Khái niệm và bản chất báo cáo tài chính doanh nghiệp 1.1.1.1 Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán và hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán Để quản lý có hiệu
Trang 1Nghiên cứu nâng cao chất lượng báo cáo tμi chính tại Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu vμ xây dựng Việt Nam - Vinaconex
luận văn thạc sỹ kinh tế
Hμ Nội - 2010
Thân thị thuýTrường đại học mỏ - địa chất
Bộ giáo dục vμ đμo tạo
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các t- liệu, tài liệu đ-ợc sử dụng trong quá trình làm luận văn có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Tác giả luận văn
Thân Thị Thuý
Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục vμ đμo tạo
Trường đại học mỏ - địa chất
Thân thị thuý
Nghiên cứu nâng cao chất lượng báo cáo tμi chính tại Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu vμ xây dựng Việt Nam - Vinaconex
Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp
luận văn thạc sỹ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Đức Thành
Hμ Nội - 2010 Mã số: 60.31.09
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các t− liệu, tài liệu đ−ợc sử dụng trong quá trình làm luận văn có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Tác giả luận văn
Trang 4Mục lục
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ, bảng
Mở đầu 7
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về báo cáo tμi chính của doanh nghiệp 10
1.1 Khái niệm và mục đích của báo cáo tài chính doanh nghiệp 10
1.2 Các nguyên tắc và yêu cầu khi lập BCTC 19
1.3 Quá trình phát triển của hệ thống BCTC Việt Nam 26
Chương 2: Phân tích Thực trạng hệ thống báo cáo tμi chính tại Vinaconex giai đoạn 2005-2009 47
2.1 Tổng quan về Vinaconex 47
2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Vinaconex 58
2.3 Đặc điểm quản lý tài chính kế toán của Vinaconex 61
2.4 Phân tích tình hình lập và nộp BCTC của Vinaconex giai đoạn 2005-2009 64
Chương 3: giải pháp nâng cao chất lượng bCTC tại Vinaconex .80
3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính 80
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng BCTC tại Vinaconex 85
Kết luận 102
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5Danh mục các từ viết tắt
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 CĐKT Cân đối kế toán
3 KQHĐKD Kết quả hoạt động kinh doanh
4 LCTT Lưu chuyển tiền tệ
5 TMBCTC Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 6Danh mục các sơ đồ, biểu đồ, bảng
Trang 7Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với tiến trình phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam, hệ thống báo cáo tài chính cũng không ngừng được đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với các chuẩn mực chung của kế toán quốc tế thu hẹp sự khác nhau giữa kế toán Việt Nam với các chuẩn mực chung của kế toán quốc tế Tuy nhiên, do môi trường kinh tế xã hội luôn biến động, nhu cầu về thông tin của nhà quản lý và các đối tác kinh doanh luôn biến
động nên hệ thống báo cáo tài chính cần thiết phải không ngừng được đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng đặc biệt là Việt Nam chúng ta giờ đây đã là thành viên của WTO thì việc công khai các thông tin tài chính giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài ra các quyết định
đầu tư lại càng quan trọng và cần thiết
Thời gian sắp tới Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam
sẽ trở thành Tập đoàn kinh tế đa doanh hàng đầu trong ngành xây dựng tại Việt Nam với những đóng góp vô cùng to lớn của Tổng công ty đối với đất nước, các thông tin về tình hình tài chính của Tổng công ty sẽ được nhiều người quan tâm để ra quyết định
đầu tư đúng đắn Để chuẩn bị cho việc trở thành Tập đoàn, ngay từ bây giờ hệ thống báo cáo tài chính cần phải rõ ràng, mọi thông tin cung cấp cho người sử dụng phải chính xác, dễ hiểu
Báo cáo kế toán trong đó có báo cáo tài chính là một công cụ quan trọng trong quản lý tài chính kế toán doanh nghiệp, là tài liệu không thể thiếu được trong việc cung cấp thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc ra quyết định hợp lý của các đối tượng quan tâm Báo cáo tài chính là các chứng từ cần thiết trong kinh doanh Các nhà quản
lý sử dụng chúng để đánh giá năng lực thực hiện và xác định các lĩnh vực cần thiết phải
được can thiệp Các cổ đông sử dụng chúng để theo dõi tình hình vốn đầu tư của mình
đang được quản lý như thế nào Các nhà đầu tư bên ngoài dùng chúng để xác định cơ hội đầu tư Còn người cho vay và nhà cung ứng lại thường xuyên kiểm tra báo cáo tài chính để xác định khả năng thanh toán của những công ty mà họ đang giao dịch Hơn
Trang 8nữa, Vinaconex hình thành và phát triển với thời gian dài theo mô hình Tổng công ty Nhà nước Ngày 24/11/2006 theo Quyết định số 1613/QĐ - BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Tổng Công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam đã chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Theo mô hình này, công tác tổ chức
kế toán nói chung cần được chuyển đổi và việc lập báo cáo tài chính của Tổng công ty cũng có nhiều điểm đổi mới Trong khi mô hình tổ chức công ty mẹ - công ty con ở nước ta còn khá mới mẻ về lý thuyết và thực tiễn Việc triển khai công tác tổ chức kế toán ở các đơn vị chuyển đổi theo mô hình này ở Việt Nam nói chung còn nhiều vướng mắc
Xuất phát từ nhận thức đó tác giả chọn đề tài nhiên cứu của Luận văn là:
“Nghiên cứu nâng cao chất lượng báo cáo tài chính tại Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam - Vinaconex”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về hệ thống BCTC doanh nghiệp Việt Nam, đánh giá thực trạng chất lượng báo cáo tài chính của Vinaconex từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BCTC để đảm bảo tính hợp lý đáng tin cậy của thông tin được trình bày trên BCTC
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống báo cáo tài chính của Việt Nam, báo cáo
tài chính của Vinaconex
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản
chế độ báo cáo tài chính mà không đề cập đến báo cáo kế toán quản trị và cũng chỉ nghiên cứu nâng cao chất lượng báo cáo tài chính mà không đi sâu vào vấn đề hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán, chứng từ sổ kế toán và các phần khác của chế độ kế toán
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả đã kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tế các đơn vị của Vinaconex Đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích
và tổng hợp, hệ thống hoá, phương pháp quy nạp, suy luận và diễn giải… nhưng sử dụng chủ yếu là phương pháp hệ thống và căn cứ vào những quy định về BCTC từ đó
đưa ra quan điểm giải pháp để đạt được mục tiêu đề ra của đề tài
5 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- ý nghĩa khoa học: Dựa trên ý nghĩa và yêu cầu của hệ thống BCTC doanh nghiệp cũng như cơ chế tài chính của doanh nghiệp hoạt động theo mô hình Tổng công
ty Nhà nước và mô hình công ty mẹ - công ty con để đưa ra một cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện hệ thống BCTC về mặt nội dung và phương pháp lập
- ý nghĩa thực tiễn: Xây dựng những giải pháp khả thi, thiết thực về hệ thống BCTC phù hợp với mô hình công ty mẹ - công ty con của Vinaconex để góp phần làm tăng tính hữu dụng của thông tin cung cấp và tạo ra những cơ sở thực tiễn trong việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cho những đối tượng quan tâm
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về báo cáo tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng hệ thống báo cáo tài chính tại Vinaconex giai
đoạn 2005-2009
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính tại Vinaconex
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Đức Thànhvà toàn thể các Thầy cô giáo trong khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Phòng Đại học và Sau Đại học Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cô, chú, anh chị trong Tổng công ty CP xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam cũng như các đơn vị có liên quan trong thời gian thu thập
số liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu
Trang 10Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về báo cáo tμi chính của
doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và mục đích của báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và bản chất báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán và hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán
Để quản lý có hiệu quả hoạt động trong đơn vị cần nhận biết kịp thời, đầy đủ những thông tin riêng biệt về từng hoạt động kinh tế tài chính xảy ra trong các đơn vị, những thông tin có hệ thống về tình hình hiện có và sự vận động của từng loại tài sản (vốn), từng nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn), từng quá trình hoạt động (quá trình kinh doanh) của đơn vị, những thông tin có tính chất tổng quát, toàn diện, trong mối quan hệ cân đối của tài sản và quá trình hoạt động của đơn vị, thông tin về những hoạt
động kinh tế tài chính đã diễn ra, có tính tổng hợp, hiện thực, có độ tin cậy cao, có giá trị pháp lý Để đáp ứng nhu cầu về những thông tin đó cho hoạt động quản lý của đơn
vị, hạch toán kế toán đã dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học xây dựng nên hệ thống các phương pháp kế toán, trong đó có phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán
Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán là phương pháp kế toán được sử dụng để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán nhằm cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin
kế toán phục vụ công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị
Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán có hình thức biểu hiện là hệ thống các bảng tổng hợp - cân đối kế toán còn gọi là hệ thống báo cáo kế toán
Căn cứ vào mức độ tổng quát, toàn diện của thông tin, đối tượng sử dụng thông tin, mối quan hệ cân đối của đối tượng kế toán trong bảng Tổng hợp - cân đối kế toán
mà các bảng Tổng hợp - cân đối kế toán chia thành hai hệ:
Trang 11- Hệ bảng Tổng hợp - cân đối kế toán tổng thể (còn gọi là các báo cáo kế toán tài chính) bao gồm: Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh Các chỉ tiêu kinh
tế tài chính trong các bảng Báo cáo kế toán tài chính phản ánh bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính, tình hình kết quả kinh doanh của đơn vị, chủ yếu phục vụ cho các
đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài đơn vị
- Hệ bảng Tổng hợp - cân đối kế toán bộ phận (còn gọi là các báo cáo kế toán quản trị) bao gồm: Bảng cân đối vật tư, báo cáo tăng giảm tài sản cố định, các báo cáo
về giá thành sản phẩm các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong các bảng báo cáo kế toán quản trị phản ánh từng phần hoạt động của đơn vị, phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp của các đối tượng bên trong đơn vị
Như vậy, Bảng Tổng hợp - cân đối kế toán hay còn gọi là Báo cáo kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp kế toán được sử dụng để cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán phục vụ cho công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, kế toán nói chung và Báo cáo kế toán nói riêng ngày càng hoàn thiện và phát triển cả về nội dung và hình thức, thực sự trở thành công cụ không thể thiếu được trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát và điều hành các hoạt động kinh tế tài chính
Sau đây, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, bài viết chỉ đề cầp đến các vấn đề liên quan của BCTC doanh nghiệp
1.1.1.2 Báo cáo tài chính doanh nghiệp
Hệ thống BCTC doanh nghiệp, bao gồm các báo cáo tổng hợp, phản ánh tổng quát bằng các chỉ tiêu giá trị về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt
động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
Các nghiệp vụ kinh tế diễn ra trong quá trình hoạt động, bao gồm nhiều loại khác nhau, đa dạng và phong phú được thu nhận, xử lý trên các chứng từ kế toán làm cơ
sở pháp lý cho việc ghi vào các tài khoản kế toán theo đúng quan hệ đối ứng của tài
Trang 12khoản kế toán Từ các số liệu phản ánh trên các tài khoản kế toán, kế toán tính toán theo phương pháp nhất định để lập báo cáo tài chính
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sử dụng hàng loạt các công cụ quản lý Trong đó, BCTC là một công cụ quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, là tài liệu không thể thiếu được trong việc cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định hợp lý của các đối tượng quan tâm
Về khái niệm Báo cáo tài chính, có nhiều nhà nghiên cứu, chuyên môn đã có khái niệm:
Theo hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam: “BCTC được xác định là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua một
hệ thống các chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau do Nhà nước quy định thống nhất và mang tính pháp lệnh BCTC cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu cho người
sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS1): “ BCTC cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính (Bảng cân đối kế toán), kết quả hoạt động (Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh), và những thay đổi về tình hình tài chính (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ) của một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế”
BCTC cung cấp các thông tin kinh tế tài chính đáng tin cậy về hoạt động của một thực thể kinh tế và phục vụ rộng rãi cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng các thông tin này ở bên trong và bên ngoài của một thực thể kinh tế
BCTC là đặc trưng chủ yếu của kế toán, là hình thức biểu hiện và truyền tải thông tin kinh tế tài chính đến người sử dụng làm cơ sở cho các quyết định kinh tế
Theo các chuyên gia Bryan Carsberg và Susan Dev: “ Hệ thống BCTC được thiết
kế để trình bày những kết quả của những nghiệp vụ và những sự kiện xảy ra trong quá khứ và là kênh truyền đạt thông tin tài chính của những hoạt động quản lý với bên
Trang 13ngoài BCTC phải tuân thủ luật công ty, quy chế của thị trường chứng khoán nếu chứng khoán của công ty được niêm yết”
Theo Viện kiểm toán công chứng Hoa Kỳ (AICPI): “ Hệ thống BCTC được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được trong thời kỳ báo cáo Hệ thống BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân mà trong đó những đánh giá
và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện Những đánh giá đúng đắn tuỳ thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận rộng rãi”
Như vậy, BCTC là một loại báo cáo kế toán, sản phẩm cuối cùng của hoạt động
kế toán và được lập trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp riêng của kế toán; là một
hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng báo cáo để ra quyết định kinh tế BCTC là sự kết hợp của những thông tin thực hiện về những giao dịch, nghiệp vụ đã phát sinh với những nguyên tắc kế toán
đã được thừa nhận và những đánh giá của cá nhân, nhằm chủ yếu là cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp Các thông tin hữu ích do BCTC cung cấp là các thông tin được biểu hiện dưới hình thức giá trị về tình hình hiện có và sự vận động của từng loại tài sản và từng nguồn hình thành tài sản Tuy nhiên, hình thức và nội dung của BCTC phải tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế và quốc gia
BCTC tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu Các chỉ tiêu này được sắp xếp một cách khoa học và có mối liên hệ với nhau do nhà nước quy định thống nhất, mang tính pháp lệnh theo Luật, chuẩn mực và chế độ kế toán BCTC cung cấp cho người sử dụng thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC là những tổ chức, cá nhân, chủ yếu là bên ngoài
Trang 14doanh nghiệp, có lợi ích kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp Các đối tượng sử dụng BCTC nhằm đánh giá về năng lực của doanh nghiệp để tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền cũng như về thời gian và tính chắc chắn của sự kiện này Những năng lực đó là khả năng của doanh nghiệp chi trả cho nhân viên, nhà cung cấp, trả nợ gốc và lãi tiền vay, chia cổ tức các đối tượng sử dụng thông tin sẽ đánh giá chính xác khả năng tạo ra các nguồn tiền, nếu họ có các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và những biến động về tình hình tài chính của doanh nghiệp Những thông
tin đó được chứa đựng trong các chỉ tiêu trên BCTC
1.1.2 Mục đích và vai trò của báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Mục đích của BCTC doanh nghiệp
