Một số vấn đề cơ bản về quản trị ngân hàng tại VN hiện nay....29 Chương 2: Phân tích thực trạng rủi ro và ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại và của Habuba
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
ĐẶNG VƯƠNG TÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, ÁP DỤNG CHO
NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI – HABUBANK
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
ĐẶNG VƯƠNG TÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, ÁP DỤNG CHO
NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI – HABUBANK
Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp
Mã số : 60.31.09
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: Nhâm Văn Toán
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu, khảo sát và thực hiện của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đó
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2010
Tác giả
Đặng Vương Tân
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Việt đầy đủ Việt tắt
Thương mại côt phần TMCP
Máy rút tiền tự động ATM
Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội Habubank
Bảng 2.1: Hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng 29
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của một số NH giai đoạn 05-09 30
Bảng 2.3: Lợi nhuận và tỷ lệ nợ xấu của một số NH giai đoạn 05-09 37
Danh mục các hình
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng trung gian tín dụng của NHTM 5
Hình 2.1: Biểu đố tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam nhưng
Hình 2.2: Biểu đồ Doanh thu kinh doanh ngoại hối năm 2009 của
toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 42
Hình 2.3 Biểu đồ tăng trưởng về nhân lực và cơ cấu trình độ lao
Trang 5Hình 2.4 Biểu đồ số lượng sự kiện rủi ro xuất phát từ con người 61
Hình 2.6: Biểu đồ số lượng giao dịch và thời gian bình quân xử lý 1
Hình 2.7: Biểu đồ số lượng sự kiện rủi ro xuất phát từ nguyên nhân
hệ thống 65 Hình 2.8: Biểu đồ cơ cấu sự kiện rủi ro từ nguyên nhân hệ thống 65
Hình 2.9: Biểu đồ số lượng quy trình của Habubank 66
Hình 2.10: Biểu đồ số lượng rủi ro xuất phát từ nguyên nhân Q.trình 67
Hình 2.11:Quá trình xây dựng và hoàn thiện quy trình của Habubank 67
Hình 2.12: Biểu đồ số lượng rủi ro xuất phát từ nguyên nhân sự kiện
Hình 2.13: Biểu đồ phân loại rủi ro theo nguyên nhân tại Habubank 70
Hình 2.16: Biểu đồ phân loại rủi ro theo nguyên nhân tại Habubank 70
Hình 2.17: Biểu đồ rủi ro trong hoạt động thanh toán 71
Hình 2.18: Biểu đồ doanh số và số cam kết, hợp đồng đầu tư trên thị
Hình 2.19: Biểu đồ doanh số và số cam kết, hợp đồng đầu tư vào
Hình 2.20: Biểu đồ số sự kiện rủi ro và tần suất xảy ra trong giao
dịch đầu tư 73 Hình 2.21: Biểu đồ dư nợ, lợi nhuận và tỷ lệ nợ xấu tại Habubank 74
Hình 2.22: Biểu đồ số lượng sự kiện rủi ro trong lĩnh vực quản lý
Hình 2.23: Biểu đồ số lượng sự kiện rủi ro trong an ninh vật chất,
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, hình vẽ
Mở đầu……… ……….………1
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại 11
1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. 11
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại. 11
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại. 12
1.1.3 Các dịch vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại. 14
1.2 Những vấn đề chung về Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. 16
1.2.1 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. 16
1.2.2 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. 20
1.2.3 Hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. 22
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. 25
1.3.1 Xuất phát từ đặc điểm và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. 25
1.3.2 Năng lực quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. 26
1.3.3 Xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro. 26
1.3.4 Những nguyên tắc và quy trình quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại hiện tại của Việt Nam. 28
1.3.5 Một số vấn đề cơ bản về quản trị ngân hàng tại VN hiện nay. 29
Chương 2: Phân tích thực trạng rủi ro và ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại và của Habubank 35
2.1 Thực trạng hoạt động Ngân hàng thương mại Việt Nam. 35
2.1.1 Quy mô vốn tăng. 35
2.1.2 Tình hình huy động vốn. 37
2.1.3 Những cơ hội và thách thức đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hiện nay. 38
2.1.4 Thực trạng rủi ro trong kinh doanh NHTM Việt Nam. 43
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua. 61
2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực. 62
Trang 72.2.2 Năng lực tài chính của ngân hàng. 62
2.2.3 Quy mô vốn chủ sở hữu. 63
2.2.4 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. 63
2.2.5 Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng. 64
2.2.6 Môi trường kinh tế xã hội và kinh doanh. 65
2.3 Thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro hoạt động tai Habubank. 66
2.3.1 Đánh giá từ khía cạnh nguyên nhân của rủi ro. 67
2.3.2 Đánh giá trên những lĩnh vực có tần suất cao xảy ra rủi ro. 78
2.4 Kết luận về thực trạng quản trị rủi ro của Habubank. 85
2.4.1 Hạn chế về cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro. 85
2.4.2 Hạn chế về quy trình quản trị rủi ro. 85
2.5 Kinh nghiệm trong quản trị rủi ro tại một số ngân hàng thương mại. 87
Chương 3: Quản trị rủi ro và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng, áp dụng tại Habubank 91
3.1 Công tác Quản trị rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. 91
3.1.1 Quản trị rủi ro tín dụng nâng cao chất lượng tín dụng hiện nay. 91
3.1.2 Quản trị rủi ro ngoại hối. 98
3.1.3 Quản trị rủi ro lãi suất. 101
3.1.4 Quản trị rủi ro thanh khoản. 103
3.1.5 Quản trị rủi ro tác nghiệp. 105
3.2 Một số giải pháp quản trị rủi ro xuất phát từ nguyên nhân gây lên rủi ro tại Habubank 106
3.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 106
3.2.2 Hoàn thiện, hệ thống hóa các quy trình nghiệp vụ. 108
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống ngân hàng cốt lõi và xây dựng kế hoạch kinh doanh liên tục. 109
3.3 Các giải pháp hạn chế riêng cho từng loại rủi ro trong các hoạt động của Habubank. 111
3.3.1 Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng. 111
3.3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro ngoại hối. 117
3.3.3 Giải pháp hạn chế rủi ro thanh khoản. 119
3.3.4 Giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất. 120
3.4 Những đề xuất đối với NHNN Việt Nam. 123
Kết luận…… ……… … .120
Tài liệu tham khảo……… ……… 123
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh doanh ngân hàng mang tính rủi ro cao và quản trị rủi ro là một trong những yếu tố quyết định thành bại của Ngân hàng Yếu tố này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang ở trong giai đoạn khủng hoảng, môi trường kinh doanh đang trở nên cạnh tranh khốc liệt với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và chất lượng các tổ chức tài chính và phi tài chính trong nước và quốc tế, cũng như sự bùng nổ các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại và phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, mà đặc biệt là những rủi
ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng thường có phản ứng dây truyền, lan truyền và ngày càng phức tạp Sự suy yếu hay sụp đổ của hệ thống Ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia và
