầu tư Hiện nay có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả dự án đầu tư, mỗi mộtphương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định Sau đây tác giả sẽ trình bàymột số phương pháp làm căn cứ để lựa chọn đánh giá hiệu quả Dự án Nhà máy sảnxuất Alumin Nhân Cơ
1.2.7.1 Đánh giá hiệu quả tài chính
Hiệu quả tài chính (hay hiệu quả thương mại, hiệu quả doanh nghiệp) phảnánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí màdoanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế Hiệu quả tài chính là mối quantâm hàng đầu của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư Cho nên đánh giá hiệu quả tàichính là bước đầu tiên trong việc đánh giá hiệu quả dự án đầu tư, trong đó thu nhập
và chi phí của dự án được tính bằng tiền theo giá thị trường quốc tế
Nghiên cứu dự án về mặt tài chính là một nội dung rất quan trọng của quátrình thiết lập hay thẩm định một dự án đầu tư Thông qua phân tích tài chính, chúng
ta xác định được quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn, cơ cấu các nguồn tài trợ cho dự
án, tính toán thu chi, lỗ lãi và những lợi ích thiết thực mang lại cho nhà đầu tư và cho
cả cộng đồng Trên cơ sở nghiên cứu tài chính, nhà đầu tư có được kết quả đánh giáhiệu quả về mặt tài chính của việc đầu tư, đó là kết luận quan trọng nhất để làm cơ sởcho việc quyết định có nên tiến hành đầu tư hay không
Nội dung phân tích hiệu quả tài chính của dự án được thể hiện trên Hình 1.2.
Trang 35Hình 1.2 Sơ đồ phân tích hiệu quả tài chính của dự án
Đánh giá hiệu quả tài chính gồm có: (1) Phân tích hiệu quả vốn đầu tư; (2)Phân tích tài chính Hai mặt phân tích này phải đi đôi với nhau chứ không thể thaythế cho nhau Cả hai đều phải được thực hiện vì chúng liên quan đến các khía cạnhkhác nhau của dự án đầu tư
Phân tích hiệu quả vốn đầu tư là xác định hiệu quả của các nguồn lực đưa vào
dự án Nói rõ hơn là xác định số tiền lãi thu được trên số vốn bỏ ra mà không xem xétnguồn tài chính tài trợ cho dự án như thế nào Ngược lại, phân tích tài chính là xemxét việc tài trợ cho dự án nhằm đảm bảo rằng các nguồn tài chính sẵn có sẽ cho phépxây dựng và vận hành dự án một cách trôi chảy Thông thường, các nguồn vốn tài trợcho dự án gồm có vốn góp (vốn cổ phần) và vốn vay
Ngoài ra, tùy theo đặc điểm của dự án và môi trường mà trong đó dự kiến sẽtriển khai thực hiện dự án cần tiến hành thêm phân tích vô hình Phân tích vô hình làxem xét các yếu tố ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới dự án nhưng các yếu tố nàykhó định lượng về mặt kinh tế, chẳng hạn như ảnh hưởng của môi trường pháp lý và
an toàn dư luận, sự ổn định chính trị, các yếu tố môi trường sinh thái, trình độ phát
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI
CHÍNH
Phương pháp
giản đơn
Phương phápchiết khấu
Phân tích khảnăng thanh toántài chính
Phân tích cơcấu nguồn vốn
Phân tích hiệuquả vốn đầutư
Phân tích tàichính
1 Tỉ lệ lãi
giản đơn
(SRR)
2 Thờihạn thu hồivốn (PBP)
1 Giá trịhiện tạiròng(NPV)
2 Tỉ lệ lãinội bộ(IRR)