Mục đích của BCTC doanh nghiệp là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của một doanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng thông tin trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Xét theo nội dung thông tin cung cấp của BCTC doanh nghiệp có thể chia ra thành ba mục đích chủ yếu sau:
* Mục đích cung cấp thông tin về tình hình tài chính, sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp
Thông tin về tình hình tài chính, sự biến động về tài chính doanh nghiệp chủ yếu
được cung cấp qua bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố: các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính và khả năng thanh toán, khả năng thích ứng phù hợp với môi trường kinh doanh Người sử dụng BCTC nghiên cứu các thông tin về tình hình tài chính, sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm:
- Đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai
- Dự đoán nhu cầu đi vay trong tương lai và phương thức phân phối lợi tức
Trang 15- Dự đoán khả năng thành công của doanh nghiệp trong việc huy động các nguồn tài chính
- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết tài chính khi đến hạn
- Đánh giá xem doanh nghiệp có lợi nhưng có tiền hay không
* Mục đích cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh
BCTC trình bày những thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp như tính sinh lợi, tình hình biến động trong sản xuất kinh doanh Việc nghiên cứu các thông tin về tình hình kinh doanh, đặc biệt là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp sẽ giúp cho người sử dụng:
- Đánh giá các thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai
- Dự đoán khả năng tạo ra các nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở hiện có
- Đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp sử dụng
1.1.2.2 Vai trò của BCTC doanh nghiệp
BCTC có vai trò quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính Nhờ có BCTC mà các cơ quan quản lý nhà nước, những nhà kinh tế, những nhà quản lý các doanh nghiệp có thể nhận biết được những thông tin về tình hình tài sản, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách tổng quát toàn diện cũng như từng phần, trên cơ sở những thông tin nhận được tiến hành kiểm tra, phân tích,
đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, tình hình tài chính, tình hình huy
động và khai thác các nguồn vốn, nguồn kinh phí cũng như những tiềm năng của doanh nghiệp, để đưa ra các giải pháp, các quyết định tối ưu, định hướng cho hoạt động quản
lý và điều hành các hoạt động của doang nghiệp trong hiện tại và trong tương lai, thúc
đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, của toàn bộ nền kinh tế, toàn xã hội
Các đối tượng có lợi ích trực tiếp và gián tiếp đối với doanh nghiệp đều cần những thông tin hữu ích được cung cấp từ hệ thống báo cáo tài chính và nó được xem là
Trang 16một đòi hỏi khách quan trong nền kinh tế thị trường Các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp sử dụng báo cáo tài chính như là cơ sở tin cậy quyết định về đầu tư, cho vay, kiểm tra, tính thuế, kiểm tra quản lý còn đối với nhà quản lý doanh nghiệp thì các thông tin kế toán hữu ích của báo cáo tài chính cũng sẽ phục vụ đắc lực cho công tác quản trị doanh nghiệp Như vậy chất lượng của thông tin được cung cấp bởi báo cáo tài chính là rất quan trọng cho các đối tượng sử dụng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Sau đây chúng ta sẽ xem xét vai trò của báo cáo tài chính thông qua một số đối tượng chủ yếu:
* Đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, giúp cho các cơ quan tài chính Nhà nước thực hiện việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất
đối với hoạt động của doanh nghiệp; thực hiện kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình chấp hành các chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính của doanh nghiệp, thực hiện tổng hợp tài liệu kinh tế theo ngành và toàn bộ nền kinh tế, từ đó nghiên cứu, ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính phù hợp và điều hành, quản lý thống nhất toàn bộ nền kinh tế Đồng thời, thông tin trên BCTC làm cơ sở cho việc tính thuế và các khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước
- Đối với nhà đầu tư, nhà cho vay: BCTC cung cấp thông tin giúp họ xem xét khả năng tài chính, tình hình và khả năng thanh toán công nợ của doanh nghiệp cũng như việc sử dụng nguồn vốn được đầu tư và khả năng thu lợi nhuận, các rủi ro tiềm tàng liên quan đến khoản đầu tư của họ để có quyết định cho vay hay đầu tư phù hợp; tiếp tục cho vay, đầu tư nữa hay thôi, cho vay với điều kiện, lãi suất như thế nào; đầu tư vào lĩnh vực hoạt động nào của doanh nghiệp Thực hiện giám sát trong quá trình cho vay, bắt buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết
- Đối với các kiểm toán viên: Báo cáo tài chính đóng vai trò như là đối tượng của kiểm toán độc lập, đặc biệt khi doanh nghiệp đi vay vốn cần thuyết phục lòng tin của
Trang 17các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng Bên cạnh đó, BCTC giúp cho việc kiểm tra hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động
- Đối với khách hàng: Họ căn cứ vào BCTC để đánh giá khả năng tiếp tục hoạt
động của doanh nghiệp, khả năng tài chính của doanh nghiệp để lựa chọn tiếp tục ký hợp đồng cung ứng hàng hoá cho doanh nghiệp hay mua hàng hoá đầu vào từ doanh nghiệp đó hay không
* Đối tượng bên trong doanh nghiệp:
- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: BCTC cung cấp thông tin tổng quát về tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và triển vọng tài chính của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu chủ yếu của BCTC doanh nghiệp biết được kết cấu tài sản, nguồn hình thành tài sản, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi nhuận và diễn biến các dòng tiền, từ đó có phương án kinh doanh hợp lý manh lại hiẹu quả kinh tế cao Ngoài ra các nhà quản lý phải công bố công khai các thông tin trên báo cáo tài chính định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp nhằm thuyết phục các nhà đầu tư và các chủ nợ rằng họ sẽ đem lại mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất
- Đối với người lao động, nhân viên, cổ đông, những người góp vốn: BCTC cung cấp thông tin để họ đánh giá được khả năng chi trả lương, khả năng sinh lợi, tỷ lệ lợi nhuận được chia hoặc phúc lợi sẽ được hưởng
Ngoài ra, với mỗi một biểu báo cáo trong hệ thống báo cáo tài chính lại có vai trò khác nhau Cụ thể:
+ Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo các loại vốn kinh doanh và theo nguồn hình thành vốn kinh doanh tại một thời điểm nhất định (thời điểm cuối kỳ hạch toán) Số liệu trên các chỉ tiêu thể hiện số vốn đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm về mặt pháp lý, vật chất của doanh nghiệp đối với tài sản
đang quản lý, sử dụng Vì vậy Bảng cân đối kế toán có vai trò trong việc cung cấp số liệu để tiến hành phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả các hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh đồng thời cung cấp những căn cứ quan trọng trong
Trang 18việc phát hiện ra những khả năng tiềm tàng về kinh tế, dự đoán tình hình hoạt động kinh doanh cũng như xu hướng vận động của doanh nghiệp Đó là những căn cứ quan trọng để ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
đầu tư vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Thông qua các chỉ tiêu trên Báo cáo KQHĐKD để kiểm tra, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch về giá vốn, doanh thu sản phẩm hàng hoá tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của hoạt động khác
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một kỳ kế toán Thông tin về tình hình kinh doanh, đặc biệt là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp sẽ giúp cho người sử dụng
đánh giá các thay đổi tiềm tàng, đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp sử dụng, dự đoán khả năng tạo ra các nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở hiện có từ đó đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kỳ khác nhau
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có vai trò cung cấp thông tin nhằm:
Đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền, các khoản tương đương tiền và nhu cầu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các khoản tiền