có thể lan rộng sang qui mô quốc tế Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ hiện đã lan rộng đến phạm vi toàn cầu là một minh chứng rõ nét nhất cho nhận định ở trên Chỉ có trong một thời gian ngắn trong năm 2008 đã có 25 Ngân hàng và năm 2009 đã có 130 Ngân hàng, trong những ngày đầu năm 2010 đã có tới 9 Ngân hàng Mỹ bị phá sản hoặc cơ cấu mua bán sáp nhập Sau khi các Ngân hàng tuyên bố phá sản thì một loạt các công ty lớn đa quốc gia hàng đầu của nước Mỹ như hãng bảo hiểm, ô tô GE, FORD … đều tuyên bố đứng trên bờ vực phá sản và kêu gọi sự cứu trợ của Chính phủ Mỹ
Đối với hệ thống các Ngân hàng Việt Nam, kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước lớn mạnh không ngừng và thu được những thành tựu quan trọng Nhưng cũng trong quá trình đổi mới, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã vấp phải những rủi ro, tổn thất nặng nề Sự biến động khó lường của kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam cùng những chuyển biến sâu sắc trong tình hình an
Trang 9ninh xã hội đã và đang đặt ra nhiều thách thức, thúc đẩy quá trình nhận thức của Ngân hàng về tầm quan trọng của quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro hoạt động
Tuy nhiên, đối với Việt Nam không riêng với hệ thống Ngân hàng mà tất cả các ngành nghề khác khái niệm Quản trị rủi ro còn hết sức mới mẻ và hạn chế cả về mặt nghiên cứu lý luận và thực tế thực hiện Vì vậy việc nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro hoạt động trong Ngân hàng trở nên hết sức cần thiết và mang nhiều ý nghĩa
Sau một thời gian nghiên cứu, khảo sát một số Ngân hàng thương mại nói chung, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội– Habubank nói riêng và với những
lý luận trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “ Nghiên cứu một số giải pháp Quản trị rủi ro hoạt động của các Ngân hàng thương mại, áp dụng tại Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội – Habubank” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của đề tài là: Nghiên cứu một số giải pháp Quản trị rủi ro hoạt động của các Ngân hàng thương mại, áp dụng tại Ngân hàng TMCP Nhà
Hà Nội – Habubank nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại nói chung và Habubank nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Các loại rủi ro, nguyên nhân và các giải pháp quản trị rủi ro hoạt động của các Ngân hàng thương mại nói chung và tại Habubank nói riêng
Phạm vi nghiên cứu: Một số Ngân hàng thương mại lớn trong và ngoài nước đang hoạt động tại Việt Nam và trên toàn phạm vi hệ thống Habubank gồm 42 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp lý thuyết suy luận logic, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích hoạt động kinh tế, toán học, thống kê,
so sánh, đối chiếu, phỏng vấn kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu tài chính tiền tệ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nâng cao nhận thức và hiểu biết về vai trò của quản trị rủi ro hoạt động trong Ngân hàng thương mại nói chung và tại Habubank nói riêng
Ngân hàng có cái nhìn trực diện và bao quát về thực trạng rủi ro trong hoạt động và quản trị rui ro trong hoạt động hiện nay, thấy được những hạn chế và yếu kém còn tồn tại
Là tài liệu tham khảo cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, các học giả quan tâm đến vấn đề này
6 Nội dung nghiên cứu và kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Chuơng 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại
Chương 2: Phân tích thực trạng rủi ro và ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại và của Habubank
Chương 3: Quản trị rủi ro và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại áp dụng tại Habubank
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại, từ khi hình thành và phát triển đến nay, đã có rất nhiều khái niệm :
Theo Đạo luật Ngân hàng của Cộng hoà Pháp 1941 chỉ rõ :“ Ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Theo pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam năm 1990: “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng (dân cư và các doanh nghiệp), có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng để cho vay, thanh toán, chiết khấu …”.[1]
Luật số 02/1997/QH10 Điều 10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.[2] Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000: “ Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế nhà nước”.[3]
Như vậy, có thể nói rằng ngân hàng thương mại là một loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi
Trang 12trong xã hội được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại
1.1.2.1 Chức năng làm trung gian tín dụng
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là một tổ chức trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay Như vậy, có thể nói NHTM là nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn với các chủ thể thiếu vốn
Với chức năng này, NHTM làm trung gian chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu, các chủ thể tham gia không có mối liên hệ trực tiếp với nhau Điều này có vai trò to lớn đối với nền kinh tế vì một mặt huy động và tập trung hầu hết những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và biến nó từ chỗ là phương tiện tích lũy thành nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, mặt khác sử dụng nguồn vốn này cung ứng cho nền kinh tế với tính luân chuyển của nó gấp nhiều lần
Chức năng trung gian tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng trung gian tín dụng của NHTM
+ Doanh nghiệp + Các định chế tài chính
+ Các tổ chức phi lợi nhuận
- Cho vay, Phát hành trái phiếu,
kỳ phiếu…
Cấp tín dụng
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 131.1.2.2 Chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng
Ngân hàng sử dụng ưu thế về mạng lưới các chi nhánh, đối tác trong và ngoài nước, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, thiết bị, phần mềm chuyên ngành…có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng và chuyên biệt
có giá trị gia tăng cao như tư vấn tài chính, cung cấp thông tin, bảo quản vật
và chứng từ có giá, ngăn ngừa rủi ro ngoại hối…
1.1.2.3 Chức năng làm trung gian thanh toán
Vì là thủ quỹ của cá nhân và tổ chức nên hầu hết các khoản thu chi về hàng hóa và dịch vụ của các cá nhân, tổ chức đều được thực hiện thông qua NHTM bằng việc mở tài khoản tại NHTM và yêu cầu hay uỷ nhiệm NHTM thực hiện các khoản chi trả cũng như thu hộ Do đó các cá nhân và tổ chức không phải mất nhiều thời gian và chi phí cho các công việc như đếm và kiểm tiền; vận chuyển; lưu trữ và bảo vệ; quản lý; v.v…trong các hoạt động thanh toán, giao dịch tiền tệ
Chức năng làm trung gian thanh toán của NHTM ngày nay vượt qua khỏi khuôn khổ truyền thống theo sự phát triển của kỹ thuật công nghệ hiện đại phục vụ ngành ngân hàng chẳng hạn như thanh toán bù trừ, chữ ký điện tử, phần mềm quản lý, hệ thống mạng công nghệ thông tin…để phục vụ nền kinh
tế với yêu cầu cao hơn về tính chính xác, nhanh chóng, an toàn và đặc biệt là giảm thiểu chi phí giúp quá trình lưu thông vốn tiền tệ cũng như lưu thông
hàng hoá ngày càng hiệu quả
1.1.2.4 Chức năng tạo tiền (bút tệ hay tiền ghi sổ)
Với một hệ thống ngân hàng hoàn chỉnh, với một số tiền ban đầu và tỷ