Trang 36Hai phương pháp đầu thường được gọi là phương pháp giản đơn hoặc tĩnh(không chiết khấu) vì chúng không xem xét toàn bộ đời dự án mà chỉ dựa vào mộtgiai đoạn đặc trưng (thường là 1 năm) Hai phương pháp sau được gọi là phươngpháp chiết khấu hoặc động vì chúng xem xét toàn bộ đời hoạt động của dự án và yếu
tố thời gian thông qua việc chiết khấu các dòng tiền thu, chi về thời điểm hiện tại
Ngoài bốn phương pháp thông dụng nêu trên, người ta còn sử dụng một sốphương pháp khác phục vụ cho việc phân loại dự án như Tỷ lệ lợi ích/Chi phí(Benefit/Cost Ratio), Tỷ lệ lợi ích ròng/Vốn đầu tư (Net benefit/Capital ratio)
Việc lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào đặc điểm và mục tiêu của dự án,vào môi trường kinh tế, vào giai đoạn đánh giá dự án, vào khả năng sẵn có số liệuv.v Trong trường hợp có hai hay nhiều dự án được đánh giá và so sánh với nhau thìphải sử dụng cùng một phương pháp để đảm bảo tính có thể so sánh được Kinhnghiệm ở nước ngoài cho thấy phương pháp chiết khấu, đặc biệt là phương pháp Tỉ lệlãi nội bộ được sử dụng rộng rãi nhất để phân tích hiệu quả vốn đầu tư Nói chung,người ta thường sử dụng ít nhất một phương pháp chiết khấu, hoặc ít nhất mộtphương pháp đơn giản kết hợp với phương pháp chiết khấu Qua điều tra 103 Công
ty khai thác dầu khí của Mỹ (có doanh thu chiếm hơn 90% doanh thu của ngành côngnghiệp Mỹ) thì có tới 69% số Công ty sử dụng phương pháp Tỉ lệ lãi nội bộ, 49% sửdụng phương pháp thời hạn thu hồi vốn, 32% sử dụng phương pháp giá trị hiện tạiròng, 18% sử dụng phương pháp Tỉ lệ lãi giản đơn, 26% sử dụng các phương phápkhác Đa số Công ty sử dụng đồng thời hai phương pháp trở lên
Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở từng năm, bao gồm phân tíchkhả năng thanh toán (liquidity) và phân tích cơ cấu nguồn vốn Vấn đề thứ nhất nhằmvào việc đảm bảo cân đối các dòng tiền mặt trong suốt thời gian xây dựng cơ bản,chạy thử và vận hành dự án Vấn đề thứ hai nhằm nắm chắc được rằng mỗi loại vốnđầu tư (cố định và lưu động) được trang trải bằng một nguồn tài chính thích hợp
a) Phân tích hiệu quả vốn đầu tư
Trang 37* Phương pháp giản đơn:
1) Tỉ lệ lãi giản đơn (Simple Rate of Return - SRR): Là tỷ số giữa lợi nhuận đạt
được trong năm bình thường trên vốn đầu tư Có thể xác định như sau:
+) Tỉ lệ lãi giản đơn trước thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của tổngvốn đầu tư (R):
(1-3)+) Tỉ lệ lãi giản đơn sau thuế TNDN của tổng vốn đầu tư (Rt):
+) Tỉ lệ lãi giản đơn của vốn chủ sở hữu (Re):
Trong đó: P - Lợi nhuận trước thuế, đồng
F - Lợi nhuận ròng (sau thuế TNDN và lãi vay), đồng
T - Thuế TNDN (hay thuế lợi tức), đồng
I - Tổng vốn đầu tư (gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay), đồng
Q - Vốn chủ sở hữu (vốn góp hoặc vốn cổ phần), đồngViệc lựa chọn hợp lý năm bình thường trong đời hoạt động của dự án cótầm quan trọng đối với việc xác định chính xác tỉ lệ lãi giản đơn Năm bình thườngphải là năm đại diện một cách chung nhất cho đời hoạt động của dự án, tại đó dự ánđạt được công suất thiết kế và việc trả nợ vốn vay (nếu có) vẫn còn tiếp tục Có thể