Phân tích, đánh giá về thời gian cũng như mức độ chắc chắn của việc tạo ra các khoản tiền trong doanh nghiệp
Đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động kinh doanh, đầu tư, tài chính đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp
Kiểm tra lại các dự toán, mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả
Đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển
đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động trong kỳ hoạt động tiếp theo
Trang 19+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Bản thuyết minh báo cáo tài chính được lập với vai trò giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà chưa
được trình bày đầy đủ, chi tiết hết trong các báo cáo tài chính khác Như tình hình chi phí, thu nhập và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tăng giảm tài sản cố
định theo từng loại, nhóm; tình hình tăng, giảm vốn chủ sở hữu theo từng loại nguồn vốn và phân tích tính hợp lý trong việc phân bổ, cơ cấu vốn, tình hình khả năng thanh toán, khả năng sinh lời của doanh nghiệp Thông qua Bản thuyết minh báo cáo tài chính
mà biết được chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp từ đó kiểm tra việc chấp hành các quy định, chế độ, thể lệ kế toán, phương pháp kế toán mà doanh nghiệp đã đăng ký
áp dụng cũng như những kiến nghị đề xuất của doanh nghiệp
1.2 Các nguyên tắc và yêu cầu khi lập BCTC
1.2.1 Các nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống BCTC
Hệ thống báo cáo tài chính phản ánh các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Để giúp cho cán bộ kế toán tổng hợp số liệu từ sổ kế toán hình thành các chỉ tiêu kinh tế tài chính một cách thuận lợi, giúp cho các đối tượng
sử dụng thông tin kế toán, các đối tượng sử dụng nhận biết dễ dàng các chỉ tiêu kinh tế trong BCTC đòi hỏi các bảng biểu của hệ thống BCTC phải được xây dựng với kết cấu thích hợp Bởi vậy khi xây dựng mẫu biểu BCTC phải tuân thủ những nguyên tắc nhất
định
Nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống BCTC là:
- Kết cấu mẫu biểu phải đơn giản, thuận tiện cho việc ghi chép số liệu, đặc biệt
là hiện nay khi công nghệ thông tin phát triển, việc áp dụng phương tiện tin học trong
kế toán là cần thiết
- Hệ thống các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong BCTC phải thiết thực, đảm bảo cung cấp được những thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán - các cơ quan quản lý nhà nước, những nhà kinh tế, những nhà quản lý ở các đơn vị, các chỉ tiêu kinh tế tài chính phải được sắp xếp theo trình tự khoa học trong mối quan hệ
Trang 20cân đối, thuận tiện cho các đối tượng sử dụng cho mục đích quản lý, mục đích kinh doanh của họ
Để đảm bảo nhu cầu thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất công tác kế toán, nhà nước nghiên cứu, xây dựng và ban hành các mẫu biểu báo cáo tài chính thống nhất sử dụng trong các đơn vị; đồng thời nhà nước nghiên cứu hướng dẫn các ngành, các lĩnh vực, các đơn vị, xây dựng mẫu biểu báo cáo tài chính đặc thù nhằm đáp ứng những nhu cầu thông tin riêng của từng ngành, của lĩnh vực, của đơn vị
1.2.2 Nguyên tắc và yêu cầu khi lập BCTC
1.2.2.1 Nguyên tắc khi lập Báo cáo tài chính
Khi lập BCTC phải tuân thủ những nguyên tắc đã quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam và đảm bảo những yêu cầu chung nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
- Nguyên tắc kinh doanh liên tục:
Theo nguyên tắc này, các tổ chức, đơn vị được hình thành và hoạt động liên tục
để đạt mục tiêu của tổ chức, đơn vị đề ra Bởi vậy BCTC phải được lập trên cơ sở tổ chức, đơn vị đó đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai gần, các tổ chức, đơn vị đó không có ý định và cũng không cần phải giải thể hoặc quá thu hẹp quy mô hoạt động của mình
- Nguyên tắc dồn tích:
Theo nguyên tắc này, mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phải được ghi sổ
kế toán vào thời điểm phát sinh mà không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan
- Nguyên tắc nhất quán
Các chính sách và phương pháp tiến hành kế toán trong đơn vị phải được áp dụng một cách thống nhất trong thời gian hoạt động, ít nhất là một niên độ kế toán Nếu có sự thay đổi thì phải có sự giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó
Trang 21- Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp
Theo nguyên tắc này, thông tin trọng yếu riêng lẻ không được sáp nhập với những thông tin khác, mà phải trình bày riêng biệt Thông tin trọng yếu là thông tin nếu không trình bày thì có thể ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin dựa trên các BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục được đánh giá trong các tình huống cụ thể nếu các khoản mục này không được trình bày riêng biệt Để xác định một khoản mục hay một tập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá tính chất và quy mô của chúng Tuỳ theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản mục có thể là nhân tố quyết
định tính trọng yếu Còn các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng
rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng trong báo cáo tài chính hoặc trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính
- Nguyên tắc bù trừ
Theo nguyên tắc này, khi lập BCTC thì tài sản và các khoản công nợ, các khoản mục thu nhập và chi phí không được bù trừ nhau Trong trường hợp nếu tài sản và công
nợ, thu nhập và chi phí được bù trừ nhau thì dựa trên cơ sở tính trọng yếu phải xem xét
đến sự cần thiết diễn giải phần giá trị gộp tại phần thuyết minh báo cáo tài chính
- Nguyên tắc so sánh
Việc trình bày và phân loại các khoản mục trên báo cáo tài chính phải đảm bảo
sự nhất quán từ niên độ kế toán này sang niên độ kế toán sau Yêu cầu đòi hỏi đối với những người sử dụng thông tin trên BCTC là nắm được các chính sách kế toán mà doanh nghiệp áp dụng để lập BCTC cũng như sự thay đổi về chính sách này và những
ảnh hưởng của thay đổi đó Ngoài ra, nguời sử dụng cũng cần xác định sự khác biệt giữa chính sách kế toán đối với các giao dịch và các sự kiện mà một doanh nghiệp đã sử dụng giữa kỳ này với kỳ khác Những người sử dụng thông tin BCTC muốn so sánh thông tin trong các BCTC của các kỳ để xác định xu hướng biến động về tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp Vì thế các thông tin trên BCTC phải có khả năng so sánh được giữa các kỳ báo cáo Hơn nữa, người sử dụng thông tin cũng phải so sánh được các BCTC của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá mối tương quan về
Trang 22tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và những thay đổi về tình hình tài chính giữa các doanh nghiệp
1.2.2.2 Yêu cầu khi lập BCTC
Để đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, khi lập BCTC cần thực hiện những yêu cầu sau:
- Nội dung, phương pháp tổng hợp số liệu các chỉ tiêu trong bảng phải đảm bảo tính nhất quán, có thể so sánh được Đây cũng là nguyên tắc cần tuân thủ khi lập BCTC Yêu cầu này giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, tình hình phát triển của doanh nghiệp, tổng hợp chỉ tiêu theo ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tính so sánh thể hiện trong chế độ kế toán hiện hành là:
+ Đối với Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán năm phải trình bày số liệu
so sánh theo từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước gần nhất (số đầu năm); Bảng cân đối kế toán quý phải trình bày số liệu so sánh từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước gần nhất (số đầu năm)
+ Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm phải trình bày số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu tương ứng được lập cho kỳ kế toán năm trước gần nhất (năm trước); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lập theo kỳ kế toán quý phải trình bày số liệu của quý báo cáo và số luỹ kế từ đầu năm
đến ngày lập báo cáo tài chính quý và có thể có số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh quý cùng kỳ năm trước (Quý này năm trước)
+ Đối với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm phải trình bày số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu tương ứng được lập cho kỳ kế toán năm trước gần nhất (Năm trước); Báo cáo lưu chuyển tiền tệ quý phải trình bày số luỹ kế từ đầu năm