lệ dự trữ bắt buộc nhất định thì các NHTM có thể tạo ra một số lượng tiền ghi
sổ lớn hơn lượng tiền ban đầu gấp nhiều lần Số lượng tiền tạo ra có thể được tính thông qua hệ số tạo tiền như sau:
Trang 141
Hệ số tạo tiền =
Tổng dư nợ cho vay
Khối lượng tiền tạo ra = Khối lượng tiền gửi ban đầu X Hệ số tạo tiền Đây là chức năng tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng lượng tiền tệ cho nền kinh tế
1.1.3 Các dịch vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Một trong những dịch vụ đầu tiên là hoạt
động trao đổi ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu về một loại ngoại tệ nào đó của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, cho các khách hàng du lịch, chữa bệnh, du học v.v…
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngân hàng cho vay
bằng cách chiết khấu các thương phiếu, thực chất là việc khách hàng bán những khoản phải thu của mình cho ngân hàng để lấy tiền mặt
Nhận tiền gửi: Một cách thức nhằm huy động vốn nhàn rỗi, bao gồm
các khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn
Bảo quản vật có giá trị: Thực hiện dịch vụ lưu giữ vật có giá cho khách
hàng như vàng, kim cương, đá quý v.v…
Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Với khả năng huy động những
nguồn vốn lớn, thì Chính phủ cũng coi Ngân hàng như một nguồn tài trợ thông qua việc phát hành các loại trái phiếu Chính phủ phục vụ cho các hoạt động chi tiêu lớn, thông thường số lượng trái phiếu phát hành tỷ lệ nhất định với tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được
Cung cấp các tài khoản giao dịch: Ngân hàng cung cấp các tài khoản
cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa, dịch vụ v.v… giúp các giao dịch kinh doanh dễ dàng, nhanh chóng và an toàn
Trang 15Cung cấp dịch vụ ủy thác: Ngân hàng thực hiện việc quản lý tài sản và
quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại, căn cứ trên quy mô vốn hay tài sản mà ngân hàng sẽ định ra mức phí thích hợp Có hai loại dịch vụ ủy thác: dịch vụ ủy thác cho cá nhân, hộ gia đình và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp
Tư vấn tài chính: Là tư vấn cho khách hàng về các cơ hội thị trường
trong nước và nước ngoài
Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho vay đối với khách hàng là cá nhân,
hộ gia đình phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Ngày nay dịch vụ này ngày càng được các ngân hàng chú trọng
Quản lý tiền mặt: Ngân hàng quản lý thu chi cho công ty kinh doanh và
tiến hành đầu tư phần tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
Dịch vụ thuê mua thiết bị: Khách hàng chọn lựa các thiết bị thuê mua
thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê
Cho vay tài trợ dự án: Ngân hàng cho vay thông qua tài trợ vốn đầu tư
cho các dự án xây dựng, mua sắm dây truyền máy móc thiết bị.v.v…
Bán các dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng trực tiếp cung cấp các hợp đồng
bảo hiểm cho khách hàng (nếu được phép) hoặc tham gia liên kết với các công ty bảo hiểm trong đó ngân hàng giữ vị trí trung gian
Cung cấp các dịch vụ hưu trí: Ngân hàng quản lý kế hoạch hưu trí cho
người lao động, đầu tư và phát lương hưu cho người nghỉ hưu
Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp: Ngân hàng cung cấp các sản
phẩm cho khách hàng muốn có thu nhập cao hơn thông qua tài khoản các quỹ tương hỗ và Hợp đồng trợ cấp Quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu
tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái
Trang 16phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ Hợp đồng trợ cấp bao gồm các kế hoạch tiết kiệm dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai
Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn: Ngân
hàng cung cấp các dịch vụ tư vấn cho các công ty, tập đoàn lớn bao gồm: mua bán và sáp nhập, mua bán chứng khoán cho khách hàng, cung cấp công cụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro bảo vệ khách hàng, ngân hàng cung cấp các sản phẩm phái sinh như mua bán nợ, cấu trúc tài chính.v.v… nhằm tạo ra dòng tiền tệ nhanh và hiệu quả hơn Ngân hàng không chỉ cung cấp những dịch vụ trên một cách riêng lẻ mà thông thường ngân hàng sẽ kết hợp hai hay nhiều dịch vụ thành những gói dịch vụ với chi phí rẻ hơn, đáp ứng nhiều hơn nhu cầu khách hàng nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.v.v…
Phát hành thẻ ATM, thẻ tín dụng, Visa và các dịch vụ khác v.v……
1.2 Những vấn đề chung về Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM nói trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động của NHTM Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm
về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là “những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng” Mức độ và tính chất rủi
ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền Việc tìm hiểu về các loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản trị và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHTM
Trang 17Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể phân chia thành nhiều loại tùy theo tiêu thức lựa chọn và mục đích nghiên cứu Trong luận văn này, rủi ro sẽ được phân chia và trình bày thành bốn loại bao gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp
1.2.1.1 Rủi ro tín dụng
Là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không thể hoàn trả vốn và lãi hoặc hoàn trả không đầy đủ các khoản vốn và lãi cho NH, gây tổn thất cho NH
Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và phổ biến nhất xuất phát từ đặc điểm của tín dụng ngân hàng như đã nêu trên đây và trên thực tế, hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng chi trả lãi, chi trả nợ hoặc cả hai Loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo, đối với đa số khách hàng dù tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và thực thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Vì vậy có thể cho rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại song song với tín dụng ngân hàng và cả NHTM chỉ có thể hạn chế và buộc chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định mà thôi
1.2.1.2 Rủi ro thanh khoản
Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thường là gia tăng các khoản đi vay
“nóng” với chi phí rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trường tiền tệ chưa phát triển Xét trên giác độ lý thuyết, rủi ro thanh khoản cũng là điều tự nhiên
Trang 18luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi lẽ độ thanh khoản của nguồn vốn (cầu thanh khoản) bao giờ cũng cao hơn các khoản sử dụng vốn (cung thanh khoản) Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro thanh khoản thường ít xảy
ra hơn hoặc cũng có thể được giảm thiểu và “che lấp” bởi các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Điều có thể thấy rất rõ là rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác đều tác động đến hoạt động ngân hàng một cách ở mức độ khác nhau và dù có thể
bị thua lỗ hay phá sản thì cũng “dần dần từng bước” do vậy các ngân hàng có thể có cơ hội để khắc phục và cải thiện tình hình Song rủi ro thanh khoản nếu xảy ra thì lại là vấn đề rất nghiêm trọng, thậm chí là đặc biệt nghiệm trọng vì
có thể dẫn đến sự sụp đổ của NHTM trong “chốc lát” khi khách hàng ồ ạt đến rút tiền
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn được quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nước, do vậy các NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá Trái lại, trong