có nhiều năm hoạt động bình thường và người đánh giá phải chọn năm tiêu biểu nhất
về lợi nhuận ròng và lãi tiền vay phải trả
Nếu tỷ lệ R, Rt hoặc Re > tỷ lệ lãi tối thiểu, lãi suất trên thị trường vốn hoặcchi phí cơ hội tùy theo nhà đầu tư xác định thì dự án được coi là có hiệu quả Chỉ tiêuSRR còn dùng để xếp thứ tự ưu tiên các dự án độc lập Dự án nào có SRR lớn nhấtđược xếp thứ tự cao nhất và tuần tự từ cao tới thấp R cho biết tỉ lệ lãi vay tối đa có
Trang 38Mặc dù vậy, tỉ lệ lãi giản đơn là một phương pháp tiện lợi để đánh giánhanh chóng hiệu quả kinh tế vốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án có thời gianhoạt động tương đối ngắn Ngoài ra, có thể sử dụng trong một số trường hợp nhưkhông có đủ thông tin cần thiết cho việc phân tích một cách tổng hợp hơn, hoặc dùng
để đánh giá sơ bộ trong các giai đoạn đầu lập dự án
2) Thời hạn thu hồi vốn (Pay Back Period - PBP): Là khoảng thời gian,
trong đó dự án sẽ tích lũy đủ các khoản khấu hao (D) và lãi ròng (F) để bù đắp tổng
số vốn đầu tư đã bỏ ra Có thể xác định như sau:
, đồng (1-6)Trong đó: i - Các năm trong đời dự án được ký hiệu từ 1 đến n
T - Thời hạn thu hồi vốn, năm
I, D, F - Như đã nêu ở trên
Dự án sẽ được chấp nhận nếu T £ Tmin, trong đó Tmin là thời gian thu hồivốn giới hạn (cut-off) do nhà đầu tư xác định Thời hạn Tmin thường được xác địnhcăn cứ vào kinh nghiệm đã qua và các cơ hội đầu tư khác của chủ đầu tư Thời hạnthu hồi vốn bao gồm cả thời kỳ xây dựng cơ bản Các dự án khác nhau thuộc cácngành khác nhau sẽ có thời hạn thu hồi vốn khác nhau Khi lựa chọn các dự án loạitrừ nhau, dự án nào có thời hạn thu hồi vốn nhỏ nhất thì được chọn, còn lại bị loại bỏ
Ưu điểm chính của phương pháp là đơn giản, dễ hiểu Nhược điểm: (1)Không xem xét hiệu quả dự án sau thời gian hoàn vốn; (2) Có thể bị sai lệch trongtrường hợp hai hay nhiều dự án có cùng tiềm lực nhưng thời gian phát sinh các khoảntích lũy (khấu hao và lãi ròng) lệch pha nhau; (3) Chỉ chú trọng đến khả năng thanhtoán mà không xác định tỉ lệ lãi của vốn đầu tư và xem xét yếu tố thời gian của đồng
Trang 39tiền Tuy vậy, PBP vẫn là một chỉ tiêu thích hợp với các trường hợp dự án có mức độrủi ro cao, khan hiếm vốn hoặc cần coi trọng hơn đến khả năng thanh toán
* Phương pháp chiết khấu:
+) Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value - NPV): Là tổng lãi ròng của cả
đời dự án được chiết khấu về năm hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu nhất định Nói cáchkhác, NPV biểu thị bằng giá trị tuyệt đối giá trị hiện tại phần tỷ lệ lãi chênh lệch giữa
tỷ lệ lãi đạt được của dự án (tức tỉ lệ lãi nội bộ IRR - sẽ nói ở phần sau) so với tỷ suấtchiết khấu r đã định Có thể trình bày bằng biểu thức tổng quát sau:
, đồng (1-7)Trong đó: t - Là các năm trong đời dự án, từ năm 0 đến năm t, năm
CIt - Là các dòng tiền thu tại năm t, đồngCOt - Là các dòng tiền chi tại năm t, đồngNCFt - Là số dư thu chi tại năm t, bằng (CI - CO)t, đồng