đến ngày lập báo cáo tài chính quý và có thể có số liệu so sánh theo từng chỉ tiêu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ quý cùng kỳ năm trước (Quý này năm trước)
Trang 23+ Số liệu “Năm trước” trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính phải được điều chỉnh lại số liệu trong các trường hợp:
Năm báo cáo áp dụng chính sách kế toán khác với năm trước
Năm báo cáo phân loại chỉ tiêu báo cáo khác với năm trước
Kỳ kế toán “ Năm báo cáo” dài hoặc ngắn hơn kỳ kế toán năm trước
Ngoài ra trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính còn phải trình bày rõ lý do của
sự thay đổi trên để người sử dụng hiểu rõ được báo cáo tài chính
- Số liệu ghi vào các chỉ tiêu trong BCTC phải chính xác, trung thực, đúng với thực tế tình hình hoạt động của đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của thông tin kế toán Yêu cầu này giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán có thể kiểm tra, phân tích,
đánh giá đúng đắn thực trạng của doanh nghiệp về tình hình tài sản, tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp: tình hình sử dụng, huy động, khai thác các loại tài sản, nguồn vốn, tiềm năng của doanh nghiệp, tình hình tài chính, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tế tài chính trong doanh nghiệp Các thông tin có chất lượng tin cậy khi chúng không bị phản ánh một cách méo mó một cách có chủ ý hoặc do những sai lầm của người trình bày, cung cấp thông tin Các BCTC sẽ không được coi là trung thực khách quan nếu bằng việc lựa chọn hoặc trình bày thông tin có ảnh hưởng
đến việc ra quyết định hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bày đó nhằm đạt được kết quả mà người lập báo cáo đã biết trước
- Số liệu ghi vào các chỉ tiêu trong BCTC và giữa các bảng trong hệ thống BCTC
có sự phù hợp đảm bảo mối quan hệ cân đối giữa các đối tượng kế toán Yêu cầu này giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có thể kiểm tra tính chính xác, đúng đắn của thông tin kế toán
- Các báo cáo trong hệ thống BCTC phải lập theo đúng mẫu biểu đã ban hành, lập và gửi kịp thời, đúng thời hạn quy định Yêu cầu này giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán dễ dàng nhận biết một cách kịp thời tình hình của đơn vị, từ đó
có giải pháp, quyết định phù hợp với tình hình của doanh nghiệp Theo chế độ kế toán
Trang 24Việt Nam hiện hành quy định: doanh nghiệp nhà nước phải nộp BCTC chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo quý (với BCTC quý) và 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo năm (với BCTC năm); Đối với Tổng công ty nhà nước chậm nhất 45 ngày (với BCTC quý) và 90 ngày (với BCTC năm); đối với các loại doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh phải nộp BCTC năm chậm nhất 30 ngày; đối với các loại doanh nghiệp khác thời hạn nộp BCTC năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc
về tình hình sản xuất kinh doanh trong kỳ hoạt động, chính sách và những phương pháp
kế toán vận dụng để lập BCTC
Có thể nhìn nhận khái quát các yếu tố cần trình bày trên BCTC như sau:
- Tài sản: Tài sản được hiểu là nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp có khả năng kiểm soát và là kết quả của các sự kiện đã qua, từ đó doanh nghiệp có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai Lợi ích kinh tế trong tương lai biểu hiện trong tài sản là tiềm năng đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp tới các nguồn tiền và tài sản tương đương tiền, tài sản được thực hiện bằng nhiều cách như: được doanh nghiệp sử dụng một cách đơn
lẻ hoặc kết hợp với tài sản khác để sản xuất hàng hoá và cung cấp dịch vụ, dùng trao
Trang 25đổi lấy các tài sản khác, để thanh toán công nợ hoặc được phân phối cho các chủ sở hữu Vì thế, để ghi nhận các yếu tố là tài sản trên BCTC không nhất thiết phải căn cứ vào hình thái vật chất hoặc hình thái sở hữu mà chỉ cần việc sử dụng tài sản đó đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai
- Công nợ: Là những khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như các khoản nợ vay phải trả, các khoản phải trả cho người bán, cho người lao động
Nợ phải trả được hiểu là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện quá khứ, việc thanh toán nghĩa vụ này được dự kiến sẽ dẫn đến các khoản tiền chi
ra từ các nguồn lực của doanh nghiệp Nợ phải trả có tính chất chủ yếu đó chính là một nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ và phải thanh toán theo một cách thức nhất định Việc thanh toán nghĩa vụ thường xuyên liên quan đến việc doanh nghiệp mất
đi một số nguồn lực có thể tạo ra lợi ích kinh tế để đáp ứng yêu cầu của bên được hưởng
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Là phần giá trị còn lại của tài sản sau khi trừ đi các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp Nguồn vốn chủ sở hữu có thể hình thành từ vốn cổ phần, có thể do chủ doanh nghiệp đóng góp hoặc có thể do Nhà nước cấp, do tích luỹ từ lợi nhuận để lại, các quỹ Nguồn vốn chủ sở hữu cho biết nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp và quyền lợi của các chủ sở hữu vốn góp trong việc phân chia lợi nhuận
- Thu nhập: là sự gia tăng về lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền thu vào hoặc gia tăng tài sản hay giảm bớt công nợ dẫn đến việc gia tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải do các chủ sở hữu đóng góp Thu nhập bao gồm cả doanh thu và lãi Doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp như: doanh thu bán hàng, tiền cho thuê Lãi là một khoản gia tăng về lợi ích kinh tế và xét trên khía cạnh này lãi không khác biệt với doanh thu
- Chi phí: Là sự giảm bớt các lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản chi ra hoặc khấu trừ tài sản hay phát sinh công nợ, đẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không phải là do phân phối cho các chủ sở hữu Vì vậy chi phí bao
Trang 26gồm: các khoản lỗ và chi phí phát sinh trong chu kỳ như: giá vốn hàng bán, chi phí khấu hao, tiền lương được biểu hiện dưới dạng những luồng tiền chi ra hoặc khấu trừ vào tài sản Lỗ được hiểu là sự giảm sút về lợi ích kinh tế và xét về bản chất thì lỗ cũng giống như những chi phí, ví dụ như lỗ do thanh lý tài sản cố định
- Các luồng tiền: Thông thường các luồng tiền của doanh nghiệp phản ánh trên BCTC được hình thành từ các hoạt động chính là: luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, luồng tiền từ hoạt động đầu tư và luồng tiền từ hoạt động tài chính
- Những biến động và các chính sách kế toán áp dụng: Thông thường để lập BCTC doanh nghiệp phải sử dụng các phương pháp kế toán nhất định thống nhất để lập vì sử dụng các phương pháp khác nhau sẽ cho kết quả không giống nhau Đó là cơ sở
để lập và trình bày BCTC, rất cần thiết phải trình bày để người sử dụng biết Bên cạnh
đó có những sự kiện có ảnh hưởng tới tình hình tài chính và tình hình hoạt động của doanh nghiệp cũng được trình bày để phân tích đánh giá các thông tin trên BCTC chính xác hơn
1.3 Quá trình phát triển của hệ thống BCTC Việt Nam
Lịch sử phát triển của hệ thống BCTC Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam Cùng với sự phát triển và thay đổi của nền kinh tế,
hệ thống kế toán Việt Nam luôn được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện, phát triển nhằm cung cấp những thông tin phù hợp, đáng tin cậy cho việc điều hành nền kinh
tế vĩ mô và kiểm tra của Nhà nước đối với các doanh nghiệp, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong tong doanh nghiệp của nhà quản lý, phục vụ cho các cổ đông nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng…đưa ra các quyết định kinh tế Sau đây chúng ta xem xét các chế độ báo cáo kế toán trong hệ thống kế toán Việt Nam để thấy được sự phát triển của hệ thống BCTC doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua
Trang 27góp phần vào việc quản lý, kiểm soát tình hình chấp hành kế hoạch và bảo vệ tài sản XHCN, tăng cường công tác quản lý kinh tế và tài chính của Nhà nước, đồng thời tạo
điều kiện cho các đơn vị quốc doanh bước đầu đi vào chế độ hạch toán kinh tế
Để củng cố và phát triển nền kinh tế XHCN ở miền Bắc dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể), năm 1970, chế độ kế toán thống nhất đầu tiên được ban hành và áp dụng chung cho các đơn vị kinh doanh, sản xuất trong cả nước, không phân biệt tính chất và quy mô của đơn vị Tuy nhiên, chế