Trang 19điều kiện nền kinh tế thị trường với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo Lãi suất
và tỷ giá biến động theo chiều hướng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau Một ngân hàng được “hưởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống Xác suất thu được lợi ích và chịu tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét về bản chất, lợi ích mà ngân hàng này có được lại chính
là thiệt hại của ngân hàng khác Do vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có nghĩa là không chấp nhận sai lầm, cũng
từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá được coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và ngoại hối khác “mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông qua việc đo lường xác định và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và chống
1.2.1.4 Rủi ro tác nghiệp
Là những tổn thất xảy do những “trục trặc” trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM như: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng, v.v…Thực ra rủi ro tác nghiệp đã xuất hiện
từ lâu và luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng nhưng chỉ đến những năm gần đây mới được quan tâm nghiên cứu đẩy đủ hơn Như đã đề cập trên đây, các hoạt động kinh doanh của NHTM là rất phức tạp và được thực hiện theo những quy trình và quy định rất chặt chẽ, song cũng chính vì vậy mà những sai xót rất dễ xảy ra Bất kỳ một sự bất cẩn hay là non kém về mặt nghiệp vụ, thu thập xử lý thông tin thiếu chính xác và không kịp thời của các bộ phận chức năng trong hệ thống đều có thể ảnh đến những quyết định của giám đốc điều hành và toàn bộ các tác nghiệp tiếp theo
Trang 20Rủi ro tác nghiệp của các NHTM có xu hướng ngày càng gia tăng, trước hết, do sự mở rộng quy mô, phạm vi và sự đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; mỗi ngân hàng thậm chí có thể trở thành các tập đoàn tài chính và là những công ty đa quốc gia Thêm nữa, môi trường kinh doanh cũng ngày càng phức tạp hơn, áp lực công việc tăng do tốc độ và khối lượng giao dịch tăng, sự lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ nhiều hơn, v.v… Do vậy, các ngân hàng tiên tiến và có quy mô lớn trên thế giới luôn nghiên cứu và tối ưu hoá quy trình tác
nghiệp trên cơ sở mô hình tổ chức phù hợp nhất đối với mỗi loại hình ngân hàng
1.2.2 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể nảy sinh từ những đặc điểm nội tại của hoạt động kinh doanh ngân hàng song cũng có thể chịu ảnh hưởng từ những điều kiện và môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội Trên cơ sở đó, các chuyên gia tài chính ngân hàng đã phân chia nguyên nhân rủi ro thành 3 nhóm như sau:
1.2.2.1 Những nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân xảy ra rủi ro như thảm hoạ tự nhiên (bão lụt, hạn hán, động đất, v.v…) hay những thay đổi về chính sách quản lý kinh tế –
xã hội của Chính phủ, gây thiệt hại cho khách hàng hoặc trực tiếp cho các ngân hàng Đặc điểm chung của nhóm nguyên nhân này là cả ngân hàng và khách hàng không thể có bất kỳ hành động nào để hạn chế ngoài việc dự đoán, dự báo, dự phòng và chịu đựng Do vậy, các NHTM luôn phải chủ động
dự phòng để khắc phục hậu quả rủi ro là điều có ý nghĩa hơn cả
1.2.2.2 Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng của ngân hàng
Bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp, kể cả các NHTM và các định chế tài chính khác Khi các đối tượng khách hàng không thể hoặc không muốn thực hiện những cam kết với ngân hàng thì ngân hàng sẽ phải chịu những tổn thất Trên thực tế, điều rất dễ nhận thấy là trong hoạt động sản xuất
Trang 21kinh doanh và đời sống của khách hàng là có thể gặp phải rủi ro và ít nhất thì một phần rủi ro đó sẽ được “chia sẻ” hay “chuyển sang” cho ngân hàng Nói cách khác NHTM cùng phải chịu tổn thất từ những rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của khách hàng Có thể nói phần lớn (trên 90%) khách hàng không thực hiện cam kết với ngân hàng vì bản thân họ gặp rủi ro Ngoài ra, số ít hơn (dưới 5%) khách hàng chủ động chối bỏ không thực hiện những cam kết vì những lợi ích nhất thời nào đó và một số khách hàng (khoảng 3%) chủ động thực hiện những hành vi lừa đảo đối với ngân hàng So với nhóm nguyên nhân thứ nhất, nhóm nguyên nhân này có thể được ngân hàng hạn chế ở mức độ nhất định thông qua việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ, tư vấn để khắc phục sự yếu kém về năng lực quản lý, kinh nghiệm và trình độ công nghệ giúp khách hàng phòng tránh và hạn chế được chế rủi ro sau khi đã tiến hành các biện pháp sàng lọc phân loại để loại bỏ những khách hàng có hành vi hay động cơ không tốt
1.2.2.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân ngân hàng
Đối với tất các các ngân hàng trên thế giới, nhóm nguyên nhân này được coi là quan trọng nhất vì khả năng phòng chống và hạn chế rủi ro phụ thuộc chủ yếu bởi năng lực của ngân hàng Có thể thấy rất rõ là từ sự hợp lý về chính sách đến trình độ công nghệ và đạo đức nghề nghịêp của cán bộ công nhân viên làm việc trong ngân hàng đều là các nhân tố tác động đến mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng Các ngân hàng có trình độ công nghệ cao với chủng loại sản phẩm đa dạng phong phú kết hợp với nguồn nhân lực có phẩm chất tốt luôn có mức độ rủi ro ở mức thấp, thậm chí, ngay cả khi rủi ro đã xảy ra, các ngân hàng vẫn có thể hạn chế hậu quả thông qua các biện pháp kinh tế và thị trường để giảm thiểu tổn thất tài chính và uy tín
Trang 221.2.3 Hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Rủi ro được định nghĩa là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng do vậy khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với ngân hàng phải chịu đựng những tổn thất
về tài chính và uy tín Điều đáng lưu ý là những tổn thất xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng mà còn có tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế như một tổng thể Chúng ta có thể khái quát về hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM như sau:
1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro đối với ngân hàng
Hậu quả đối với ngân hàng ở mức độ thấp nhất là làm giảm thu nhập của ngân hàng Mỗi hoạt động kinh doanh của ngân hàng góp phần mang lại thu nhập cho ngân hàng nhưng khi xuất hiện một loại rủi ro ở hoạt động nào
đó, ngân hàng không những không có thu nhập từ hoạt động tương ứng mà còn làm giảm thu nhập từ các hoạt động khác Ví dụ, nếu khách không trả nợ đúng hạn, sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng vốn, ngân hàng không thể tiếp tục cho vay hoặc đầu tư, bên cạnh đó ngân hàng còn phải bỏ ra một khoản chi phí đáng kể để phục vụ cho thu hồi vốn, trích lập dự phòng rủi ro, và bù đắp v.v … Khi thu nhập chung của ngân hàng giảm sút thì thu nhập của mỗi cán
bộ công nhân viên cũng theo đó giảm xuống, làm giảm động lực làm việc và quy cơ “chảy máu chất xám” và rủi ro tác nghiệp sẽ càng cao
Ở mức độ tiếp theo sự giảm sút về thu nhập, hậu quả của rủi ro sẽ là sự hạn chế khả năng tăng trưởng vốn, tác động xấu đến việc mở rộng quy mô hoạt động và khả năng áp dụng công nghệ và giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng Giống như tất cả các doanh nghiệp khác, tăng trưởng vốn được thực hiện thông qua phân phối lợi nhuận Khi rủi ro xảy ra lợi nhuận giảm thấp đến mức độ nhất định thì tăng trưởng vốn của ngân hàng sẽ phải giảm, thậm chí có thể không có tích luỹ