r - Là tỷ suất chiết khấu (Discount Rate), %
at - Là hệ số chiết khấu (Discount Factor) tại năm t
Như vậy, một dự án sẽ có hiệu quả và sẽ được chấp nhận khi: NPV ≥ 0,trường hợp NPV = 0 thì dự án hòa vốn Khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, dự ánnào có NPV lớn nhất thì dự án ấy được chọn, còn lại bị loại bỏ
Vấn đề quan trọng nhất khi áp dụng chỉ tiêu NPV là xác định đúng đắn tỷsuất chiết khấu (r) Tùy theo nguồn vốn tài trợ của từng dự án mà r được xác định căn
cứ vào chi phí cơ hội, chi phí vốn (mức lãi suất trên thị trường vốn có liên quan) Nếuvốn đầu tư của dự án được tài trợ từ nhiều nguồn vốn khác nhau thì r được lấy bằngbình quân gia quyền các tỷ suất chiết khấu của các nguồn vốn tương ứng
Giá trị hiện tại ròng nêu trên mới chỉ cho biết giá trị tuyệt đối lợi nhuận ròngcủa từng dự án riêng biệt mà chưa cho thấy mức sinh lời của đồng vốn (tỷ lệ lãi củavốn đầu tư) đã bỏ ra là bao nhiêu Điều này đặc biệt quan trọng khi phải so sánh các
dự án có vốn đầu tư khác nhau Trong trường hợp đó, ngoài việc xác định giá trị hiện
Trang 40tại ròng người ta còn phải tính toán thêm chỉ tiêu Tỷ lệ giá trị hiện tại ròng (NPVR)
bằng cách chia giá trị hiện tài ròng (NPV) cho giá trị hiện tại của vốn đầu tư (I):
(1-8)
Tỷ lệ NPVR cho thấy giá trị hiện tại ròng của dự án là bao nhiêu trên một đơn
vị giá trị hiện tại của vốn đầu tư Chỉ tiêu NPVR được sử dụng để xếp hạng các dự ánđộc lập: dự án nào có NPVR lớn nhất sẽ được xếp thứ tự ưu tiên cao nhất
Ưu điểm của phương pháp giá trị hiện tại ròng là: (1) Xem xét toàn bộ đờihoạt động của dự án; (2) Có tính đến giá trị thời gian của đồng tiền; (3) Thông quaviệc sử dụng tỷ suất chiết khấu đã định có thể so sánh các chi phí vốn của cácphương án tài trợ vốn khác nhau; (4) Có thể sử dụng tỷ lệ NPVR như một thước đotin cậy để xếp thứ tự ưu tiên các dự án độc lập
Nhược điểm lớn nhất của chỉ tiêu NPV và NPVR là tính toán phức tạp, trongnhiều trường hợp không thể xác định được tỷ suất chiết khấu r hợp lý cho dự án
+) Tỉ lệ lãi nội bộ (Tỉ lệ lãi của vốn đầu tư) (Internal Rate of Return - IRR)
Khác với phương pháp giá trị hiện tại ròng có tỷ suất chiết khấu được chotrước nằm ngoài dự án, trong phương pháp tỉ lệ lãi nội bộ chưa biết được tỷ suất chiếtkhấu Tỉ lệ lãi bộ bộ (IRR) là tỷ suất chiết khấu, tại đó giá trị hiện tại ròng của dự ánbằng không, tức là:
(1-9)Trong đó tất cả các ký hiệu tương tự như đã nêu ở công thức (1-8)
Tỉ lệ lãi nội bộ thực chất là tỉ lệ lãi của vốn đầu tư của dự án Việc ra quyếtđịnh đầu tư được thực hiện trên cơ sở so sánh tỉ lệ lãi nội bộ đã tính toán được của dự
án với tỷ lệ lãi giới hạn (rmin) Dự án sẽ được chấp nhận nếu IRR ³ rmin, nếu khôngthì sẽ bị loại bỏ Trong trường hợp xếp hạng các dự án độc lập thì dự án nào có IRRlớn nhất sẽ được xếp thứ tự cao nhất, tất nhiên IRR đó phải lớn hơn rmin
Tỉ lệ lãi nội bộ được xác định theo phương pháp gần đúng bằng cách, trướchết xác định một giá trị NPV > 0 tại tỉ suất chiết khấu r1 và một giá trị NPV < 0 tại tỉ