độ kế toán thống nhất cũng có sự chú ý đến đặc điểm riêng của mỗi ngành kinh tế
Theo chế độ kế toán này, hệ thống báo cáo kế toán trong ngành công nghiệp chưa có sự phân biệt báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, gồm 13 báo biểu:
1 Bảng tổng kết tài sản (23 CN)
2 Tăng giảm tài sản cố định (24 CN)
3 Tăng giảm nguồn vốn cơ bản (25 CN)
4 Chi phí phục vụ và quản lý sản xuất (26 CN)
5 Chi phí sản xuất theo yếu tố (27 CN)
6 Giá thành sản phẩm so sánh được và toàn bộ sản phẩm theo khoản mục (28 CN)
7 Giá thành đơn vị các loại sản phẩm chủ yếu (29 CN)
8 Những nhân tố làm tăng giảm giá thành (30 CN)
9 Tiêu thụ (31 CN)
10 Lãi, lỗ và khoản thanh toán với ngân sách (32 CN)
11 Tăng giảm quỹ xí nghiệp (33 CN)
12 Thu chi tiền mặt (34 CN)
13 Công nợ phải thanh toán (35 CN)
Hệ thống BCTC trong ngành xây dựng cơ bản về cơ bản cũng bao gồm các báo biểu như hệ thống BCTC trong ngành công nghiệp
Trang 28Thời kỳ này, nền kinh tế nước ta được quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung Nhà nước quản lý trực tiếp mọi hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp; doanh nghiệp phải tuân theo một cách nghiêm ngặt các chỉ tiêu kế hoạch
đã được phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh, phân phối sản phẩm, chủng loại mặt hàng cần phải sản xuất, số lượng, giá cả, nơi tiêu thụ… Việc đánh giá hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp thông qua đánh giá việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao Vì vậy, hệ thống báo cáo này còn nhiều hạn chế là:
- Thông tin kế toán chỉ được trình bày trên một hệ thống báo cáo kế toán duy nhất do Nhà nước quy định do nhu cầu thông tin kế toán trong thời kỳ này giữa Nhà nước và doanh nghiệp là thống nhất với nhau Tuy nhiên với khối lượng thông tin trong báo cáo kế toán quá lớn, trình độ cán bộ quản lý có hạn nên chưa sử dụng hiệu quả thông tin trong các báo cáo kế toán
- Các báo cáo kế toán cung cấp thông tin cho Nhà nước và doanh nghiệp để phản
ánh tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch, mà chưa chú trọng tới hiệu quả sự vận động thực sự của các hoạt động kinh tế diễn ra tại doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhưng vẫn bị lỗ (các doanh nghiệp ngành công nghiệp nặng, nông nghiệp …), doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự hiệu quả vẫn có lãi, thậm chí lãi cao (các doanh nghiệp ngành công nghiệp nhẹ) do Nhà nước quy định giá phí đầu vào và kết quả đầu
ra Thông tin kế toán chỉ phản ánh một chiều từ thực tế thực hiện so với kế hoạch được giao để cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý Nhà nước
- Mặt khác thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán chưa hoàn toàn phản ánh trung thực tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp mà chỉ là những tài liệu để chứng minh và hợp pháp hoá việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch cũng như việc thực hiện những quy định của chế độ kế toán thống kê
Mặc dù chế độ kế toán này có những hạn chế nhưng với đặc điểm nền kinh tế thời kỳ đó nó đã đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế của các doanh nghiệp cũng như yêu cầu kiểm tra, lãnh đạo trực tiếp của Nhà nước đối với các doanh nghiệp
Trang 291.3.2 Chế độ kế toán năm 1986 - sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán năm 1970
Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng lần thứ 8 khoá V tháng 06/1985 đã
đánh dấu nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước Để
đáp ứng sự thay đổi đó, năm 1986 Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê ban hành theo quyết định số 13-TCTK/PPCĐ ngày 13/01/1986 về chế độ báo cáo thống kê - kế toán
định kỳ để sửa đổi, bổ sung hệ thống kế toán năm 1970 Hệ thống chế độ báo cáo thống
kê - kế toán định kỳ này có 21 báo biểu, trong đó các doanh nghiệp thực hiện lập 09 báo biểu thuộc lĩnh vực kế toán:
1 Bảng tổng kết tài sản (12 CN)
2 Vốn sản xuất (13 CN)
3 Chi phí sản xuất theo yếu tố (14 CN)
4 Giá thành toàn bộ sản phẩm theo khoản mục (15 CN)
5 Giá thành đơn vị sản phẩm chủ yếu theo khoản mục (16 CN)
6 Tiêu thụ lãi, lỗ (17 CN)
7 Các khoản thanh toán với ngân sách (18 CN)
8 Các quỹ xí nghiệp (19 CN)
9 Xây dựng cơ bản (20 CN)
So với hệ thống báo cáo ban hành năm 1970 thì hệ thống báo cáo ban hành năm
1986 đã giảm bớt về số lượng báo biểu (giảm 04 biểu, trong đó bỏ 05 biểu 24 CN, 26
CN, 30 CN, 34 CN, 35 CN và thêm biểu 20 CN); số lượng các chỉ tiêu trên báo biểu giảm (Bảng tổng kết tài sản năm 1970 có 170 chỉ tiêu, năm 1986 còn 108 chỉ tiêu; Bảng chi phí sản xuất theo yếu tố năm 1970 có 15 yếu tố chi phí sản xuất, năm 1986 còn 08 yếu tố chi phí) trong đó những chỉ tiêu phản ánh thông tin không cần thiết hoặc không
đúng yêu cầu thu nhận thông tin được bỏ đi và bổ sung thêm những chỉ tiêu mới phù hợp yêu cầu quản lý theo cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; Kỳ hạn lập và gửi báo biểu năm 1970 là tháng, quý, 6 tháng, năm nhưng năm 1986 là quý, 6 tháng, 9 tháng, năm Ngoài ra, hệ thống báo cáo này đã khắc phục được một số nhược điểm trùng lặp giữa các báo cáo của hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1970 như sự
Trang 30trùng lặp giữa các chỉ tiêu trên biểu “ Tăng giảm tài sản cố định” với biểu “Vốn sản xuất”
Mặc dù hệ thống báo cáo năm 1986 đã có những cải tiến đáng kể nhưng nhìn chung vẫn còn những hạn chế:
- Số lượng báo biểu và số lượng chỉ tiêu trong báo biểu nhiều, dẫn đến khó khăn, nhiều tốn kém trong khi lập báo cáo và quyết toán Tuy nhiên vẫn thiếu những chỉ tiêu kinh tế phản ánh sự đổi mới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Hệ thống báo cáo được lập mang tính chất đối phó, số liệu trên báo cáo thiếu chính xác; việc sử dụng thông tin trên báo cáo để ra những quyết định kinh tế, xây dựng các phương án kinh doanh chỉ là hình thức, không phải nhu cầu nội tại của đơn vị
Tóm lại, hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1986 đã có nhiều tiến bộ theo hướng tăng cường tính chủ động, sáng tạo trong kinh doanh cho các đơn vị, mặc dù tính chủ động đó chưa cao do nền kinh tế vẫn còn ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các đơn vị chủ quản và cơ quan chức năng của Nhà nước vẫn còn can thiệp sâu vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các đơn vị
1.3.3 Chế độ kế toán năm 1990
Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế do Đại hội Đảng lần VI năm 1986 đề ra: Chuyển đổi cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung bước sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp sở hữu tập thể đã xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh… Và để đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý nhà nước và doanh nghiệp, tháng 12/1989, Bộ Tài chính ban hành Chế độ kế toán mới lần thứ hai và bắt đầu áp dụng từ 01/01/1990 Chế
độ kế toán lần thứ hai mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, đáp ứng sự thay đổi về quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị trong tình hình mới Đồng thời, Bộ Tài chính đã có quyết định số 598/TC-CĐKT ngày 08/12/1990 ban hành chế độ kế toán sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, áp dụng thống nhất trong cả nước cho các hộ kinh doanh cá thể, hộ tiểu công nghiệp, các xí nghiệp, công ty tư doanh, các hợp tác xã, các tổ chức kinh doanh tập thể của các đoàn
Trang 31thể, cơ quan hành chính sự nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp, xây dựng, vận tải, khai thác tài nguyên, nuôi trồng hải sản…
Hệ thống báo cáo kế toán mới được ban hành theo Quyết định số 224-TC/CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 18/04/1990 về “Chế độ báo cáo kế toán định kỳ, áp dụng thống nhất cho các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh” Hệ thống báo cáo này gồm 04 báo biểu:
- Bảng tổng kết tài sản (01/BCKT)
- Kết quả kinh doanh (02/BCKT)
- Chi phí sản xuất theo yếu tố (03/BCKT)
- Bảng giải trình về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (04/BCKT)
Nội dung các chỉ tiêu trong báo cáo đã có thay đổi nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin cho quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1990 đã có nhiều cải tiến so với hệ thống báo cáo kế toán năm 1970 và được sửa đổi, bổ sung năm 1986 Bộ Xây dựng dựa trên cơ sở chế độ báo cáo kế toán do Bộ Tài chính ban hành đã xây dựng hệ thống báo cáo kế toán cho doanh nghiệp xây dựng