Trang 23Rủi ro cũng làm “tổn thương” đến uy tín và hình ảnh của ngân hàng Các ngân hàng với mức độ rủi ro cao sẽ mất dần lòng tin của các đối tượng khách hàng, sự lo lắng bắt đầu xuất hiện và như hệ quả tất yếu, khách hàng sẽ rút tiền và chuyển sang sử dụng dịch vụ của các ngân hàng khác có uy tín tốt hơn Trong hoàn cảnh đó, mặc dù rất nhiều những cố gắng như trả lãi suất cao
và cung cấp thêm các khoản khuyến mại, v.v…, cũng không thể giữ chân khách hàng, hoạt động của ngân hàng sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn và tiếp tục đi xuống nếu không có những cải cách mạnh mẽ, đột biến và chấp nhận những giá phải trả rất đắt Mức độ nghiêm trọng hơn, rủi ro đe doạ khả năng thanh toán của ngân hàng và có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản Các loại rủi ro xảy ra ở mức độ nhất định sẽ làm giảm và đe doạ trực tiếp đến khả năng thanh toán của ngân hàng Rất nhiều các ngân hàng của các nước trên thế giới
kể cả Mỹ ngay trong năm 2008 đã cho vay đầu tư vào chứng khoán, bất động sản, v.v… và khi những khoản vay này trở nên khó được thu hồi, các ngân hàng này rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền gửi cho khách hàng, dẫn tới thua lỗ và bị phá sản
Như vậy có thể nói rằng đối với các NHTM, phát sinh rủi ro không chỉ dẫn đến giảm thu nhập, sự thua lỗ mà còn có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng thậm chí có thể làm phá sản các NHTM Song không dừng lại ở
đó, các đối tượng khách hàng của ngân hàng (dù có liên quan hay không đến việc xảy ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng) và toàn bộ nền kinh tế cũng phải gánh chịu những hậu quả nhất định Trong thời gian gần đây, rủi ro xảy
ra đối với các ngân hàng ở một số nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Châu
Âu, đã có phạm vi tác động đến hệ thống tài chính và nền kinh tế của các nước khác và toàn cầu
Trang 241.2.3.2 Hậu quả của rủi ro đối với khách hàng
Đối với tất cả khách hàng, cá nhân hay các doanh nghiệp, kể cả bản thân các doanh nghiệp đang trì hoãn trả nợ cho ngân hàng đều phải chịu những tổn thất từ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trước hết, các cá nhân và doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiếp cận với nguồn vốn cũng như các dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng Trong trường hợp đó, khách hàng sẽ phải đi tìm kiếm những nguồn vốn khác có thể làm tăng chi phí và giảm tính
ổn định của quá trình sản xuất kinh doanh Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở mức phải xoá nợ, giãn nợ hay đảo nợ có thể tạo ra những tiền lệ xấu trong quan hệ với ngân hàng Kế hoạch và nguồn tài chính của khách hàng bị đột ngột thay đổi, khách hàng mất chủ động về trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và các nghĩa vụ tài chính với đối tác bạn hàng, uy tín và hình ảnh của những doanh nghiệp cũng bị giảm sút Còn trong trường hợp ngân hàng phá sản, các doanh nghiệp sẽ mất vốn tiền gửi và thậm chí có thể chịu chung số phận, phá sản theo
1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro đối với nền kinh tế
Biểu hiện đầu tiên về hậu quả của rủi ro là sự tổn thất chung của toàn bộ nền kinh tế do tốc độ chu chuyển hàng hóa và tiền tệ giảm Như đã phân tích trên đây, khi rủi ro xảy ra, cả ngân hàng và khách hàng – các cá nhân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế đều bị thiệt hại về nhiều mặt Trên giác độ lý thuyết có thể thấy rằng rủi ro trong hoạt động ngân hàng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất và lưu thông hàng hoá mà còn gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với quá trình sản xuất kinh doanh, cung – cầu hàng hóa và cuối cùng là làm mất đi sự ốn định và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế Trên thực tế ở rất nhiều nước trên thế giới, khi các ngân hàng gặp phải rủi ro thì hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội đã nảy sinh và những giải pháp nhằm ổn định tình hình bao giờ cũng rất tốn kém và hậu quả có thể còn để lại những di chứng
Trang 25trong thời gian dài, đặc biệt về mặt tâm lý và lòng tin của công chúng Ngoài
ra, hậu quả của rủi ro gây ra là làm giảm thấp uy tín quốc gia, khả năng thu hút vốn nước ngoài và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác đều phải chịu những điều kiện khó khăn hơn
Tóm lại, rủi ro là tất yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng trong khi đó hậu quả rủi ro thực sự rất nguy hiểm nghiêm trọng đối với tất cả các chủ thể, không chỉ trên giác độ tài chính mà còn tác động đến tất cả các mặt kinh tế – chính trị – xã hội của nền kinh tế Tùy theo mức độ phát triển, mở cửa và hội nhập của nền kinh tế, hậu quả của rủi ro trong hoạt động ngân hàng còn có thể nghiêm trọng hơn về mức độ và phạm vi ảnh hưởng có thể không phải chỉ dừng lại ở một quốc gia Những phân tích trên đây cho thấy lý do tại sao các NHTM thành công luôn phải giành sự ưu tiên thỏa đáng cho vấn đề
quản trị rủi ro song song với việc nghiên cứu phát triển hoạt động kinh doanh 1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.3.1 Xuất phát từ đặc điểm và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng lại là tất yếu khách quan và hết sức cần thiết đối với các chủ thể và với sự phát triển và ổn định chung của nền kinh tế Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hoạt động ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển làm cho các NHTM trở thành “người bạn đồng hành” với cuộc sống của người dân và các doanh nghiệp Song, một khi tiến hành hoạt động kinh doanh, NHTM luôn phải đương đầu với rủi ro, do vậy chấp nhận mở rộng và phát triển hoạt động ngân hàng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận sự xuất hiện thêm các loại rủi ro có thể xảy ra Như đã chứng minh ở trên, cách chấp nhận tích cực và hiệu quả nhất chính là thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro
Trang 26Hiệu quả kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro xảy ra Cùng một doanh số hoạt động và mức doanh thu, nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh doanh cao và ngược lại Hoạt động trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các NHTM không chỉ phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn phải chấp nhận những yêu cầu chung như là “luật chơi” để đảm bảo sự an toàn cho toàn bộ hệ thống Nền kinh tế càng phát triển với mức độ thị trường hóa càng cao, “sân chơi” càng bình đẳng thì bản lĩnh của mỗi ngân hàng càng cần thiết phải được khẳng định Trong xu thế đó, nếu không chú trọng củng cố và nâng cao năng lực quản trị rủi ro, các NHTM
không thể tồn tại và phát triển một cách bền vững
1.3.2 Năng lực quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Giữa năng lực quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ tác động thúc đẩy lẫn nhau Hoạt động kinh doanh được mở rộng và phát triển là điều kiện cần thiết cho việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng Do vậy, quản trị rủi ro tốt là điều kiện bảo đảm cho hiệu quả kinh doanh của ngân hàng và nhờ vào hiệu quả kinh doanh cao, ngân hàng có điều kiện chú trọng và củng cố năng lực quản trị rủi ro Ngày nay, người