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế được quản lý theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, chế độ kế toán năm 1990 đã xuất hiện những nhược điểm, vẫn còn dừng lại ở chế độ kế toán của bước quá độ chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phạm vi cung cấp thông tin và đối tượng kế toán chưa được
đầy đủ, toàn diện, không phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế Việc sử dụng thông tin trên BCTC trong quản lý bị hạn chế, kém hiệu quả
1.3.4 Chế độ kế toán năm 1995
Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992 nhấn mạnh việc chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế: chuyển hẳn sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Bởi vậy Bộ Tài chính đã nghiên cứu và cho áp dụng thử nghiệm vào năm 1994 chế độ kế toán mới và ngày 01/11/1995, Bộ Tài chính đã ban hành chính thức chế độ kế toán mới lần thứ ba,
Trang 32bắt đầu áp dụng từ ngày 01/01/1996 với quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT Đây là lần
đầu tiên trong lịch sử kế toán Chế độ kế toán Doanh nghiệp được ban hành cùng một lúc đầy đủ cả bốn chế độ: chế độ chứng từ ban đầu, hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán, hệ thống báo cáo tài chính Với chế độ kế toán này tên gọi Báo cáo tài chính chính thức được sử dụng thay cho tên gọi báo cáo kế toán định kỳ trước đây Hệ thống chế độ kế toán này đã phần nào đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế về kế toán
Hệ thống BCTC ban hành năm 1995 gồm 04 báo biểu:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN)
- Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B04-DN)
So với hệ thống báo cáo ban hành năm 1990, hệ thống báo cáo lần này có những cải tiến:
Giảm bớt số lượng các chỉ tiêu trên báo cáo: Bảng tổng kết tài sản năm 1990 có
104 chỉ tiêu thì Bảng cân đối kế toán năm 1995 giảm còn 94 chỉ tiêu
Thay đổi về nội dung và cách trình bày các chỉ tiêu trên BCTC Biểu chi phí sản xuất theo yếu tố được chuyển thành một nội dung của thuyết minh báo cáo tài chính, cách trình bày các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được thiết kế lại phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lần đầu tiên xuất hiện trong hệ thống BCTC phù hợp với chuẩn mực kế toán
Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các nội dung bắt buộc doanh nghiệp phải giải trình chứ không phải như báo cáo thuyết minh trước đây là do doanh nghiệp tự giải thích
Thông tin trên BCTC không chỉ phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước mà giúp các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng bên ngoài khác đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Trang 33Thuận lợi cho việc ứng dụng tin học vào việc lập BCTC
BCTC này đã phản ánh một số các đối tượng kế toán mới phát sinh trong cơ chế thị trường như: các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, các khoản đầu tư khác, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược dài hạn, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính…
Tuy đã có bước cải tiến vượt bậc nhưng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, hệ thống báo cáo tài chính luôn cần được sửa đổi, bổ sung Vì vậy Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 10TC/CĐKT ngày 20/03/1997 và Thông tư số 120/1999/TT-BTC ngày 07/10/1999 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số 167/2000/QĐ/BTC ngày 25/10/2000 quy định về “Chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp” Ngoài ra Bộ Tài chính còn ban hành hàng loạt các Thông tư sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán; Thông tư hướng dẫn nghiệp vụ kế toán cho phù hợp các chuẩn mực kế toán quốc gia đã nghiên cứu và ban hành
Hệ thống báo cáo tài chính theo quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 gồm: Bảng cân đối kế toán (B01-DN); Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh (B02-DN); Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03-DN); Thuyết minh báo cáo tài chính (B09-DN)
Hệ thống báo cáo tài chính theo quyết định số 167/2000/QĐ-BTC thực chất vẫn dựa trên nền tảng của hệ thống báo cáo tài chính theo quyết định 1141/TC/CĐKT, nó chỉ có hệ thống hóa lại các chỉ tiêu theo các văn bản đã được sửa đổi trong giai đoạn từ năm 1995-2000
Hệ thống báo cáo tài chính này đã khắc phục được phần nào hạn chế của hệ thống trước, nó đã phản ánh khá đầy đủ các sự kiện kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh đã phù hợp hơn với thông lệ chung của kế toán trên thế giới và tạo được sự tin cậy cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Tuy nhiên vẫn có một số hạn chế nhất định về nội dung và phương pháp lập Vì thế, ngày 09/10/2002 Bộ tài chính đã ban hành thông tư số 89/2002/TT - BTC
Trang 34Hệ thống báo cáo tài chính điều chỉnh theo thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 của Bộ Tài chính:
Ngày 31/12/2001, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC về việc ban hành và công bố 4 chuẩn mực kế toán đợt 1:
Chuẩn mực số 02: Hàng tồn kho Chuẩn mực số 03: Tài sản cố định hữu hình Chuẩn mực số 04: Tài sản cố định vô hình Chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác
Và ban hành thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán thực hiện 4 chuẩn mực kế toán đợt 1, theo đó hệ thống báo cáo tài chính với 4 mẫu biểu
có những thay đổi ở Biểu 01-DN - Bảng cân đối kế toán và Biểu 02 - DN - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
* Hệ thống báo cáo tài chính điều chỉnh theo thông tư số 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003:
Đến ngày 31/12/2002 06 chuẩn mực kế toán đợt 2 được ban hành theo quyết
định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 gồm:
Chuẩn mực số 01: Chuẩn mực chung Chuẩn mực số 06: Thuê tài sản Chuẩn mực số 10: ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái Chuẩn mực số 15: Hợp đồng xây dựng
Chuẩn mực số 16: Chi phí đi vay Chuẩn mực số 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Tiếp theo đó, ngày 30/12/2003, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quyết định số 234/2003/QĐ-BTC công bố 06 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 3 gồm:
Chuẩn mực số 05: Bất động sản đầu tư
Chuẩn mực số 07: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
Chuẩn mực số 08: Thông tin tài chính về những khoản góp vốn liên doanh
Chuẩn mực số 21: Trình bày báo cáo tài chính
Trang 35Chuẩn mực số 25: Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào
công ty con
Chuẩn mực số 26: Thông tin về các bên có liên quan
Để hướng dẫn thực hiện 12 chuẩn mực kế toán mới ban hành đó, Bộ Tài chính
đã ban hành thông tư số 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 để bổ sung thêm một số
chỉ tiêu trên hệ thống báo cáo tài chính đầy đủ hơn
1.3.5 Chế độ kế toán năm 2006
Và đến ngày 15/02/2006 06 chuẩn mực kế toán đợt 4 được Bộ trưởng Bộ Tài
chính ban hành theo quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 gồm:
Chuẩn mực số 17: Thuế thu nhập doanh nghiệp
Chuẩn mực số 22: Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự
Chuẩn mực số 23: Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm
Chuẩn mực số 27: Báo cáo tài chính giữa niên độ
Chuẩn mực số 28: Báo cáo bộ phận
Chuẩn mực số 29: Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót
Tiếp theo đó, 04 chuẩn mực kế toán đợt 5 được ban hành theo quyết định số
100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính gồm:
Chuẩn mực số 11: Hợp nhất kinh doanh
Chuẩn mực số 18: Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng
Chuẩn mực số 30: Lãi trên cổ phiếu
Chuẩn mực số 19: Hợp đồng bảo hiểm
Để hướng dẫn các chuẩn mực kế toán mới ban hành đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính
đã ban hành Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, hệ thống báo cáo tài
Trang 36chính hiện hành ở Việt Nam bao gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính giữa niên độ
- Báo cáo tài chính năm gồm:
+ Bảng cân đối kế toán Mẫu số B 01 - DN + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B 02 - DN + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03 - DN + Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B 09 - DN