ta coi quản trị rủi ro là một nội dung của quản trị kinh doanh NHTM và là một yêu cầu đối với các cấp lãnh đạo, những người chịu trách nhiệm quản trị và điều hành ngân hàng Vì vậy, nâng cao năng lực quản trị rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối các cấp lãnh đạo, những người chịu trách nhiệm quản trị và điều hành ngân hàng Vì vậy, nâng cao năng lực quản trị rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao chất lượng quản trị kinh doanh của các NHTM
1.3.3 Xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro
Dù muốn hay không các nước vẫn phải chấp nhận xu thế hội nhập quốc
tế và toàn cầu hóa, chủ động hay bị “cuốn theo”, xét về kết quả cuối cùng thì không khác nhiều Trong bối cảnh đó, hội nhập về ngân hàng tài chính luôn được đặt ra như là một vấn đề trọng tâm, hết sức quan trọng và nhạy cảm Khi
Trang 27tham gia hội nhập, dù được diễn giải thế nào cuối cùng cũng là 2 vấn đề mà các ngân hàng phải đương đầu: áp lực cạnh tranh ngày càng cao hơn cả về phạm vi, mức độ, hoạt động kinh doanh trong môi trường tự do bình đẳng song với “luật chơi” hà khắc hơn và nguy cơ rủi ro cao hơn với những diễn
biến phức tạp hơn
Thứ nhất, hoạt động đầu tư, kinh doanh của các tổ chức tài chính không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia mà là đa ngành và toàn cầu Do vậy, rủi ro xảy ra nhiều hơn và tác động cũng trên phạm vi toàn cầu Đây là một trong những tác động không mong muốn của quá trình hội nhập kinh tế theo khu vực và xu thế toàn cầu hóa
Thứ hai, cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng diễn ra quyết liệt hơn một mặt do yêu cầu mở rộng quy mô hoạt động và sự bùng nổ thông tin, phát triển và
áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh với nhau Thứ ba, các quy chế tài chính và các ràng buộc pháp lý được nới lỏng cho nên các tổ chức tài chính có nhiều quyền chủ động hơn trong kinh doanh,
do đó hoạt động đầu tư tài chính và các dự án rủi ro cũng tăng theo
Thứ tư, sự hình thành và phát triển của các công cụ tài chính và các công cụ phát sinh (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi) với tiến bộ khoa học công nghệ, thông tin và kỹ thuật đã làm tăng khối lượng giao dịch tài chính trên toàn thế giới Điều này làm cho các tổ chức tài chính phải đối phó với nhiều nguồn phát sinh rủi ro trên toàn cầu
Thứ năm, sự biến động của các biến kinh tế vĩ mô như thu nhập, thất nghiệp, lạm phát, tỷ giá hối đoái, v.v và cuối cùng là những biến cố chính trị xã hội trên phạm vi quốc tế tác động đến hoạt động ngân hàng tài chính và
vì vậy cũng là những nguyên nhân gây ra rủi ro
Trang 28Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các NHTM không phải chỉ là vấn đề sống còn đối với cá nhân mỗi ngân hàng mà còn là yêu cầu chung để đảm bảo an toàn cho cả hệ thống tài chính mỗi quốc gia, mỗi khu vực và trên toàn cầu
1.3.4 Những nguyên tắc và quy trình quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại hiện tại của Việt Nam
1.3.4.1 Những nguyên tắc quản trị rủi ro:
Nguyên tắc chấp nhận rủi ro: Không có rủi ro thì không có lợi nhuận Việc chấp nhận rủi ro một cách có ý thức và thông minh cần phải được thống nhất từ ban lãnh đạo đến nhân viên
Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép: Phân tách người chấp nhận rủi
ro và người kiểm soát rủi ro tại tất cả các đơn vị kinh doanh của ngân hàng
Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt
Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính Nguyên tắc hiệu quả kinh tế
Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng
Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép
1.3.4.2 Quy trình quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện
và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất Nó bao gồm các bước: Nhận dạng rủi ro; đánh giá, đo lường rủi ro; thực thi các biện pháp quản lý; thực hiện báo cáo kiểm soát và đánh giá lại có thể mô tả dưới hình 1.1
Trang 29Hình 1.2 Quy trình quản trị rủi ro
1.3.5 Một số vấn đề cơ bản về quản trị ngân hàng tại VN hiện nay
1.3.5.1 Tại sao cần quan tâm đến quản trị ngân hàng (QTNH)
Các NHTM - bản thân chúng cũng là các doanh nghiệp, song là các doanh nghiệp đặc biệt, do vậy hoạt động Quản trị NH không những tác động đến giá trị của ngân hàng và giá vốn của họ mà còn tác động đến giá vốn của các doanh nghiệp và hộ gia đình mà họ cho vay vốn Công tác tổ chức và quản trị tại ngân hàng sẽ tác động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còn tới vị thế và uy tín của ngân hàng Một cách tổng quát, công tác Quản trị NH tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, là thước
đo cho khả năng chống đỡ của ngân hàng trước biến động của nền kinh tế Không những thế, hoạt động của ngân hàng tác động đến sản lượng của nền kinh tế bởi lẽ các ngân hàng huy động và phân bổ tiết kiệm của xã hội Đặc biệt ở các nước đang phát triển, khi các ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài rất lớn của doanh nghiệp, Quản trị NH tốt sẽ góp phần thúc đẩy quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp mà họ cho vay
3 Thực thi các
4 Theo dõi/
báo cáo
Trang 301.3.5.2 Đặc điểm của quản trị rủi ro ở các NHTM
Các NHTM là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những “đặc thù” khác với các doanh nghiệp Đó là: sự không rõ ràng của một số nguồn thông tin tài chính khiến khó đánh giá chất lượng hoạt động và rủi ro; sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý; độ rủi
ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vì có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng Vì thế, bản thân các ngân hàng cũng phải đưa ra các quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sản phẩm, chi nhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc…)
Tại cùng một thời điểm, các ngân hàng chịu nhiều rủi ro về quản trị doanh nghiệp hơn chính vì tính không rõ rang, có nghĩa là phạm vi cát cứ, chuyển giao rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạt động ngầm, cho vay nội gián, chiếm đoạt…) lớn hơn so với các doanh nghiệp phi tài chính Do đó, vai trò của Quản trị NH lớn hơn vì với quản trị tốt, ngân hàng có thể minh bạch hơn, giá trị cao hơn và tạo điều kiện giám sát hiệu quả hơn
1.3.5.3 Thực tiễn Quản trị NH ở Việt Nam hiện nay
Phải nói rằng, ở bất cứ nền kinh tế nào quản trị nói chung và Quản trị
NH nói riêng luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là chìa khoá để giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt các mục tiêu chiến lược của mình, bảo đảm sự phát triển bền vững Song, thực tiễn Quản trị NH ở Việt Nam thời gian qua đã bộc lộ không ít những hạn chế mà nếu không khắc phục được thì các NHTM Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng
như hiện nay Những hạn chế có thể kể đến là:
Trang 31Thứ nhất, thiếu khuôn khổ cho hoạt động quản trị: Có một sự thật khá
trớ trêu là từ trước tới nay, bộ luật liên quan trực tiếp tới các hoạt động tín dụng, hay tổ chức tín dụng lại không hề có mục nào đề cập cụ thể tới các vấn
đề tổ chức và quản trị Kể cả khi Luật doanh nghiệp mới được sửa đổi vào năm 2005, vấn đề về quản trị doanh nghiệp của NHTM dường như vẫn bỏ ngỏ Thực tế, trong suốt thời gian qua, vẫn thiếu hẳn một hệ thống luật đầy đủ trong công tác quản lý tổ chức và quản trị Không có luật, NHTM phải dựa vào các Nghị định để tự xây dựng cơ chế quản trị Đánh giá của giới luật sư cho thấy, bất chấp việc Việt Nam đã cho ra đời hàng loạt những bộ luật mới
để chuẩn bị cho giai đoạn chính thức hòa nhập kinh tế quốc tế, nhưng các văn bản pháp lý về tổ chức, Quản trị NH vẫn “như cũ”, thậm chí có một số điểm không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trong hoạt động của NHTM Trong khi đó, điểm yếu của hệ thống NHTM Việt Nam chính là nguồn vốn điều lệ còn quá thấp, nguồn nhân lực, cán bộ nhân viên được đào tạo nhiều nhưng chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Thứ hai, mô hình tổ chức và quản lý hiện tại bộc lộ một số nhược điểm:
Mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủ yếu theo chức năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh
Cấp quản trị điều hành:
Là Hội đồng quản trị (HĐQT) gồm Chủ tịch HĐQT và một số thành viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể Về nguyên tắc HĐQT thực hiện chức năng quản lý đối với mọi hoạt động của NHTM, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn; ban hành điều lệ, các cơ chế, qui chế tổ chức và hoạt động của ngân hàng
Cấp quản lý kinh doanh:
Là Ban điều hành gồm Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và các phòng ban tham mưu giúp việc tại hội sở chính Cấp trực
Trang 32tiếp kinh doanh gồm các đơn vị hạch toán độc lập, các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, các đơn vị sự nghiệp và đơn vị hùn vốn kinh doanh
Thực tế vai trò của HĐQT và Ban điều hành ở một số NHTM chưa được phân tách rõ ràng Do vậy, HĐQT có thể bị rơi vào trường hợp: hoặc là không tập trung được các luồng thông tin chủ yếu về hoạt động của ngân hàng
để xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược và các quyết định phòng ngừa rủi ro; hoặc lại tham gia quá sâu vào các hoạt động thường ngày của hoạt động quản lý Vẫn còn tình trạng các phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính và chi nhánh được phân nhiệm theo nghiệp vụ và cắt khúc theo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệm theo nhóm khách hàng và loại dịch vụ như thông lệ quốc tế Đây là hạn chế lớn nhất về cấu trúc quản lý và phát triển sản phẩm mới đối với NHTM Đồng thời lại thiếu các bộ phận liên kết các hoạt động, các quyết định giữa các phòng ban nghiệp vụ, tạo điều kiện cho HĐQT
và Ban điều hành bao quát toàn diện hoạt động và tập trung nhân lực, tài lực vào các định hướng chiến lược Ngoài ra, cơ sở dữ liệu về phân tích, dự báo môi trường kinh doanh, đánh giá nguồn lực và xác định tầm nhìn trung, dài hạn vốn là công cụ quản lý cơ bản của các NHTM hiện đại vẫn còn thiếu, do vậy, nhìn chung các NHTM còn khá lúng túng trong việc hoạch định chiến lược phát triển dài hạn
Thứ ba, vấn đề quản trị nội bộ chưa được quan tâm đúng mực: Quản trị
nội bộ ngân hàng là một vấn đề rất cấp thiết hiện nay, đó là tiền đề giúp các ngân hàng hoạt động tốt và chủ động nắm bắt những biến động trên thị trường Quản trị nội bộ bao gồm nhiều mảng liên quan từ quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính đến quản trị khách hàng, quản trị rủi ro, quản trị thương hiệu, quản trị thị trường Nói chung là tất cả các hoạt động trong phạm vi nội bộ liên quan đến các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng
Trang 33Ở các nước, vai trò của quản trị nội bộ ngân hàng được đánh giá rất cao vì ngân hàng là một ngành kinh doanh nhạy cảm và thường xuyên đối mặt nhiều rủi ro, đặc biệt vấn đề đảm bảo khả năng thanh toán và chất lượng dịch
vụ cung cấp Ở Việt Nam, quản trị nội bộ đã được quan tâm nhiều hơn trong thời gian gần đây Song những biến động bất thường thời gian qua đã khiến các nhà ngân hàng chú trọng hơn đến quản trị nội bộ
Song cái khó trong quản trị nội bộ ngân hàng không chỉ nằm ở nguồn nhân lực mà còn ở yếu tố công nghệ Bởi nếu không có công nghệ thông tin thì hầu như các thông tin mà doanh nghiệp quản trị là rời rạc và không kịp thời Nhờ công nghệ thông tin, ngân hàng quản lí được các thông tin quan hệ trong nội bộ và hoạt động tác nghiệp đang xảy ra trong ngân hàng và có được các thông tin hỗ trợ cho quản lý và điều hành Tuy nhiên, để có một hệ thống công nghệ thông tin như vậy không phải NHTM nào cũng có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư toàn bộ
Tóm lại, Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng, giữ cho mạch
máu của nền kinh tế được lưu thông, là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, chức năng hoạt động đa dạng, các sản phẩm ngày càng đa dạng và phù hợp hơn đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Rủi ro trong họat động ngân hàng là rủi ro do những biến động trong quá trình kinh doanh của ngân hàng nguyên nhân luôn có thể đến từ những yếu tố bất khả kháng như thiên tai, bão lụt và cũng có thể là những nguyên nhân từ phía khách hàng hay do chính bản thân ngân hàng mà hậu quả không chỉ dẫn đến giảm thu nhập, sự thua lỗ mà còn có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng như có thể làm phá sản các NHTM thậm chí nó còn xảy ra phản ứng lan truyền gây ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn đi liền với rủi ro, việc không chấp nhận rủi ro là không phù hợp Chủ động chấp nhận và kiểm sóat
Trang 34rủi ro ở mức độ nhất định trong mối quan hệ với thu nhập, phân tích rủi ro và thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro dựa trên nguyên tắc đánh đổi rủi ro với thu nhập là mối quan tâm của Ngân hàng
Trang 35CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
ro trong hoạt động đang tồn tại và được phân tích qua các nội dung sau:
2.1 Thực trạng hoạt động Ngân hàng thương mại Việt Nam
2.1.1 Quy mô vốn tăng
Vốn của Ngân hàng thể hiện năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh Ngân hàng có vốn lớn thì khả năng cấp vốn lớn, có thể cải tiến công nghệ, phát triển mạng lưới và cung cấp những sản phẩm dịch vụ tốt Tuy nhiên vốn điều lệ của các NHTM hiện nay còn quá nhỏ bé, vốn thấp, năng lực tài chính hạn chế, do đó làm tình hình tài chính của một số NHTM không lành mạnh, rủi ro hoạt động cao và năng lực cạnh tranh thấp Để nâng cao khả năng tài chính cho các Ngân hàng, NHNN đã ra Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP
về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng do Chính phủ ban
Trang 36hành, đối với ngân hàng TMCP, mức vốn pháp định áp dụng cho đến cuối
năm 2008 là 1.000 tỷ đồng và áp dụng cho đến cuối năm 2010 là 3.000 tỷ đồng
Thống kê cho thấy trong tổng cộng 39 ngân hàng thương mại cổ phần
(TMCP) đang hoạt động có tới 24 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỉ
đồng Trong đó có 15 ngân hàng có vốn dưới 2.000 tỉ đồng và tám ngân hàng
có vốn quanh mức 1.000 tỉ đồng
Để bảo đảm an toàn hoạt động, theo định hướng quản lý rủi ro của ngân
hàng Nhà nước một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất là quy mô về vốn
mà thước đo cơ bản chính là hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi
ro, Capital Adequacy Ratio – CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng
lực tài chính của các ngân hàng Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng
của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với
các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, đến năm 2008, hệ số an toàn
vốn tối thiểu của các ngân hàng phải đạt 8%, theo tiêu chuẩn của BaseII do
Ủy ban giám sát các ngân hàng Basel ban hành Tuy nhiên, trên thế giới, việc