- Báo cáo tài chính giữa niên độ: báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
+ Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng đầy đủ) Mẫu số B 01a - DN + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ (dạng
đầy đủ)
Mẫu số B 02a - DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (dạng đầy đủ) Mẫu số B 03a - DN + Bản thuyết minh báo cáo tài chính (dạng đầy đủ) Mẫu số B 09a - DN
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:
+ Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược) Mẫu số B 01b - DN + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ (dạng
Trang 37Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn diện tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về tổng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp được phân loại theo cơ cấu tài sản và tổng giá trị nguồn hình thành tài sản phân loại theo cơ cấu nguồn vốn (nợ phải trả và vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp tại thời
điểm báo cáo
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán người sử dụng báo cáo tài chính có thể nhận xét, đánh giá chung về tình hình tài chính, cơ cấu tài sản và năng lực kinh doanh, cơ cấu nguồn vốn và khả năng tự chủ tài chính, khả năng thanh toán các khoản nợ
Bảng cân đối kế toán thường có kết cấu hai phần:
+ Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời
điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản được chia thành hai phần: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
+ Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp Nguồn vốn được chia thành: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
Mỗi phần của Bảng cân đối kế toán đều được phản ánh theo bốn cột: Mã số, thuyết minh, số đầu năm, số cuối kỳ (quý, năm) Trong đó cột “Thuyết minh” nhằm
đánh dấu dẫn đến các phần thuyết minh trong bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Nội dung trong Bảng cân đối kế toán phải thỏa mãn phương trình cơ bản:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Ngoài hai phần tài sản và nguồn vốn, cấu tạo Bảng cân đối kế toán còn có phần tài sản ngoài bảng Tài sản ngoài bảng phản ánh những tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp đang quản lý hoặc đang sử dụng và một số chỉ tiêu bổ sung không thể phản ánh trong Bảng cân đối kế toán
Trang 38Cơ sở để lập Bảng cân đối kế toán:
- Bảng cân đối kế toán được lập vào cuối năm trước
- Số dư cuối kỳ của các tài khoản tổng hợp và chi tiết tương ứng với các chỉ tiêu
được quy định trong bảng cân đối kế toán
Trước khi lập bảng cân đối kế toán cần phải thực hiện một số việc: tiến hành kết chuyển các khoản có liên quan giữa các tài khoản phù hợp với quy định; kiểm kê tài sản và tiến hành điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán theo số kiểm kê, đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán liên quan; khóa sổ các tài khoản tổng hợp, chi tiết để xác định số dư cuối kỳ
Theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” từ
đoạn 15 đến đoạn 32, khi lập và trình bày Bảng cân đối kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính
Nhằm đảm bảo tính chính xác của bảng cân đối kế toán, khi tính toán ghi chép các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
- Trước khi lập bảng cân đối kế toán, cần phải kiểm tra việc ghi chép trên sổ kế toán xem đã đầy đủ, trung thực và chính xác chưa, bằng cách đối chiếu, kiểm tra giữa
sổ sách kế toán liên quan với nhau, giữa sổ kế toán với thực tế
- Cột số đầu năm lấy số liệu ở cột cuối kỳ của bảng cân đối kế toán cuối niên độ trước chuyển sang Số đầu năm không thay đổi trong suốt niên độ báo cáo
- Cột số cuối kỳ: theo nguyên tắc lấy số dư cuối kỳ trên các sổ kế toán tổng hợp hoặc chi tiết tương ứng với chỉ tiêu đó để lập
- Những chỉ tiêu phản ánh tài sản thì căn cứ vào số dư cuối kỳ bên nợ của các tài khoản phản ánh tài sản (các tài khoản loại 1 và loại 2) để lập ở phần tài sản của Bảng
- Những chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn thì căn cứ vào số cuối kỳ bên có của các tài khoản phản ánh nguồn vốn tương ứng (các tài khoản loại 3 và loại 4) để lập phần nguồn vốn
Trang 39- Những chỉ tiêu có tính chất điều chỉnh giảm cho các khoản vốn (các khoản dự phòng, hao mòn tài sản cố định ) được lập sau chỉ tiêu mà nó điều chỉnh (cùng tài sản) bằng cách lấy số dư bên có của các tài khoản tương ứng để ghi số đỏ (số âm) Tương tự những tài khoản thuộc loại 4 mà có số dư bên nợ cũng được ghi vào các chỉ tiêu bên nguồn vốn, nhưng ghi số đỏ vì điều chỉnh giảm nguồn vốn
- Những chỉ tiêu liên quan đến số dư chi tiết của các tài khoản tương ứng như: trả trước cho người bán, khách hàng ứng trước thì căn cứ số dư chi tiết trên sổ tài khoản chi tiết liên quan để lập
Ngoài ra, trên Bảng cân đối kế toán, các khoản mục Tài sản và Nợ phải trả phải
được trình bày riêng biệt thành ngắn hạn và dài hạn, tùy theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, cụ thể như sau:
- Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì Tài sản và Nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện sau:
+ Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng 12 tháng tới kể
từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, được xếp vào loại ngắn hạn;
+ Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán từ 12 tháng tới trở lên kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, được xếp vào loại dài hạn
- Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn 12 tháng, thì Tài sản và Nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện sau:
+ Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường, được xếp vào loại ngắn hạn;
+ Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong thời gian dài hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường, được xếp vào loại dài hạn
- Đối với doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào chu kỳ kinh doanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn, thì các Tài sản và Nợ phải trả được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần
* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Trang 40Báo cáo DKQHDKD là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình
và hiệu quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo các loại hoạt động chủ yếu
Báo cáo KQHĐKD cho biết toàn bộ kết quả hoạt động trong kinh doanh của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định Đồng thời bảng báo cáo còn cho biết được các yếu tố liên quan đến việc tính toán xác định kết quả kinh doanh của từng loại hoạt động (sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính và hoạt động khác)
Báo cáo KQHĐKD cung cấp cho người sử dụng những thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận (hoặc lỗ) phát sinh từ hoạt động kinh doanh thông thường; về thu nhập, chi phí và lợi nhuận khác phát sinh từ những hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh Đồng thời báo cáo kết quả kinh doanh còn phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận thuần của doanh nghiệp trong kỳ đó Chi phí thuế thu nhập gồm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ và chi phí thuế thu nhập hoãn lại
Thông tin cung cấp trên Báo cáo kết quả kinh doanh cùng với thông tin trên BCTC khác giúp cho người sử dụng có những nhận xét, đánh giá về năng lực kinh doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong kỳ, những nhân tố, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và triển vọng hoạt động trong thời gian tới
Phương pháp lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
- Việc lập báo cáo KQHĐKD phải tuân thủ những nguyên tắc kế toán cơ bản quy định trong Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”, tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày BCTC quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày BCTC” và các quy định hiện hành về BCTC
- Các chỉ tiêu trên Báo cáo KQHĐKD phải được phản ánh trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xác định giá trị, ghi nhận và trình bày có liên quan được quy định ở các Chuẩn mực kế toán cụ thể
- Trên Báo cáo KQHDKD các loại chi phí được trình bày theo chức năng của chi phí (theo khoản mục chi phí) Nhưng trong bản thuyết minh BCTC doanh nghiệp phải