áp dụng hệ số an toàn vốn tối thiểu hiện phổ biến theo tiêu chuẩn của Basal II
với mức 12%.[4]
Bảng 2.1: Hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng
Hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng tính đến cuối năm 2009 (đơn vị: %)
Vietcombank BIDV Agribank Viettinbank ACB Techcombank HBB
Với quy mô vốn thấp và tỷ lệ an toàn vốn dưới mức thông lệ quốc tế
như hiện nay của ngân hàng thương mại Việt Nam, chúng ta đã bị hạn chế về
khả năng tín dụng, tài trợ cho hoạt động kinh doanh cũng gặp rất nhiều cản
trở, khó mở rộng phạm vi hoạt động và đổi mới công nghệ ngân hàng, và
Trang 37càng khó hơn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài ngay trên lãnh thổ Việt Nam
2.1.2 Tình hình huy động vốn
Nhiều năm qua (trước 2007), môi trường kinh tế cùng với nền chính trị
ổn định, nền kinh tế phát triển một cách căn bản vững chắc và có chuyển hướng theo chiều sâu, nền tài chính quốc gia ổn định, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá tương đối ổn định, đời sống người dân có chiều hướng được nâng cao, tỷ lệ tiết kiệm ngày càng có xu hướng gia tăng mạnh Sự phát triển của
hệ thống ngân hàng đã thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, tạo ra môi trường mới và những kênh huy động quan trọng cho phát triển kinh tế, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tăng cường các hình thức huy động vốn với nhiều loại kỳ hạn khác nhau, mở rộng mạng lưới huy động vốn và sử dụng nhiều hình thức đa dạng như phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng Tình hình huy động vốn của một số ngân hàng được thể hiện qua hình bảng sau:0
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của một số NH giai đoạn 2005-2009
Trang 38VNĐ và bằng ngoại tệ; tiết kiệm có bảo đảm giá trị theo vàng; Tiết kiệm kèm theo các hình thức khuyến mãi như Du lịch, tặng tiền, dự thưởng; kỳ phiếu NHTM bằng VNĐ và ngoại tệ ; trái phiếu NHTM, tiết kiệm xây dựng nhà ở Hiện nay hầu hết các ngân hàng đã thực hiện chuyển đổi công nghệ theo hướng hiện đại hoá gửi tiền một nơi, lĩnh ở nhiều nơi, Ngân hàng Nhà nước
đã phát triển kênh thanh toán bù trừ, kênh chuyển tiền CITAD tại một số thành phố lớn đã giảm thời gian và giảm phí chuyển tiền Dù vậy năm 2008 nền kinh tế có nhiều điều kiện bất lợi, trên thị trường tài chính nguồn vốn trở nên khan hiếm nên cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn giữa các ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, 6 tháng đầu năm nay chúng ta đã chứng kiến những cuộc chạy đua lãi suất huy động vốn giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam Năm 2009 NHNN và Chính Phủ đã đưa ra nhiều biện pháp để chống suy giảm kinh tế, lạm phát và bình ổn thị trường tiền tệ cố gắng kìm hãm tỷ giá v.v….do đó mức lãi suất huy động vốn cao nhất của các NHTM phổ biến ở mức 11,5%/năm đối với tiền gửi bằng VND và 4,2%/năm
2.1.3 Những cơ hội và thách thức đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Quy trình quản trị trong các tổ chức tín dụng nói chung và của các ngân hàng thương mại nói riêng còn chưa phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, tính minh bạch thấp, hệ thống thông tin quản lý và quản lý rủi ro chưa thực sự hiệu quả
Thực hiện những cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và đàm phán gia nhập WTO đã và đang đặt ra cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam những thách thức vô cùng to lớn Trong đó, ngân hàng là lĩnh vực hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đến năm 2010 lĩnh vực ngân hàng sẽ mở cửa hoàn toàn các dịch vụ cho khối ngân hàng nước ngoài
Trang 39Bên cạnh việc gia nhập WTO, Việt Nam vẫn tiếp tục triển khai lộ trình thực hiện Hiệp định cam kết về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEFT/AFTA), tiến trình thực hiện Hiệp định song phương Việt Mỹ…
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã và sẽ tác động trực tiếp đến hệ thống NHTM Việt Nam qua việc cho phép các ngân hàng có vốn đầu
tư nước ngoài và những ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam và được đối xử theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc Khi đó, các quốc gia nằm trong khuôn khổ các hiệp định sẽ đều có cơ hội để tham gia vào thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam Căn cứ vào các cam kết quốc tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác đa phương, song phương, mở rộng hội nhập theo nhiệm vụ và lộ trình sau:
Từ năm 2001-2005 có các biện pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại Việt Nam duy trì và tăng cường khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước
và mở rộng hơn nữa hoạt động ngân hàng quốc tế, thực hiện việc mở văn phòng đại diện và chi nhánh ở nước ngoài
Từ 2005-2006 cụ thể hóa và nới lỏng các thủ tục cấp phép cho các ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh và hoạt động tại Việt Nam
Từ 2006-2010 Việt Nam phải thực hiện các cam kết trong khuôn khổ hiệp định khung về hợp tác thương mại và dịch vụ của ASEAN và Hiệp định thương mại Việt – Mỹ như xây dựng môi trường pháp lý cho hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, không hạn chế số lượng các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam, không hạn chế về số lượng dịch vụ ngân hàng, không hạn chế việc tham gia góp vốn của phía nước ngoài dưới hình thức tỷ lệ phần trăm tối đa trong số cổ phần nước ngoài nắm giữ
Như vậy, đối với việc gia nhập WTO, chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa các dịch vụ ngân hàng Các ngân hàng nước ngoài dưới nhiều hình
Trang 40thức khác nhau sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc xâm nhập thị trường Việt Nam Đây chính là động lực để ngành ngân hàng Việt Nam phải tự hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững hơn
Những điểm mạnh
Các ngân hàng Việt Nam có lợi thế về đồng cảm văn hóa kinh doanh: Đây là yếu tố rất quan trọng, kỳ vọng giữ những vị trí của các ngân hàng thương mại Việt Nam khi hội nhập Niềm tin và những đồng cảm văn hóa là sức hút chủ yếu của các ngân hàng thương mại trong nước trong việc tiếp tục củng cố mối quan hệ truyền thống với khách hàng khi mà các đối thủ cạnh tranh tỏ rõ sự hơn hẳn về nhiều phương diện
Có đội ngũ nhân viên nhiều kinh nghiệm, bên cạnh đó là những cán bộ trẻ, năng động để tiếp cận với công nghệ hiện đại Có thể ghi nhận trong thời gian qua, các ngân hàng Việt Nam đã đầu tư nhiều về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
Có mạng lưới rộng khắp (đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh) Hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã xây dựng được hệ thống phân phối rộng lớn, đặc biệt là thị trường nông thôn Hiểu biết và khả năng thâm nhập thị trường vẫn sẽ là thế mạnh vượt trội của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài
Thị phần ổn định, đối tượng khách hàng mục tiêu đã tương đối định hình cũng là một lợi thế lớn của ngân hàng thương mại Việt Nam
Những điểm yếu
Vốn của một số ngân hàng vẫn còn thấp so với yêu cầu hội nhập: tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanh hiện nay mới đạt trên 21.000 tỷ đồng, dư nợ tín dụng mới xấp xỉ 55% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trên 80% của các nước trong khu vực Bình quân, mức vốn tự có của các ngân hàng thương mại quốc doanh khoảng từ 200 đến 250 triệu USD, chỉ